
Pháp sư
Huyền Trang
Thích Như
Điển dịch
Đại Chánh Tân Tu, Đại Tạng
Kinh quyển thứ 51, thuộc Sử Truyện bộ thứ
3, từ trang 867 đến trang 948, gồm 12 quyển, thứ
tự kinh văn số 2087, do Ngài Huyền Trang đời
nhà Đường dịch, Ngài Biện Cơ soạn lại.
Sa Môn Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa
Viên Giác, Đức Quốc, dịch từ tiếng Hán sang
tiếng Việt, từ ngày 24 tháng 10 đến ngày 15 tháng
12 năm 2003 D.L., tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại
Lợi, trong mùa nhập thất, với sự trợ dịch
của Tỳ Kheo Thích Đồng Văn và Tỳ KheoThích Hạnh
Giới.
MỤC LỤC
Lời tựa
Bài tựa Đại Đường Tam
Tạng Thánh Giáo của Vua Đường Thái Tông
Bài tựa thứ nhất Đại
Đường Tây Vức Kư
Bài tựa thứ hai Đại
Đường Tây Vức Kư
01 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ nhất
1. Nước A
Kỳ Ni
2. Nước
Quật Chi
3. Nước
Phạt Lục Già
4. Nước
Xích Kiến
5. Nước Giă
Thời
6. Nước
Phế Hăn
7. Nước
Tốt Đỗ Lợi Sắc Na
8. Nước
Phong Mạc Kiến
9. Nước Nhi
Chư Hạ
10. Nước
Kiếp Bố Xương Na
11. Nước
Quật Tương Nhi Ca
12. Nước
Yết Hăn
13. Nước
Bổ Yết
14. Nước
Đại Địa
15. Nước
Hóa Lợi Tập Di Dà
16. Nước
Yết Tương Na
17. Nước
Đăn Mật
18. Nước
Diệt Ngạc Hạnh Na
19. Nước
Nhẫn Lộ Ma
20. Nước
Dụ Mạn
21. Nước
Cúc Ḥa Hằng Na
22. Nước
Hoạch Sa
23. Nước
Khả Xuất La
24. Nước
Câu Mễ Đă
25. Nước
Phược Già Lăng
26. Nước
Ngật Lộ Tất Ni Kiến
27. Nước
Nhẫn Lẩm
28. Nước
Phược Yết
29. Nước
Duệ Mạt Da
30. Nước
Hồ Thật Kiến
31. Nước
Đản Sắc Kiến
32. Nước
Yết Thức
33. Nước
Phạm Hành Na
34. Nước Ca
Tất Thí
02 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ hai
1. Nước Lam
Bà
2. Nước Na
Yết La Yết
3. Nước Càn
Đà La
03 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ ba
1. Nước Ô
Trượng Na
2. Nước Bát
Lộ La
3. Nước
Đản Hựu Thỉ La
4. Nước Tân
Ha Bổ La
5. Nước Ô
Sách Thi
6. Nước Ca
Thấp Di La.
7. Nước Bán
Nô Sai
8. Nước
Yết Na Phược Bổ La
04 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ tư
1. Nước
Trách Ca
2. Nước Chí
Na Bộc Đệ
3. Nước
Phiệt Lan Đạt La
4. Nước
Quật Lộ Đa
5. Nước
Thiết Đa Đồ Lô
6. Nước Ba
Lư Dạ Đản La
7. Nước
Vị Thố La
8. Nước Tát
Tha Nễ Thấp Phạt La
9. Nước
Tốt Lục Cần Na
10. Nước
Châu Đệ Bổ La
11. Nước
Bàng La Hấp Ma Phổ La
12. Nước Cù
Tỳ Sương Na
13. Nước Ác
Ê Chế Đản La
14. Nước
Tỳ La Sắc Na
15. Nước
Kiếp Tỷ Tha.
05 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ năm
1. Nước
Yết Nhă Cúc Xà (Kanjakubja)
2. Nước A
Du Đà
3. Nước A
Dà Mục Khứ
4. Nước Bát
La Dà Dà
5. Nước
Kiều Thường Di
6. Nước Bi
Tác Ca
06- Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ sáu
1. Nước
Thất La Phiệt Tất Để
2. Nước
Kiết Tỷ La Phạt Tốt Đổ
3. Nước Lam
Ma
4. Nước Câu
Thi Na Yết La
07 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ bảy
1. Nước Ba
La Nại
2. Nước
Chiến Chủ
3. Nước
Phệ Xá Phân (Tỳ Xá Ly - Vesali)
4. Nước
Phất Phiêu Tŕ
5. Nước Ni
Ba La
08 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ tám
Nước Ma
Kiệt Đà - Phần một
09 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ chín
Nước Ma
Kiệt Đà - Phần hai
10 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ mười
1. Nước Y
Lan Nơa Bát Phạt Dà
2. Nước
Chiêm Ba
3. Nước
Yết Châu Ôn Đệ La
4. Nước Bôn
Na Phạt Đản Na
5. Nước Ca
Ma Lầu Ba
6. Nước Tam
Ma Đản Thát
7. Nước
Trầm Ma Phiêu Đệ
8. Nước
Yết La Noa Tô Phạt Sắc Na
9. Nước Ô
Trà
10. Nước
Cung Ngự Đà
11. Nước
Yết Lăng Già
12. Nước
Kiều Tát La
13. Nước Án
Đạt La
14. Nước
Đà Na Yết Lân Ca
15. Nước
Châu Lợi Da
16. Nước
Đạt La Tỳ Trà
17. Nước
Chư La Cự Thác
11 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ mười một
1. Nước
Tăng Già La (Tích Lan)
2. Nước Trà
Kiến Na Bổ La
3. Nước Ma
Ha Sách Trạch
4. Nước
Phạt Lục Yết Chiêm Ba
5. Nước Ma
Lạp Ba
6. Nước A
Thác Lư
7. Nước
Khiết Thác
8. Nước
Phạt Lạp Tỳ
9. Nước A
Nan Đà Bổ La
10. Nước Tô
Sắc Đà
11. Nước Cù
Chiết La
12. Nước Ô
Phiệt Diễn Na
13. Nước
Trinh Chỉ Đà
14. Nước Ma
Ê Thấp Phạt La Bổ Đa
15. Nước
Tín Độ
16. Nước
Mậu La Tam Bộ Lô
17. Nước
Bát Phạt Đa
18. Nước A
Điểm Ba Sí La
19. Nước
Lang Yết La
20. Nước Ba
Sắc Tư (Ba Tư)
21. Nước
Kiên Đa Thế La
22. Nước A
Quân Trà
23. Nước
Phạt Sắc Noa
12 - Đại Đường Tây Vức Kư -
Quyển thứ mười hai
1. Nước Tào
Cự Thác
2. Nước
Phất Phiêu Tŕ Tát Quân Na
3. Nước An
Đản La Phược
4. Nước
Hoạt Tất Đa
5. Nước
Hoạt
6. Nước Tào
Kiến
7. Nước A
Lợi Ni
8. Nước
Yết La Hồ
9. Nước
Ngật Phiêu Sắc Ma
10. Nước
Bát Lợi Yết
11. Nước Tu
Ma Đản La
12. Nước
Bát Thích Sán Na
13. Nước
Nhâm Bạ Kiến
14. Nước
Quật Năn Noa
15. Nước
Đạt Ma Tất Thiết Đế
16. Nước
Thi Khí Ni
17. Nước
Thương Di
18. Nước
Yết Bàn Đà
19. Nước Ô
Sát
20. Nước
Khư Sa
21. Nước
Nghiên Cẩu Da
22. Nước Cù
Tác Đản Na
Lời tựa
Quư vị đang cầm trên tay quyển
"Đại Đường Tây Vức Kư"
được chuyển dịch từ chữ Hán sang
tiếng Việt là do kết quả của sự miệt
mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10
năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu
Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập
thất lần đầu tại đây.
Xin tạ ơn Tam Bảo đă chiếu soi cho
chúng con để lần ḍ từng câu văn, từng ư
chữ mà Ngài Huyền Trang, một bậc danh tăng
đời Đường đă thể hiện trọn
vẹn hết tâm ư khi đi chiêm bái, học hỏi và ghi
lại nơi Thánh Địa ṛng ră trong 17 năm trời.
Để rồi về lại kinh đô Tràng An với 657
bộ kinh bằng chữ Phạn. Ngài trải qua 110
nước và về sau cùng 100 vị Cao Tăng Học giả
đương thời, dưới quyền chủ
tọa của Ngài, phiên dịch suốt trong ṿng 19 năm,
kể từ khi Ngài về lại Tràng An Trung Quốc, vào
ngày 24 tháng giêng năm 645 (năm Trinh Quán thứ 19
đời nhà Đường).
Ngài lên đường ra đi khỏi Trung
Quốc vào năm Trinh Quán thứ 3 đời nhà
Đường tức năm 628, lúc ấy Ngài đă 33
tuổi. Như vậy Ngài sinh vào năm 595 và Ngài thị
tịch vào ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, tại Ngọc Hoa
Cung, hưởng thọ 69 tuổi. Ngài về lại Kinh
Đô đúng 50 tuổi và chủ tŕ phiên dịch trong 19
năm ṛng ră như thế và ngày nay Ngài đă để
lại cho hậu thế một gia tài Pháp Bảo vô giá mà
đông tây kim cổ khó có người thứ hai sánh
kịp.
Đây là một tập sách gồm 12 quyển và
hai lời tựa được đăng trong
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển
thứ 51 thuộc Sử Truyện, bộ thứ 3 từ
trang 867 đến trang 948, theo thứ tự kinh văn
số 2087. Chỉ có 81 trang kinh mà chúng tôi phải dịch
ṛng ră gần 2 tháng dài. Mỗi ngày từ 5 đến 6
tiếng đồng hồ và kết quả là hơn 460
trang sách khổ A5 và gồm 127.264 chữ, như quư vị
đang đọc. Đại Tạng Kinh không chỉ có
một quyển mà cả một trăm quyển như
thế. Mỗi quyển dày từ 1000 đến 2000 trang.
Nếu một người để cả một đời
ra đọc chưa chắc ǵ đă hết, đừng
nói đến vấn đề phiên dịch.
Bây giờ Phật Giáo Việt Nam đă bắt
đầu cho phiên dịch nhiều phần từ Kinh,
Luật, Luận trong Đại Tạng Kinh ra tiếng
Việt. Trong đó phải nói rằng về phần Kinh
Văn, Ḥa Thượng Thích Trí Tịnh, Cố Đại
Lăo Ḥa Thượng Thích Trí Nghiêm, Cố Ḥa Thượng
Thích Thiện Siêu, Cố Ḥa Thượng Thích Huệ
Hưng đă đóng góp dịch thuật phần chính.
Về Luật Tạng có Cố Ḥa Thượng Thích Hành
Trụ, Cố Ḥa Thượng Thích Thiện Ḥa, Cố Ḥa
Thượng Thích Trí Thủ, Cố Ḥa Thượng Thích Trí
Minh, Ḥa Thượng Thích Đổng Minh v.v...Về
Luận Tạng có Cố Ḥa Thượng Thích Khánh Anh,
Cố Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa, Cố Ḥa
Thượng Thích Trí Thủ, Cố Ḥa Thượng Thích
Thiện Siêu, Cố Ḥa Thượng Thích Thanh Kiểm,
Cố Ḥa Thượng Thích Trung Quán, Cố Ḥa Thượng
Thích Đức Niệm, Cố Thượng Tọa Thích
Viên Đức, Cố Sư Bà Thích Nữ Như Thanh,
Cố Sư Bà Thích Nữ Diệu Không v.v... đă đóng
góp phần ḿnh không nhỏ cho vấn đề phiên
dịch từng loại như thế. Riêng phần Kinh
Tạng Pali do Ḥa Thượng Thích Minh Châu đă dịch
gần xong tất cả Kinh Văn. Phần Luật và
Luận do Chư Tôn Đức Trưởng Lăo thuộc
Phật Giáo Nguyên Thủy phiên dịch. Ḥa Thượng Thích
Tịnh Hạnh người chủ trương một
Đại Tạng Kinh Việt Nam đă đang và sẽ cho
Tăng Ni phiên dịch những phần c̣n lại, rồi
san định trước sau để h́nh thành. Hiện
nay Ḥa Thượng đă cho xuất bản được
10 bộ. Một bộ Đại Tạng Kinh Việt Nam
được h́nh thành trọn vẹn, chắc phải 200
bộ như thế, mỗi bộ dày chừng 1000
đến 2000 trang.
Riêng bộ "Đại Đường Tây
Vức Kư" nầy sở dĩ chúng tôi dịch
trước v́ nghĩ rằng chính đây là tấm bản
đồ đầy đủ nhất, chi ly nhất mà
đương thời từ năm 628 đến năm
645 tại Ấn Độ và Trung Hoa chưa có một
người nào viết được một bộ
Sử Phật Giáo như thế. Đây là kết quả
của 17 năm trường mà Ngài Huyền Trang đă
ở tại Ấn Độ. Đi đến đâu Ngài cũng
ghi lại từ khí hậu, phong thổ cho đến
tập quán và nhất là những câu chuyện liên quan
đến cuộc đời đức Phật cũng
như chư vị Bồ Tát, A La Hán. Số nước mà
Ngài đă đi qua là 110, ngày nay chúng ta có thể gọi là
những tiểu bang, v́ ngày xưa mỗi một vùng có
một ông Vua nhỏ, hoặc tù trưởng đứng
đầu. C̣n ngày nay, Ấn Độ chỉ c̣n một
nước mà thôi. Chung quanh đó có một số
nước, ngoài Ấn Độ như Ba Tư, Kasmir, Tân
Cương v.v... là những nước lớn ta có thể
kể riêng. nhưng tựu chung chỉ đi bộ và dùng
voi ngựa mà vượt qua được những
chặng đường dài gần 50 ngàn dặm ấy th́
quả thật thế gian nầy chỉ có một không hai.
Nhờ bản đồ hành hương của
Ngài qua truyện Đại Đường Tây Vức Kư
nầy mà những nhà Học giả, những nhà Khảo
Cổ Học người Âu Châu mới t́m đến
Ấn Độ để xác nhận, t́m kiếm những
di tích ấy vào cuối thế kỷ thứ 18 và cho
đến nay th́ bốn Thánh Địa căn bản
của đức Phật từ khi Đản Sinh cho đến
khi Thành Đạo, Thuyết Pháp lần đầu tiên và
thị tịch Đại Bát Niết Bàn đă rơ ràng. Bây
giờ các nhà Khảo Cổ Học người Nhật
Bản vẫn c̣n đang tiếp tục t́m kiếm các di
tích cũ ngày xưa cách đây 2547 năm về
trước. Tất cả đều nhờ vào công
đức của Ngài Huyền Trang đă vẽ cho chúng ta
một tấm bản đồ cách đây 1375 năm
(2003-628, là năm mà Ngài Huyền Trang 33 tuổi bắt
đầu sang Ấn Độ); đây là một tấm
bản đồ cũ nhất trong tất cả những
tấm bản đồ của thế giới hiện
nay.
Đại Đường Tây Vức Kư nầy
đă được dịch sang tiếng Anh, tiếng
Đức, tiếng Nga; và tiếng Việt h́nh như
đây là bản đầu tiên. V́ cho đến nay, chúng tôi
vẫn chưa đọc được một bản nào
mô tả tỉ mĩ như thế. Gần đây chúng tôi
có đọc được quyển "Đường
Tam Tạng Thỉnh Kinh" của nhà văn Vơ Đ́nh
Cường tái bản lần thứ 3 năm 2000 th́
mới biết ngày 7 tháng 5 năm 1960, ông đă cho xuất
bản cuốn "Huyền Trang", nhưng lúc ấy
tại quê nhà tôi chưa có cơ duyên đọc đến.
Căn cứ theo lời tựa lần thứ nhất
xuất bản vào năm 1960, được biết
rằng nhà văn Vơ Đ́nh Cường dùng tài liệu của
Học giả Lương Khải Siêu người Trung Hoa
soạn và nhờ Cố Ḥa Thượng Thích Thiện Siêu,
Cố Ḥa Thượng Thích Trí Thủ dịch tài liệu
ấy ra tiếng Việt; nhưng phần ḿnh, nhà văn
không cho biết ông đă căn cứ vào tài liệu nào
để viết. Dĩ nhiên phải có tài liệu chính
trong tay, ông mới hoàn thành tác phẩm ấy
được. V́ đây là một nhân vật lịch
sử chứ không phải Dă sử hoặc Huyền
sử, cho nên chúng ta phải làm sáng danh điều nầy.
Nhân nghiên cứu để viết lời tựa
cho quyển sách quan trọng nầy, chúng tôi mới thấy
bài dịch của lời tựa Vua Đường Thái
Tông đă viết vào năm 648 gồm 780 chữ mà Ngài Trí
Thủ và Ngài Thiện Siêu đă dịch ra tiếng Việt
thật tuyệt vời. Nay chúng tôi xin trích đăng
lại cho đủ ba lời tựa cho phần
đầu của dịch phẩm nầy.
Trong chương 5, phần XVI về việc phiên
dịch Kinh Điển, nhà văn Vơ Đ́nh Cường
viết như sau:
"Mùa thu năm sau, phụng mệnh Vua Thái Tông,
Ngài thuật cho một đệ tử là Biện Cơ chép
lại cuộc Tây Du của Ngài trong 17 năm trải qua 138
nước một cách tường tận..."
Ở đây có thể phân tích một vài việc
như sau: Có một điều chúng tôi thắc mắc là:
"Ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng
chiếu dịch" quyển nầy. Tại sao Ngài
phải dịch? Lẽ ra phải nói là Ngài soạn mới
đúng. Khi viết lại chắc Ngài phải viết
bằng chữ Hán, nghĩa là đi đến đâu ngài
chép đến đó. Chứ sau 17 năm về lại Trung
Quốc làm sao nhớ hết mà kể lại cho ngài
Biện Cơ soạn lại? Và một điều khó
hiểu nữa - Không lẽ Ngài viết bằng chữ
Phạn? - Chắc chắn là không. V́ tiếng mẹ
đẻ của Ngài là tiếng Trung Hoa, khi qua đó Ngài
đă 33 tuổi, trong khi tiếng Phạn chưa giỏi
th́ phải lấy tiếng mẹ đẻ làm chuẩn
vậy.
Thứ nữa ở trong Đại Tạng Kinh,
Phần tựa thứ nhất cho biết Ngài đă đi
110 nước; trong khi đó ông Vơ Đ́nh Cường
bảo đi đến 138 nước; và ngay cả trong
lời tựa thứ 2 trong Đại Đường Tây
Vức Kư của Thượng Thơ Tả Bộc Xạ
Yến Quốc Công Trương Thuyết có ghi là: Lời
tựa của Tam Tạng Thánh Giáo do Vua Đường Thái
Tông viết chỉ có 780 chữ" mà ông Vơ đă viết
là 781 chữ. Điều đó cũng dễ hiểu thôi v́
ông cũng có nhận định rằng: "Ông
Lương Khải Siêu bảo rằng Ngài Huyền Trang
sang Ấn Độ năm Trinh Quán nguyên niên là sai" và ông
đă chứng minh là năm Trinh Quán thứ ba mới
đúng. Điều chứng minh nầy của ông Vơ
đúng với Đại Tạng Kinh.
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho
Shinshu Daijokyo) là Đại Tạng Kinh được hoàn
thành dưới thời Vua Đại Chánh (Taisho). Vua
nầy là con của Vua Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji Tenno). Vua
Minh Trị đă có công duy tân đất nước
Nhật vào năm 1868 cách đây 135 năm (2003-1868) và sau khi
Minh Trị Thiên Hoàng băng hà, Vua Đại Chánh lên ngôi. Ông
Vua nầy trị v́ không lâu; nhưng được một
việc dưới thời ông Tam Tạng Kinh Điển
bằng chữ Hán đă được sưu tập
chỉnh lư và đóng lại thành bộ, để ngày hôm
nay tại Trung Hoa, Đại Hàn, Việt Nam, Mỹ
Quốc, có cơ hội căn cứ vào đó mà dịch
thuật nghiên cứu. Vào thời ấy, năm 1923
đến năm 1933 ( Đại Chánh năm 13 đến
năm Chiêu Ḥa thứ 7), Vua cho triệu tập 100 Học
giả Tăng Sĩ và Cư Sĩ toàn là những vị
đỗ Tiến Sĩ có tŕnh độ Phật học
thâm sâu kết thành bộ Đại Tạng Kinh
nầy.
Chúng ta biết rằng bản Đại
Đường Tây Vức Kư nầy y cứ vào bản
Đại Đường Tây Vức Kư của Kinh Đô
Đế Quốc Đại Học (Kyoto Teikoku Daigakku)
soạn ở trang 867 quyển 51. Như vậy đây là
một tài liệu đáng tin cậy. V́ lẽ tài liệu
từ Đại Học soạn dịch và dạy cho sinh
viên ở Nhật phải nói là hoàn chỉnh hơn những
tài liệu khác. Dĩ nhiên không phải là hoàn toàn đúng
hết; nhưng tài liệu ấy ta có thể y cứ
được.
Đại Đường Tây Vức Kư
được soạn từ năm 646, như vậy cách
nay đă 1357 năm (2003-646) mà văn thời đó là cổ
văn và dĩ nhiên những triều Tống, Nguyên, Minh,
Thanh đều có sửa đổi lại cho hợp
với câu văn của thời đại, để
người sau đọc dễ hiểu hơn. Rồi
đến thời Đại Chánh của Nhật Bản,
tức hơn 1200 năm về sau, Đại Tạng Kinh
nầy mới được h́nh thành tại Nhật và
dĩ nhiên là đă được những học giả
Nhật Bản san định lại một lần
nữa theo sự hiểu biết của người
Nhật qua tác phẩm Hán Văn trên. Rồi đến bây
giờ 2003 đă hơn 100 năm như thế, ngay cả
người Trung Hoa trong hiện tại, nếu không có
học Phật và không rành cổ ngữ mà xem vào cũng
giống như lội vào rừng chẳng có lối ra.
Nghĩa là có thể đọc, chứ phần hiểu
biết th́ rất ít. C̣n phần chúng tôi cố gắng
dịch sát từng chữ để cho đúng ư của tác
giả; nhưng chắc chắn là phạm rất nhiều
sai lầm. Lư do là thời gian quá lâu đă hơn 1300 năm,
tác phẩm nầy mới dịch sang Việt ngữ và
đă trải qua nhiều lần san định; nên
chắc rằng vấp phải nhiều điều ngoài ư
muốn.
Chúng tôi được một điều là
biết thêm tiếng Nhật, cho nên việc tra cứu có
phần dễ hơn một ít. Riêng chữ Hán nào không rơ th́
phải tra tự điển cùng với Thầy
Đồng Văn để làm cho rơ nghĩa, trước
khi dịch. Thầy Đồng Văn biết nhiều chữ
Hán và đă tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học
ở Ấn Độ năm 2001 tại Đại Học
New Delhi nên những phong tục tập quán và địa danh
Thầy ấy tương đối rành rẽ.
Sau khi dịch xong, chúng tôi trao qua Ḥa Thượng
Thích Bảo Lạc, bào huynh của tôi cũng đă tốt
nghiệp Đại Học Phật Giáo Thiền Tào
Động (Komazawa) tại Nhật để xem lại cho
thật kỹ một lần nữa, trước khi cho in
thành sách. Cho nên có thể tin tưởng thêm một phần
lớn của dịch phẩm nầy. Thêm vào đó,
Hạnh Giới là đệ tử xuất gia của tôi
cũng mới vừa tốt nghiệp Tiến Sĩ
Triết Học về Tôn Giáo và Ngôn Ngữ Học tại
Đại Học Hannover, Đức Quốc cũng đă
phụ lực trong việc đánh máy, tham cứu bài vở
trong khi dịch để dịch phẩm nầy
được thành h́nh. Dịch phẩm nầy
được thành tựu cũng không thiếu phần
đóng góp của Thầy Tông Nghiêm, người Mă Lai, Cao
Học Phật Học, và chú Hạnh Tuệ, thị
giả đă trợ lực cho Sư Phụ trong việc
dịch thuật, vốn là điều cần tŕ chí mà sức
khỏe con người có giới hạn, phải
đầy đủ thời gian cũng như hoàn cảnh
xung quanh tốt th́ mới hoàn thành được dịch
phẩm nầy.
Khi đọc sách, quư vị sẽ gặp
những danh từ của nước, của địa
danh, đôi khi khó đọc hoặc sai khác với nhiều
bản, chẳng qua đó là do sự phát âm sang tiếng
Trung Hoa, chỉ tựa tựa với tiếng gốc
chứ không hẳn là hoàn toàn đúng. Ví dụ ngày xưa
chúng ta phiên âm chữ Hán khi đọc tên Montesqieu là Mạnh
Đức Tử Kiêu, th́ người Pháp đọc
chắc họ cũng chẳng hiểu là ông nào vậy;
nhưng đó là một cái lệ mà người Trung Hoa và
người Nhật, người Đại Hàn v́ muốn
đọc được hết các tên địa
phương, tên người của quốc gia đó; nên
đă phiên âm ra như vậy, để ai cũng có thể
đọc được. Phần nầy, người
Việt Nam chúng ta có thể tiến bộ hơn v́ đă
để nguyên nguyên âm danh từ nước hay nhân vật
của nước ấy để đọc th́ quả
là tiện lợi vô cùng.
Lúc đầu khi đọc đến chữ
"Tốt Đổ Ba" chúng tôi chẳng biết là
nghĩa ǵ; nhưng sau mới biết là Ngài phiên âm chữ
Stupa có nghĩa là Tháp hay Bảo Tháp. Nếu dịch
thẳng ra tiếng Hán là Phù Đồ. Hoặc chữ
"Đỗ Lợi Đa" nghĩa là Tushita cung
trời Đẩu Suất. Hay chữ "Tu Đa La"
có nghĩa là Sutra là Kinh tạng. Nếu không hiểu danh từ
Phật Học khi gặp những chỗ nầy thật
khó mà giải quyết.
Quư độc giả sẽ không t́m
được Trư Bát Giới, Tôn Hành Giả, Sa Tăng
và con Bạch Mă trong tác phẩm nầy như Ngô Thừa Ân
đă giới thiệu qua tác phẩm Tây Du Kư mà ngày nay
người ta đă đóng thành phim, ai xem cũng thích ba
nhân vật kia hơn là Đường Tam Tạng; nhưng
thật ra Đường Tam Tạng mới là vai chính trong
khi đi thỉnh kinh như thế. Dĩ nhiên trên
đường đi Ngài cũng đă gặp những
nước chỉ toàn là đàn bà không có đàn ông, qua sa
mạc, qua sông Tín Độ chảy xiết, voi bị
sụp nước, kinh bị ướt mất, qua núi
Thống Lĩnh lạnh buốt v.v...nhưng không có
những yêu quái xuất hiện quá nhiều như trong Tây
Du Kư đă mê hoặc độc giả.
Những điều muốn nói, chúng tôi đă
bộc bạch hết rồi. Mong rằng quư độc
giả khi đi sâu vào nội dung của câu chuyện
sẽ học hỏi được nhiều hơn.
Tiện đây chúng tôi cũng xin phép tác giả họ Vơ
của quyển "Huyền Trang" và quyển
"Đường Tam Tạng Thỉnh Kinh" cho in
lại bài dịch ra tiếng Việt về lời tựa
của Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo
của Vua Đường Thái Tông mà Cố Ḥa Thượng
Thích Trí Thủ và Cố Ḥa Thượng Thích Thiện Siêu
đă dịch năm 1960 để độc giả lăm
tường.
Cuối cùng đại chúng tại Tu Viện
Đa Bảo gồm năm người đến từ
Đức đă ở đây gần ba tháng dưới
sự chăm sóc của Ḥa Thượng Thích Bảo Lạc
và Thầy Phổ Huân cũng như quư cô và quư Phật
Tử chùa Pháp Bảo ở Sydney; xin đa tạ thâm ân
đó. Nếu không có sự trợ duyên nầy th́ phần
nhập thất, dịch Kinh và tu học khó thành tựu
được.
Dịch Kinh công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước đều hồi hướng
Khắp nguyện chúng sanh trong Pháp Giới
Đều được văng sanh về Cực Lạc
Viết xong ngày 15 tháng 12 năm 2003 D.L.
tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi
nhân mùa nhập thất.
Thích Như Điển
Bài tựa
Đại
Đường Tam Tạng Thánh Giáo của Vua
Đường Thái Tông
Trộm nghe rằng: "Trời đất có
Tượng, chở che đă tỏ rạng đức Hàm
Sinh; đông hạ vô h́nh, mưa nắng vốn âm thầm
hóa vật. Bởi thế ngắm trời trông đất,
kẻ dung ngu cũng so biết mối manh; thông âm rơ
dương, bậc hiền triết thật khó cùng
đầu số. Song le, trời đất bao hàm âm
dương mà dễ biết là nhờ có tượng; âm
dương ở trong trời đất mà khó cùng là
bởi không h́nh. Cho biết: Tượng kia bày rơ đành
rành, dù ngu cũng chẳng hoặc; h́nh nọ kín che mờ
mịt, dẫu trí vẫn c̣n mê. Huống nữa, Phật
đạo hư truyền, u thâm lặng lẽ; cứu
khắp muôn vật, trị ngự muời phương. Nói
đến uy linh th́ tuyệt đối; nghĩ đến
thần lực lại vô cùng. Lớn th́ bao la ngoài vũ
trụ; nhỏ th́ thâu rút trong hào ly. Không diệt không sanh,
trải ngàn kiếp mà chẳng cổ; như ẩn như
hiện, diễn trăm phúc măi đến nay. Đạo
cả sâu huyền, noi theo mà chẳng biết đâu là
bờ mé; pháp mầu thẳm lặng, kiếm t́m cũng
chẳng thấu đến căn nguyên. Cho nên những
kẻ phàm phu ngu xuẩn, dung tục tầm thường,
nghe đến há không nghi hoặc được ư?
Song Phật giáo khởi hưng, nền tảng
xây từ Tây độ; Hán đ́nh báo mộng, từ quang
chiếu đến Đông phương. Nhớ ngày xưa
h́nh tích vừa phân, chưa nói ra, người đều
cảm hóa; vả lúc trước Phật c̣n tại
thế, ngửa trông đức ai chẳng tuân theo; kịp
đến khi ẩn bóng quy chơn, dung quang cách biệt; ánh
vàng mờ tối, ba ngàn cơi chẳng chiếu hào quang;
ngọc tượng phô bày, bốn tám tướng luống
trơ h́nh dạng. Từ đó kim ngôn lan khắp, cứu
vạn loại thoát khỏi tam đồ; di huấn
truyền xa, dẫn chúng sinh đều lên thập
địa. Nhưng mà chân giáo khó tin, được mấy
kẻ nhất tâm quy ngưỡng; tạp học dễ
tập, nào ai hay phân biệt chánh tà. V́ thế, không luận,
hữu luận, quen thói tục, tranh thị tranh phi;
Đại thừa Tiểu thừa, phải tùy thời thoạt
suy, thoạt thịnh. Nay Pháp Sư Huyền Trang là bậc
lănh tụ chốn thiền môn. Nhỏ đà linh mẫn, tâm
tam không (1) sớm tỉnh ngộ từ xưa, lớn
lại thần t́nh, tánh tứ nhẫn (2) trước bao
hàm đủ cả. Gió tùng trăng nước, chưa
đủ ví thanh hoa; tuyết sáng ngọc trong, khó so
bằng tư chất. Vậy nên, trí suốt thông không
bị ǵ hệ lụy, thần soi thấu cả những
việc chưa thành: vượt sáu trần xa hẳn lao
lung; tột thiên cổ không ai sánh kịp. Lưu tâm nội
cảnh, thương Chánh Pháp Suy vi; chú ư huyền môn,
buồn thâm văn sai uyển. Nghĩ muốn chia
điều chẽ lư, mở rộng chỗ học xưa;
bỏ ngụy thêm chơn, khai thông kẻ hậu tấn.
Vậy nên, ḷng trông đất Tịnh, thân đến cơi
Tây, mạo hiểm ngh́n trùng, xông pha chiếc bóng. Ban mai
tuyết phủ, đất mất đuờng đi;
chiều xế, cát bay, trời mờ lối tới. Muôn
dặm non sông, vén mây mù mà tiến bước; trăm
tầng nắng rét, đạp sương tuyết
để lên đuờng. Nặng ḷng thành coi nhẹ gian
lao; mạnh chí quyết sở cầu nguyện đạt.
Châu du Tây vức muời lẻ bảy năm. Trải
khắp đạo tràng tham cầu chánh giáo. Song lâm bát
thủy (3) , suy nếm mùi thiền; Lộc Uyển Thứu
Phong, thánh cảnh. Vâng chí ngôn của đấng thiên thánh,
lănh chơn giáo với bậc thượng hiền. T́m
thấu cửa mầu, tin cùng nghĩa áo. Đạo
nhất thừa cùng năm luật bộ, đầy
dẫy tâm điền; văn bát tạng với ba ḥm kinh,
dập dồn khẩu hải (4).
Những nước đă kinh lịch đi qua,
tóm thâu được tám tạng (5) kinh văn, gồm có
sáu trăm năm mươi bảy bộ, đem về
dịch truyền bá khắp Trung Quốc, để tuyên
dương thắng nghĩa. Dẫn mây Lành ở nơi Tây
vức, rưới mưa Pháp vào chốn Đông thùy. Thánh
giáo khuyết mà lại toàn, thương sanh tội mà
lại phúc. Dập tắt ngọn lửa nồng hỏa
trạch, dắt khỏi đuờng mê; lắng trong làn
sóng dục ái hà, đồng lên bờ giác. Thế mới
biết, ác do nghiệp trụy, thiện bởi duyên
thăng, cái cớ thăng hay trụy đều chỉ
tại ḷng người. Ví như: quế mọc trên
đỉnh cao, sương móc mới thấm nhuần
được ngọn; sen sanh trong nước biếc,
bụi nhơ khó vấy bợn đến hoa. Đó không phải
là tánh sen tự sạch, chất quế vốn trinh,
chỉ bởi ở tại nơi cao, nên vật hèn không
thể lụy; nương vào chốn tịnh, nên loại
bẩn khó làm nhơ. Ḱa như cây cỏ vô tri, c̣n phải
nhờ thiện mới nên thiện; huống hồ loài
người có biết, lại chẳng bởi lành mà thành
lành. Những mong kinh này lưu khắp, trải bao nhật
nguyệt vô cùng, phúc ấy nhuần xa, sánh với càn khôn
vĩnh viễn.
(Bản dịch của Cố Ḥa Thượng
Thích Trí Thủ
và Cố Ḥa Thượng Thích Thiện Siêu,
Sài G̣n, ngày 7 tháng 5 năm 1960)
Chú thích:
(1) Tam không: không, vô tướng, vô tác: ba môn
giải thoát
(2) Tứ nhẫn: Trong kinh Tư Ích về
phẩm Tứ nhẫn nói: Bồ tát có bốn pháp nhẫn
để tiêu trừ tội phá giới: một là vô sanh
nhẫn, hai vô diệt pháp nhẫn, ba nhân duyên nhẫn,
bốn vô trú nhẫn. Các vị Bồ tát quan sát bốn
điều nhẫn này khi chứng được th́
tội phá giới thảy được tiêu trừ.
(3) Bát thủy: Tên tám con sông lớn Ấn
Độ. Trong kinh Niết Bàn về phẩm Trường
thọ nói rằng: Phật bảo ngài Ca Diếp, như tám
con sông lớn, một Hằng Hà, hai Cát Ma La, ba Bát La,
bốn A Di La Bạt Đề, năm Ma Hà, sáu Tân Đầu,
bảy Bát Xoa, tám Tất Đà, đều chảy về
biển cả.
(4) Khẩu hải: ư nói khẩu Thuyết thao
như sóng biển
(5) Tám tạng: Đại, Tiểu mỗi
thừa đều có bốn tạng là kinh, luật,
luận, tụng.
Bài
tựa thứ nhất
Đại
Đường Tây Vức Kư
Thiết nghĩ: Cái nghĩa sâu xa th́ chuyên chở
vô cùng mà sự chứa nhóm của việc hiểu biết
khác nhau tùy theo tâm tánh. Bàn đến chuyện trời
đất cũng khó có chỗ cùng cực. Đất
đai bao la rộng răi, há chăng đây là bước
đầu tiên. Muốn biết hết cái ư chí ấy mà
chưa truyền đạt được. Mong nghe lời
dạy dỗ mà chưa đến kịp. Há có thể
hiểu được Đạo sao? Rành mạch về
Thiên Trúc cũng v́ nước nhà mà đến đó. Thánh
Hiền là cầu nối bắc qua, nhân nghĩa ở
đó đă thành tục lệ. Những việc như
thế tuyệt nhiên thay cho túi đựng của Càn Khôn.
Quả đất cách ngăn người và vật. Núi kia
không kể thời gian năm tháng mà Vua cũng chẳng có
thể ghi lại hết thành sách. Nh́n rộng ra th́ như
một khoảng trống không. Ít mong nơi dấu Trúc.
Đàn hậu học rơ con đường bí lối, sai
lầm phóng túng mà sức mạnh như hồ nước
Cơ Thần. Bèn làm cho giá ngọc trong sáng như sao
đêm. Hận cho sự huyền diệu đă trôi đi
ngàn đời. Mộng và Ảnh theo nhau như mặt trời,
mà cái ánh sáng thần kỳ ấy xa xôi trong vạn dặm.
Kịp đến lúc nhớ đi t́m Đạo
như Ma Đằng đă vào Lạc Dương. Kinh
tạng nằm nơi nhà đá, cũng chưa hết
nơi Long Cung. H́nh tượng họa vẽ tươi
đẹp mỹ miều như đỉnh cao Linh
Thứu. Từ trước đến nay, thời thế
chính sự nhiều lo âu, yểm người giỏi lên
cầm quyền. Dân bỏ Đông Kinh mà trơ trọi
một ḿnh. Mẫu hậu soán ngôi, quét sạch trong
Triều và đă xé ra từng mảnh. Hiến chương
như một cái ḥm bị bó lại. Đốt
đuốc để cảnh tỉnh nhưng vẫn
bị bế tắc. Bốn phía nhân đây mà lập nên
nhiều thành lũy. Đâu có xa xôi đây bao nhiêu, mà
những khách đến mua danh chuộc tiếng, trong
đời khó biết dường bao. Sự lệch
lạc đó vẫn c̣n ghi chú lại. Yên ổn cho
đến đất đai cũng vậy, bỏ bê
việc tinh thần, chưa hết ḷng như lời
sắc chỉ. Dẫu có muốn thống nhất cũng
thật là công việc biên cương to lớn. Trên cản
trở ḷng thành nơi bốn biển mà phải thở
than. Hướng về phía đông như cái thoi liên
kết. Đưa cao tiêu biểu trước cửa
ngọc. Lại có nhiều người tin. Lợi lạc
rộng răi như khởi đầu của non cao. Che
chở không những đầy đủ đời
đời mà c̣n có thể chỉ lối Tuyết Sơn
để đến. Hướng về Hồ Rồng mà
chỉ một ḷng. Chỉ v́ cái Đức không bị
vật uy hiếp mà chẳng thích hợp.
Đại Đường của ta có thiên
hạ, mở mang đất nước, lập ra
đế quốc quét sạch sao chổi, tẩy trừ
sạch sẽ từng lối trong cơi đời. Công
ấy ngang hàng với tạo hóa. Ánh sáng rọi soi,
người như được tái sanh. Cốt nhục
mà giống như lang sói, nhà cửa được
triều đ́nh ban thưởng dài lâu. Trở lại
hồn ma nơi mồ mả. Gồm chưng các loại
nơi xa lạ. Che đậy xa gần hoang sơ hưng
phế. Cung điện mười châu như cái hồ
nơi biển cả. Năm đời Vua là Vương
Triều thưở trước. Pháp Sư từ nhỏ đă
gần gũi Phật Môn. Bùi ngùi to lớn nơi
vườn nhà chưa rơ hành vi tông tích, ḷng nhớ nghĩ
lâu dài đến Thánh tích. Nguỡng vọng nơi Lộc
Uyển với tâm cao ngất. Áo Y nơi cảnh Tịnh,
thật ra chỉ lo nghĩ cho vẹn toàn. Gặp thuần
phong tập tục ở phương Tây, rồi sau đó
mang Giới Luật về Đông Độ.
Năm Trinh Quán thứ ba, tay cầm tích
trượng ḍ đường, để báo ơn Hoàng
Đế bao đời trong cơi Tục, mà quên đi những
khó khăn nguy hiểm chất chồng. Giả thật
cũng là trợ duyên, đă đặt chân đến
được nơi xa lạ ấy, đă gặp bao
hiểm nguy như giá lạnh sương sa nhưng vẫn
ra đi. Chỉ một ḷng mong đến. Dùng ngôn ngữ
để t́m Thật Tướng. Thấy hay không thấy,
Có hay Không đều khảo sát tinh vi rơ hiểu. Nghe hay
chẳng nghe, bởi v́ việc sanh diệt, mở bày
sự nghi ngờ như biển cả đă giác ngộ cho
bao nhiêu kẻ c̣n mê. Tất cả đều nằm nơi
kinh điển. Lời nói không cùng; nên cúi đầu
trước Thánh tích. Chẳng có việc nào mà chẳng
để ư đến, rồi mang trở về đây
không ít, như cờ, xí, lọng, kinh. Vào tháng giêng năm
Trinh Quán thứ 19 về đến Trường An, chở
theo Kinh, Luận 657 bộ, được chiếu chỉ
nên liền phiên dịch. Xem qua đă đi 110 nước.
Những chuyện được kể ở đây rút ra
trong 28 nước. Hoặc chính mắt thấy, hoặc
chính tai nghe lại được chuyện xưa. Tuy
mọi việc chưa ổn định, liền bắt
tay vào việc lúc mới về, thỉnh mời thêm để
dịch nghĩa, như bắc thang lên núi để t́m.
Rồi hỷ hoan mừng rỡ như vỗ tay reo.
Chịu nhận áo, mũ, cân, đai để thành lập.
Tuy rằng gió mưa, sự vật có sự sai
khác, tập quán núi sông cũng thế; nhưng phải cúi
đầu nơi nước xa xôi kia. Rồi họp
lại các bậc kỳ túc của triều đ́nh gần
xa; Nương vào việc hiện tại mà chẳng
quản nài cực khổ làm chỗ căn bản, chỉ
vẽ rơ ràng cho người xung quanh. Đặt tên là
"Đại Đường Tây Vức Kư" gồm
một quyển 12 tập. Quên đi mọi việc mà
viết nên thành lời, rồi nối chắp lại
với nhau để trở thành những lời
đẹp đẽ ghi chép thành câu với con
đường khó khăn ấy để bổ sung thành
sách.
Thư Kư: Tả Lang kính viết lời tựa.
Bài
Tựa thứ hai
Đại
Đường Tây Vức Kư
Nếu ngọc đẹp sẽ măi chiếu sáng
lưu truyền, nước Cam Lồ nhuần thấm
nơi Đại Thiên. Kính soi màu vàng giương cao
chiếu sáng. Hương thơm của gió mang lại
nơi nầy. Cho nên phải biết rằng đó là
sự thị hiện nơi Tam Giới, bằng xưng là
bậc đáng quư trong đất trời. Ánh sáng bốn bên
làm tiêu chuẩn to lớn trong thiên hạ. Đây là ánh sáng
trí tuệ được rạng soi. Rồi nhờ
ngựa, voi mang về Đông Độ. Vua đă rộng
đường mở lối, thành lập từng
bước có tính cách Điển Chương.
Tại Từ Ân Đạo Tràng có Tam Tạng Pháp
Sư húy Huyền Trang, tánh họ Trần. Trước tiên
chở người qua sông, rồi ngựa xe của Vua
đến rước. Kinh sách chở về lại chỗ
bắt đầu. Đài cao cửa rộng, đă trải
qua chốn núi non cao vót tạo thành. Ba điều cung kính
chiếu soi nơi Vu Cơ được chuyên chở. Sáu
điều kỳ dị được chiếu sáng
từ đời Nhà Hán đến nay. Sách của Nhà
Tần như ánh sáng của mặt trăng. Con
đường ra đi ấy giống như cái
Đức tụ lập của sao Mai. Phó thác nơi
hiểm hóc liên tục như vảy cá. Vua vốn nhờ
gió Nhà Tề che chở. Cứu đời là cái đẹp.
Chở che làm cảnh như bao dung. Pháp Sư đă
được sanh ra, bao hàm cả cái Đức, đă có
gốc gác thâm sâu tươi tốt ấy, rồi
được dẫn dắt vào chốn linh thiêng, mở
ra một thời đại mới, như ánh sáng mặt
trăng. Cát góp nhiều năm như hoa Lan xông đến,
như mùi thơm của Quế, liền thành lập ngay
những người giỏi giang cao quư. Chín bệ chờ
nghe, năm phủ giao tiếp. Phải sớm rơ giả
chơn. Kính cẩn triệu mời từ bi trí
tuệ.
Tấm gương chơn chánh ấy như
nơm rợp cá, do sự sanh nhai luôn cần đến, mà
dây chỉ đỏ được cột nơi mũ áo.
Đó là cương giới buộc ràng. Xe quư, thuyền
vững để đón người xuất thế. Do
đó mà khách trần ai lưu lạc, rồi vào chốn
nước đục. Lời nói khi trở về nhẹ
nhàng rộng răi làm cho huynh trưởng Tiệp Pháp Sư
cũng là rường cột của ḍng họ Thích mà thân
thế cũng là bậc Long Tượng. Giống như
con c̣ trắng của nơi nầy. Trong triều ngoài
nội đâu đâu cũng nghe thấy tiếng. Liền
v́ t́nh thâm bằng hữu ḥa kính với Thiên Nhan. Pháp Sư
đă nghe lời chiếu chỉ. Những phần bị
che lấp v́ Nghiệp mà làm cho sáng tỏ phía trên. Kẻ
ưu tú nơi nhà Thiền lấy cái Đức mà làm
chuẩn mực. Bèn chia pḥng ốc mà dịch sách, dịch
kinh. Gói chín bộ kinh như ôm một giấc mộng,
đánh trống, khơi nguồn sâu sắc. Cúi đầu
bốn hướng mà cầu, từ đây biên thành
chuyến ra đi qua việc hiểu biết mà đàm
luận, đến được nhiều nơi như
ḷng đă thổn thức và việc ấy đă thành công.
Có thể hoàn tất như trời đất mới
bắt đầu ngày tháng. Tiếp xúc với sự vi
diệu của thần linh, ai ai cũng đều vui
vẻ, để phát huy sự linh thiêng ấy.
Đây là lời vàng mở đầu, nhân mùa thu
lạnh sương tuyết tràn đầy, ngọc bính
vừa thắt vào cũng giống như sương kia
ẩn tính nước. Nếu gặp bánh xe chuyển
động, dụ như biết được giây
đàn. Rót nước vào b́nh nghe rơ tiếng. Thuyền
hư trôi nổi đi xa mà gặp được
đất liền, th́ trước tiên phải lo cho cái
bụng đă xa rời làng xóm. Nổi trôi ở một góc
xa xôi, xa rời cố quốc, cho nên nói rằng:
Ngày xưa nghe người họ Cẩu cùng tám
con rồng, c̣n nay th́ thấy được cửa nhà
họ Trần. Người luôn biết nhiều nơi
lạ và nay chép lại những lời thành thật
nầy. Pháp Sư từ nhỏ đến lớn, có cái tâm
sâu sắc lúc ra đi t́m chân lư, danh ấy vẫn c̣n lưu
lại ngày sau. Đem Kinh sách về, tiếng hay đồn
khắp đó đây mà vẫn không quên gốc gác. Bẻ hoa
làm đau sự thật; nên có sự học hỏi sai khác
giữa nam và bắc, đúng sai chia rơ. Lời xưa như
thế, hăy dùng cái tốt là chuyện hiển nhiên. Hoặc
sợ sự tuyển dịch dẫm chân lên nhau, chưa có
thể đi sâu hơn, muốn xông hương lời
văn và sẽ để mắt vào nơi Long cung nữa.
Đó là cái Đức tuyệt luân, đă đến
thời kỳ làm cho rơ cái ư; nên đă chống tích
trượng mặc Pháp y, lần ḍ theo biên giới. Đây
là do sự mong muốn của Ngài, vượt qua núi cao
thẳng đến nơi Thánh Tích. Sông đất nối
dài quá nhiều nguy hiểm. Nếu không có nguyện vọng
rộng lớn th́ không thể đi xa; nên đă
nương theo Ngài Pháp Hiển mà đến. Dùng
bước chân của ḿnh đến đó để nghiên
cứu hoàn thành, ngay cả tiếng địa phương
cũng thông suốt. T́m cầu học hỏi mọi
lẽ huyền vi và sự vi diệu vô cùng ấy cũng
đă gặp. Văn từ ấy như con hạt vàng mang
về từ Thiên Trúc. Lời Kinh c̣n ghi trên lá Bối, mang
về chỉnh trang lại.
Thái Tông Văn Hoàng Đế đă ngự
đến bằng xe vàng, mang Kinh Điển đặt lên
chỗ quư, chở đi cẩn thận; rồi quanh
khắp điện Vua. Qua chỗ hiểu biết, sắp
đặt cho chỗ ăn chỗ ở, rồi tự tay
ban bố chu cấp cho người tiếp tục. Cúi
đầu bày vẽ chỗ sáng suốt hiểu biết và
Vua đă ban cho lời Tựa cho Tam Tạng Thánh Giáo có 780
chữ. Nay vẫn c̣n tồn tại lời thuật
của Thánh Ư. Trong đó có 579 chữ nhằm tán
dương sự huyền diệu của kinh thơ và nêu
cao ư chỉ, như một vệt sáng để chim có
thể bay về rừng, mà ánh sáng ấy đă phát xuất
từ non Linh Thứu. Há việc ấy đă giáng lâm.
Phụng chiếu phiên dịch bản chữ
Phạn gồm 657 bộ qua việc thấy, nghe, biết
về những tục lệ khác ấy, chẳng mất
tính chất đặc thù và địa dư cách trở.
Nhân đây làm lời Tựa vào ngày mồng một
để bắt đầu cho sự hiểu biết Giáo
lư ấy mà viết lên Đại Đường Tây
Vức Kư gồm có 12 quyển, biên chép sao lục những
điển tích, cũng như những gốc gác rơ ràng.
Lời nói ấy không mục nát vẫn c̣n ở lại
nơi nầy.
Thượng Thơ Tả Bộc Xạ Yến
Quốc Công
Trương Thuyết soạn
Quyển thứ
nhất
(34 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước A Kỳ Ni
2. Nước
Quật Chi
3. Nước
Phạt Lục Già
4. Nước
Xích Kiến
5. Nước Giă
Thời
6. Nước
Phế Hăn
7. Nước
Tốt Đỗ Lợi Sắc Na
8. Nước
Phong Mạc Kiến
9. Nước Nhi
Chư Hạ
10. Nước
Kiếp Bố Xương Na
11. Nước
Quật Tương Nhi Ca
12. Nước
Yết Hăn
13. Nước
Bổ Yết
14. Nước
Đại Địa
15. Nước
Hóa Lợi Tập Di Dà
16. Nước
Yết Sương Na
17. Nước
Hằng Mật
18. Nước
Diệt Ngạc Hạnh Na
19. Nước
Nhẫn Lộ Ma
20. Nước
Dụ Mạng
21. Nước
Cúc Ḥa Hằng Na
22. Nước
Hoạch Sa
23. Nước
Khả Xuất La
24. Nước
Câu Mễ Đă
25. Nước
Phược Già Lăng
26. Nước
Ngật Lộ Tất Ni Kiến
27. Nước
Nhẫn Lẩm
28. Nước
Phược Yết
29. Nước
Duệ Mạt Da
30. Nước
Hồ Thật Kiến
31. Nước
Đản Sắc Kiến
32. Nước
Yết Thức
33. Nước
Phạm Hành Na
34. Nước Ca
Tất Thí
Lịch sử được diễn ra
để dâng hiến cho Hoàng Đế xem xét qua sự
việc biên chép, gói ghém những lễ nghi đầu tiên
đưa ra làm chấn động. Cái trục quay của
bánh xe ấy, đă rũ xuống như chiếc áo che
chở lúc ban đầu. Cho nên Ty Mục Lê Nguyên căn
cứ vào đây mà chia ra cương lănh. Huống hồ nhà
Đường nhận được mệnh Trời
từ Vua Nghiêu, ánh sáng ấy đă nhuần thấm bốn
bể. Nhà Ngu, nhà Vũ đă thêm vào địa đồ,
cái đức ấy đă nhuần khắp nơi chín cơi.
Từ ấy đến nay, những việc Có, Không
đều ghi nơi sách vở. Xa nghe nơi phía
trước đă sửa đổi và sự nghe biết
ấy ghi lại thành sử. Đó chẳng phải là lúc
gặp Đạo Vận Vô Vi sao?
Đại Đường của chúng ta tối
cao trong trời đất, thừa thời cơ nắm
lấy vận mệnh đă từ lâu, mười sáu
nơi hợp thành cung nội, bốn mươi ba
đời Vua liên tiếp chiếu soi. Sự huyền hóa
ấy chan ḥa khắp chốn. Gió lành mở cửa, cùng càn
khôn chuyên chở, mưa móc nhuần thấm cỏ cây. Làm
hưng thịnh phía đông và người phía tây phải
triều cống. Sáng Nghiệp ấy chưa hoàn toàn
thống nhất, nhưng đă trừ sạch những
loạn quân phản chánh. Việc ấy đă hơn
hẳn những vị Vua đời trước. Ví như
văn hiến cùng cung cách trị nước đă thành
công, chẳng ghi chép vào đây cũng không phải là sự
tán dương không to lớn. Không được sự soi
sáng th́ làm sao Nghiệp Đế lại vững bền. Cho
nên Huyền Trang mới theo đó mà đi được,
đến ở nước kia, để khảo cứu
những tập tục lạ. Nhờ ḷng tin mà đă
vượt qua năm ba cơi. Cùng với nơi kia bị gió
mưa làm nhọc; nhưng vẫn chưa nói lời nào
để tâng công, đă tự ḿnh vượt qua quan
ải, mới đến được các nơi ở
Thiên Trúc, chỗ ấy chứa đầy tục lệ
khác ta, đều là những nơi chưa hề quen
biết, hoặc thừa lúc gió bấc mà thấm vào lời
dạy. Đó là do sự huân tập của Người.
Nói lên sự thật nơi cửa miệng. Lời văn
thật hay nhờ cái Đức cao dày, v́ đă xem xét rơ ràng
mà được sự che chở. Cho nên thường nghe:
Xa xôi mưu nghĩ về sách vở, mà sự thành thật
không có hai. Nếu không có sự trung thực hà tất
phải viết lại ở đây. Nay căn cứ theo
sự thấy nghe ấy mà thuật lại.
Ở thế giới Ta Bà nầy là một trong ba
ngàn đại thiên quốc độ, Phật đă v́
đây mà nhiếp hóa, ngày nay nhật nguyệt đă
chiếu soi trong bốn châu thiên hạ. Căn cứ vào
trong ba ngàn đại thiên thế giới ấy, chư
Phật Thế Tôn đều v́ đó mà giáo hóa, hiện
đang sanh, hiện đang diệt. Cả đạo Thánh
lẫn đạo Phàm mà Tu Di Sơn đă do bốn báu
hợp thành nằm giữa biển lớn. Trên đó có bánh
xe vàng, mặt trời, mặt trăng đều chiếu
rọi. Đây cũng là nơi chư Thiên qua lại,
dạo chơi nơi băi núi, băi biển ấy. Xoay tṛn
như thế, cho đến núi biển sông ng̣i, trở
thành nước tám công đức. Bên ngoài thất kim
sơn kia là biển cả. Trong biển ấy cũng có
thể ở được mà đại lược
gọi là bốn châu thiên hạ. Phía đông có Tỳ
Đề Ha Châu. Phía nam có Chiêm Bộ Châu (Diêm Phù
Đề). Phía tây có Cù Đà Ni Châu. Phía bắc có Câu Lô Châu.
Tất cả đều được bao bọc bởi
Kim Luân Vương trong bốn châu thiên hạ.
Ngân Luân Vương giữ ǵn Bắc Câu Lô Châu.
Đồng Luân Vương giữ Bắc Cu Lô và Tây Cù
Đà Ni. Thiết Luân Vương ở Chiêm Bộ Châu. Phàm
là Luân Vương là kẻ làm Vua tùy theo phước báu và
chiêu cảm để có được đại Luân
Bảo. Nổi trôi trên hư không mà đến và
được phân biệt bởi các danh từ: kim, ngân,
đồng, thiết sai khác nhau thay v́ nêu thứ tự
của các cảnh giới là: thứ tư, thứ ba,
thứ hai và thứ nhất. Nhân đây mà phóng ra ánh sáng
đoan nghiêm để làm hiệu lệnh. Phía Thiệm
Bộ Châu ở giữa có đất, lại có hồ
Nhiệt Năo. Núi Hương Sơn nằm ở phía Nam. Núi
Tuyết Sơn nằm ở phía bắc. Chu vi tám trăm
vạn dặm. Bên bờ lại được trang
sức bởi kim, ngân, lưu ly, pha lê mà thành. Chung quanh có cát
vàng bao bọc. Sóng trong xanh như tấm kính. Nơi
đại địa Bồ Tát do nguyện lực mà hóa
thành Long Vương lấy đó làm nhà.
Ra khỏi nước trong mát kia, nơi cơi Chiêm
Bộ Châu, có một cái hồ ở mặt phía đông, màu
nước bạc chảy ra khỏi một cái miệng,
lớn như miệng ḅ. Sông Hằng bao quanh hồ
nầy, rồi nhập vào phía đông của biển.
Mặt hồ phía nam như miệng của Voi, lưu
chảy đến sông Tín Độ, vây quanh hồ một
đoạn, rồi nhập vào phía tây nam của biển.
Mặt hồ phía tây như lưu ly, giống như
miệng của con ngựa và chảy đến sông
Phược Sô, vây quanh hồ một lần, rồi
nước đổ vào biển phía tây bắc. Mặt
hồ phía bắc giống như miệng con sư tử
Phả Thi chảy vào sông Đồ Đa, ṿng quanh hồ
một ṿng rồi nhập vào phía đông bắc của
biển. Hoặc nói rằng thấm vào đất,
khiến cho sanh ra núi đá, tức là sông Đồ Đa,
cũng gọi là sông khởi nguyên ở giữa
nước Ấn Độ.
Lúc ấy Vua Luân Vương ứng vận,
đất đai ở Chiêm Bộ Châu có bốn vị
chủ thần. Phía nam có Tượng Chủ, tức
Trứ Thấp Nghi Tượng. Tây Bảo chủ giáp
với biển quư. Bắc Mă chủ với Hàng Kinh Nghi Mă.
Đông Nhơn chủ, cùng với con người tạo
nên quốc gia Tượng chủ. Hay nóng nảy,
thường làm điều sai trái và đặc biệt
rất nhàn hạ với các nghệ thuật khác. Ăn
mặc th́ quấn ngang bên phải, đầu chia tóc ra
bốn bên, thuộc loại ở nhà cửa lầu các.
Đó là quê hương của Bảo chủ. Vô lễ
nghĩa trọng tài vật. Chế ra đồ mặc
ngắn, cắt tóc và để tóc mai dài ra. Cư trú nơi
Đô Thành, thâu gặt buôn bán lấy làm lợi tức. Trong
tục lệ của Mă chủ, trời sai hung bạo, tánh
t́nh hay sát hại, lông bụng mọc nổi lên như chim
có thể làm tổ được.
Nơi con người làm chủ th́ có phong
tục, trí tuệ nhân nghĩa được chiếu sáng.
Đầu đội mũ, áo mang đai bên phải như
quân phục. Đất đai có nhiều loại và cày
cấy trồng trọt có nhiều vụ. Trong ba vị làm
chủ ấy, phong tục phương Đông đứng
đầu. Họ ở nơi pḥng ốc và cửa nhà
hướng về phía đông. Ngày ngày vào mỗi buổi
sáng hướng về hướng đông để
lễ bái. Đất đai của con người nằm
ở phía Nam, gồm nhiều vật quư. Phong tục
đặc thù. Rất đặc biệt nhưng đại
khái là như vậy. Họ đối với nhau bằng
cái lễ của quân thần có trên, có dưới. Lấy
hiến chương làm căn bản và đất đai
của con người có giới hạn. Tâm trong sạch,
thích nghe lời giải thích khi cần đến và
muốn xa ĺa nơi sanh tử theo lời dạy.
Trong khi đó, nước Tượng chủ
đang có cái lư ưu thế, liền mặc áo đi qua
để cật vấn những tục lệ địa
phương, rộng biết mở bày xưa nay và tra
cứu rơ ràng việc nghe thấy. Cho nên từ đó, giáo
pháp của Phật mới truyền sang Đông độ,
thông dịch tiếng nói, ngôn ngữ của địa
phương. V́ chú âm sai lầm nên ư nghĩa thường
không đúng. Khi chữ sai th́ lư trái ngược cho nên
phải làm cho đúng vậy, đừng cho sai trái. Phàm làm
người có cương nhu khác nhau, tiếng nói chẳng
giống; nhưng đều giàu có về phong tục và khí
hậu đất đai. Có nhiều phong tục
được đặt ra. Sông, núi, sản vật, phong
tục, tập quán tuy không giống nhau nhưng con
người vẫn làm trọng tâm. Có sử sách
nước ḿnh ghi lại rơ ràng. Tục lệ của Mă Chủ,
làng xóm của Bảo Chủ đă được chuyên
chở đầy đủ trên nhiều sử sách. Ở
đây xin lược bớt. Nước Tượng
Chủ, th́ chuyện xưa chẳng rơ. Chỉ biết
đất đai nóng và ẩm ướt. Những tập
tục tốt và nhân từ được lưu lại.
Nhưng c̣n vấn đề ở đâu, không thấy nêu
lên rơ ràng. Há con đường ấy đă có, nhưng vô
thường đă thay đổi vậy. Đời sau
muốn hiểu biết phải t́m mà đến.
Uống nước nên đến nơi bờ,
vượt qua hiểm nguy mà đến nơi cửa
ngọc. Cống hiến những điều kỳ lạ
mà bái vọng. Bởi lẽ cái khó được mà nói
được. Do lư nầy mà phải t́m đường
để đi xa. Sự ích lợi ấy c̣n ghi lại
cả phong thổ tập quán. Những đỉnh núi cao
đă vượt qua; nhưng tục lệ của Hồ
chưa rơ hết. Tuy con người có lớn nhỏ khác
nhau, nhưng đều thông suốt và tộc loại có
chia ra biên giới lănh thổ. Đại khái về phong
thổ, ăn mặc, xây dựng thành ấp, mùa màng,
trồng trọt, ruộng vườn, gia súc, tánh t́nh hay quư
trọng tiền tài. Có nơi tục lệ lại coi
nhẹ nhân nghĩa. Giá thú không lễ nghi, tôn ty chẳng có.
Có nơi trọng đàn bà, c̣n đàn ông th́ không
được trọng dụng. Chết th́ thiêu, hài
cốt c̣n vô số. Có chỗ th́ mặt bôi than, tai cắt,
tóc ngắn, mặc xà rông, giết hại súc vật
để cúng tế thần linh. Đồ th́ mặc
nhiều lớp, hung ác, hèn hạ. Những phong tục
như thế đều giản lược bớt,
chỉ tuyển ra một vài tập quán với những
chính sách đặc thù được chế ra, do từng
địa phương khác biệt. Sau đây sẽ ghi
lại những phong tục, ngôn ngữ của Ấn Độ,
để xướng danh đất nước nầy
cho những người gần xa. Đầu tiên là
nước A Kỳ Ni.
1) Nước A Kỳ Ni, đông tây hơn sáu
trăm dặm. Nam bắc hơn bốn trăm dặm, chu
vi của Thủ đô 67 dặm. Bốn phía bao bọc
bởi núi non hiểm trở. Sông ng̣i ao hồ, lấy
nước đó làm ruộng. Ruộng ấy cấy lúa.
Trồng hoa, trồng nho, lê và các thứ cây ăn quả
khác. Khí hậu điều hoà, phong tục chất trực.
Chữ nghĩa lấy từ tiếng Ấn Độ.
Dùng vải thô để phục sức, cắt tóc không
trang điểm. Tiền th́ có tiền vàng tiền bạc
và tiền đồng nhỏ. Vua của nước này là người
dơng mănh mưu lược; nhưng nước không có
kỷ cương, luật pháp không chỉnh đốn.
Nơi đây có hơn 10 ngôi chùa. Tăng tín đồ có
hơn 2000 người. Họ theo Tiểu Thừa giáo,
Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ. Kinh điển
luật nghi đều học theo Ấn Độ. Sự
học tập cũng như văn chương ấy
đều lấy giới luật thanh tịnh làm
đầu; nhưng dùng tam tịnh nhục, đại
biểu cho Tiệm giáo vậy. Từ đây đi
đến phía tây Nam hai trăm dặm hơn, phải qua
một núi nhỏ, hai con sông lớn. Phía Tây có B́nh Nguyên,
đi hơn 700 dặm th́ đến nước Quật
Chi.
2) Nước Quật Chi, đông tây hơn ngàn
dặm. Nam Bắc hơn 600 dặm. Thủ đô của
nước này 78 dặm. Có trồng lúa mạch, nho, lựu
và nhiều đào lê. Những thổ sản như vàng,
đồng, thiếc, khí hậu phong tục ôn hoà. Chữ
nghĩa cũng lấy từ Ấn Độ để
cải biến thành. Đối xử tốt đẹp
với các nước láng giềng. Ăn mặc bằng
vải thô, tóc cắt ngắn. Tiền bạc dùng bằng
đồng vàng, đồng bạc và tiền đồng
loại nhỏ. Nước này có Vua mưu lược dơng
mănh, lại có những cường thần. Ở đây có
nhiều sự biến thái của dân tộc. Chùa chiền
hơn trăm cái. Tăng tín đồ hơn 5.000
người học tập theo Tiểu Thừa giáo
thuộc Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ. Kinh giáo
luật nghi đều lấy từ Ấn Độ. Đọc
nguyên theo những bản văn chính. Theo tiệm giáo nên dùng
tam tịnh nhục. Kẻ thanh tịnh được cung
kính. Phía đông của quốc gia này có một ao rất
lớn. Nơi đó xuất hiện nhiều con rồng
hay lấy nhau với ngựa sanh ra ngựa rồng trông
rất khó coi. Ngựa rồng được huấn luyện
thuần thục. Cho nên nước này có nhiều ngựa
hay. Nghe người xưa thuật lại rằng: Nhà Vua
gần đây hiệu là Kim Hoa Chánh Giáo Minh Sát Cảm Long Mă
Thừa. Vua muốn khi chết chưa hết tiếng; nên
đă truyền lại cho đến ngày nay. Ở trong thành
không có giếng mà lấy nước từ ao hồ.
Rồng cũng biến thành người, giao hợp
với phụ nữ, sanh con mạnh mẽ như ngựa.
Như thế những người ở đây đều
thuộc giống rồng, dùng sức mạnh để ra
uy không tuân theo Vương mệnh. Vua sát hại những
người trong thành này, v́ không có sách lược nên ít
hại được ai và thành này bây giờ cũng không
c̣n người nữa.
Hoàng thành phía Bắc hơn 40 dặm giáp với
núi và sông. Có hai ngôi chùa cùng có tên Chiếu Cổ Cốc;
nhưng Đông Tây th́ tùy xưng. Sự trang sức Phật
tượng do nhân công làm lấy. Tăng tín đồ dùng
trai thanh tịnh. Tại Phật đường Chùa
Chiếu Cổ này có ngọc thạch. Mặt dài hai
tấc, màu vàng và trắng giống như nước
biển. Tại đây cũng có dấu chân của
Đức Phật, chiều dài cở tám tấc, chiều
rộng cở sáu tấc. Những ngày lễ lạc
đều có thắp đèn. Bên ngoài cửa phía Tây của
thành ở hai bên đường đều có dựng
tượng Phật. Cao hơn 90 tấc. Nơi
trước tượng này cứ mỗi 5 năm có
một lần đại hội, cúng lễ mùa thu
đến 10 ngày. Tăng tín đồ đều
đến đây tập hội. Trên từ quân
vương, dưới đến thứ dân theo phong
tục này phụng tŕ trai giới. Thọ kinh thính pháp ngày
này qua ngày khác. Chư Tăng sửa soạn Phật
tượng nơi già lam dùng vải để trang sức,
kết hoa nơi Phật tượng. Vương
Đại Thần cũng hội nghị quốc sự
cùng với cao Tăng, khi đông nhất có cả ngàn
người vân tập thường vào ngày 15 mỗi tháng.
Từ hội trường tây bắc qua sông đến A
Nhă Lư có hai ngôi Già Lam, nơi đây thờ tự Phật
tượng rất đẹp đẽ. Tăng tín đồ
siêng năng tu học không giải đăi. Họ là những
người có đức độ và học vấn cao. Xa
xôi cách mấy cũng có nhiều người đến
không dừng. Quốc Vương đại thần
thứ dân tả hữu luôn luôn có tứ sự cúng
dường và có tâm cung kính. Nghe người xưa nói
lại rằng Vua đời trước rất sùng kính
Tam Bảo, muốn đi chiêm bái các Thánh Tích, nên để
cho mẹ và em nhiếp chính. Người em lănh giữ,
nhưng chưa tự pḥng giữ được như vua
anh, nên có vấn đề. Khi ngài trở về lại
chẳng như ư nên Vua đă cho người khác thay
thế. Những kết quả của Vua em làm đă
tạo nên những việc loạn dâm trong triều đ́nh
cung nội. Khi Vua nghe được như vậy liền
giận dữ muốn nghiêm phạt. Người em nói rằng
: "Em muốn cho Vương Triều phát đạt
tạo nên thế lực lớn, mà sanh ra kết quả
khác thường như vậy. Có ngờ đâu sinh ra việc
ấy".
Lại nói khi Vua đi du hành để lại
những công việc triều chính, mà người em đă
làm hại th́ kết quả bây giờ đă có nhật
nguyệt chiếu soi. Nhà Vua v́ t́nh cảm anh em mà cho vào ra
nơi cung đ́nh không có nghiêm cấm. Sau đó Vua em đă
tự tiện giết 500 con ḅ, thấy thế liền nghi
mọi việc băng hoại. Chẳng qua là túc nghiệp
của ta giống như loài ḅ nầy v́ ḷng từ
thiện mà hy sinh vậy. Những kẻ có h́nh người
nam không được nhập cung. Nhà Vua được
điều trần trước sau như vậy; nhưng
nhà Vua vẫn đặc biệt cho kiến tạo già lam
xây dựng chỗ ở cho Tăng. Từ đây
đến phía tây sáu trăm dặm, trải qua sa mạc
nhỏ đến nước Phạt Lục Già.
3) Nước Phạt Lục Già, đông tây
hơn 600 dặm. Nam Bắc hơn 300 dặm, chu vi thành
nội 56 dặm, thời tiết phong tục điều
ḥa. Chữ viết dùng giống như nước Quật
Chi. Tiếng nói ít đổi khác. Có sự giao thiệp
với nước lân bang rất tốt. Chùa viện có
hơn 10 cái. Tăng tín đồ hơn 1000 người tu
theo Tiểu Thừa, thuộc Thuyết Nhứt Thiết
Hữu Bộ. Phía tây bắc hơn 300 dặm từ núi
đá đến Lăng Sơn, phía nầy có núi cao và b́nh
nguyên. Có nhiều sông chảy về hướng đông, núi
cao có tuyết. Mùa xuân mùa hạ vẫn c̣n đóng băng,
tùy lúc băng tan rồi trở thành nước. Đường
đi hiểm trở, mùa đông gió lạnh thê lương.
Nơi đây đa phần những kẻ phạm nhân
bị đày, đường đi khó khăn, chẳng
mang theo được đồ dùng, kêu nhau lớn
tiếng. Nếu có vi phạm th́ nguy đến tính
mạng. Gió thổi mạnh làm cát đá bay như mưa.
Nếu ai gặp phải chẳng toàn sinh mệnh. Đi núi
suốt như thế hơn 400 dặm th́ tới ao rất
lớn, nơi nầy c̣n gọi là biển nóng, chu vi ngàn
dặm. Phía đông tây dài phía nam bắc th́ hẹp, bốn
phía đều là núi, nước chảy từ trên ấy
xuống. Màu nước xanh đen, vị thường
đăng đắng. Sóng chao gió đảo có rồng cá
đủ loại, linh quái nổi lên. Cho nên khách văng lai
phải tạo phước. Những loài thủy tộc
nầy đa phần là cá lớn. Ao nước nầy
từ phía tây bắc đi hơn 500 dặm, đến
thành Tố Diệp Thủy.
Thành nầy chu vi 67 dặm, đây là nơi các nhà
buôn bán ở với nhau lẫn lộn. Thổ sản
ở đây là lúa mạch, nho, cây rừng. Khí hậu gió mùa
rất lạnh, phía tây thành Tố Diệp nầy c̣n có
mười thành khác riêng lẽ, thành nào cũng dài, nhưng
không dùng đến. Tất cả đều loang lỗ.
Từ thành Tố Diệp Thủy đến nước Yết
Sương Na có địa danh là Tốt Lợi.
Người cũng như vậy. Văn tự ngôn ngữ
rất tùy tiện. Chữ căn bản rất đơn
giản, chỉ có hai mươi chữ. Từ đó phát
sanh lưu chuyển rộng răi. Cũng có thư kư ngồi
đọc kinh văn để phụ giúp những giáo
thọ sư, ăn mặc đơn giản. Áo phủ
đầu, nhưng tóc để lộ ra ngoài hoặc
đôi khi che kín, trông h́nh dung thật khác thường. Tánh
t́nh cũng vậy, phong tục thuần hóa nhưng không
thành thật, nhiều tánh tham lam. Cha con kế thừa
lợi tức, tiền càng nhiều càng quư. Tiền là trên
hết. Có rất nhiều người giàu, tiền bạc
lương thực, kẻ ăn người ở rất
nhiều.
Phía tây Tố Thành đi bốn trăm dặm
hơn đến 1000 cái suối, người địa
phương gọi là ngàn suối, cách hơn 200 dặm
về phía nam, có núi Tuyết, ba mặt khác giáp b́nh nguyên,
đất đai tốt tươi, cây trái xanh tốt.
Những tháng mùa xuân có hoa lạ, nước nơi ngàn
suối nầy cung cấp mà nên. Sau đó chảy vào
nhiều nơi khác nhau, làm cho mọi nơi được
xanh tốt. Người qua lại chỗ nầy chốn
nọ cũng không có ǵ kinh sợ lắm. Họ
thường quây quần với nhau. Kẻ có tội th́ giết,
không có ân xá. Cho nên sự sống thành tập đoàn nầy
rất có ư nghĩa. Từ phía tây một ngàn suối
nầy đi hơn 145 dặm đến thành Đản La
Tu, thành nầy chu vi 89 dặm, các nước buôn bán tạp
lục ở đây. Đất đai khí hậu cây cối
ôn ḥa, đi về phía nam hơn 10 dặm có một thành
riêng biệt, nơi đó có 300 căn nhà, trong ấy có
người ở. Ngày xưa chỉ là những hang
động. Sau nầy thành nước non để cùng
giữ thành nầy. Những người sống trong
đó ăn mặc giống nhau, tiếng tăm lễ
nghĩa vẫn c̣n bảo tồn. Từ đây đi qua
phía tây nam hơn hai trăm dặm đến thành Bạch
Thủy, thành nầy chu vi 67 dặm, đất đai
thổ sản phong tục khí hậu hơn hẳn ở
Đản La Tu. Phía tây nam đi hơn 200 dặm th́
đến thành Cung Ngự, thành nầy chu vi 56 dặm,
nơi đây có nhiều cây cối to lớn. Từ phía nam
nầy đi hơn 45 dặm, đến nước Xích
Kiến.
4) Nước Xích Kiến, chu vi hơn ngàn
dặm, đất đai tốt tươi, nhà xây
tường. Cây cỏ hoa trái sum sê, có nhiều loại nho
quư. Thành ấp có trăm thành, mỗi thành có vị
đứng đầu. Đến lui đi ở thưa
tŕnh. Tất cả tụ lại thành khu và tổng xưng
là nước Xích Kiến. Từ phía tây bắc đi
hơn 200 dặm, đến nước Giả
Thời.
5) Nước Giả Thời, chu vi hơn ngàn
dặm, phía tây giáp Diệp Hà, phía đông tây hẹp, phía nam
bắc dài, đất đai khí hậu cũng giống
như nước Xích Kiến. Thành ấp hơn
mười cái, mỗi cái đều có vị đứng
đầu, nhưng không có người tổng chỉ huy.
Từ phía đông nam nầy, hơn ngàn dặm, đến
nước Phế Hăn.
6) Nước Phế Hăn, chu vi bốn ngàn dặm.
Bốn bề núi bao bọc, đất đai hẹp, nhà
cửa xây tường, có nhiều hoa quả và ngựa dê.
Khí hậu gió mưa con người đều cương
trực. Ngôn ngữ khác với các nước kia. H́nh hài
cũng khác biệt. Từ hơn mười năm không có
vị đứng đầu. V́ lẽ ai cũng tranh
quyền lực không phục nhau. Có hiểm họa sẽ
chia đất. Từ phía tây đi đến hai ngàn
dặm th́ đến nước Tốt Đỗ Lợi
Sắc Na.
7) Nước Tốt Đỗ Lợi Sắc Na,
chu vi một ngàn bốn trăm năm chục dặm, phía
đông giáp sông Diệp, từ sông Diệp nầy về
hướng b́nh nguyên phía bắc, từ tây bắc chảy
tiếp tục với lưu lượng nước
chảy xiết, đất đai phong tục cũng
giống như nước Giả Thời, từ xưa
đă có Vương Phủ cai trị. Từ phía tây bắc
vào đến sa mạc chẳng có cỏ nước ǵ
cả. Giữa đường khó biết được
biên giới nơi đâu, chỉ nh́n núi cao để t́m
dấu vết, mới có thể biết được.
Từ đó đi qua hơn năm trăm dặm nữa,
đến nước phong Mạc Kiến.
8) Nước Phong Mạc Kiến, chu vi một
ngàn sáu trăm bảy mươi dặm, phía đông tây dài,
phía nam bắc hẹp, chu vi của thủ đô hơn 20
dặm, có nhiều Cư dân sinh sống. Có nhiều hàng hóa
trân quư của các nước khác đem đến
nước nầy, đất đai màu mỡ, nhà làm
bằng gỗ và xây tường. Cây cỏ hoa quả
tốt tươi, nơi đây có nhiều ngựa quư và có
nhiều đồ công nghệ tốt đẹp. Khí
hậu ôn ḥa, phong tục sống động. Phàm các
nước lân cận đến nước nầy,
phải theo quy tắc xa gần mà giữ lấy. Vua
của nước nầy tôn trọng luật pháp của
lân bang. Binh mă hùng dũng, đa phần giống như tánh
cách hùng dũng của người nước Giă Thời
và nước Yết Sương Na, xem nhẹ sự
chết không luyến tiếc. Từ đây đến phía
đông nam đi đến nước Nhi Mạc Hà.
9) Nước Nhi Mạc Hà, chu vi bốn trăm
năm chục dặm, có nhiều sông; đông tây hẹp,
nam bắc dài, đất đai phong tục giống như
nước Phong Mạc Kiến. Từ phía bắc
đến nước Kiếp Bố Đăn Na.
10) Nước Kiếp Bố Đăn Na, chu vi 1450
dặm, phía đông tây dài, phía nam bắc hẹp, đất
đai phong tục giống như nước Phong Mạc
Kiến. Từ nước nầy đi về phía tây
hơn 300 dặm, đến nước Quật
Tương Nhi Ca.
11) Nước Quật Tương Nhi Ca, chu vi
một ngàn bốn trăm năm mươi dặm, đông
tây hẹp, nam bắc dài, đất đai phong tục giống
như nước Phong Mạc Kiến. Từ nước
nầy đi qua phía tây hai trăm dặm hơn đến
nước Yết Hăn.
12) Nước Yết Hăn, chu vi hơn một ngàn
dặm, đất đai phong tục giống như
nước phong Mạc Kiến, từ phía bắc
nước nầy đi về phía tây hơn 400 dặm
đến nước Bổ Yết.
13) Nước Bổ Yết, chu vi một ngàn sáu
trăm bảy mươi dặm, đông tây dài nam bắc
hẹp, đất đai phong tục giống như
nước Phong Mạc Kiến. Từ nước nầy
đi về phía tây hơn bốn trăm dặm đến
nước Đại Địa.
14) Nước Đại Địa, chu vi hơn
bốn trăm dặm, đất đai phong tục giống
như nước Phong Mạc Kiến, từ đây đi
về phía tây nam hơn năm trăm dặm, đến
nước Hóa Lợi Tập Di Già.
15) Nước Hóa Lợi Tập Di Già, hai bên có
sông bao bọc, đông tây hơn hai mươi ba dặm, nam
bắc hơn năm trăm dặm, đất đai phong
tục giống như nước Đại Địa,
ngôn ngữ không khác mấy. Từ nước phong Mạc
Kiến đi về phía tây nam hơn 300 dặm, đến
nước Yết Tương Na.
16) Nước Yết Tương Na, chu vi một
ngàn bốn trăm năm chục dặm, đất đai
phong tục giống như nước Phong Mạc
Kiến, từ đây đi về phía tây nam hơn hai
trăm dặm đến núi, đường núi hẹp
rất nguy hiểm ít người qua lại, hiếm
cỏ cây và nước. Từ núi phía đông nam đi
hơn ba trăm dặm, qua một cái cổng làm bằng
sắt, hai bên cổng sắt núi non bao phủ, càng lúc càng
hẹp, sự hiểm trở càng nhiều hơn.
Đường hai bên đá dựng đứng màu sắc
giống như màu thiếc, tất cả đều
giống như thiếc vậy. Có nhiều chuông làm
bằng sắt treo nơi cửa ra vào để kiểm
tra sự nguy hiểm. Ra khỏi cổng sắt đến
nước Đỗ Hóa La.
Nước nầy nam bắc hơn ngàn dặm,
đông tây hơn ba ngàn dặm, phía đông nguy hiểm có núi
cao, phía tây tiếp xúc với Ba Lặt Kỳ, phía nam có núi
tuyết, phía bắc có cổng sắt, chung quanh sông ng̣i bao
bọc chảy về hướng tây, từ hơn một
trăm năm nay, vương tộc không có người
nối quyền. Do vậy những thế lực cạnh
tranh với nhau để nắm quyền, thật là nguy
hiểm. Nước nầy chia làm 27 nước nhỏ,
chỉ có một khu tổng hành dinh. Khí hậu nơi
đây khá ôn ḥa nhưng dễ sinh bệnh. Cuối mùa
đông đầu mùa xuân, luôn luôn có mưa phùn, do vậy
cảnh trí ở phía nam ôn ḥa hơn phía bắc, phong thổ
của nước nầy thuộc ôn đới nên có
nhiều bệnh tật. Vào ngày 16 tháng 12 Tăng tín
đồ của nước nầy vào an cư đến
15 tháng 3 th́ giải chế, mùa nầy cũng là mùa mưa
cho nên cũng thích hợp vậy. Phong tục nầy đă
lâu đời, mọi người tuân theo tin tưởng
vào sự tu học. Ngôn ngữ được dùng khá khác
biệt với các nước khác. Chữ gốc chỉ có
25 chữ, từ đó phát triển ra, để dùng
viết thư, chữ viết ngang, đọc từ trái
qua phải. Ngôn ngữ đa phần giống như
chữ của nước Tốt Lợi, y phục, hàng hóa
dùng tiền để mua, đối với nước
nầy từ sông phía bắc xuống hạ lưu
đến nước Đăn Mật Quốc.
17) Nước Đăn Mật Quốc, chu vi
đông tây hơn 600 dặm, nam bắc hơn 400 dặm.
Thủ đô của nước này hơn 20 dặm.
Đông Tây dài, Nam Bắc hẹp. Có hơn 10 cảnh chùa.
Tăng tín đồ hơn 1.000 người. Nước
này nằm gần biên giới của nước Tốt
Đỗ Lợi. Nơi đây, có xây nhiều ngọn tháp;
nhưng nay đă không c̣n. Các tượng Phật cũng
như các tượng thần linh dáng vẽ khác nhau. Đi
đến phía Đông th́ gặp nước Diệt
Ngạc Hạnh Na.
18) Nước Diệt Ngạc Hạnh Na, chu vi
đông tây 400 dặm hơn. Tây bắc hơn 500 dặm. Chu
vi thủ đô hơn 10 dặm. Chùa chiền có năm
cơ sở. Tăng tín đồ rất ít. Đi
đến phía đông là nước Nhẫn Lộ Ma.
19) Nước Nhẫn Lộ Ma, chu vi đông tây
hơn 100 dặm. Nam bắc hơn 300 dặm. Chu vi của
thủ đô hơn 10 dặm. Nước này có Vua. Chùa có
hai ngôi. Tăng tín đồ trên 100 người. Phía đông
giáp nước Dụ Mạn.
20) Nước Dụ Mạn chu vi đông tây
hơn 400 dặm. Nam bắc hơn 100 dặm. Chu vi thủ
đô hơn 16,7 dặm. Nước này cũng có Vua. Chùa có
hai ngôi. Tăng tín đồ rất ít. Phía Tây nam giáp với
sông. Kế đến là nước Cúc Ḥa Hạnh Na.
21) Nước Cúc Ḥa Hạnh Na, chu vi đông tây
hơn 200 dặm. Nam bắc hơn 300 dặm. Chu vi của
thủ đô hơn 10 dặm. Có ba ngôi chùa. Tăng tín
đồ hơn 100 người. Phía đông giáp
nước Hoạch Sa.
22) Nước Hoạch Sa, chu vi đông tây hơn
300 dặm. Nam bắc hơn 500 dặm. Thủ đô 16,7
dặm. Phía đông th́ giáp nước Khả Xuất
La.
23) Nước Khả Xuất La, chu vi đông tây
hơn 1.000 dặm. Nam Bắc hơn 1.000 dặm. Thủ
đô của nước này hơn 20 dặm. Phía đông
giáp với núi cao. Tiếp đến nước Câu Mê
Đa.
24) Nước Câu Mê Đa, chu vi đông tây 2.000
dặm. Nam bắc hơn 200 dặm. Giữa nước có
núi cao. Thủ đô chu vi hơn 20 dặm. Phía tây nam giáp
với sông hồ. Phía nam giáp với nước Hộ Khí.
Qua phía nam vẫn c̣n sông. Tiếp với nước
Đạt Ma Tất Thiết Đế, nước Bát
Thích Sáng Na, nước Dâm Bạt Kiến, nước
Quật Lăng Nô, nước Ma Đẳng La, nước Bát
Lợi Yết, nước Cật Phiếu Sắc Ma.
Nước Yết La Hồ. Nước A Lợi Ni.
Nước Tào Kiến. Nước Tự Hoạt. Đi
về hướng đông nam, đến nước Khoát
Tất Đa và nước An Đăn La. Trong hồi kư,
viết rằng từ nước Hoạt đến phía
tây nam là nước Phược Gia Lăng.
25) Nước Phược Gia Lăng, chu vi đông
tây 50 dặm. Nam bắc 200 dặm. Thủ đô hơn 10
dặm. Phía nam tiếp với nước Ngật Lộ
Tất Ni Kiến.
26) Nước Ngật Lộ Tất Ni Kiến,
chu vi hơn 1.000 dặm. Thủ đô hơn 14 dặm. Phía
tây bắc giáp với nước Nhẫn Lẩm.
27) Nước Nhẫn Lẩm, chu vi hơn 800
dặm. Đô thành chu vi 56 dặm. Nơi đây có 10 ngôi
chùa. Tăng tín đồ hơn 500 người. Phía tây giáp
với nước Phược Yết.
28) Nước Phược Yết, đông tây
hơn 800 dặm. Nam bắc hơn 400 dặm. Phía bắc có
nhiều sông ng̣i. Thủ đô chu vi hơn 20 dặm.
Người ở đây thường gọi Tiểu Thành
Vương Xá. Tuy nhiên trong thành sống rất ít
người. Đất đai màu mỡ. Sản vật
rất nhiều. Hoa quả cũng lắm loại. Già Lam có
hơn 100 ngôi. Tăng tín đồ trên 3.000 người.
Tất cả đều theo Tiểu Thừa. Phía ngoài thành
tây nam có Già Lam lớn do tiên đế đă kiến
thiết nên. Có các vị Đại Luận Sư tập
họp ở núi tuyết phía Bắc. Chỉ có nơi Già Lam
này là tuyệt đẹp không thể xưng tán hết.
Những tượng Phật là những bảo vật trân
quư vô giá. Chùa trang hoàng những bảo vật rất
lộng lẫy. V́ vậy có nhiều nước lân bang công
kích. Chùa này có tượng Tỳ Sa Môn Thiên Vương.
Những vật quư được bảo vệ nơi
đây. Gần đó lại có những hang động. V́
lẽ có khuynh hướng sống theo bộ lạc cho nên
hay di động, mà Gia Lam này trở thành biểu
tượng trân quư. Trong quá khứ điều này khó có
được. Có người trong đêm mộng thấy
vị Tỳ Sa Môn Thiên Vương nói rằng:
- Nếu nhà ngươi có sức lực cũng
không nên phá hoại Già Lam này. V́ đây là năo bộ của con
người. Nếu phá đi th́ con người sẽ
bệnh hoạn.
Trong mộng cũng báo rằng nên thỉnh chư
tăng sám hối lễ tạ. Nếu trái lại th́ có nguy
cơ. Trong đất Già Lam này ở phía nam Phật
đường có nhiều tượng Phật màu sắc
vàng của đá khác nhau. Đây cũng có răng Phật,
chiều dài hơn mấy tấc, chiều rộng 8, 9 phân.
Răng có màu vàng màu trắng chiếu ánh sáng, lại cũng
có áo Cà Sa của Phật ngay cả Y Tăng Già Lê cũng có.
Chiều dài hơn hai thước, chiều ngang bảy
tấc. Gồm nhiều vật quư hợp thành. Ba vật
quư này mỗi năm đến kỳ tế lễ chư
Tăng đem trần thiết trang hoàng, để cúng
dường. V́ sự chí thành cảm ứng nên răng
đă phóng quang. Phía bắc của chùa này có tháp cao hơn 20
thước. Gọi là tháp Kim Cang. Trong đó trang trí
nhiều đồ quư và ở giữa có thờ Xá Lợi
rất quư giá.
Phía tây nam của Chùa có một tinh xá thành lập
đă lâu đời. Xa gần lui tới toàn những
bậc cao đức. Họ chứng thánh quả không nói
hết được. Tại đây cũng có Vị A La
Hán đă nhập Niết Bàn và đă thị hiện
thần thông mọi người biết được.
Cho nên những tháp khác được mọc lên số
kể hơn 100 ngôi. Tuy chứng thánh quả; nhưng không
phải tất cả đều biến hoá. Quả
việc này có ngàn cách khác nhau không ghi hết được.
Lúc đó Tăng tín đồ hơn 100 người ngày
đêm túc trực nơi đền thánh.
Chu vi thành hơn 50 dặm. Tiếp đến là
thành khác. Thành phía bắc hơn 40 dặm. Tiếp đó có
thành Ba Lợi. Ở trong thành có một ngôi tháp cao 3
thước. Ngày xưa nơi đây Như Lai đă sơ
chứng Phật quả. Sau khi rời khỏi cây Bồ
Đề có hai vị trưởng giả người Miến
Điện gặp Ngài với oai đức uy nghiêm. Dáng
đi trầm mặc thong thả. Thế Tôn v́ người
mà nói phước báu của nhân thiên. Thế Tôn đă
truyền ngũ giới thập thiện cho họ. Sau khi
nghe Pháp họ đă cúng dường mật ngọt. Như
Lai đă cho họ tóc và móng tay. Hai trưởng giả này
về lại nước với ḷng tôn kính vô biên. Như
Lai đă làm việc ấy khi Tăng Già chưa thành
lập. Kế đến là dâng Uất Đa La Tăng y và
những y áo khác cũng như b́nh bát. Họ đă làm tháp
để thờ. Hai người này khi trở lại
nước đă vâng thánh chỉ của Vua mà tôn sùng
kiến tạo chùa tháp để tôn thờ giáo pháp của
Đức Thích Ca. Đây là ngôi tháp đầu tiên vậy.
Thành phía tây hơn 70 dặm có một tháp khác cao
hơn 2 thước. Tháp này được kiến tạo
từ thời Phật Ca Diếp. Từ thành lớn này
ở phía tây nam đi vào núi tuyết th́ đến
nước Duệ Mạt Đa.
29) Nước Duệ Mạt Đa, đông tây 56
dặm; nam bắc hơn 100 dặm. Đô thành hơn 10
dặm. Phía tây nam giáp đến nước Hồ Thỉ
Kiến.
30) Nước Hồ Thỉ Kiến, đông tây
hơn 500 dặm; nam bắc hơn 1.000 dặm. Đô thành
hơn 20 dặm. nơi đây có nhiều sông núi và có
nhiều ngựa hay. Phía tây bắc giáp nước
Đản Sắt Kiến.
31) Nước Đản Sắt Kiến, đông
tây hơn 500 dặm. Nam bắc hơn 56 dặm. Kinh thành chu
vi hơn 10 dặm. Phía tây tiếp với biên giới
của nước Ba Sắc Kỳ. Tiếp theo là
nước Phược Yết. Đi về phía nam hơn
100 dặm th́ gặp nước Yết Chức.
32) Nước Yết Chức, đông tây hơn
500 dặm; nam bắc hơn 300 dặm. Đô thành chu vi 45
dặm. Đất đai ph́ nhiêu nhưng ít hoa quả,
nhiều lúa mạch. Khí hậu lạnh, phong tục lành
mạnh. Có hơn 10 cảnh chùa. Tăng tín đồ trên
300 người. Họ theo phái Tiểu Thừa thuộc
Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ. Phía đông nam
đi vào núi tuyết. Núi cao ṿi vọi nguy hiểm khôn cùng.
Gió tuyết ngay cả mùa Hạ cũng đông lạnh.
Tuyết đóng thành băng nên rất khó đi. Ở
đây họ tôn trọng sơn thần và những loài
quỷ mị. Bọn cướp hợp đoàn tung hoành
ngang dọc sát hại. Đi thêm sáu trăm dặm nữa
th́ đến nước Đô Hoá. Sau đó là nước
Phạm Hạnh Na.
33) Nước Phạm Hạnh Na, đông tây
hơn 2.000 dặm; nam bắc hơn 300 dặm. Nằm ngay
trong núi tuyết. Người người hay sống trong
hang động. Đô thành đa phần cũng là
động đá. Chiều dài 67 dặm. Phía bắc rất
cao, có lúa mạch, ít hoa quả. Nuôi gia súc, đa phần là
dê và ngựa. Khí hậu lạnh, phong tục tốt
đẹp, đa phần ăn mặc kín đáo. Chữ
nghĩa phong tục do sự giáo hoá mà thành. Sử dụng
tiền tệ giống như nước Đô Hoá La. Ngôn
ngữ ít có sự sai khác. Lễ nghi đại khái
giống nhau. Có ḷng tin cũng giống như nước
láng giềng. Trên cũng kính Tam Bảo, dưới cho
đến thần dân không bị mất cướp, thành
thật, tâm địa tôn kính. Có nhiều khách thương
văng lai. Thiên thần thường hay xuất hiện. Đó
là do sự biến hoá của việc cầu phước
đức mà nên. Chùa chiền hơn 10 ngôi. Tăng tín
đồ hơn 1.000 người. Họ theo Tiểu
Thừa Giáo thuộc Thuyết Xuất Thế Bộ.
Vương thành phía đông bắc gần núi có
tượng Phật đá đứng cao 145 mét. Màu sắc
vàng, trang sức bằng những loại đá quư. Phía
đông có Già Lam do Tiên đế đă kiến tạo nên.
Tiếp đó có tượng Thích Ca bằng đá
đứng cao hơn 100 thước. Phân thân đứng
riêng biệt để trở thành một quần thể
như thế.
Thành phía đông có 23 dặm. Giữa chùa có
tượng Phật nhập Niết Bàn nằm, chiều
dài 100 thước. Vua nước này thường hay
thiết lễ cầu siêu. Trên từ vợ con dưới
đến thần dân đều lấy của trong kho
của Vua, đem ra bố thí. Quần thần tả
hữu cũng đều làm việc đó như là một
nhiệm vụ.
Chùa có tượng Phật nằm. Đi về
hướng đông nam hơn 200 dặm th́ gặp núi
tuyết. Phía đông đến một số sông nhỏ.
Có ao hồ cây trái sum sê, lại có một cảnh chùa khác
giữa chùa có thờ Răng Phật, và thờ Răng
Phật của Bích Chi, dài hơn 5 phân, ngang 4 phân. Lại
cũng có Răng của Kim Luân Vương dài 3 phân,
rộng 2 phân. Thương Na Ḥa Tu Đại A La Hán cũng
có b́nh bát bằng thiếc, tám chín cái. Tất cả ở
đây đều là đồ vật của các Thánh Hiền
và những phong thư vàng, lại có y Tăng Già Lê, cửu
điều của ngài Thương Na Ḥa Tu. Y nầy có màu
hoại sắc làm bằng da và cỏ. Đệ tử
của Ngài A La Hán Thương Na Ḥa Tu đă làm nên những
chiếc y nầy, nhân cơ hội an cư của chúng
tăng mà cúng dường. Đây là y Phước
Điền để hàng phục thân trung ấm trong
thời gian năm trăm lần. Đến thân sau cùng
sẽ được đầu thai trở lại. Thân
thể cao thấp y nầy sẽ theo đó mà lớn
rộng ra. Và theo các vị A La Hán khác để xuất gia.
Y nầy sẽ trở thành Pháp phục để
đầy đủ cụ túc giới. Và cũng biến
thành y Tăng Già Lê, cửu điều chứng tịch
diệt nhập vào biên tế định. Phát thành trí
tuệ và nguyện lực, lưu giữ nơi Ca Sa
nầy, cho đến đời Thích Ca Như Lai, sau khi
giáo pháp diệt rồi y nầy sẽ biến hoại.
Đây là ư chỉ ḷng tin vi diệu vậy. Từ phía
đông nầy, đi vào núi tuyết tên là Du Việt Hắc
đến nước Ca Tất Thí.
34) Nước Ca Tất Thí, chu vi bốn ngàn
dặm hơn, nằm phía bắc Hy Mă Lạp Sơn, ba bên
có ngọn núi cao, chu vi thủ đô hơn mười
dặm. Nơi đây có nhiều lúa mạch và hoa quả.
Sản xuất nhiều ngựa quư và uất kim
hương (nghệ). Có nhiều làng mạc trong quốc
gia nầy. Khí hậu phong thổ lạnh. Nhân t́nh hiền
hậu. Lời nói dễ nghe, cưới hỏi phức
tạp. Chữ viết giống như nước
Đổ Hóa La, nhưng phong tục, ngôn ngữ và tôn giáo có
nhiều khác biệt. Ăn mặc dùng toàn đồ
bằng lông và da. Tiền tệ th́ sử dụng tiền
vàng, tiền bạc và tiền đồng. Về cách
thức sử dụng cũng có nhiều khác biệt
tại quốc gia nầy. Nhà vua nước nầy cũng
có mưu trí mănh liệt, hay đi uy hiếp lân bang,
thống hợp hơn 10 nước, nhưng có tâm
thương bá tánh và tôn sùng Tam Bảo, đă kiến
tạo tám tượng Phật bằng bạc và
thường chẩn tế để cứu độ
sanh linh. Chu cấp cho những người nghèo khổ. Già
lam có hơn 100 ngôi. Tăng tín đồ có hơn 6000
người, đa phần người ở đây theo
Phật giáo Đại Thừa. Tháp, chùa được xây dựng
rộng lớn để hoằng pháp giáo hóa một cách
nghiêm tịnh. Chùa Viện của tôn giáo khác hơn
mười ngôi, những người theo đạo khác
hơn 1000 người, hoặc lơa thể, hoặc bôi ḿnh,
hoặc nhuộm từ đầu đến chân.
Thành lớn phía đông hơn ba dặm tư,
dưới chân núi phía bắc cũng có một đại
Già Lam, Tăng tín đồ hơn 300 người. Họ
theo Tiểu Thừa giáo. Nghe người xưa nói lại
rằng đây là nước Kiền Đà La của vua Ca
Nị Sắc Ca uy hiếp lân bang chinh phục những
nước ở xa, binh lính dàn trải cho đến dăy núi
phía đông. Và vượt sông sang phía tây để uy
hiếp tiếp tục. Vua Ca Nị Sắc Ca
được toại nguyện, xây dựng cung
điện ở nhiều nơi theo mùa nóng và lạnh. Mùa
đông ở các nước tại Ấn Độ, mùa hè
trở về nước Ca Tất Thí. Mùa xuân và mùa thu th́
đến kiến thiết nước Kiền Đà La.
Nhà Vua nầy chia cách sinh hoạt làm ba nơi, kiến
tạo Già Lam và những Già Lam nầy là chỗ ở mùa
hạ vậy. Trên tường của những nơi
nầy có những bức họa dung nhan phục sức
khác nhau, giữa mùa hạ, trở lại bổn quốc
để duỡng tâm. Tuy cách trở giang sơn nhưng
vẫn phát tâm cúng dường cho tăng chúng trong mùa an
cư kiết hạ. Tổ chức nhiều trai đàn pháp
hội để cầu phước bố thí,
điều đó luôn luôn được diễn ra, không bao
giờ ngừng nghỉ. Chùa Viện ở cửa đông
có tạo nên tượng Nam Đại Thần
Vương. Chân bên phải có những vật quư, có
nghĩa rằng người nầy giữ ǵn cho Già Lam.
Tướng của vị nầy rất hung bạo. Nghe
chùa nầy có nhiều của quư, được tồn
trữ, nên nhiều người muốn khai quật. Các
tượng thần vương cũng có h́nh chim oanh
vũ, có cất được tiếng kêu. Đất
nơi đây có thể giao động. Nhà Vua và quân lính
đến nơi đây th́ trở lại yên ổn và
lại ra về.
Phía bắc Già Lam nầy có núi cao, và trong núi ấy
có nhiều pḥng ốc bằng đá, dùng để học
tập. Trong nầy cũng có chứa nhiều của quư.
Ở trong nầy cũng có bảo tồn những loài
thuốc quư, nếu có ai muốn khai quật lấy đi
bảo vật, th́ thuốc nầy sẽ được
biến hiện khác h́nh hoặc trở thành Sư Tử,
hoặc trở thành măng xà mănh hổ độc trùng, h́nh thù
biến dị cho nên chẳng có người nào có thể
lấy được. Từ những động đá
nầy hơn bốn trăm hai mươi ba dặm,
đến núi cao và trên ấy có tượng đức Quán
Tự Tại Bồ Tát, người nào có ḷng thành sẽ
thấy được. Bồ Tát từ nơi
tượng nầy phát xuất ra những màu sắc vi
diệu để an ủi những người muốn
cầu.
Cách thành lớn từ phía đông nam hơn ba
mươi dặm th́ đến Tăng Già Lam Yết La
Cổ La, nơi đó cũng có đại tháp cao hơn 100
thước. Khi đến giờ Ngọ trai th́
đốt đèn, dùng đèn dầu để đốt
ra khói màu đen. Vào đêm tối lại nghe âm nhạc.
Chuyện xưa kể rằng đây là nơi
được kiến thiết bởi vị Đại
Thần Yết La Cổ La, sau khi xây thành xong nằm
mộng thấy có người bảo rằng: Ngươi
nên kiến lập bảo tháp, sau đó ắt có xá lợi.
Ngày hôm sau quả nhiên như vậy có người hiến
xá lợi. Nhà Vua đă cho thỉnh vào triều. Do chỗ
cầu nguyện mà nhà vua muốn rằng nhà vua có
trước. Vua bảo sau nầy sẽ làm một nơi
để bái vọng tại nước Yết La Cổ
La. Ta chỉ là một người mang Xá Lợi. Vị
Đại Thần hỏi rằng:
- Cúng Xá Lợi nào?
Đáp:
- Xá Lợi của Phật
Vị Đại Thần nói:
- Hạ Thần đang giữ đây, xin tâu
bệ hạ biết Nước Yết La Cổ La, sợ
Vua trân quư Xá Lợi mà không suy nghĩ. Do đó cho nên dựng
xây già lam và bảo tháp.
V́ lẽ chí thành cho nên được cảm
ứng, bát bằng đá kia tự mở nắp để
an trí Xá Lợi vào. Khi an trí xong, niêm phong rồi bảo
mọi người thối lui, đóng cửa đá
lại. Từ đó sinh ra mùi hương dầu màu đen.
Thành phía nam hơn bốn chục dặm, đến thành
Tập Tô Đa Đợi Sắc Ty. Phàm có động
đất, đến độ nào, thành nầy vẫn
không giao động.
Thành Tập Tô Đa Đợi Sắc Ty từ
phía Nam hơn 30 dặm đến núi A Lộ Như. Trên núi
nầy có nhiều hang động. Đỉnh núi mỗi
năm cao thêm hàng trăm phân, cùng với nước Tào
Thần Ngật và núi Hiếp Na Tu La, hai bên gần nhau và
cùng thịnh suy như nhau. Được biết từ
các phong tục rằng: Ngày xưa Hiếp Na Thiên Thần từ
xa đến, muốn dừng chân ở núi nầy. Sơn
Thần phẩn nộ, dao động thành hang động.
Thiên Thần nói: Nếu không chừa bỏ th́ sẽ khuynh
động đổi thành tài sản của chủ
mới. Ta nay đến nước Tào Thần Ngật và
núi Hiếp Na Tu La, mỗi năm ta nhận lễ vật
từ Quốc Vương Đại Thần hiến dâng
và luôn luôn phải như vậy, th́ núi A Lộ Như
sẽ được nâng cao lên, bằng không sẽ bị
băng hoại. Vương thành phía tây bắc hơn 200
dặm th́ đến núi Tuyết, trên đỉnh có hồ.
Do sự cầu nguyện mà nước mưa luôn có. Nghe
người xưa thuật lại rằng: xưa có
vị A La Hán ở nước Kiền Đà La
thường hay nhận sự cúng dường từ Long
Vương ở ao hồ nầy. Mỗi ngày cho đến
bữa ăn trưa hay dùng thần thông để ngồi
trên giường bay qua lại nơi hư không. Các thị
giả Sa Di đều được an ổn ở
nơi ấy. Chỉ có vị A La Hán th́ hay qua lại Long
Cung. Khi gặp Sa Di, Long Vương mời ở lại
dùng cơm. Long Vương dùng đồ ăn cam lồ
của A La Hán biến thành hương vị của nhân
gian cho vị Sa Di, A La Hán khi dùng cơm xong v́ Long
Vương mà thuyết các Pháp quan trọng. Sa Di như
thường lệ v́ Thầy mà rửa bát. Trong bát có dư
hạt cơm có hương vị liền khởi lên
niệm ác rằng hận Thầy và phẩn nộ với
Long Vương. Nguyện cho các phước lực ngay bây
giờ đoạn mất mệnh của Long Vương
và ta tự làm vua. Khi Sa Di phát nguyện như vậy
rồi th́ Long Vương bị đau đầu. Khi A La
Hán thuyết pháp xong, Long Vương tạ lễ, Sa Di
phẩn nộ v́ chưa được có lời tạ nên
trở lại Già Lam và phát nguyện tiếp: nhờ
phước lực mà đêm nay mệnh chung v́ Đại
Long Vương uy đức mà phát. Chờ vào nơi ao
để sát hại Long Vương và ở luôn nơi Long
Cung, để thống lĩnh tất cả mọi loài. Do
lời nguyện đó mà gió mưa nổi dậy làm găy
đổ cây cối và hại cả Già Lam. Cho nên Vua Ca
Nị Sắc Ca kinh ngạc và hỏi rằng vị A La Hán
nầy có phải là Vua không? Vị Vua đó tức là
rồng đang ở trong núi tuyết, lập Tăng Già Lam
kiến tạo bảo tháp cao hơn 100 thước.
Rồng v́ giận mà làm cho nổi mưa nổi gió. Vua v́ có
tâm hoằng truyền Phật Pháp, rồng v́ sân hận mà
làm dữ, nên chùa viện và bảo tháp sáu cái bị hư
biến thành bảy. Vua Ca Nị Sắc Ca xấu hổ v́
chẳng thành công nên muốn trấn hồ rồng nầy
để làm chỗ cư ngụ. Cho nên đă đem binh
lính đến dưới núi Tuyết sơn. Lúc ấy
bị Long Vương nhớ lại chuyện xưa làm
chấn động biến thành một người Bà La
Môn già lạy Vua mà trần t́nh rằng: Đại
Vương ngày xưa đă trồng nhiều căn lành nhiều
loại khác nhau cho nên thắng vậy. Được làm
vua trên đời, chẳng có ư niệm báo ân. Ngày hôm nay, v́
cớ sao mà giao tranh với Long Vương. Phàm là rồng
thuộc về loại súc sanh vậy, cũng thuộc loài
ác. V́ sao mà uy lực không đủ để cạnh tranh,
như hô phong hoán vũ để có nước mà
người thường không làm được. Há
rằng tâm vua vẫn c̣n phẩn nộ sao? Vua bây giờ
vừa cầm nước vừa cầm binh cùng chiến
đấu với một con rồng, sự thắng
chắc chắn thuộc về vua, không c̣n xa xôi ǵ nữa.
Do vậy mà vua cũng không có ǵ xấu hổ, cho nên Vua
lập kế rút binh. Về sau trở thành vua Ca Nị
Sắc Ca vậy.Rồng cũng trở lại hồ nghe
được âm thanh chấn động, gió mưa
cuồn cuộn làm cho cây cối đất đá lung lay,
mưa rơi nặng hạt làm cho quân mă kinh hoàng. Nhà vua quy
y Tam Bảo thỉnh cầu lực gia hộ cho nên ngay lúc
đó có được nhiều phước và
được làm vua trên cơi đời. Uy hiếp những
cường địch thống lĩnh các bộ châu. Cho nên
nay mới đến đảo t́m rồng mà té ra ta là
người bạc phước vậy. Nguyện cho các
phước đức hiện tiền nếu có th́ ở
nơi hai vai ta bốc khói lên. Rồng liền dứt gió
ngưng mưa, trời trở nên trong lặng. Vua đă ra
lệnh cho quân lính dùng đá để trấn Long Tŕ. Long Vương
biến lại thành Bà La Môn yêu cầu Vua rằng:
- Ta là Long Vương của ao kia, xin quy mệnh.
Nhưng xin Vua v́ ḷng từ mà nghĩ về quá khứ,
nếu Vua muốn các sinh linh được sống lâu làm
sao để cho ta bị sát hại. Nếu Vua muốn sát
hại ta, ta sẽ cùng vua bị đọa vào ác
đạo mà vua trở thành đoản mệnh. Ta nhớ
lại tâm sợ hăi lo lắng kia v́ nghiệp báo và thiện
ác sẽ rơ ràng. Vua lùi bước và rồng minh thị
rằng nếu ai phạm th́ không xứng đáng. Rồng
nói rằng ta v́ ác nghiệp mà thọ thân làm rồng. Tánh
rồng hung ác không thể tự giữ được tâm
sân hận khi khởi lên lại hay quên mà không chế
ngự được. Nay Vua làm chùa, đừng hủy
hoại nữa. Mỗi người chúng ta nên trở
về núi, nếu có mây đen nổi lên th́ nên thối lui.
Ta nghe tiếng rằng do tâm ác kia mà vua nầy tu
phước kiến tạo Già Lam, Bảo Tháp, hầu
muốn mưa gió không dứt. Nghe tục lệ chép lại
rằng: Nơi bảo tháp kia có nhục cốt xá lợi
của Như Lai có thể hơn một thăng, biến
hóa vô cùng khó nói hết được, có lúc ở trong tháp
nầy có khói phát ra, từ cửa nhỏ phát ra khói lớn.
Lúc đó có người nghi rằng tháp kia tự bốc
cháy. Chiêm ngưỡng lâu th́ lửa tắt khói tiêu. Lại
thấy Xá Lợi trắng như lưu ly trở vào nơi
bát và thăng lên không trung, thăng lên trên cao rồi hạ
xuống trở lại.
Vương thành phía tây bắc có sông lớn. Phía
nam có Già Lam. Ở bên trong có răng nhỏ của
đức Thích Ca chiều dài hơn một phân, tại Già
Lam nầy phía đông nam lại có một Già Lam nữa
cũng có tên của Tiên vương. Lại có xá lợi
xương của Như Lai một mảnh bề rộng
hơn một tấc, màu vàng, c̣n lông tóc màu trắng rất
rơ ràng. Lại cũng có tóc của Như Lai màu xanh
mượt giống như màu đá, dài hơn một
thước, có thể cuốn lại phân nửa. Phàm ba
việc nầy gặp được là nhà vua và
đại thần tung hoa cúng dường. Từ Già Lam đến
phía tây nam có một Già Lam khác trong Bảo Tháp có thờ
tượng vàng cao hơn 100 thước. Được
biết từ phong tục rằng ở trong tháp nầy,
lại có Xá Lợi Phật hơn một đấu,
mỗi tháng vào ngày 15, giữa đêm phát ra ánh sáng tṛn. Ánh
sáng kia rất rực rỡ bay lên hạ xuống rồi
nhập vô tháp.
Thành phía tây nam có núi Tỳ Là Bạt có tạo
tượng sơn thần, cũng gọi là tượng
hiền. Ngày xưa khi Như Lai c̣n tại thế, thần
nầy phụng thỉnh đức Thế Tôn cùng với
một ngàn hai trăm vị Đại A La Hán, trên
đỉnh núi có bàn đá lớn, Như Lai ngồi đó
thọ sự cúng dường của thần. Từ đó
về sau, nhà Vua đă xây tháp nơi bàn đá nầy cao
hơn 100 thước. Đời nay, người ta
gọi là tháp Tượng Hiền vậy. Lại cũng
gọi là tháp có hơn một đấu Xá Lợi Như
Lai.
Ở phía bắc của tháp Tượng Hiền,
dưới chân núi có một hồ rồng, nơi đây
chính là nơi đức Như Lai thọ lănh bữa cơm
của thần và nơi mà các vị A La Hán ăn xong
xỉa răng. Nhờ trồng thiện căn nầy mà
thành cây rừng, để người đời sau
kiến tạo thành Già Lam tên là Bi Thích Khứ, (Tước
Dương Chi). Từ phía đông đi qua hơn 600
dặm, núi khe tiếp giáp với đỉnh đồi.
Vượt qua đỉnh núi đen, vào biên giới phía
bắc Ấn Độ đến Lam Bà.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển một
Quyển thứ
hai
(3 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Lam Bà
2. Nước Na
Yết La Yết
3. Nước
Kiền Đà La
Những nước này thuộc về Ấn
Độ; nhưng lễ nghĩa phong tục khác nhau. Nên có
thể nói là riêng biệt. Hoặc nói là: Hiền
Đậu. Đây dịch theo âm gọi là Ấn
Độ. Người người tuỳ theo đó mà
xưng là người Ấn Độ. Do những phong
tục khác nhau mà có tên gọi khác nhau. Tiếng gọi
Ấn Độ này có nghĩa là: Tốt đẹp.
Đời nhà Đường gọi Ấn Độ có
nhiều tên khác nhau. Nhưng có một tên xưng gọi
nghĩa là mọi loài bị luân hồi không gián
đoạn. V́ vô minh tăm tối nên chưa ra khỏi nơi
này. Giống như mặt trời chiếu sáng làm tỏ
rạng chỗ tối tăm. Tuy có ánh sáng ngôi sao chiếu
đó. Há làm sao sáng bằng được ánh sáng mặt
trăng? V́ nhân duyên ấy nên ở đây dụ cho mặt
trăng là điều tốt đẹp, mà với
đất nước này Thánh hiền tương tục
xuất hiện như ánh sáng mặt trăng rọi soi. Do
ư nghĩa nầy mà có tên là Ấn Độ. Ấn
Độ được chia ra nhiều dân tộc và
chủng loại khác nhau. Nhưng Bà La Môn vẫn là một
giai cấp cao quư, mà từ tục lệ đă biến thành
như vậy. Trải qua nhiều thời gian sai khác,
gọi chung là nước Bà La Môn.
Nếu nói về lănh vực biên giới, có
thể nói rằng chung quanh Ấn Độ có năm
nước và chu vi rộng hơn 90.000 dặm. Ba bên
đều có biển. Phía bắc giáp Hy Mă Lạp Sơn.
Phía bắc rộng phía nam hẹp. H́nh dạng như
mặt trăng khuyết. Trong đó c̣n chia ra hơn 70
nước nữa. Đa phần thuộc về nhiệt
đới. Đất đai có nhiều suối
nước nóng. Phía bắc có nhiều núi đồi. Phía
đông có sông ng̣i và ao hồ. Phía nam cây cỏ tốt
tươi. Phía tây đất đai ph́ nhiêu. Đại khái
xin lượt qua như vậy.
Đại đa số được gọi là
Du Thiện Na. Du Thiện Na có nghĩa là từ xưa các
vị Thánh Vương mỗi ngày đều đi du hành.
Theo truyện cổ một Du Thiện Na hơn 40 dặm.
Theo phong tục của nước Ấn Độ chỉ
có 30 dặm. Theo giáo lư viết chỉ có 16 dặm. Cuối
cùng phân tích một Du Thiện Na là tám Câu Lô Xá (Krosa - theo
Tỳ Đàm Luận: bốn gang tay là một cung, 500 cung là
một Câu Lô Xá, là hai dặm, tám Câu Lô Xá là một Do Tuần
tức 16 dặm). Câu Lô Xá có nghĩa là tiếng rống
của con ḅ có thể nghe được (năm dặm)
nên xưng là Câu Lô Xá. cũng có định nghĩa khác:
một Câu Lô Xá là 500 cung. Một cung là bốn Mạch.
Một Mạch chia làm 24 Chỉ. Một Chỉ tức là
bảy hạt lúa. Cho đến gọi là Lông ḅ, lông dê,
sừng thỏ, nước đồng, cũng c̣n gọi
7 phần này là một Vi trần. Vi trần chia ra làm 7
phần nhỏ nữa gọi là Cực vi trần. Cực
vi trần th́ không thể chia thêm nhỏ nữa. Nếu chia
thêm sẽ trở về không. Cho nên gọi là cực vi
vậy. Cũng có lịch âm dương đối
chiếu theo ngày tháng, xưng gọi là đặc thù không
khác. Tuỳ theo ngôi sao mà định hướng của tên
tháng. Thời gian ngắn nhất gọi là sát na. 120 sát na
làm một Đản Sát Na. 60 Đản Sát Na thành một
Thử thần. 30 Thử thần là một Mâu Hồ Phiêu
Đa. Năm Mâu Hồ Phiêu Đa là một giờ. Sáu
giờ thành một ngày một đêm. Nhưng cũng có
nơi chia ra mỗi ngày đêm có tám giờ. Đầu tháng
cho đến giữa tháng là tháng trắng. Giữa tháng có
trăng cho đến tháng cuối gọi là tháng đen.
Phần đen là trước ngày 14 và 15. Trăng th́ có
trăng già và trăng non. Có trăng và không trăng
(trắng và đen) hợp thành một tháng. Sáu tháng như
vậy là một hành. Mặt trời đi bên trong gọi
là bắc hành, mặt trời đi bên ngoài gọi là nam
hành. Tổng cộng có 2 hành hợp lại thành 1 năm.
Mỗi năm chia ra làm 6 mùa. Từ 16 tháng giêng đến 15
tháng 3 là mùa ít nóng. Từ 16 tháng 3 cho đến 15 tháng 5 là
mùa nóng nhất. Từ 16 tháng 5 cho đến 15 tháng 7 là mùa
mưa. Từ 16 tháng 7 cho đến 15 tháng 9 là mùa tạnh.
Từ 16 tháng 9 đến 15 tháng 11 là mùa ít lạnh. Từ
16 tháng 11 đến 15 tháng giêng là mùa thật lạnh. Giáo lư
của Đức Như Lai chia ra làm 3 mùa. Từ 16 tháng
giêng đến 15 tháng 5 là mùa nóng. Từ 16 tháng 5 cho
đến 15 tháng 9 là mùa mưa. Từ 16 tháng 9 đến
15 tháng giêng là mùa đông. Hoặc cũng có nơi gọi 4
mùa, gọi là xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân có 3 tháng.
Gọi là tháng Đản La, tháng Phục Khá Xứ,
Kỳ Sắt Ngỏa. Những tháng này từ 16 tháng giêng
đến 15 tháng tư. Mùa Hạ có 3 tháng, đó là tháng
Loại Sa Trà, tháng Thất La Phiệt Nô, tháng Bà La Bát Đa.
Những tháng này từ 16 tháng 4 đến 15 tháng 7. Mùa thu có
3 tháng. Đó là tháng An Ổn Thần Phố Xà, tháng Ca
Sắt Vệ Ca, tháng Vị Già Thỉ La. Những tháng này
từ 16 tháng 7 đến 15 tháng 10. Trong ba tháng mùa đông gồm
có: tháng Vị Báo Xa, tháng Ma Khứ và tháng Loại Lặc Thê
Nô. Những tháng này từ 16 tháng 10 đến 15 tháng giêng.
Cho nên Tăng tín đồ của Ấn Độ theo
lời Phật dạy, họ có hai mùa an cư. Hoặc
trước 3 tháng hoặc sau 3 tháng. Trước 3 tháng có
nghĩa là từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 8. Sau 3 tháng có
nghĩa là từ 16 tháng 6 cho đến 15 tháng 9. Chữ
Tiền được dịch nghĩa theo Kinh luật
hoặc gọi là một Tọa Hạ hay một Tọa
Lạp (một tuổi đạo). Đây là những
tục lệ cổ. Chẳng giống với Trung Quốc
về âm vận hoặc phương ngôn khi chuyển
dịch ra như vậy. Cho nên sự nhập thai của
Đức Như Lai cũng như Đản Sanh, Xuất
Gia, Thành Phật, Nhập Niết Bàn, ngày giờ đều
có sự sai khác. Nguyên nhân như sau.
Phàm chỗ ở, làng mạc, thành ấp cho
đến phố xá, thị thành, do trải qua địa
bàn mà tạo nên đường xá rộng hẹp. Có
người ở chỗ cao ráo đẹp đẽ. Có
người ở chỗ ô uế tạp cư. Những
kẻ sống bên ngoài đi đứng qua lại thành
phải trái. Từ chỗ ở đó chế tạo ra
những công việc thành thục. Do địa thế và
khí hậu khác nhau mà thành. Cho nên làm tường hoặc
bằng tre gỗ hoặc bằng những loại gạch
nhiều hồ than. Tất cả những khác biệt
đó ở trong mùa hạ. Những loại bằng cỏ
bằng mây tạo nên những tấm thảm để
trang sức trên những bức tường bằng đá
bằng than. Dưới đất có trải phân ḅ cho là
sạch, có lúc rải hoa lên đó; nên có điều khác
lạ. Mà ở các chùa thường không làm như vậy.
Các chùa thường làm 4 lầu 3 từng. Trên nóc có đ̣n
dông chạm khắc nhiều h́nh tướng. Trên
tường có những bức hoạ đồ nhiều
màu sắc khác nhau mà thứ dân th́ không như thế. Pḥng
ở giữa cao lớn rộng hơn. Tầng thứ nh́
có khắc các h́nh tướng không giống nhau. Cửa
thường hướng về đông. Buổi sáng
ngồi xoay mặt về hướng đông cho
đến ngủ nghỉ th́ dùng thằng sàng
(giường dây) để ngủ.
Vua chúa, trưởng giả, thứ dân có sự
khác nhau. Những sự trang sức có quy củ và không sai
biệt mấy. Nơi chỗ ngồi của quân
Vương thường cao rộng. Đặc biệt thường
ngồi trên ṭa sư tử, được làm bằng
những loại trân bảo. Hàng trăm loại quư giá
được điêu khắc khác nhau nơi y phục
cũng như đồ mặc. Rơ ràng có sự sai khác
rất nhiều. Phía người nam mặc đồ bao
bọc chung quanh qua phía vai hữu. Người nữ
mặc kín đáo hơn. Ở trên đầu có để
tóc ngắn. Hoặc có dấu hiệu khác tục. Cổ th́
choàng hoa tươi, thân h́nh th́ đeo anh lạc. Đây là
những y phục kiều diễm làm bằng vải và
những đồ trân quư cũng như bằng lụa
hoặc bằng vỏ cây. Cũng có khi bằng loại gai
hoặc bằng vải cũng như lông dê. Những y
phục đặc biệt được làm bằng lông
thú. Lông chim đẹp cũng là một loại y phục
trân quư vậy. Ở phía bắc Ấn Độ phong thổ
lạnh lẽo nên y áo được chế biến khác
hơn. Bên ngoài được mặc thêm nhiều áo khác
nhau giống như lông con chim khổng tước hoặc
trang sức những anh lạc. Hoặc chẳng để
lộ h́nh. Hoặc lấy cỏ mây che thân thể. Hoặc
cạo tóc hoặc bới đầu. Những loại
thể như thế không có định hướng
cũng như màu sắc khác nhau. Pháp phục của Sa Môn
chỉ có ba y và Tăng Khước Kỳ cũng như Nê
Thần Thử La. Ba y cũng được cấu
tạo không giống nhau. Hoặc ngắn dài rộng
hẹp, hoặc lớn nhỏ khác nhau. Tăng Khước
Kỳ vai trái rộng, hai bên trái mở ra, bên phải
đóng lại để bao bọc lên người. Nê
Thần Thử La (Niết Bàn Tăng) không có dây cột
giống như áo. Tất cả đều tính thành một
bộ y mà mỗi bộ đều khác nhau, màu sắc vàng
đỏ cũng không giống nhau. Sát Đế Lợi Bà
La Môn sự ăn ở cũng khác nhau. Quốc vương
đại thần ăn mặc đẹp lạ. Hoa cài
tóc, cổ trang sức gồm nhiều đồ anh lạc
để hoá trang. Trong ấy cũng có nhiều
thương gia giàu có làm như vậy. Người
người có nhiều khác biệt như tục nhuộm
răng hoặc đỏ hoặc đen. Tóc, răng, tai,
mũi mắt cũng đều làm đẹp như
thế.
Tất cả cũng chỉ mục đích làm cho
đẹp và trong sạch. Phàm ăn uống, trước
tiên có tẩy rửa, phải dùng rượu và dùng
những chén bát khác nhau. Cũng có dùng chén bát bằng vàng,
bằng bạc, bằng đồng. Ở trong những
trường hợp ăn uống như thế tăm
xỉa răng cũng cốt làm sạch. Nước súc
miệng cũng không là điều chấp trước.
Mỗi khi tắm rửa thường dùng hương
thơm của lá cây hay bằng bột trầm, bột
nghệ. Khi quân vương tắm th́ âm nhạc trổi
lên, ca hát tế lễ rất là hưyên náo.
Chữ nghĩa rơ ràng. Do Phạm Thiên chế ra
gồm 47 chữ. Nhờ vào những vật hợp thành mà
trở nên chuyên dụng. Rồi phát triển rộng ra.
Đây là nguyên nhân vậy. Rồi từ đó người địa
phương cải biến lại. Ngôn ngữ nầy sau
nầy cũng có sự thay đổi từ bổn
gốc mà lấy Trung Tâm Ấn Độ làm tiêu chuẩn,
để điều ḥa tiếng Phạn rơ ràng hơn.
Vần đọc thanh cao lấy người làm quy
tắc. Những nước khác lân cận cũng
được giáo dục thành thục như thế. Có
sự cạnh tranh muốn bảo toàn thuần phong mỹ
tục. Cho nên trong những thơ văn lời nói vẫn
c̣n tồn tại. Sử chép rằng gọi chung những
điều như thế là Ni La Tế Trà. Tốt, xấu
đều do nơi đây mà ảnh hưởng vậy, mà
mở ra 12 chương tốt đẹp để
chỉ đạo. Sau bảy tuổi th́ lănh thọ Ngũ
Minh Đại Luận
- Một là Thanh Minh, giải nghĩa những
chữ huấn dụ. Chú giải những mục sớ
văn.
- Hai là Công Xảo Minh là những cơ quan kỹ thuật
và lịch âm dương đối chiếu
- Ba là Y Phương Minh. Cấm chỉ những tà thuật
về thưốc men có ngải bằng đá kim
- Bốn là Nhơn Minh, khảo sát việc chánh tà nghiên
cứu t́m chơn ngụy
- Năm là Nội Minh, nghiên cứu về diệu lư nhân
quả, ngũ thừa.
Đây là bốn luận Vệ Đà của Bà La
Môn:
- Thứ nhất là Thọ, nghĩa là duỡng
nuôi tánh thiện,
- Thứ hai là Từ nghĩa là tế tự cầu
nguyện
- Thứ ba là B́nh, nghĩa là lễ nghi binh pháp quân trận
- Thứ tư là Thuật, nghĩa là dùng y học
để đối lại với những ma chú.
Vị Thầy bắt buộc phải nghiên
cứu rộng răi tinh vi ư nghĩa nầy. Để minh
thị ư nghĩa dẫn đạo to lớn trong lời
nói tế nhị. Đề cao những việc thiện
khắc ghi vào danh bạ. Nếu mà ư thức
được nhiều th́ sẽ làm nguyên tắc sống
rơ. Thành sự học nghiệp phải trải qua ba
mươi năm. Lúc đó chí nguyện mới đạt
thành. Mới có thể hưởng lộc đầu tiên
về đạo đức của một vị Thầy.
Cho nên đây là sự chiếm cứ tốt đẹp
nhất của việc biết rộng vậy. Đây là
sự biểu hiện của những vật bên ngoài ch́m
nổi thay đổi, đây là sự chịu đựng
không sợ tai tiếng từ xa. Nếu nhà vua có tà vạy,
chưa thể khuất phục được, nhưng v́
việc nước là trọng th́ phải thông qua tập
tục cao sáng đó. Đồng thời cũng tán thành
mệnh lệnh của long thể là trọng yếu. Cho
nên có thể có ư chí mănh liệt để học hỏi,
quên đi những nghề nghiệp đi xa mệt
mỏi. Sự t́m đạo phải nương theo lư
lẽ nhân nghĩa không quá xa hơn ngàn dặm. Nhà tuy giàu mà
có ư chí ra đi, đầu óc rơ ràng. Quư trọng để
biết đạo chứ không xấu hổ để tham
tài. Vui chơi đoạ nghiệp vào sự ăn mặc.
Chẳng phải v́ đức hạnh lại chẳng
thực tập, v́ sự sỉ nhục đến tạo
nên tai tiếng cao xa, như giáo lư của đức
Phật tuỳ loại mà được thành tựu.
Đến Thánh quả của chánh pháp kia c̣n xa vời trách
nhiệm nghe thấy giải thích đều do tâm nầy
vậy. Nghe biết thực hành để được
ngộ đạo. Chấp trước tranh luận
để làm sáng tỏ. Những môn học chuyên môn khác làm
cho thấy rơ sự sai biệt. Mười cơi, tám loài
mỗi mỗi đều rơ ràng. Đại Thừa,
Tiểu Thừa hai giáo đều có sự riêng biệt;
nơi đây đều có sự yên tĩnh tư duy qua
sự đi đứng nằm ngồi. Định
tuệ lắng yên sự tranh tụng. Tùy theo điều
nầy mà đại chúng được chế ra
để pḥng ngừa không thể cho rằng Luật Luận
Kinh là kinh Phật
- Bộ thứ nhất, tuyên dương, không
cần tri sự tăng
- Bộ thứ hai, tăng thêm tư liệu pḥng ốc
- Bộ thứ ba, sai bảo thị giả cung kính
phụng thờ
- Bộ thứ tư, cho người tịnh hạnh
nhơn việc làm
- Bộ thứ năm, đi theo xe voi
- Bộ thứ sáu, dẫn đường theo sau.
Lấy đạo đức đầu nêu cao
tánh mệnh, cho nên tập họp để khảo sát
những giảng luận nầy về ưu khưyết
điểm phân biệt thiện ác mà có đen trắng sáng
tối. Trong nầy cũng có sự bàn bạc tế
nhị để đề cao Diệu Lư. Những ngôn
từ tốt đẹp cũng được triển
khai. Đây là bảo tượng cao quư để chỉ
đạo như vào trong rừng vậy. Cho đến ư
nghĩa hư vọng cũng được chỉnh đốn.
Lư giải rơ ràng, nghĩa lư phù hợp với lời nói,
tức tùy theo sự hợp nhất giống như
đất ở trên tường. Hoặc giả, phải
ở nơi tịch tịnh để biểu hiện tánh
hiền thuận. Người ta biết rằng vui theo
niềm đạo là điều được khuyến
thỉnh để học hỏi. Người xuất gia
trở lại đời cũng được gọi là
tốt. Tuy nhiên khi c̣n ở trong Tăng bị phạm
luật th́ phải bị phạt. Không thể khinh xuất
mệnh lệnh của chúng tăng được. Lại
ở trong chúng không được nói, cũng không
được cùng chúng ở chung, không được cùng
chúng ăn cơm, đi ra khỏi trụ xứ phải
sống biệt trụ, để phản tĩnh lại
việc làm sai trái đầu tiên của ḿnh. Nếu mà nói
về chủng tộc có bốn loại như sau:
- Thứ nhất, Bà La Môn, là những kẻ
tịnh hạnh, giữ đạo trinh khiết, tiết
tháo.
- Thứ hai, Sát Đế Lợi, là những
kẻ nắm vương quyền, là những bậc nhân
chủ trong đời, lấy nhân đức làm chí
nguyện
- Thứ ba, Phệ Xá, là những kẻ buôn bán làm
giàu do sự buôn bán gần xa.
- Thứ tư, Thủ Đà La, là những kẻ
nông dân, đem sức lực của ḿnh siêng năng làm
việc nhà cửa. Phàm tất cả đều do bốn
chủng tộc nầy mà lưu hành.
Về việc hôn phối th́ không được
vượt qua những giai cấp đó. Nội ngoại
gia tộc được cấu thành không phức tạp, người
lấy chồng không được tái giá. Nếu không
sẽ bị khai trừ ra khỏi tộc đó. Mỗi
chủng tộc đều có mỗi tục lệ khác nhau,
khó có thể tường lăm hết. Quân Vương trị
thế ở đời chỉ có ḍng Sát Đế Lợi.
Họ được xưng là cao quư trên các tộc khác;
nhưng lính tráng của nước nhà được
tuyển chọn khác nhau. Cha con chuyên nghiệp cùng theo binh
thuật, ở nơi cung điện để pḥng
vệ. Ra đi chinh phục được cử đi
trước. Phàm trong bốn loại binh, th́ có bộ binh,
mă binh, xa binh và tượng binh. Voi được
điều khiển bởi những người nài,
một tướng ngồi lên đó, hai bên tả hữu
có quân lính đi theo ngự giá gồm xe tứ mă. Binh
tướng theo hầu, cận vệ hai bên để phù
trợ xe vua. Quân cỡi ngựa chia ra hộ tống. Phía
bắc quân đi bộ là những kẻ dũng sĩ
được tuyển chọn cầm theo giáo mác dài và giữ
những dao kiếm đi kề. Phàm những khí cụ
như thế đều được vót nhọn.
cũng gồm có cung tên, dao kiếm, búa lớn, búa nhỏ,
giáo mác dài cùng theo xe . Tất cả đều để
biểu dương uy thế. Phàm làm như vậy là
tục lệ, biểu hiện tính chất mạnh mẽ
cấp thời chiếm lĩnh, không được
cẩu thả, để có nghĩa là bảo hộ.
Nếu không th́ phải bị tội khinh thường
sự sống là nghiệp vậy. Ngụy trang những việc
làm ấy để trở thành ngụy tín. Chính sách giáo
dục phong tục phải điều ḥa tốt xấu.
Những kẻ hung dữ bị luật pháp quốc gia
trừng trị. Có ư mưu hại làm nguy đến Quân
Vương, làm chướng ngại v.v..những việc
như thế đều bị h́nh phạt. V́ sự sanh
tử chẳng kể nhân luân. Phạm vào lễ nghĩa
nghịch lại trung hiếu bị xẻo mũi, cắt
tai, chặt tay, và chặt chân. Hoặc đuổi ra
khỏi nước. Hoặc phóng thích nhưng bị
phạm vào tội ăn cắp tài sản, đa phần
bị ở tù cũng như những h́nh phạt khác, tùy
theo vấn đề mà đối sách sự việc để
giải quyết. Nếu kẻ phạm tội quá sức
mà muốn làm rơ sự thật th́ phải theo án lệnh.
Trong đó có bốn điều: dùng nước lửa
để trị tội, tội nhân bị bỏ vào
nước cùng với đá, khi ch́m rồi, nhận sâu
xuống mới biết đúng sai. Khi ch́m rồi, lấy
đá đè lên phạm nhân. Nếu người nổi
đá ch́m không ổn. Dùng lửa bằng cách đốt
cột đồng để tội nhân leo lên đó.
Hoặc đốt nơi chân để hỏi cung.
Hoặc đưa vào lưỡi. Nếu không có tội
không sao, nếu có th́ bị tổn thương. Có bị
thương tích hay không do sự thật hư mà có. Kẻ
nhu nhược không chịu nổi lửa cháy mạnh. Cây
chưa phát hoả, th́ sẽ bị cháy sém. Kẻ thật
hư sẽ bị hoa lửa kia đốt cháy. Đây
gọi là người bị đá đe nặng nhẹ.
Kẻ hư ngụy sẽ bị đá đè lên
người. Độc thủ hơn là cho một con dê
mang đá đến chỗ tra khảo và người
bị kiện cho uống thuốc độc, kẻ
xử phạt bắt người đó phải chết.
Kẻ hư ngụy sẽ bị chất độc làm
hại. Đây là đơn cử bốn điều đă
nói để pḥng hờ trăm việc trái.
Cho đến nghi thức cung kính cũng có chín
nghi lễ. Thứ nhất là nói lời an ủi. Thứ hai
là cúi đầu cung kính. Thứ ba là giơ tay cao chào.
Thứ tư là chắp tay ngang ngực. Thứ năm là
quỳ gối. Thứ sáu là chân để duổi ra.
Thứ bảy là tay duổi thẳng ra đất. Thứ
tám là năm luân đều cong. Thứ chín là năm vóc
đều gieo xuống đất. Phàm chín việc này
đều phải cung kính. Đây là cái đức cao
cả, tận lực cung kính tán thán. Về phía xa hơn
nữa th́ phải cúi đầu chấp tay. Về phía
gần th́ chân phải quỳ gối. Phàm nói năng
phải nương vào lệnh trên. Tôn trọng bậc
hiền thánh, thọ nhận sự lễ bái tất có
sự an ủi. Hoặc cọ sát nơi đầu.
Hoặc vỗ về nơi lưng. Lời nói diệu
hiền mẫn cảm hướng dẫn minh thị
chỗ thân thiết nồng hậu. Xuất gia làm Sa Môn
được thọ nhận sự kính lễ. Chỉ có
thêm nguyện tốt không dừng lại sự lễ bái.
Tùy theo công việc của Tông môn có nhiều khác biệt.
Hoặc chỉ một lần. Hoặc hai ba lần. Tâm
niệm ấy do sự cầu thỉnh riêng mà
được.
Phàm khi gặp bệnh nhịn ăn bảy ngày
trong thời kỳ đó sẽ có thuyên giảm. Nếu
chưa hết mới dùng đến thuốc than. Tên
của những loại thưốc th́ không giống nhau.
Đây là công vệc của y khoa chiếm lĩnh có sự
khác nhau. Cuối cùng khi chết đi th́ đều nhỏ
lệ. Người thân cạo tóc để ngực, áo
quần được chế tạo để mặc
cư tang th́ không hạn định. Khi tống tán nghi
lễ có ba loại. Thứ nhất là hoả táng, dùng
củi để thiêu. Thứ hai là thủy tán, cho d́m
xuống nước để trôi đi. Thứ ba là dă
táng, nghĩa là cho xác vào rừng cho chim ăn. Khi Quốc
Vương băng hà đầu tiên lập một ban
tổ chức cho tang lễ, rồi phân chia trên
dưới. Khi sống lấy đức làm đầu.
Khi chết không c̣n kiêng cử nữa. Những người
nhà có tang th́ không ăn uống. Sau khi tang lễ xong trở
lại b́nh thường không kiêng kỵ. Những
người đi đưa đám chết không sợ
dơ hoặc tắm rửa bên ngoài rồi cho vào. Cho
đến tuổi tác sống lâu hay chết sớm cũng
thế. Khi sống không sợ mệt nhọc đắm
ch́m. Con thú khi ĺa đời c̣n muốn trở lại nhân
gian. Sự sanh tử nặng nhẹ hy vọng vào con
đường phía trước. Cho nên người thân
thuộc phải biết tạo nên niềm vui bằng
tiệc rượu. Hoặc đánh trống thổi kèn
để thêm sức. Kẻ trung lưu cũng
được sanh thiên. Trong mười cơi ấy một
cơi này cũng chưa thấy được. Kẻ
xuất gia làm tăng không bị quy vào đây. Khi cha mẹ
mất tụng niệm để nhớ ơn. Xa hơn là
cầu việc phước đức. Giữa chính
trị và tôn giáo có những điều cũng giản
đơn. Nhà nào chẳng có gia phả th́ người
đó chẳng có thay đổi quá tŕnh. Trong đất
đai của Vua chúa cũng chia ra làm bốn loại.
Thứ nhất đất ấy nhà nước dùng
để làm tế lễ. Thứ hai đất ấy ban
cho các tể tướng triều thần. Thứ ba
đất ấy thưởng cho những kẻ học
cao tài rộng. Thứ tư đất ấy giống
như ruộng phước điền cấp cho những
đạo khác. Cho nên cũng có chế độ thuế má
nặng nhẹ được kiểm soát bởi tỉnh.
Mọi người trong đời có nghề nghiệp
đều có đầy đủ cổ phần đất
đai. Nếu là ruộng quư th́ phải đóng một
phần sáu thuế. Sự thương mại có lời qua
lại cũng như sự buôn bán trước sau
đều có thuế. Sự buôn bán giúp cho quốc gia giàu
mạnh bắt buộc phải lao dịch. Đây là giá
trị của sự thành công vậy. Trấn nhậm chinh
phạt là do lính tráng. Số nhiều do mọi tộc và các
huyện tuỳ theo người mà thưởng. Những
người đầu ấp được cử ra
để thâu thuế. Các nơi đều có phân chia
đất đai cho việc ăn uống. Phong tục khác
biệt, chỗ ở cũng như vậy. Hoa quả cây
trái đủ loại khác nhau. như Am Mộc La, trái Am Nhi
La, trái Mạc Đỗ Già, trái Phạt Đạt La, trái
Kiếp Tỳ Hoá, trái A Mạc La, trái Chấn Đỗ
Già. Phàm những loại như thế thật khó biết
hết. V́ thấy lạ trên đời nên lược ghi
như vậy thôi. Cho đến những loại cây khác
của Ấn Độ cũng ít nghe tới như quả
lê, quả đào, nho v.v... . Nước Già Hiển Nhi La
cũng đă đến đây mang về trồng.
Thạch Lựu Cao Kiều các nước đều có
trồng. Tuỳ theo nhà nông mùa màng canh tác, để
trồng tuỳ theo thời tiết mà có sự thay
đổi. Đất đai nơi đây cũng trồng
được nhiều lúa mạch. Rau cải cũng
được trồng nơi có nước. Rau cỏ tuy
ít nhưng không thiếu để dùng. Nhà có nhiều
miệng ăn phải chia khu ra để canh tác. Cho
đến sữa tươi, đường cát, mật
ong, dầu và các thứ bánh cũng đều dư dả.
Dê, nai và những loại quư cũng như voi, ngựa, chó,
khỉ, sư tử, gà nhà v.v... . Phàm những loại
động vật có lông th́ vô số kể. Những
người có tâm xấu hổ thường hay không làm
những việc ác. Những kẻ ấy bị
người đời coi thường ví như những
kẻ uống rượu say sưa đều ít trân quư.
Rượu nho cam thảo là những thứ dùng cho gịng Sát
Đế Lợi uống. Rượu cúc và những
loại rượu khác cũng như vậy. Sa Môn, Bà La Môn
uống nước nho và nước cam thảo, không có
nghĩa là uống rượu say. Có nhiều bộ tộc
khác nhau cho nên không thể nói riêng biệt được.
Họ dùng những đồ ăn uống đặc thù.
Tùy theo đồ vật và thời gian mà có sự liên quan
khi dùng đến mà không thể biết hết
được; đa phần ly bằng đất ít dùng
mà dùng loại đồng đỏ. Khi ăn, dùng một
cái bát để hết thức ăn vào đó. Dùng tay
bốc ăn. Cho đến khi già bệnh, họ vẫn
dùng đồ bằng đồng.
Về những loại vàng bạc đá ngọc
quư ở đất nước này có chứa chất
rất nhiều. Có nhiều loại trân bảo khác nhau
bằng đá quư. Lấy từ biển lên để bán.
Vật để mua bán hàng hoá là vàng bạc cho đến
những đồ quư giá. Trải dài cho đến biên
cương của Ấn Độ cũng đều
như thế. Phong tục có sai biệt nhưng đại
lược là như thế. Tất cả đều cùng
một khái niệm là nước ấy có nhiều chánh sách
và phong tục khác nhau.
1) Nước Lam Bà, chu vi hơn ngàn dặm. Phía
bắc giáp với Tuyết sơn. Ba bên có núi cao. Thủ
đô hơn mười dặm có từ hơn 100 năm
nay. Vương tộc không c̣n cho nên có sự cạnh tranh
không có người đứng đầu. Trước
đó lệ thuộc nước Ca Tất Thí. Ở đây
có nhiều mía, cây rừng và những hoa quả khác. Khí
hậu ôn hoà. Chỉ có sương nhưng không có tuyết,
phong tục của nước này người ta hay vui
với ca hát ngâm thơ. Ư chí tánh t́nh th́ yếu đuối
thường hay quỷ quái. Chẳng xuất hiện
điều ǵ đặc biệt. Lễ nghi cử chỉ
thô tháo. Mặc nhiều áo phải dùng màu trắng
để trang sức. Già Lam hơn mười ngôi. Tăng
tín đồ c̣n rất ít. Đa phần học tập theo
Đại Thừa giáo. Ngoài ra hầu hết theo những
đạo khác. Từ đây đi về phía đông nam
hơn trăm dặm th́ gặp núi cao, sông sâu; đến
biên giới bắc Ấn Độ gặp nước Na
Yết La Yết.
2) Nước Na Yết La Yết, đông tây
hơn 600 dặm. Nam Bắc hơn 256 dặm. Núi non bao
bọc chung quanh rất nguy hiểm. Đô thành chu vi hơn
20 dặm. Không có người cai quản cho nên trực
thuộc Ca Tất Thí. Có nhiều lúa gạo và hoa quả.
Khí hậu ôn hoà. Phong tục thuần chất, mạnh
mẽ kiên cường, xem nhẹ tiền tài, ham học,
sùng kính Phật Pháp. Ít có người theo Ngoại
Đạo. Chùa tuy nhiều nhưng tăng tín đồ th́
ít. Các bảo tháp bị hoang phế hư hoại. Những
đền thờ của Đạo Giáo khác có 5 sở và
hơn 100 người theo.
Thành phía Đông rộng 2 dặm, có bảo tháp cao
hơn 300 thước do Vua Asoka kiến thiết, trên đá
đặc biệt điêu khắc công phu. Lịch sử
Phật Thích Ca, lúc c̣n là Bồ Tát gặp Phật Nhiên
Đăng, đă trải tóc và áo phủ trên bùn để
Phật đi, và được Phật thọ kư. Cho
đến kiếp hoại, sự tích nầy vẫn không
mất. Hoặc cũng có chạm những ngày lễ,
trời mưa hoa cúng dường, người
người quây quần tu phước cúng dường.
Ở phía tây Già Lam nầy, tăng tín đồ
cũng ít. Phía nam có bảo tháp nhỏ. Ngày trước vùng
nầy thuộc xứ Án Ni, Vua A Dục tránh con
đường lớn nên làm con đường nầy.
Giữa thành có Bảo Tháp, nghe rằng đây có
thờ Răng của Phật cao rộng trang nghiêm tráng
lệ. Bây giờ không c̣n Răng nữa, chỉ c̣n Tháp thôi.
Tháp cao hơn 30 thước. Tục lệ không cho biết
Tháp nầy có tự bao giờ, nên không rơ. Tháp đứng
trơ trọi chẳng c̣n ai ở đó nhưng rất
linh thiêng.
Phía Tây Nam cách thành hơn 10 dặm có Bảo Tháp
nữa. Nơi đây, đức Như Lai từ miền
trung Ấn Độ đi du hoá đến nơi nầy.
Không xa phía đông mấy, lại có một Bảo Tháp
cũng theo truyền thuyết là nơi Bồ Tát ngày xưa
gặp Phật Nhiên Đăng, mưa hoa cúng dường
Phía tây nam cách thành hơn 20 dặm, có một
ngọn núi thấp. Ở đó có chùa, viện và tháp
miếu đều làm bằng đá. Nhưng hiện
tại vườn không nhà trống không có bóng dáng một
người tu. Giữa đó có một bảo tháp cao
hơn 200 mét. Tháp nầy cũng được Vua A Dục
kiến tạo. Phía tây nam của Già Lam thật tiêu sơ
vắng vẻ, gió thổi trốc vách tường. Phía đông
tường đá ấy có một động lớn,
nơi đây cũng là nơi ở của con rồng Cù Ba
La. Qua cửa hẹp th́ có một động khác tối
hơn. Động đá nầy có nước ngọt
nhiễu từng giọt. Tự nó biến thành Chơn Dung
của Phật, tướng hảo đầy đủ
trang nghiêm tự tại. Từ đó đến nay, ít có
người thấy được, nhưng kẻ nào
thấy được mà chí thành cầu thỉnh th́
được cảm ứng; nhưng ánh sáng thấy
được đó không lâu. Ngày xưa, khi Phật c̣n
tại thế, con rồng nầy là kẻ chăn trâu
muốn dâng sữa cho Vua, nhưng dâng không được,
tâm sân khởi lên. Sau đó mang một đồng tiền
vàng mua hoa cúng Phật, nên được thọ kư tại
tháp nầy. Tái sanh làm con rồng ác ấy đă phá hại
nước của Vua, rồi bị đập đầu
vào đá mà chết. Chết rồi, đọa thành
Đại Long Vương ở trong Động Đá
nầy. Tâm tánh thay đổi muốn ra khỏi
động và không dám làm ác. Tâm thiện khởi lên chiêu
cảm đến Như Lai. Thương con rồng, ngài
vận thần thông từ miền trung Ấn Độ
đến nước nầy. Vừa thấy đức
Như Lai, con rồng buông xả tất cả tâm
độc, liền thọ giới không sát sanh, nguyện
hộ tŕ Chánh Pháp và cung thỉnh đức Như Lai
lưu lại Động nầy, các vị Thánh Đệ
Tử cũng lưu lại nơi đây mà thọ nhận
sự cúng dường của rồng. Nhân đó,
đức Như Lai bảo rằng:
Như Lai sẽ v́ người mà lưu lại
h́nh ảnh, sau khi tịch diệt ở nơi nầy. Và
lúc nào cũng có năm vị A La Hán ở tại đây
để thọ nhận sự cúng dường của
ngươi cho đến khi Chánh Pháp hoại diệt.
Như có khi nào, ngươi khởi tâm sân hận, hăy xem
ảnh của ta, với dáng từ bi, th́ sân tâm của
ngươi sẽ ngưng lại ngay. Khoảng giữa
hiền kiếp nầy, vị Phật tương lai
cũng có ḷng bi mẫn thương ngươi mà lưu
ảnh lại.
Ngoài cửa động có hai trụ đá.
Một trụ đá bên trên có khắc dấu chân của
đức Như Lai. Một trụ có h́nh luân xa và nơi
đây phát ra ánh quang minh. Hai bên cửa động cũng có
h́nh nầy, và có những pḥng nhỏ làm bằng đá.
Tất cả như những tịnh thất mà chư
vị Thánh đệ tử Như Lai dùng làm nơi nhập
định. Phía tây bắc của động có một
ngọn tháp, đây là nơi mà Như Lai đi kinh hành.
Ở phía Nam tháp nầy có tháp thờ tóc và móng tay
của đức Như Lai. Gần đó không xa, cũng có
một tháp nữa, nơi mà Như Lai hiển dương
Chân tông, nói về Uẩn, Xứ, Giới. Phía tây
động có ảnh, có một tảng đá lớn.
Nơi đây Ca Sa của Như Lai được giặt,
h́nh ảnh ấy vẫn c̣n hiển hiện.
Cách thành về phía Đông Nam hơn 30 dặm,
đến nước Uẩn La Thành chu vi 45 dặm, kiên
cố hiểm trở. Có rất nhiều hoa, trái, cây
rừng, ao hồ. Người sống ở giữa thành,
đều thuần lương, chánh tín. Có nhiều bức
hoạ rất đẹp trên lầu, nhà. Có tháp nhỏ
ở tầng hai làm bằng 7 báu, an trí xương
đầu của đức Như Lai, xương nầy
dài 1.2 tấc cũng có thờ mấy sợi tóc, phát ra ánh
sáng. Ánh sáng nầy màu vàng và trắng, rất linh thiêng.
Ở giữa tháp nầy, chiếu sáng như gương,
nh́n vào đó thấy được sự tốt xấu
của mỗi người. Mùi hương xông lên thấu
tận xương tủy, tùy theo phước đức
mà sự cảm ứng giao cảm với nhau. Trong tháp
ấy, cũng có một bộ xương đầu
của Như Lai, phóng quang màu sắc vi diệu, an trí
chỗ thật là trang nghiêm.
Cũng có một tháp nhỏ khác bằng bảy
báu, an trí xá lợi mắt của Như Lai. Tṛng lớn
như quả Nại, phát ra ánh sáng vi diệu,
được an trí nơi cao quư. Y hoại sắc của
Như Lai cũng được an trí một cách trang
trọng ở nơi đây vẫn c̣n nguyên vẹn chưa
bị hư hoại. Có cây tích trượng của Như
Lai bằng gỗ Bạch Đàn, màu thiếc bạc
nữa. Gần đây có một vị vua được
nghe những bảo vật nầy, muốn lấy dùng,
đem quân sang uy hiếp để mang về. Nhưng khi
mang về đến nước, an trí những bảo
vật ấy trong cung điện chưa bao lâu th́ đă
mất rồi. Khi biết ra, th́ bảo vật đă quay trở
về chỗ cũ. Năm thánh vật ấy có những
mầu nhiệm khác nhau, cho nên Vua Ca Tất Thí cho năm
người tịnh hạnh mang hương hoa đến
cúng dường và ǵn giữ như là Như Lai vẫn c̣n
tại thế, chưa an nghỉ. Tuy nhiên, năm
người tịnh hạnh nầy không chỉ muốn
như thế mà c̣n đem tiền mướn người
trông nom, và đặt ra một số điều lệ
phức tạp khác đại để như là:
Ai muốn chiêm ngưỡng Xá Lợi của Như
Lai, phải nộp một đồng tiền vàng. như
muốn chiêm nguỡng h́nh ảnh Như Lai, nộp năm
đồng.
Những điều lệ nầy tự
đưa ra và mọi người phải chấp
thuận.
Ṭa lầu phía bắc cũng có Bảo Tháp cao
lớn và linh thiêng vô cùng. Ai chỉ cần dùng tay chỉ có
thể chấn động ngay, làm cho linh reo. Từ đây
đi về phía đông nam hơn 500 dặm đến
nước Càn Đà La.
3) Nước Càn Đà La, đông tây hơn ngàn
dặm, nam bắc hơn 800 dặm. Phía đông giáp sông Tín
Độ. Đô thành là Bố Lộ Sa Bố La, chu vi
hơn 40 dặm. Vương tộc bị tuyệt tự
cho nên lệ thuộc nước Ca Tất Thí. Làng mạc
tiêu sơ, dân cư thưa thớt. Trong cung thành chỉ
hơn 1000 gia đ́nh. Gạo thóc nhiều, rau quả, cây
trái cũng thế, có nhiều mía. Nơi đây
người ta sản xuất đường phèn. Khí
hậu ôn hoà chẳng có sương tuyết. Tánh
người tiêu cực, rất thích nghệ thuật, tôn
kính ngoại Đạo, ít có tín tâm với Chánh Pháp. Dù là
một nơi nằm gần biên giới Ấn Độ,
nhưng từ trước tới nay, các vị luận
sư Ấn Độ như Bồ Tát Vô Trước,
Bồ Tát Thế Thân, Pháp Cứu, Như Ư, Hiếp Tôn
Giả v.v.. đều sanh ra ở nơi nầy. Có
khoảng 1000 Tăng Già Lam, nhưng nhiều ngôi bị hoang
phế điêu tàn. Các bảo tháp cũng bị đổ
nát. Có hơn 100 nơi thờ tự của các đạo
khác, việc ăn ở rất tạp nhạp.
Vương thành phía đông bắc, một đài
kỷ niệm được xây dựng để thờ
b́nh bát của đức Phật. Sau khi Như Lai nhập
Niết Bàn, b́nh bát của ngài trở về nước
nầy. Hơn 500 năm nay, các nước luân phiên nhau
mượn để thực hiện nghi thức cúng
dường của đức Phật.
Ngoài thành Ba Lợi Tu về phía đông nam cách 89
dặm. có cây Tất Bát La cao hơn 100 thước cành lá
sum sê, tàng cây rậm rạp. Có bốn vị Phật trong
quá khứ đă ngồi dưới cây nầy, hiện
tại cũng có bốn vị Phật ở đây, và trong
Hiền kiếp nầy sẽ c̣n có 996 vị Phật
ngồi nơi đây, cho nên nơi đây được
ǵn giữ cẩn mật và rất thiêng liêng.
Nơi đây đức Như Lai ngồi quay về
hướng Nam nói với ngài A Nan rằng:
Sau khi ta diệt độ 400 năm, có một
vị Vua ra đời tên là Ca Nị Sắc Ca, xây dựng
một ngôi bảo tháp cách đây không xa về phía Nam
để thờ rất nhiều Xá Lợi của ta.
Phía Nam gốc cây Bồ Đề, có một
Bảo Tháp. Tháp nầy do Vua Ca Nị Sắc Ca xây dựng
vào khoảng 400 năm sau Phật diệt độ. Nhà Vua
đă là người thống nhất sơn hà nhưng không
tin tội phước, khinh thường Phật Pháp.
Một hôm đi săn rượt theo một con thỏ
trắng, Vua gặp một cậu bé chăn trâu ngồi
dưới gốc cây đang chơi, xây một tháp
nhỏ. Vua hỏi:
- Con làm ǵ thế?
Cậu bé đáp:
- Ngày xưa, đức Thích Ca Mâu Ni là bậc Thánh
trí có huyền kư rằng sẽ có một vị vua ở
xứ nầy xây tháp phụng thờ Xá Lợi của ngài.
Biết đâu chính ngài cũng có tên trong số những
người đức lớn ấy. V́ có nhờ
phước đức lớn người mới
được làm Vua. Cho nên hôm nay con đă nhắc lại
để Ngài biết.
Nói xong liền biến mất. Vua nghe rất vui
mừng nghĩ rằng tên của ḿnh là Đại Thánh
đă được huyền kư. Nhân việc nầy, phát
chánh tín, tôn trọng Phật Pháp.
Bên cạnh tháp nhỏ đó, ngài dựng nhiều
tháp đá và khắc ghi tất cả những công
đức trên tháp. Tuỳ theo số lượng mà
khắc từ tháp cao 3 tấc cho đến cao 400 tấc. Dấu
vết nầy c̣n trơ lại chu vi hơn một dặm
rưỡi. Có tháp đến 5 tầng, cao hơn 150
tấc. Trong đó cũng có nhiều tháp nhỏ.
Nhà Vua nhân đó mà làm tháp chúc thọ. Trên đó, có
khắc nhiều bánh xe bằng vàng và bằng đồng
ở tầng thứ 25. Nơi đây cũng có an trí Xá
Lợi của Như Lai, và là nơi thực hành nghi
thức cúng dường tu phước.
Khi Vua xây xong tháp nầy, thấy phía đông nam có
nhiều tháp nhỏ không vừa ư mọc lên, ra lệnh
đập cho thấp xuống chỉ c̣n phân nửa, hai
tầng mà thôi. Bỗng nhiên xuất hiện một tháp
nhỏ nữa, nhà Vua than rằng:
- Ô! Có phải do vô minh mà khó khăn như vầy.
Hay là Thánh Linh không đồng ư.
Vua tạ lễ ra về. Cái bảo tháp thứ
hai nầy cho đến bây giờ vẫn c̣n. Ai có bệnh
tật đau yếu, mang hương hoa đến cầu
nguyện, th́ hết bệnh.
Về hướng đông của Đại Tháp,
có hai bảo tháp bằng đá nữa. Một cái cao ba
thước, một cái cao năm thước. H́nh dáng hoàn
toàn giống như tháp kia. Cũng có hai tượng
Phật, một tượng cao bốn tấc, một
tượng cao sáu tấc. Dưới cây Bồ Đề
có tượng Phật kiết già. Khi ánh sáng mặt
trời chiếu, sắc vàng hiện lên trên đá rồi
chuyển sang màu xanh cam. Những bậc kỳ cựu cho
biết:
Hơn 100 năm trước, đá nầy có màu
vàng óng ánh, có những đường vân đá lớn
cỡ như lóng tay, những đường vân đá
nhỏ cỡ hạt lúa mạch. Tất cả đều
hiện lên trên mặt đá, có lúc hiện màu kim sa. Bức
tượng bây giờ vẫn là tượng ấy.
Phía Nam Đại Tháp kia có một bức
tượng Phật họa cao 1m6 gồm có hai phần rơ
rệt, từ ngực lên trên và từ ngực xuống
chân. Ngày xưa có một người nghèo sống bằng
nghề làm thuê, có được một đồng
tiền vàng, nguyện hoạ tượng Phật,
đến Tháp nầy nói với người họa sĩ
rằng:
Tôi muốn có một bức h́nh đức Như
Lai đầy đủ diệu tướng, nhưng tôi
chỉ có một đồng thôi. Tâm tôi muốn vậy có
được không?
Người họa sĩ biết tâm người
ấy chí thành nên chẳng nói giá cả chỉ hứa
họa cho mà thôi. Trước đó cũng có một
người khác đưa ông cũng chỉ có một
đồng tiền vàng, nhưng yêu cầu họa một
bức tượng Phật. Người họa sĩ
nhận cả hai đồng tiền mà chỉ họa có
một tượng Phật thôi. Khi bức tượng
họa xong, cả hai người nghèo cùng đến
lễ bái. Người họa sĩ chỉ vào bức
tượng nói với hai người cùng một câu nói:
- Đây là bức tượng Phật mà tôi
họa cho ông.
Hai người rất ngạc nhiên nhưng không
nói ra. Người họa sĩ hiểu được tâm
của hai người nói rằng:
- Sao mà tư lự vậy? Phàm tôi nhận của
ai một việc ǵ, tôi không bao giờ thiếu một hào
một ly. Nếu lời nói của tôi không dối trá, th́
bức tượng sẽ biến hoá.
Nói chưa dứt, bức tượng đă
hiện ra nhiều điều linh dị, phân thân qua
lại, ánh sáng rực rỡ. Hai người cảm
phục sinh tâm hoan hỷ.
Phía Tây Nam Đại Tháp, hơn 100 dặm đi
bộ, có một tượng Phật bằng đá
trắng cao một thước tám, mặt hướng
về phía Bắc, linh thiêng vô cùng, thường phóng hào
quang. Có khi người ta thấy tượng đi kinh hành
nhiễu tháp vào ban đêm. Gần đây, bọn
cướp muốn vào ăn trộm bức tượng,
nhưng bức tượng đứng lên nghinh tiếp
chúng, làm cho chúng hoảng sợ rút lui. Tượng bèn
ngồi vào vị trí cũ. Nhờ vậy, bọn
đạo tặc cải tà qui chánh đi khắp xóm làng
kể cho mọi người đều biết chuyện
nầy.
Hai bên Đại Tháp, mỗi bên có một Bảo
Tháp nhỏ, phát ra ánh sáng màu, trăm loại óng ánh rất
đẹp. Có tượng Phật trang nghiêm, điêu
khắc vô cùng công phu. Có hương thơm, có âm thanh khác
nhau thường nghe rất rơ. Có những vị tiên,
những bậc Thánh Hiền, cũng thấy họ đi
nhiễu Tháp. Tháp nầy Như Lai đă huyền kư sẽ
có bảy lần hư hoại, bảy lần tái tạo tu
bổ th́ Chánh Pháp mới diệt tận. nhưng
người ta cho biết tháp đă bị hoại
đến ba lần rồi. Lần đầu bị cháy,
bây giờ tu sửa lại đẹp đẽ, sau
nầy sẽ hoàn thành.
Phía Tây của Đại Tháp, có Già Lam do vua Ca
Nị Sắc Ca kiến lập. Chùa có nhiều tầng làm
nơi để cung thỉnh chư tăng về cúng
dường tạo phước. Nhưng Tăng tín
đồ càng ngày càng giảm thiểu. Phần nhiều tu
theo Tiểu Thừa, tự xây dựng Chùa Viện; nhưng
đức độ của chư vị luận sư,
hoặc bậc chứng Thánh quả như những
luồng gió mát thổi đến với họ không bao
giờ tận.
Trên tầng ba có thờ ngài Hiếp Tôn Giả.
Pḥng ấy lâu nay bị nghiêng nhưng vẫn c̣n đứng.
Ngài Hiếp Tôn Giả thuộc ḍng dơi Phạm Chí.
Năm 80 tuổi mới xả tục xuất gia. Lúc
bấy giờ trong thành, trẻ mục đồng hát nghêu
ngao rằng:
- Ông già ngu ơi, có biết không? Phàm người
xuất gia có hai việc làm, một là thực tập
thiền định, hai là tụng kinh, nhưng mà ông đă
già rồi, làm được việc ǵ hay là chỉ
biết ăn thôi?
Nghe nhạo báng như vậy, Hiếp Tôn Giả
rất lấy làm cảm tạ mà phát nguyện rằng:
Cho đến khi nào c̣n chưa thông Tam Tạng,
chưa ra khỏi ba cơi, chưa chứng lục thông,
chưa đủ tám giải thoát, th́ chưa ngồi.
Từ đó về sau, suốt ngày đêm không
ngủ, chỉ chuyên lo việc nghiên cứu kinh sách, dù
đi, đứng, ngài luôn luôn tư duy giáo điển. Ban
đêm tu thiền chỉ quán. Trải qua ba năm, Ngài thông
cả Tam Tạng, chứng được trí tam minh, ra
khỏi ba cơi, người người kính nguỡng. Do
vậy ngài hiệu là Hiếp Tôn Giả.
Từ chỗ Ngài Hiếp Tôn Giả đến
phía đông, có một pḥng thất, nơi đây ngài Thế
Thân đă lưu trú và sáng tác luận Câu Xá, được
người đời cung kính và nguỡng mộ.
Pḥng của ngài Thế Thân, ở phía Nam cách
50 dặm, ở tầng hai. Cùng với luận sư
Như Ư sáng lập ra Tỳ Bà Sa Luận ở nơi
nầy. Ngài sanh ra sau Phật nhập Niết Bàn 1000 năm,
lúc nhỏ ham học, có tài biện luận. V́ nghe Pháp
Phật hay, nên bỏ tục quy Tăng. Khi đó
đến nước La Phiệt Tất Đệ,
gặp Vua Tỳ Ngật La Ma A Dật Đa, uy phong của
Ngài ảnh hưởng rất nhiều ở xứ Ấn
Độ, mỗi ngày Vua cấp 5 ức tiền vàng
để thí cho những người nghèo khổ cô
độc. V́ thiếu hụt, nên vị đại
thần giữ kho của nước đó rằng:
"Uy thế của đại vương
thật là cao cả, ảnh hưởng cho đến côn trùng,
nhưng tăng lên năm ức đồng tiền vàng th́
thiếu hết bốn. Trong kho không c̣n ǵ, chỉ c̣n
đánh thuế vào đất đai, v́ sự nguy kịch
đó cho nên hạ thần phải tâu lên và xin bệ hạ
dụng ân để chu cấp. Hạ thần thật là
bất kính" .
Nhà vua nói:
- Những ǵ c̣n trong kho để cho đủ
không. Chẳng bằng nước "Cẩu Vi Thân Đa
Ma" tiêu dùng.
Bèn thêm năm ức cho người nghèo. Sau đó
đi thăm ruộng, t́m đuổi dấu tích con heo
bị mất, và ai t́m được th́ thưởng
một ức đồng tiền vàng. Luận Sư Như
Ư bảo người ta xuống tóc và một ức
tiền vàng kia, Sứ thần của nước kia y
đó mà niêm tải. Nhà Vua xấu hổ để thấy
việc kia tâm thường theo khoái lạc. Muốn họ
nhẫn nhục như luận sư Như Ư cho nên mới
triệu tập hơn 100 người toàn là những
bậc Cao Đức Thạc Học rồi ra
lệnh:
"Muốn bắt được, họ
phải đi ra khắp nơi để t́m tung tích.
Ngoại đạo th́ phức tạp làm cho họ quy
về. Nên khảo tra những ưu khưyết
để mà tôn thờ, cho nên tập trung lại để
luận nghị. Điểm trọng yếu như sau.
Những luận sư ngoại đạo và những anh
tú. Sa Môn Pháp Chúng đều tôn việc lành và tuân chỉ
đó. Kẻ nào thắng tức được tôn sùng trong
Phật Pháp. Kẻ nào bại bị làm nhục nơi
tăng đồ. Với ư nghĩa nầy đă yết cáo
lên với ngoại đạo. Có 99 người đă
thối lui. C̣n một người không sợ khinh miệt
như vậy, do vậy việc đàm luận trở nên
kịch liệt sôi nổi. Nhà Vua và ngoại đạo
đă ra tuyên ngôn:
"Lời nói của luận sư không mất,
như có lửa th́ ắt có khói, đó là lư sự b́nh
thường thôi. Như Ư tuy là muốn như thế
nhưng mà khó có thể không nghe thấy được.
Xấu hổ để thấy rằng họ nhẫn
nhục để bị cắt lưỡi cho đến
sau đó viết thư khuyến cáo ngài Thế Thân rằng
đối với người ngoại đạo
đừng nên tranh luận ư nghĩa Đại Thừa,
đối với kẻ mê, không nên biện luận
việc chánh tà. Nói xong mà chết. Ở đó chưa lâu th́
Vua bị mất nước. Cùng với nhà vua vận
động t́m kẻ hiền tài. Bồ Tát Thế Thân
muốn làm lạnh cái tâm xấu hổ cho nên mới
đến thưa với vua rằng:
"Đại Vương là bậc Thánh
Đức, quang giáng nơi đây làm bậc nhân chủ
của sự hiểu biết trong thiên hạ. Vị sư
Như Ư trước đây học hết nghĩa lư kinh
điển, vị Vua trước đă giận v́
người ta đưa danh của sư lên cao. Tôi
tiếp theo việc làm nầy nghĩa là muốn nhắc
lại oán xưa. Vị vua nầy vốn biết luận
sư Như Ư là một triết gia. Nay Ngài Thế Thân
muốn nói, hăy triệu những vị ngoại đạo
như luận sư Như Ư, để cho Ngài Thế Thân
nhắc lại ư chỉ trước đây. Rồi
ngoại đạo cảm tạ lui ra.
Vua Ca Nị Sắc Ca ở phía đông bắc cách
năm mươi dặm hơn có tạo dựng một
ngôi Già Lam. Qua khỏi sông lớn th́ đến thành Bố
Sắc Yết La Phiệt Đệ. Chu vi của thành
nầy 14,5 dặm. Những người ở đây đa
phần ở trong động nối tiếp nhau. Cửa
thành phía tây có một đền thờ Phạm Thiên,
tượng Phạm Thiên uy nghiêm linh dị tương
tục.
Phía đông của thành có một Bảo Tháp, do Vua
A Dục kiến tạo, nhằm nơi Thuyết pháp
của đức Phật quá khứ thứ tư. Thánh
Hiền ngày xưa đều xuất thân từ miền
trung Ấn Độ giáng sanh xuống nơi nầy không
phải là ít. Tức "Phạt Tô Mật Đản
Đa" Luận Sư (Thế Hữu, cũng
c̣n gọi là Hoà Tu Mật Đa). Tại nơi đây, ngài
đă v́ chúng mà tạo nên bộ A Tỳ Đạt Ma
Luận.
Cách thành phía bắc bốn dặm rưỡi th́
có một Già Lam cũ vườn tược hoang phế
tăng đoàn ít ỏi. Họ là những người tu
theo Tiểu Thừa giáo. Tức Đạt Ma Đản La
Đă Luân Sư (Pháp Cứu, cũng c̣n gọi là Đạt
Ma Đa La). Ở nơi nầy, Ngài đă sáng tác ra Tạp
A Tỳ Đàm Luận.
Ở phía chùa kia, có Bảo Tháp cao hơn 100 mét.
Tháp nầy do Vua A Dục xây dựng. Chạm chữ trên
gỗ và đá với những nhân công khác nhau. Đó là
sự tích làm Vua ngày trước của đức Phật
Thích Ca, tu khổ hạnh, từ sự mong muốn của
chúng sanh mà bố thí không ngừng nghỉ, dù bị mất
thân cũng không thay đổi. Nơi quốc thổ
nầy, Vua đă sanh lại một ngàn lần, tức là
Thắng Địa. Cũng có một ngàn lần xả
mắt.
Từ nơi đây qua phía đông không xa, có hai
bảo tháp bằng đá. Mỗi cái cao hơn một
trăm thước. Bên phải có tượng Phạm
Vương, bên tả có tượng Đế Thích. Đây
là những trân bảo được trang sức. Sau khi
Như Lai tịch diệt đá quư nầy cũng thay
đổi. Nơi nầy càng ngày càng được tôn
sùng.
Phía tây bắc của tháp Phạm Thích, hơn 50
dặm có thêm một bảo tháp nữa. Đây là nơi
đức Thích Ca Như Lai v́ hoá độ quỷ Tử
Mẫu đừng làm hại người. Đây cũng là
nơi phong tục của nước cúng tế cầu
tự.
Từ phía bắc của Tháp quỷ Tử
Mẫu nầy hơn 50 dặm lại có một tháp khác
đó là Thương Một Ca Bồ Tát (Anh Ma Bồ Tát)
cũng phụng duỡng nuôi cha mẹ mù. Tại nơi
đây trong khi hái rau bị Vua đi tuần bắn lầm
tên độc. Nhưng nhờ sự chí thành cảm linh cho
nên chư Thiên cho thưốc. Nhờ nhiều phước
đức mà không có việc ǵ xảy ra.
Từ chỗ Đông Nam, nơi Bồ Tát bị
hại đến thành Bạt Lô Xa. Ở phía bắc thành
cũng có một bảo tháp tên là Tu Đạt Noa Thái
Tử. V́ lấy voi quư của phụ thân cho Bà La Môn cho nên
bị đày qua nước Tẩn Cố Tạ. Khi ra
đến cửa thành th́ cáo biệt. Ở nơi nầy,
Chùa Viện hơn 50 cái, chư Tăng theo phái Tiểu Thừa.
Ngày xưa có luận sư Y Thất Phạt La (Tự
Tại) ở nơi nầy mà tạo ra Luận A Tỳ
Đạt Ma Minh Chứng.
Bên ngoài cửa phía đông của thành Bạt Lô Xa
có một ngôi Già Lam, Tăng tín đồ hơn 50
người. Họ tu học theo Đại Thừa Giáo.
Cũng có bảo tháp do Vua A Dục dựng. Nơi đây có
tích Thái Tử Tu Đạt Noa bị đày vào núi Đăn
Đa Lạt Già. Nơi đây đă được
những người Bà La Môn cúng cháo.
Phía Đông Bắc của thành Bạt Lô Xa hơn
20 dặm là đến núi Đăn Đă Lạt Già. Ở trên
đỉnh núi cũng có bảo tháp. Tháp nầy do Vua A
Dục kiến tạo. Thái Tử Tu Đạt Noa đă
trốn nơi nầy. Từ phía nầy chẳng xa cũng
có một bảo tháp khác ghi lại nơi Thái Tử đă
cho con trai, con gái của ḿnh cho Bà La Môn. Người Bà La Môn
đó đă đánh đập con trai con gái của Thái
Tử ra máu, cho nên bây giờ cây cỏ ở đây cũng
mang màu sắc ấy. Phía trên một ḥn đá là nơi
thực tập thiền định của Thái Tử và
Vương Phi. Bên trong hang có cây cối rất là rậm
rạp. Nơi nầy cũng là nơi Thái Tử đă
ngừng bước vân du. Từ đây không xa mấy có
một tảng đá. Tức là nơi cư trú của Tiên
Nhân ngày xưa.
Phía tây bắc của Tiên Lô, đi hơn 100
dặm vượt qua một núi nhỏ th́ đến núi
lớn. Phía nam của núi nầy có một ngôi Già Lam,
Tăng Tín đồ tương đối ít. Họ tu
học theo Đại Thừa. Phía bên nầy cũng có
một ngôi tháp do Vua A Dục dựng nên. Chuyện xưa
kể rằng nơi đây khi xưa có một vị
Độc Giác cư trú. Tiên nhân v́ dâm nữ khưấy
động cho nên mất thần thông, bị dâm nữ
cỡi cổ mà trở lại đời cũ.
Phía đông bắc của thành Bạt Lô Xa, đi
hơn 50 dặm th́ đến núi cao. Núi nầy có một
tượng đá xanh h́nh đức Quán Tự Tại
với dáng người nữ. Cũng có Tỳ Ma Thiên
Nữ. Nghe phong tục địa phương kể
lại rằng, tượng Tự Tại Thiên nầy
tự nhiên mà có, rất linh nghiệm do sự kỳ
nguyện mà thành. Các nước tại Ấn Độ
đến đây cầu phước và thỉnh nguyện.
Giàu nghèo, xa gần tất cả đều đến
đây để cầu nguyện và thấy
được h́nh của Thiên Thần, khi chí thành không có
hai niệm. Nhịn ăn bảy ngày th́ sẽ
được thấy. Sự cầu nguyện sẽ
được thành công, dưới chân núi có một
đền thờ đức Quán Tự Tại Thiên.
Người Ngoại Đạo cũng có đền
thờ ở đây để cúng tế.
Đền thờ Tỳ Ma Thiên từ phía đông
nam đi đến 150 dặm đến thành Ô Trạch Ca
Hán Trà. Chu vi của thành là 20 dặm. Phía Nam giáp với sông
Tín Độ, người tại đây giàu có sung măn,
thường hay tích chứa tài sản, đồ quí
vật lạ các nơi đều tập trung nơi
nầy. Từ phía tây bắc của thành Ô Trạch Ca Hán Trà
đi hơn 20 dặm, đến làng Bà La Đổ La.
Đây là nơi sinh trưởng của Tiên Bà Nhi Ni,
người đă chế ra Thanh Minh Luận. Là một
văn học cổ đại có ảnh hưởng
rất lớn. Trải qua kiếp hoại thế giới
sẽ trở về Không. Các vị chư thiên có tuổi
thọ sẽ giáng sanh vào Đạo Sĩ và Tục
Nhơn. Do tích nầy mà có chuyện trên vậy. Từ
đó về sau chuyện nầy được lưu truyền
măi. Phạm Vương Thiên Đế được thành
h́nh là theo tục nầy. Các Đạo khác có các chư tiên
chế ra chữ nghĩa. Con người do việc
trước đă sắp đặt truyền lại, mà
thành tập tục.
Các người nghiên cứu khó mà dùng biểu
tượng để biết rơ ràng. Khi con người có
tuổi thọ 100, có vị Tiên tên là Bà Nhi Ni khi sanh ra đă
biết mọi việc, rất mẫn cảm. Muốn
biết sự hư ngụy nổi trôi như thế nào
liền ra đi đến hỏi Đạo, th́ gặp
Tự Tại Thiên. Sau đó thưa thỉnh thuật
lại chí nguyện. Tự Tại Thiên bảo rằng:
Tốt lắm ta đang chờ ngươi đây. Tiên nhân
thọ giáo rồi lui. Sau đó nghiên cứu tinh chuyên
tạo thành lời dạy, làm ra chữ nghĩa có trên ngàn
lời tụng. Tụng đến 32 lần. Từ xưa
đến nay tổng quát các văn tự vậy. Tánh cách
cao cả cho nên vua chúa cũng trân quư. V́ vậy cho nên vua ra
lệnh cho cả nước hăy phổ biến sử
dụng lời thơ nầy. Có tụng đọc có
lợi ích, phải thưởng một ngàn tiền vàng. Cho
nên các Thầy giáo lúc bấy giờ rất thịnh hành.
Cùng trong ấp nầy là những người Bà La Môn, là
những bậc Thạc Học tài cao, biết rộng
hiểu sâu, đă làm việc ấy. Ở giữa ấp Bà
La Đổ La có một bảo tháp. Nơi Hoá thân của La
Hán và sau nầy là của Tiên Nhơn Bà Nhi Ni. Sau khi Như
Lai diệt độ năm trăm năm, có một vị
Đại A La Hán, từ nước Ca Thấp Di La (Karmira)
du hoá đến nơi nầy. Sau đó gặp một
người Phạm Chí hỏi Đạo. Lúc ấy ngài A
La Hán v́ Phạm Chí mà hỏi:
- Khổ như thế nào?
Phạm Chí đáp:
- Ta học Thanh Văn luận nghiệp chẳng
tiến bộ.
A La Hán nghe qua cười. Lăo Phạm Chí
bảo:
-Phàm là Sa môn, có tâm từ bi thương giúp
tất cả muôn loài. Nay hăy lấy ḷng từ để
nguyện, nghe được việc nầy ngài nói
cho.
A La Hán nói:
- Việc đàm luận không phải dễ dàng,
sợ có nghi ngờ sâu. Ngươi hăy nghe đây! Tiên
Nhơn Bà Nhi Ni chế ra Thanh Minh Luận để dạy
cho đời phải không?
Bà La Môn nói:
- Là con của làng nầy đấy. Sau nầy v́
ḷng tin mà thiết lập nên tôn tượng nơi
đây.
A La Hán nói:
- Nay người ở làng nầy tức là
vị Tiên kia, phải dụ cho trí thức cao cả làm mô
phạm cho đời. Tuy nhiên khi đàm luận với
những luận khác th́ không nghiên cứu chân lư. Cho nên
thần trí bị hao tổn, lưu chuyển vậy.
Phải biết việc thiện mà làm, nên ngươi
phải yêu thương nó vậy. Từ đó, văn
chương chữ nghĩa trong cuộc đời do công
việc nầy mà tích chứa lại. Chẳng bằng
với Thánh Giáo của đức Như Lai phước trí
vô lượng. Như ngày xưa ở bờ biển Nam Hải,
có một cây khô, có con rùa biển sống trong đó hơn
500 năm. Có các thương nhân dừng lại dưới
cây nầy thời gặp gió rét, người người
đói lạnh, mọi người họp lại
đốt lửa cho ấm. Khói lửa nung lên dưới
cây khô nầy. Trong những thương nhân đó, có
một người ban đêm tụng A Tỳ Đạt Ma
tạng, con rùa v́ bị ngộp lửa rất đau
đớn khi nghe được lời tụng đó
rất thích nhưng không chịu ra khỏi, khi bị
mệnh chung theo nghiệp thọ sanh, liền
được thân người bỏ nhà đi tu. Nghe
được pháp nầy thông minh lợi trí. Chứng
được Thánh Quả, v́ đời mà tạo
phước điền. Gần đây là vua Ca Nị
Sắc Ca và Hiếp Tôn Giả đă triệu tập năm
trăm Hiền Thánh tại nước Ca Thấp Di La
để tạo nên Tỳ Bà Sa Luận. Trong số đó
cũng có vị tái sanh từ con rùa đă sống 500 năm
trong bộng cây khô đó.
Đây là một điều hy hữu, mà tốt
xấu khó nói hết được. Nay v́ nhà ngươi
nhân v́ thương con mà hứa cho đi tu. Công đức
của việc xuất gia không thể tường thuật
hết. Lúc ấy A La Hán nói lời nầy xong liền
hiện các loại thần thông. Vị Bà La Môn phát sanh cung
kính thâm hậu hoan hỷ lâu dài cho nên mới bảo
những người chung quanh bỏ cả con cái xuất
gia tu học. Từ đó sùng tín ba ngôi Tam Bảo.
Người làng từ việc biến hoá đó cho
đến nay vẫn c̣n truyền lại. Từ thành Ô
Trạch Ca Hán Trà đi đến phía bắc, có núi và sông.
Đi hơn 600 dặm, đến nước Ô
Trượng Na.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển hai
Quyển thứ
ba
(8 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Ô Trượng Na
2. Nước Bát
Lộ La
3. Nước
Đản Hựu Thỉ La
4. Nước Tân
Ha Bổ La
5. Nước Ô
Sách Thi
6. Nước Ca
Thấp Di La.
7. Nước Bán
Nô Sai
8. Nước
Yết Na Phược Bổ La
1) Nước Ô Trượng Na, chu vi năm ngàn
dặm, núi non tiếp xúc với sông ng̣i liên tục với
nhau, tạo thành b́nh nguyên, cấy lúa trồng trọt
nhưng đất đai không ph́ nhiêu. Nho rất nhiều
nhưng mía ít. Thổ sản là nghệ. Có nhiều khoáng
sản như: vàng bạc. Cây trái hoa quả rất
nhiều. Gió mưa nóng lạnh điều hoà cho nên tánh t́nh
phong tục của con người ở đó cũng
thuần hậu, thích học hỏi nhưng chẳng tha
thiết. Lấy chú thuật làm nghề nghiệp. Y
phục đa phần làm bằng lông cừu trắng,
nhưng không nhiều. Ngôn ngữ tuy khác nhưng đại
để giống tiếng Ấn Độ. Chữ
viết lễ nghĩa, phép tắc đều lấy
Phật Pháp tôn sùng, tu theo Giáo Lư Đại Thừa. Có sông
Lai Tô Bà Phạt Tốt Đổ. Ngày xưa có một ngàn
bốn trăm ngôi Già Lam, hầu hết bị hoang phế.
Trước đây, Tăng tín đồ khoảng 18 ngàn
người, bây giờ giảm thiểu rất nhiều.
Họ tu theo Đại Thừa, lấy Thiền
định làm sự nghiệp. Thích tụng kinh văn,
nhưng ít thấu hiểu nghĩa sâu. Giới hạnh tinh
khiết, đặc biệt ưa chú thuật. Luật nghi
truyền dạy gồm có năm bộ
1. Pháp Mật Bộ
2. Hoá Địa Bộ
3. Ẩm Quang Bộ
4. Nhất Thiết Hữu Bộ
5. Đại Chúng Bộ.
Đền thờ có hơn mười ngôi.
Ngoại đạo ở hổn tạp. Cách thành nầy
bốn dặm rưỡi, nhà Vua c̣n trị v́ một thành
khác tên là Tào Yết Phấn. Chu vi của thành mười
sáu dặm bảy. Có người cư ngụ nơi
đây. Từ phía thành Tào Yết Phấn cách phía đông
bốn dặm rưỡi, có một Bảo Tháp rất
thiêng liêng, ghi lại nơi Phật ngày xưa là tiên nhân tu
nhẫn nhục. Nơi đây là nơi mà thân thể Vua Ca
Lợi bị tổn hại.
Phía Đông Bắc thành Tào Yết Phấn đi
hai trăm năm mươi sáu dặm th́ vào núi lớn
đến ḍng suối Rồng A Ba La La. Ḍng suối nầy
là thượng nguồn của sông Tô Bà Phạt Tốt
Đổ, chảy qua phía Tây Nam. Tuy mùa xuân mùa hạ
nhưng vẫn c̣n tuyết về ban đêm. Tuyết
rơi lóng lánh chiếu sáng. Thời Phật Ca Diếp, con
rồng nầy sanh làm người, tên là Cạnh Thị,
chuyên dùng chú thuật để ngăn Ác Long không cho làm
mưa làm gió. Đời sống người dân trong
nước được phồn thịnh, ai ai cũng
cảm ân nhiều. Thuế nhà cửa chỉ là mười
đấu thóc, nhưng càng ngày càng nhiều khó khăn, cho
nên Cạnh Thị mới giận dữ mà nguyện
trừ khử Độc Long, v́ nó đă làm thương
tổn đến mùa màng gia súc. Khi chết đi, nó
biến thành con rồng ở Hồ nầy. Nước
suối chảy màu trắng, làm tổn hại đến
đất đai. Khi đức Thích Ca Như Lai c̣n tại
thế v́ ḷng bi mẫn thương người ở
nước nầy, nên giáng sanh nơi đây. Để hoá
độ rồng nầy, thần Chấp Kim Cang quơ
tích trượng Long Vương chấn động nên
vội quy y, nghe Phật thuyết pháp, khởi tâm thanh
tịnh, y giáo pháp tin hiểu. Như Lai bắt nó không
được làm tổn hại đến dân chúng.
Rồng thưa:
Phàm đă có đồ ăn, lại lấy
ruộng và người. Nay vâng theo Thánh giáo nhưng sợ
khó có đủ đồ chu cấp cho nên cứ 12 năm
xin thâu đồ ăn một lần. Như Lai cũng c̣n
thương cho nên hứa khả cho. V́ vậy cho nên xưa
nay, cứ 12 năm là gặp một tai nạn tại ḍng
nước trắng nầy.
Từ phía Tây Nam suối rồng A Ba La La cách ba
mươi dặm, trên bờ suối nước chảy
phía bắc có một tảng đá lớn. Nơi đây có
ghi lại dấu chân đức Phật. Do phước
đức của mỗi người mà thấy bàn chân kia
dài hay ngắn khác nhau. Đây là nơi Như Lai đă hàng
phục con rồng kia rồi mà lưu lại dấu tích
ấy. Người đời sau, thường hay góp
nhặt đá ấy để làm nhà, xa gần đều
mang hương hoa đến để cúng dường.
Cách đây hơn 30 dặm có miếng đá để
giặt y Như Lai. Bóng Ca Sa của Như Lai vẫn c̣n
khắc ghi lại nơi đây. Phía Nam thành Tào Yết Phân
hơn 400 dặm, đến núi Ê La. Nước phía tây
chảy ngược lại phía đông. Có nhiều hoa trái
khác nhau bị cuốn trôi vào đấy, nên rất nguy
hiểm. Hoặc nghe được những âm thanh
tiếng nói, hoặc nghe được tiếng dội
của âm nhạc từ nơi những ḥn đá cao như
thác mà thành. Hai bên bờ có nhiều hang động. Đây
là nơi Như Lai ngày xưa đă nghe được
nửa bài kệ tụng mà xả thân mệnh. Từ phía
Nam thành Tào Yết Phân đi hơn hai trăm dặm, có
một ngôi chùa Ma Ha Phạt Na ở phía núi lớn. Nơi
nầy ngày xưa Như Lai tu khổ hạnh, có tên là Vua Tát
Phược Đạt của nước Tỵ Thích Khí
đi đến đây, gặp người Bà La Môn nghèo
từ phương xa đến xin ăn. Vua đă mất
ngôi nên không có ǵ để cho, Vua bèn ra lịnh giết Vua
đi để lănh tiền thưởng.
Ở phía Tây Bắc dưới chân núi Ma Ha
Phạt Na, có một Già Lam và cách hơn 34 dặm, lại có
một Già Lam nữa cùng một Bảo Tháp cao hơn 100
thước. Từ phía nầy, có một ḥn đá lớn
trên đó có ghi lại dấu tích bàn chân của Như Lai,
mà ngày xưa Phật đă ở tại ḥn đá nầy,
Ngài đă phóng hào quang chiếu đến ngôi chùa Ma Ha
Phạt Na, mà v́ mọi người chư thiên thuyết
kinh Bổn Sanh. Dưới chân Bảo Tháp có một ḥn
đá, sắc màu vàng trắng, có chỗ trơn láng, đây
là nơi Như Lai ngày trước tu khổ hạnh. V́ nghe
Chánh Pháp mà nơi đây đă lấy xương cốt
ḿnh để chép kinh.
Phía tây ngôi chùa Ma Thâu, hơn 67 dặm, có một
Bảo Tháp. Bảo Tháp nầy do Vua A Dục xây dựng.
Nơi đây chính là nơi đức Phật tu khổ
hạnh hiệu là Tỳ Ca Vương. V́ cầu quả
vị Phật, mà đă tự sát bố thí thân cho chim.
Từ phía Tây Bắc của Đại Tháp, đi
hơn hai trăm dặm vào nước Sắc Ni La
Phiệt, sau đó đến nước Tát Ai Sát
Địa. Lại có một Tăng Già Lam cũng có Bảo
Tháp cao 80 thước. Nơi đây ngày xưa đức
Như Lai đă làm một vị Đế Thích, gặp lúc
đói khát tật bịnh hoành hành. Y dược không
phương cứu chữa, nhiều người chết
chóc. Đế Thích sầu lo muốn cứu giúp, mới
biến h́nh thành một con trăn lớn, nằm nơi
hang đá và sông rạch. Người ta nghe đến
giết con trăn để lấy thịt mà sống
trừ bệnh tật đỡ đói khát.
Cách từ phía nầy không xa có một bảo tháp
Tô Ma, nơi đây Như Lai ngày xưa đă làm Đế
Thích lúc bệnh tật thương cảm các loài hàm
thức mà biến thân thành một con rắn. Phàm ai ăn
được thịt rắn th́ đỡ đói khát.
Phía Bắc của sông Sắc Ni La Phiệt, có
một ḥn đá bên cạnh Bảo Tháp, mà những ai
bệnh hoạn đến cầu xin đều
được thưyên giảm. Như Lai ngày xưa đă
làm con chim Khổng Tước Vương (con công).
Từ đây đến một nơi gọi là
T́m Cầu Nước Uống. Khổng Tước
Vương đă đến bên bờ để t́m
nước nơi suối chảy. Bây giờ nơi đây
đă trở thành một cái ao, ai uống nước
nầy vào tật bịnh tiêu trừ. Trên ḥn đá vẫn
c̣n dấu chân của Khổng Tước lưu lại.
Từ phía Tây Nam thành Tào Yết Phân đi hơn 67
dặm, có một con sông lớn và phía Đông có một
Bảo Tháp cao hơn 60 thước, do vua trước
đă kiến lập. Ngày xưa tương truyền
rằng sau khi Như Lai diệt độ, ngài bảo
đại chúng rằng: Sau khi ta nhập Niết Bàn, Xá
Lợi của ta do Vua nước Ô Trượng Na phân chia.
Nếu các vương tướng muốn có
được, phải theo sự phân chia của vị vua
nầy vậy. Lúc bấy giờ trời người và
đại chúng đều tôn trọng tuyên dương và
nguyện làm giống như lời của Như Lai. Sau khi
phân chia rồi mang về nước họ. Tuỳ theo
sự tôn sùng mà kiến lập nên Bảo Tháp.
Phía bờ sông nầy có một ḥn đá lớn
giống như con voi. Ngày xưa nhà vua đă cỡi
tượng trắng nầy mà rước Xá Lợi về
đến nơi đất nầy, con voi cúi đầu
xuống. Do nguyên nhân nầy mà biến thành một ḥn đá
và ngay chỗ nầy đă xây dựng lên một Bảo
Tháp. Phía Tây của thành Tào Yết Phân 50 dặm qua con sông
lớn, đến Lô Ê Đản Ca, cũng có một
bảo tháp, cao hơn 50 thước do vua A Dục kiến
lập nên. Chính nơi đây đức Như Lai đă tu
khổ hạnh v́ đại quốc vương mà nói
rằng:
- Ta dùng ḷng từ, hăy lấy huyết thân ta
để cứu cho năm con Dược Xoa.
Phía Đông Bắc thành Tào Yết Phân, cách 30
dặm hơn, đến Yết Bộ Đa Thạch,
nơi đây có một Bảo Tháp cao 40 thước.
Tại nơi đây xưa kia đức Như Lai đă v́
trời người, thuyết Pháp khai đạo. Khi
Như Lai đi qua, từ dưới đất nầy
Bảo Tháp tự nhiên mọc lên. Do đó mọi
người tôn kính mà đem hương hoa để cúng
dường.
Phía Tây Bảo Tháp bằng đá kia, qua sông lớn
cách 34 dặm, đến một tinh xá. Ở giữa tinh xá
có thờ tượng A Phiệt Lô Kỳ Đệ
Thất Phạt La Bồ Tát (Avalokitesvarsa Bồ tát Quan
Thế Âm), rất linh thiêng và chiêu cảm. Tăng tục
đều cúng dường không ngơi nghỉ. Phía Tây
Bắc tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cách 150 dặm
đến núi Lăm Sắc Lô. Trên đỉnh núi cao kia có
hồ rồng chu vi hơn 30 dặm. Sóng lớn giao thoa
lưu xuất. Ngày xưa, Vua Tỳ Lô Thích Ca chinh phạt
ḍng họ Thích, có bốn người trong thân tộc phân
thân để bay đi. Có một người trốn thoát
đi đến giữa đường bị
người khác bay đến chận lại.
Lúc bấy giờ có một người bay
qua bay lại đùa giỡn phía trước, rồi bay lên,
bay xuống trên bờ hồ. V́ đi quá xa và đến
nước khác rồi nên Người ḍng họ Thích không
biết đường và thấy vậy chẳng biết
làm sao nên vội vă núp dưới tàng cây. Lúc đó, có
một thiếu nữ con Vua Rồng du ngoạn gần
bờ hồ, thấy người ḍng họ Thích sợ hăi
lo lắng, liền biến thành người nữ,
để người ḍng họ Thích không sợ hăi nữa
và nói rằng tôi đang t́m người thân, và nghi rằng
đang ở nơi nầy nên đến đây. Cha mẹ
tôi dặn phải đề pḥng cẩn thận không
được sai trái, nhưng tôi không muốn nghe
lời.
Người ḍng họ Thích nói:
- Núi rừng mênh mông mà hôm nay đến hồ
nầy lại gặp Long Nữ. Tôi v́ Thánh Tộc Lưu Ly
mà đi tị nạn, mới trôi nổi đến
đây. Nay gặp rồng nữa.
Long Nữ nói:
- Người và Vật không thể trao
đổi với nhau bằng lời được.
Người họ Thích nói:
- Nghe chỉ một lời là thấy rơ nơi tâm
rồi.
Long Nữ nói:
- Vừa nghe đă hiểu
Người ḍng họ Thích phát thệ rằng:
- Tôi xin đem năng lực phước
đức có được sang qua cho Long Nữ để
biến thành thân người.
Nhờ phước lực nầy mà bỗng nhiên
Rồng bèn biến thành người. Được thân
người, Rồng rất vui mừng mà tạ ơn
rồi nói:
Lâu nay, tôi bị trầm luân trong cơi ác, hôm nay
thật là diễm phúc được phước lực
gia tăng, thân đă đổi thay, ân nầy xin đáp
đền, nghĩa nầy về sau sẽ hậu tạ.
Tâm nguyện đáp đền bằng sự giao
ước. Ta thưa với cha mẹ của ta về sau
dùng lễ vật để trả ơn. Sau đó Long
Nữ trở về ao thưa với cha mẹ rằng:
Con đi chơi gặp một người
thuộc ḍng họ Thích có nhiều Phước Lực
đă cảm con thành Người. Hai chúng con đă
thương nhau, con xin thưa thật.
Long Vương ḷng rất vui, v́ giữa ḿnh và
Thánh tộc có sự liên kết. Long Nữ thưa tiếp:
- Xin cha cho con được ra khỏi ao
để tạ lễ người ḍng họ Thích
Gặp người họ Thích nói rằng:
- Xin ngài hăy v́ chúng sanh khác loại, chớ
đừng v́ tôn ty sang hèn, hăy đến nhà tôi mà nhận
sự cảm tạ của cha mẹ tôi. Người ḍng
họ Thích chấp thuận lời mời xuống Long
cung, và Long Vương vui mừng đích thân đến thi
lễ. Người ḍng họ Thích thấy h́nh dáng rồng
không thích lắm cho nên muốn kiếu từ.
Long Vương giữ lại nói:
- Gặp gỡ chưa bao lâu, mà sao vội về
vậy. Tôi báo cho thần dân biết điều nầy.
Người ḍng họ Thích cảm tạ thưa:
- Thôi chẳng cần.
Long Vương lấy bảo kiếm để
trên hộp bao bọc bên ngoài bằng lông trắng và nói
với Người họ Thích rằng:
- Hăy đem bảo kiếm nầy về cống
hiến cho Vua kia,, Bảo Kiếm sẽ tự hại Vua
đó
Bởi v́ nước kia không tốt lắm,
người ḍng họ Thích nhận lời chỉ bảo
của Long Vương, cho nên mang bảo kiếm dâng cho Vua
nước Ô Trượng Na. Người ḍng họ Thích
giấu kiếm trong tay áo đi thích khách. Sau đó những
vệ binh cận thần hô lên có loạn có loạn.
Người ḍng họ Thích quơ kiếm nói rằng:
- Tôi có kiếm thần, do Long Vương
trao,
Sau khi tru di rồi, sẽ tạm không có Vua,
hoặc phải suy tôn người họ Cù lên vương
vị. Đây là duyên cớ để cải đổi
nền hành chánh. Rồi th́ mọi người bị
động trong vấn đề nầy, liền báo
mệnh cho Long cung, đón Long Nữ về Vương cung.
Túc nghiệp của Long Nữ chưa hết, vẫn c̣n
dư báo làm Rồng, cho nên thỉnh thoảng Long Nữ vẫn
hiện h́nh là một con rồng chín đầu.
Người ḍng họ Thích sợ hăi, nên âm thầm lấy
dao cắt đi. Long Nữ hoảng sợ nói rằng:
-Điều nầy không lợi về sau. Khi mà
mạng sống của tôi bị tổn thương, th́
con cái của ḍng họ sẽ bị khổ về bệnh
đau đầu, v́ thế con cháu họ Thích thường
hay bị bệnh ấy, nhưng bệnh ấy không kéo
dài.
Ḍng họ Thích chưa có người kế
vị cho nên lập Ôn Đán La Tê Na làm Vua. Sau khi nhà Vua
tức vị, Thân mẫu qua đời, an táng xong.
Đức Phật cho Rồng A Bà La La hoàn h́nh lại
như cũ. Từ trên không hạ xuống cung đ́nh. Lúc
ấy nhà Vua đang đi săn. Như Lai v́ mẹ mà
lược thuyết pháp yếu. Gặp Thánh nghe Pháp
được hiểu rơ ràng. Như Lai lại bảo
rằng:
- Con của ngươi thuộc về ḍng
tộc Thích. Nay ở tại đâu?
Người mẹ đáp:
- Nó đi ra ngoài từ sáng sớm.
Như Lai cùng đại chúng muốn t́m hiểu
nguyên nhân nầy.
Vương Mẫu đáp:
- Con tuy được Phước Đức
sanh vào trong Thánh Tộc nầy. Như Lai v́ ḷng thương
tưởng mà giáng lâm. Mẹ con trở lại nguyện
nầy luôn chờ đợi và luôn giữ.
Thế Tôn đáp:
- Ngươi cũng thuộc ḍng tộc của
ta, hăy nghe mà tin nhận. Không phải chỉ người
thân mới phát tâm v́ ta mà làm vậy. Lại nói thêm rằng:
Như Lai từ đây mà đi đến thành Câu
Thi Na và nhập Niết Bàn trong rừng Ta La Song Thọ. Hăy
thâu lấy Xá Lợi để mà cúng dường. Như
Lai cùng chư Đại Chúng nương hư không mà
đi. Nhà Vua đang săn bắn xa xa thấy ánh sáng phát ra
tại cung điện của ḿnh, nghi là bị cháy nên
bỏ đi săn mà về. Khi ấy gặp
được thân mẫu mừng mà hỏi rằng. Khi con
đi khỏi có chuyện ǵ linh cảm xảy ra, mà có
thể làm cho từ mẫu trở lại h́nh dáng như
ngày xưa?
Người mẹ đáp:
- Sau khi con đi rồi, Như Lai đến
đây, mẹ nghe Phật thuyết pháp xong bèn trở
lại như cũ. Như Lai từ đây sẽ
đến thành Câu Thi La, ở dưới cây Ta La, thâu
thần nhập Niết Bàn. Ngài nhắn con rằng hăy
đến đó để phân chia Xá Lợi. Khi Vua nghe xong
rồi cảm động đau đớn, mà tỉnh
ngộ ra. Sau đó cho xa giá đến rừng Ta La Song
Thọ th́ Phật đă vào Niết Bàn. Lúc bấy giờ
Vua các nước lân bang rất trân quư Xá Lợi cho nên không
muốn chia. Ngay lúc ấy trời người cùng
đại chúng tuyên lại ư Phật. Các vị nghe rồi
mới lănh thọ.
Phía đông bắc thành Tào Yết Phân là núi Thâu, qua
khỏi sơn cốc ấy đi ngược lên là sông Tín
Độ. Đường đi rất nguy hiểm v́ núi
non chập chùng, hoặc giây leo chằng chịt, hoặc
đá dựng. Đường cầu treo lắc lẽo gian
nan khó mà an toàn. Đi hơn ngàn dặm đến sông
Đạt Lệ La, tức thuộc kinh đô cũ
của nước Ô Trượng Na. Nơi đây có
sản xuất nhiều vàng và nghệ. Có một Già Lam
lớn tại Đạt Lệ, có khắc một bức
tượng gỗ của Bồ Tát Từ Thị (Bồ
Tát Di Lặc). Ánh sắc vàng chói linh hiển vô cùng cao hơn
100 thước. Tượng nầy do vị A La Hán tên là
Mạc Điền Đệ Ca tạo nên. Vị A La Hán
nầy đă dùng thần lực để biến thành
người thợ tạo tượng. Từ cơi trời
Đâu Suất xuống nên có thân tướng rất trang
nghiêm. Cho nên h́nh dáng toàn thân bức tượng rất ư
đẹp đẽ. Giáo Pháp lưu chuyển từ đây
về hướng đông. Đến hướng đông
th́ gặp đỉnh núi Thâu, qua khỏi các hang động,
ngược lên bên trên là sông Tín Độ. Đường
đi nơi đây rất hiểm trở, qua năm
trăm dặm hơn th́ đến nước Bát Lộ
La.
2) Nước Bát Lộ La, chu vi hơn bốn ngàn
dặm nằm ở giữa núi Tuyết. Đông Tây dài, Nam
Bắc hẹp. Có nhiều lúa mạch, đậu và vàng
bạc. Quốc gia nầy là nước tương đối
giàu có, tuy nhiên ở vùng lạnh cho nên tâm tánh con
người hơi hung bạo bạc nhược. Nhơn
nghĩa không có và những lễ lộc cũng thế. H́nh
dáng nhỏ nhắn, y phục đa phần dùng bằng
lông. Chữ nghĩa đại khái giống như Ấn
Độ. Ngôn ngữ khác với những nước khác.
Có hơn 100 ngôi Già Lam và hơn 1000 Tăng tín đồ,
học hành không chuyên cần, giới hạnh nhiều phóng
túng. Tự đây trở lại thành Ô Dịch Ca Hán Trà, th́
phía nam phải qua sông Tín Độ (Sông Sindhư). Sông
nầy rộng 31 dặm, chảy về hướng nam.
Nước trong vắt, lóng lánh màu bạc và chảy xiết.
Rồng độc thú dữ nằm khuất trong hang
động. Nếu mang vật quư cùng hoa quả cũng
như Xá Lợi đi ngang sông th́ thuyền thường hay
bị gió thổi lật ch́m. Qua sông đến nước
Đản Hựu Thủy La, nằm ở phía Bắc
xứ Ấn Độ.
3) Nước Đản Hựu Thủy La, chu vi
hơn hai ngàn dặm. Kinh đô hơn mười dặm.
Dân tộc nầy tuy hào hiệp nhưng ḍng dơi nhà Vua đă
tuyệt tự cho nên trực thuộc nước Ca
Tất Thí, gần gũi và phụ thuộc nước Ca
Thấp Di La. Đất đai màu mỡ, nhà cửa tốt
đẹp. Có suối có ao nên hoa trái xinh tươi. Khí
hậu ôn hoà, phong tục đơn giản, sùng kính Tam
Bảo. Già Lam tuy nhiều nhưng đa phần bị hoang
phế. Tăng Tín Đồ cũng ít nhưng theo Tiểu
Thừa lẫn Đại Thừa. Phía Tây Bắc kinh đô
hơn 70 dặm, có ao Y La Bát Đản La Long Vương.
(Erapattha) chu vi hơn 100 dặm, nước của hồ
nầy trong vắt. Hoa sen có nhiều màu, đẹp
đẽ dị thường. Con rồng ở đây, ngày
xưa có chuyện kể rằng thời đức
Phật Ca Diếp Ba. Có vị Tỳ kheo làm hại cây Y La
Bát La cho nên bây giờ bị thổ thần yêu cầu kéo
mây đến làm mưa. Khi đó vị Sa Môn cùng
đến hồ nầy, khảy móng tay hỏi, theo
nguyện mà có kết quả. Hồ rồng nầy, phía
đông nam đi 30 dặm, vào hai bên núi lại có Bảo
Tháp. Bảo Tháp do Vua Asoka tạo nên, cao hơn 200
thước, đức Thích Ca Như Lai huyền kư
rằng khi đức Di Lặc ra đời ở trong
tương lai, tự nhiên có bốn Đại Bảo
Tạng xuất hiện nơi Thánh Địa nầy.
Tại đây cũng có nghe người xưa nhắc
lại rằng có lúc động đất, núi non chấn
động mạnh nhưng các bảo vật trong ṿng
một trăm bước, không bị chao đảo. Có
kẻ ngu v́ tham đào lên, cho nên đất chấn
động. Người ta đi bộ để pḥng
ngừa đất Già Lam bị tổn hại. Một bên
của đất Già Lam bị hư nặng và lâu rồi
không có bóng dáng Tăng Sĩ. Thành phía Bắc 12,3 dặm có
một Bảo Tháp do Vua A Dục kiến tạo nên. Tháp
nầy đến giờ ngọ, phát ra ánh sáng. Hoa trời
và nhạc trời chúc tụng mọi người nghe
thấy. Nghe rồi người xưa viết lại
rằng: Gần đó có một người đàn bà
đẹp, nhưng bị bịnh nan y. Bà đến
Bảo Tháp nầy lễ bái sám hối. Thấy trong
vườn tháp dơ nhớp, bà quét dọn sạch sẽ
rồi rải hoa sen xanh lên trên mặt đất, bịnh
của bà liền hết, dung mạo tươi thắm
xinh đẹp, thân bà toả ra mùi hương hoa sen xanh.
Ở nơi thắng địa nầy, ngày xưa
đức Như Lai cũng tu khổ hạnh nơi
nầy, làm Đại Quốc Vương hiệu là
Chiến Đạt La Bát Lặt Bà (Nguyệt Quang) dốc
tâm cầu Giác Ngộ, cắt đầu để bố
thí. Sự bố thí nầy trải qua ngh́n kiếp
sống.
Bên cạnh Bảo Tháp, Bố Thí Đầu,
lại có một Tăng Già Lam, vườn tược hoang
phế, Tăng Tín Đồ giảm thiểu. Trong kinh
tạng chép, nơi đây có Luận sư Câu Ma La La Đa
(Đồng Thọ) trước thuật các bộ
luận. Ngoài thành hướng Đông Nam của núi, lại
có một Bảo Tháp cao hơn 100 thước, nơi Thái
Tử Câu Lan Noa, con của Vua A Dục v́ kế mẫu mà
móc mắt. Vua A Dục cho dựng tháp nầy. Do sự
kỳ nguyện chân thành mà mắt sáng lại như xưa.
Thái Tử do chánh hậu sanh ra, bà ta là người
đẹp đẽ nhân từ. Khi Chánh Hậu mất
đi, kế mẫu hoang dâm muốn tư t́nh với Thái
Tử. Thái Tử khóc lóc muốn tự sát để tạ
tội, cho nên kế mẫu thấy việc sai lầm
nầy càng phẫn nộ thêm. Kẻ hầu nghe câu
chuyện nầy bàn rằng phàm bậc kế thừa
trị v́ thiên hạ mà không phải là bà con hoàng tộc th́
không được. Nay Thái Tử v́ chữ Hiếu mà
đă làm việc như thế. Cho nên Vua mới cảm kích
nghe mưu gian nầy ra lệnh cho Thái Tử dạy
rằng:
- Ta v́ thừa mệnh trời mà kế tục
sự nghiệp, phải dời đô, mất lời
hứa với tiên vương cho nên phải giữ
nước Đản Hữu Thủy La nầy. Ta nay ra
lệnh ngươi qua trấn nhậm nước kia.
Hiện tại quốc sự đang khó khăn, t́nh
người đang phức tạp. Đi nhưng
đừng có quên sự nối dơi. Chờ khi ta triệu
với ấn tín của ta và qua khẩu lệnh của ta
để biết mà thi hành.
Thái Tử vâng lệnh vua cha, sang nước
đó trấn nhậm. Ngày tháng trôi qua, kế mẫu càng
giận, trá tạo văn thơ đóng dấu phong kín, ra
lệnh người hầu mang đi với ấn tín
ấy. Kỵ sĩ mang thơ đi với sắc chỉ
trong ḿnh, đến gặp Thái Tử quỳ xuống dâng
sắc. Thái Tử hỏi rằng:
- Tại sao buồn vậy?
- Đại vương có lịnh yêu cầu Thái
Tử móc hai con mắt bỏ ở sơn cốc. Nếu
v́ nghĩa vợ chồng con cái sống chết cùng nhau, dù
nhận lệnh như vậy nhưng chưa tuân theo th́
phải tự trói để mà chờ tội.
Thái Tử đáp rằng.
- Lệnh của vua cha như thế có chết
cũng chấp nhận. Ấn đă đóng trên thơ
đă niêm phong không dối trá được.
Thái Tử ra lệnh cho Chiên Đà La móc mắt
ḿnh. Sau khi móc mắt, Thái Tử bị mù tự đi xin
ăn. Số phận đưa đẩy trở lại
cung thành của phụ vương, người vợ
mới bảo rằng vương thành đây rồi. Than
ôi! đói khát sao mà khổ quá. Mới ngày nào làm con vua bây
giờ là kẻ ăn xin. Mong cho ai đó nghe biết
điều nầy để thưa thỉnh lên trên
liễu giám. Nên mới bày mưu t́m kế vào trong cung
nội, đêm sau khóc lóc, nhờ tiếng gió đưa vào,
hoà với tiếng sáo bi ai than thở. Nhà Vua ở trên
lầu cao nghe được, giọng ai bi thảm cho nên
nói rằng:
- Tiếng ca kia nghe như tiếng con của ta.
Bây giờ tại sao ra nông nổi ấy. Liền hỏi
nội thị, kẻ đang ca đó là ai vậy. Sai
người đi mời kẻ mù kia vào cung. Nhà Vua thấy
Thái Tử buồn rầu mới hỏi:
- Ai làm cho thân con ra nông nổi nầy? Con yêu quư
của ta? Sao ra nông nổi nầy mà ta không biết. Bá tánh
ơi ai cứu được con tôi ! Trời ơi sao mà
ra nông nổi nầy. Đạo đức đă suy
rồi. Thái Tử buồn khóc tạ lễ mà thưa
rằng :
- Thật ra, con là kẻ bất hiếu với
trời. Ngày tháng năm đó con đă nhận
được sắc chỉ của cha. Không có lư do ǵ mà
thối thác.
Vua biết tâm địa của kế mẫu
đă làm việc ấy, cho nên đă gia h́nh phạt. Lúc
ấy dưới cây Bồ Đề nơi vườn
chùa, có một vị A La Hán tên là Cù Sa (Diệu Âm) đă chứng
được đầy đủ tam minh và tứ vô
ngại biện tài. Khi nghe Vua cáo bạch về đôi
mắt của Thái Tử nên lấy ḷng từ bi chữa mắt
Thái Tử sáng lại. Lúc ấy vị A La Hán nhận
lời thỉnh cầu của Vua, và cho mọi
người biết rằng :
- Ngày mai ta sẽ Thuyết Diệu Pháp. Mỗi
người đi nghe nên mang theo đồ đựng
nước mắt.
Hôm sau, tất cả nam nữ xa gần tề
tựu đến nghe. Lúc bấy giờ ngài A La Hán nói
thập nhị nhơn duyên. Phàm ai nghe Pháp rồi mà chưa
có ḷng từ bi, th́ hăy mang đồ đựng nước
ấy đến đựng nước mắt. Sau khi
thuyết Pháp xong ngài thu hết tất cả nước
mắt đổ vào một cái b́nh bằng vàng, rồi
thề rằng:
- Như lời nói Pháp của tôi hợp với chân
lư. Nếu có ǵ sự lầm lẫn th́ cũng đă
giảng rồi. Như điều mà không sai, xin những
nước mắt nầy đem tẩy rửa mắt mù,
th́ mắt liền được sáng và thấy lại
như cũ.
Phát lời thệ xong, liền đem nước
mắt để rửa mắt mù. Mắt mù liền sáng
lại như cũ. Vua trách cứ và cật vấn các
vị cận thần hoặc là dời chỗ, hoặc là
tự tử. Các vị hào thế trong đời
đều di cư vào núi Tuyết, ở trong động đá
phía đông bắc của núi.
Từ đây đi về hướng đông nam
qua các sơn động hơn 700 dặm, đến
nước Tăng Ha Bổ La.
4) Nước Tăng Ha Bổ La, chu vi ba ngàn
năm trăm sáu chục dặm. Phía tây giáp với sông Tín
Độ. Đô thành chu vi mười bốn dặm
rưỡi. Núi non cao vút bao bọc chung quanh. Nông vụ ít
ỏi, nhưng đất đai ph́ nhiêu. Khí hậu
lạnh, tánh người mạnh mẽ, phong tục
nhiễu nhương lại nhiều dối trá.
Nước không có người trị v́ nên lệ thuộc
nước Ca Thấp Di La. Cách thành phía Nam không xa, có một
Bảo Tháp do Vua A Dục kiến tạo. Mỹ thuật
đẹp đẽ, linh dị lạ thường. Bên
cạnh đó có một Già Lam, không có người tu nào
cả. Phía đông nam của thành cách 45 dặm, có một
Bảo Tháp bằng đá cũng do Vua A Dục xây, cao
hơn hai trăm thước, chung quanh có hồ soi bóng
phải trái của mười tầng Bảo Tháp. Trên
Bảo Tháp bằng đá đó có khắc nhiều sự
tích khác nhau. Hồ nước kia trong vắt. Cá rồng và
những loài thủy tộc khác bơi lội nghênh ngang. Hoa
sen bốn màu nở lớn rất đẹp. Cây trăm
trái có nhiều màu sắc khác nhau, tạo nên cánh rừng soi
bóng xuống mặt hồ. Du ngoạn rất thích. Bên cạnh
đó có một ngôi Già Lam lâu rồi chẳng có bóng dáng
Tăng Sĩ. Cách Bảo Tháp không xa có Bạch Y Ngoại
Đạo, đây là nơi mà đức Bổn Sư sau
khi ngộ đạo đă thuyết pháp lần đầu
tiên. Ngày nay có sách chép rằng bên cạnh đó có một
đền thờ tu khổ hạnh, ngày đêm tinh cần,
chẳng ngừng nghỉ. Đức Bổn Sư đă
thuyết pháp nhiều kinh nghĩa khác nhau, tuỳ theo
từng loại mà nói. Những quy tắc lễ nghi,
người lớn th́ gọi là Tỳ Kheo, người
nhỏ gọi là Sa Di. Tất cả những oai nghi tế
hạnh của người tăng lữ, chỉ lưu
lại ít tóc và để ḿnh trần. Hoặc có y phục
th́ dùng màu hoại sắc. Để phân biệt việc
nầy, th́ xem tôn tượng của Như Lai và những
vị ngoại đạo. Y phục có sai biệt nhưng
không khác mấy. Từ đây trở lại nước
Đản Hữu Thủy La, về biên giới phía
Bắc, phải qua sông Tín Độ đi qua hướng
Đông Nam hơn 200 dặm, qua một cửa đá rất
lớn. Chuyện xưa kể lại rằng có
vương tử Ma Ha Tát Đoả đă xả thân
để cho chim ăn. Từ phía Nam cách bốn mươi
lăm dặm, có một Bảo Tháp bằng đá, ghi
lại nơi mà Ma Ha Tát Đoả thương loài thú
đói khát không c̣n lực nữa, đă đến nơi
nầy lấy cây tre khô tự cắt thân ḿnh lấy
hưyết hiến cho thú. Nơi đất nầy có
nhiều cây cỏ và những cỏ cây đó
đượm màu huyết. Cho nên người đời
mới bảo rằng nơi lưu huyết không c̣n nghi
ngờ ǵ nữa. V́ ḷng từ bi, mà đă xả thân.
Phía Bắc có một Bảo Tháp bằng đá cao
hai trăm thước do Vua A Dục tạo thành. Điêu
khắc thật đẹp, phát ra ánh sáng. Cả những
tháp nhỏ và các bia đá ở nơi đây hơn trăm
cái nằm trong khu vực phía Bắc của thành. Ai có
bệnh tật đi nhiễu nhiều ṿng th́ hết.
Bảo Tháp bằng đá, từ phía đông đi
đến, lại có một Già Lam, Tăng tín đồ
hơn 100 người. Họ học theo Giáo Pháp Đại
Thừa. Từ đây hướng về phía đông đi
hơn 50 dặm, th́ đến núi Cô Sơn, giữa núi
lại có một Già Lam, Tăng tín đồ hơn 200
người, họ tu học theo Giáo Pháp Đại
Thừa. Hoa quả tươi tốt. Nước ao cung
cấp đầy đủ, bên cạnh đó có một
Bảo Tháp khác, cao hơn 300 thước. Đây là nơi
Như Lai ngày xưa đă độ cho con quỷ Dạ
Xoa, làm cho nó không c̣n ăn thịt nữa. Từ đây qua
hướng đông nam, đi hơn 500 dặm, đến
nước Ngô Sắc Thi.
5) Nước Ngô Sắc Thi, chu vi hơn 2000
dặm, núi non trùng trùng điệp điệp, ruộng
đất mênh mông. Đô thành chu vi 78 dặm. Nơi đây
không có người trị v́, nên thuộc nước Ca
Thấp Di La. Trồng trọt cày cấy, nhưng hoa
quả rất ít. Khí hậu ôn hoà. Thỉnh thoảng có mưa
sương và tuyết. Phong tục lễ nghi c̣n sơ khai,
Tánh t́nh con người hung bạo. Đa phần dối trá
không tin tưởng Phật Pháp. Đô thành phía tây nam 45
dặm có một Bảo Tháp cao hơn 200 thước, do Vua
Asoka dựng nên. Bên cạnh đó lại có một Già Lam,
Tăng tín đồ rất ít. Tất cả họ
đều học theo Giáo Lư Đại Thừa. Từ phía
đông nam, lên núi cao qua cầu sắt, đi hơn 1000
dặm nữa đến nước Ca Thấp Di La.
6) Nước Ca Thấp Di La, chu vi hơn 7000
dặm, bốn bên đều là núi cao ngất trời.
Chỉ có cửa trời thông qua rất hẹp. Từ
xưa đến nay không nước nào chinh phạt
được . Đô Thành được bao bọc
bởi bốn con sông lớn. Nam Bắc mười hai
dặm ba, Đông Tây bốn dặm rưỡi. Sống
nghề canh nông, có nhiều hoa quả. Nơi đây
xuất sanh những con Long Mă và nghệ cũng như
dược thảo quư. Khí hậu lạnh có tuyết
nhiều và ít gió. Y phục làm bằng lông thú màu trắng.
Phong tục nhẹ nhàng như tiên, tánh người
khiếp nhược. Nước được bao
bọc bởi khưng cảnh, như rồng chầu. Dung
mạo con người được nhưng tánh t́nh th́
ngụy biện. Họ học nhiều nhưng cả tà
lẫn chánh đều tin. Già Lam có hơn 100 ngôi, Tăng Tín
Đồ hơn 5000 người. Có bốn Bảo Tháp,
tất cả đều do Vua A Dục dựng xây. Các
nơi ấy đều có thờ Xá Lợi của Như
Lai.
Lịch sử chép rằng đất đai
của nước nầy từ một cái hồ Rồng.
Ngày xưa đức Thế Tôn từ nước Ô
Trượng Na qua đây chinh phục con ác thần rồi
trở về lại nước cũ, bay lên hư không nói
với A Nan rằng: Sau khi ta nhập Niết Bàn, ở
đây sẽ có vị A La Hán tên là Mạc Điền
Đệ Ca (Madhyàntibha) ra đời kiến quốc an dân
và hoằng dương Phật Pháp. Như Lai tịch
diệt sau 50 năm, đệ tử Mạc Điền
Đệ Ca chứng được A La Hán có sáu pháp
thần thông, đầy đủ tám giải thoát. Nghe
Phật huyền kư như thế cho nên tâm rất hoan
hỷ tự tại, nên đến trên đỉnh núi cao
ngồi giữa rừng sâu hiện đại thần thông
biến hoá. Con Rồng thấy vậy cũng tin sâu và
thoả ước nguyện.
Vị A La Hán nói: - Mong hồ nầy chứa
được tất cả.
Long Vương hút nước đến cúng cho
ngài. A La Hán vận thần thông cho Long Vương nhờ
lực nầy mà lấy nước. Nước trong ao
không c̣n nữa. Con rồng lật lên trên mặt
đất, và vị A La Hán đă làm nên một cái hồ
ở phía tây bắc chu vi hồ nầy rộng hơn 100
dặm. Đây là hồ nhỏ riêng thuộc hồ lớn
kia. Long Vương thưa :
- Tất cả đất hồ nguyện xin cúng
dường, mong ngài nhận cho.
Mạc Điền Đệ Ca đáp rằng:
- Chẳng c̣n bao lâu nữa ta nhập Niết Bàn,
không biết nhận lời thỉnh cầu của
ngươi có được chăng?
Long Vương lại thỉnh rằng :
- Năm trăm vị A La Hán thường
nhận đồ cúng dường của con. Nhưng
đến khi Pháp tận diệt rồi, trở lại
nước nầy và trú nơi hồ nầy.
Mạc Điền Đệ Ca theo lời
thỉnh mới biết chư vị A La Hán xuất sinh
từ nơi đây, cho nên mới vận thần thông
lập nên 500 cảnh chùa. Sang các nước khác thưê
những người làm công sung vào công việc sai sử,
để cung phụng Tăng Chúng. Sau khi ngài Mạc
Điền Đệ Ca nhập diệt rồi, những
người làm công tự lập lên người cai trị
và các nước lân bang thấy họ thuộc ḍng dơi
hạ tiện nên chưa có giao hảo. Nghĩa là những
người nầy như một ḍng suối chảy càng
ngày càng thịnh.
Nước Ma Kiệt Đà, Vua A Dục sau khi
Như Lai diệt độ 100 năm lên ngôi cai trị uy
danh lẫy lừng trong thiên hạ. Ngài thâm tín Tam Bảo,
thương tưởng đến bốn loài. Lúc đó có
500 vị A La Hán Tăng và 500 vị phàm phu Tăng. Nhà Vua
đều cung kính cúng dường không có sai biệt. Trong
số phàm phu Tăng ấy, có vị Ma Ha Đề Bà
(Đại Thiên - Mahadeva) trí tuệ siêu việt. Ngài tạo
lập những bộ Luận lư giải Thánh Giáo. Mọi
người nghe sinh ra dị nghị trong chúng. Vua A Dục
chẳng cần biết Phàm Thánh đồng nghĩ
rằng tốt. Nên đă thân cận triệu tập
tăng đồ ra đến bờ sông Hằng, muốn
các vị lặn sâu để biết chơn giả. Các
vị A La Hán biết khó thoát cho nên vận dụng thần
thông bay lên không để ra khỏi nước nầy và
ẩn vào trong các hang động. Lúc đó Vua A Dục nghe
thấy sanh hối hận nên mới đến tạ
lỗi và thỉnh trở về lại nước, bị
các vị A La Hán không theo. Vua A Dục v́ các vị A La Hán
kiến lập 500 ngôi Già Lam, tất cả đều
đem cúng dường cho Tăng Chúng nước nầy là
nước Kiền Đà La. Vua Ca Nị Sắc Ca sau khi
Như Lai nhập Niết Bàn 400 năm, muốn an ủi
vỗ về nên Vua đă ra lệnh xa gần. Đây là
cơ hội để thực tập Phật Pháp, mỗi
ngày Vua thỉnh một vị Tăng vào cung để
thuyết Pháp, và nghe những dị nghị chấp
trước không đồng của các bộ phái khác nhau.
Nhà Vua đem sự nghi ngờ để đi đến
chỗ cảm hoá. Lúc đó, Ngài Hiếp Tôn Giả bảo
rằng:
- Như Lai ra đi năm tháng xa rồi.
Đệ tử chấp vào bộ phái của Thầy ḿnh
nên có Luận khác biệt, chấp vào chỗ thấy nghe
để làm cái riêng của ḿnh. Cho nên khi Vua nghe
được rất lấy làm cảm thương
buồn rầu mới than với Tôn Giả rằng:
- E rằng dư phước của Phật
sẽ hết, tuy ngài đă xa rồi, nhưng chúng ta c̣n
diễm phúc thừa hưởng. Cảm ân đó không
muốn quên để gọi là hẹp ḥi nên phải
thiệu long giáo pháp, do sự chấp trước về
Bộ Phái nầy mà kiết tập tam tạng.
Hiếp Tôn Giả nói:
- Đại Vương là bậc Hiền có
nhiều phước báo, đă muốn lưu giữ
lại Phật Pháp nên mới có nguyện nầy, do đó
nhà vua ra lệnh triệu tập những bậc Thánh
Triết xa gần. Bốn phương xa gần vạn
dặm đều biết. Anh tài hiền triết Thánh Nhân
đă vân tập trong bảy ngày như thế đều có
tứ sự cúng dường, chỉ muốn thật
nghĩa của Phật Pháp sợ có những tạp
nghĩa chen vào đây cho nên nhà Vua mới bạch lên chư
Tăng rằng:
- Những bậc đă chứng Thánh Quả th́
ở lại, những ai c̣n nội kết hăy lui ra. Như
thế đó mà nói lên giữa đại chúng. Lại
bảo những bậc Vô Học ở lại. C̣n những
bậc Hữu Học lui ra, Số nầy rất nhiều.
Lại ra lệnh:
- Người nào đủ Tam Minh và Lục Thông
th́ ở lại. Ai chưa được th́ lui ra. Số
nầy cũng nhiều.
Lại ra lệnh tiếp:
- Vị nào thâm hiểu được Tam Tạng
và đạt được Ngũ Minh th́ ở lại.
Ngoài ra th́ xin lui. Số nầy cũng nhiều. Cuối cùng
c̣n được 499 vị. V́ nước của Vua khó
khăn, nóng và ẩm, cho nên ngài muốn đến thành
Vương Xá nơi động đá của ngài Ca
Diếp để mà kiết tập. Ngài Hiếp Tôn Giả
liền thưa rằng:
- Không được
V́ tổ chức nơi đó sẽ bị
Ngoại Đạo và các vị luận sư khác chi
phối làm sao chúng ta có thể kiết tập, cho nên
quyết định tổ chức ở nước
nầy, v́ ở đây có núi non bốn bên và Dược Xoa
bảo vệ. Đất đai ở đây cũng cung
ứng đầy đủ sản vật. Hiền Thánh
đều qua lại. nơi đây cũng rất linh
nghiệm và có nhiều kẻ dừng chân nên kiết tập
ở đây rất thuận tiện. Lại nói thêm, nhà Vua
nên v́ các vị A La Hán mà kiến lập Già Lam để
kiết tập Tam Tạng, đầu tiên là Tỳ Bà Sa
Luận. Lúc ấy Tôn Giả Thế Hữu (Vasumittra)
từ ngoài vào cúng y. Các vị A La Hán nói với ngài Thế
Hữu rằng:
-Kiết tập chưa xong mà đă có nhiều
tranh luận phải trái. Thôi th́ ngài hăy đi xa đi
đừng ở đây nữa.
Thế Hữu đáp rằng:
- Các Hiền Hữu! Các Pháp không có ǵ để
nghi. Thay Phật để nói phải tập hợp
những nghĩa lớn mới có thể tạo lập
những bộ luận chơn chánh được. Tôi tuy
chưa được ǵ nhưng không trái với ư nghĩa
của tam tạng. Để đạt đến cái lư
của Ngũ Minh, phải nghiên tầm mới đạt
được nghĩa lư ấy.
Các vị A La Hán nói:
- Không thể nói như thế được.
Ngài nên đi đi. Khi nào chứng được Vô Học
rồi th́ hăy lại đây. Ở đây không có miễn
cuỡng.
Ngài Thế Hữu đáp rằng:
- Tôi nh́n địa vị Vô Học mà rơi
nước mắt, chỉ cầu quả vị Phật
thôi, chớ không cầu địa vị thấp. Chỉ
cần ném cuộn tơ lên, rơi chưa chấm
đất, chứng được Thánh Quả Vô Học
rồi. Lúc bấy giờ chư vị A La Hán nói rằng:
- Ông là người tăng thượng mạn!
Chư Phật đều tán thán quả vị Vô Học khó
chứng. Ông mau chứng đi mới quyết trạch
được các nghi ngờ.
Ngài Thế Hữu ném cuộn tơ trên không trung
mà chư Thiên đă tiếp cuộn tơ ấy có lời
thỉnh cầu rằng nên chứng Phật quả
để hổ trợ cho ngài Di Lặc làm bậc
đặc thù trong ba cơi và là chỗ nương nhờ
của bốn loài. Làm sao chứng quả thấp
được. Lúc bấy giờ các vị A La Hán thấy
sự việc như vậy rồi mới cảm tạ
và tôn ngài lên bực Thượng Toạ. Phàm có các việc
nghi ngờ trong luận nghị hoặc cố chấp th́
đủ người giải quyết trong năm trăm
vị Hiền Thánh. Đầu tiên tạo một trăm
ngàn bài tụng Ưu Ba Đề Xá Luận (Upadesa), cùng
thích nghĩa kinh điển. Sau đó tạo một
trăm bài tụng Tỳ Nại Da Tỳ Bà Sa Luận.
Giải nghĩa tạng Luật. Sau đó tạo một
trăm bài tụng A Tỳ Đạt Ma Tỳ Bà Sa Luận
và giải nghĩa tạng Luận gồm có ba trăm chín
chục ngàn bài tụng và chín trăm sáu mươi ngàn
lời để giải nghĩa tam tạng xưa nay mà
trong ư nghĩa thâm cùng để nghiên cứu kinh
điển. Ư nghĩa quan trọng được trùng tuyên
rơ ràng qua lời nói được tái xác định.
Những lời trùng tuyên như thế được
lưu bố rộng răi về sau nầy cho nên Vua Ca Nị
Sắc Ca bèn cho làm những lá đồng đỏ để
khắc chữ của Luận Văn lên đó và khắc
lên đá, rồi kiến tạo Bảo Tháp để tàng
trử bên trong. Ra lệnh cho các thần Dạ Xoa bảo vệ
chung quanh nước, không cho mang Luận Văn nầy ra
ngoài cho kẻ khác đạo, mà chỉ muốn cầu
học tập để tạo nên thiện nghiệp
lực. Công việc nầy đă hoàn tất. Binh lính
trở về kinh đô. Khi đi ra cửa thành phía tây
của nước nầy, hướng mặt về phía
đông mà quỳ xuống. Lại cúng tất cả
nước nầy cho chư Tăng. Sau khi Vua Ca Nị
Sắc Ca chết đi, th́ nhiều chủng tộc
tại đây xưng Vương. Trong chúng tăng có kẻ
hủy hoại Phật Pháp.
Vua Tu Ma Đản La, thuộc nước
Đỗ Hoá La, mà Vua nầy trước đây thuộc
ḍng họ Thích. Sau khi Như Lai nhập Niết Bàn
khoảng sáu trăm năm, đă có lănh thổ và tiếp
nối Vương Nghiệp. Có tâm lưu giữ Phật
Pháp nên khi nghe qua Ngật Lợi đă hủy diệt
Phật Pháp, liền chiêu tập ba ngàn dũng sĩ trá làm
thương buôn mang theo nhiều Bảo vật để
bán. Trong đó có chứa những vũ khí xâm nhập vào
nước nầy, tạo những lễ vật quư giá và
trong những vị thương buôn đó tuyển mộ
được 500 người mưu kế mănh liệt.
Họ giấu cây và dao trong đồ vật quư giá
để dâng hiến lên Hoàng Thượng. Vua xứ
Tuyết kia đến tận nơi ngồi xuống. Nhà
Vua Ngật Lợi đă không để ư nên bị chém
đầu. Sau đó họ tuyên bố rằng:
- Chúng tôi là thuộc hạ của Vua nước
Đỗ Hoá La, ở dưới chân núi Tuyết, rất
giận loài tặc tâm mà tham chính nên nay mới giết
để hạch tội. Để cho trăm họ
được nhờ. Qua việc nầy các vị cận
thần Tể Tướng đều đi nơi khác.
Để an tâm người nước nầy liền cho
triệu tập Tăng lữ, kiến thiết các Già Lam,
xây dựng Bảo Tháp.
Lại nữa, ra khỏi phía cửa Tây của
nước nầy, bèn quỳ xuống xây mặt về
hướng đông cúng dường chúng Tăng. Tăng
đồ thường che dấu sự tế tự của
tôn giáo mất đi, cho nên người đời mới
phẫn nộ, chối bỏ Phật Pháp. Thời gian qua
đi, nay lại xưng Vương mà nước nầy
xưa nay chẳng sùng tín, chỉ lo cho ngoại đạo
và nơi thờ tự của họ mà thôi. Thành mới phía
đông nam hơn mười dặm, đến thành phía
bắc của núi lớn có một ngôi chùa. Tăng Tín
Đồ hơn 300 người cùng với Bảo Tháp trong
đó lại có Răng Phật, dài hơn một phân
rưỡi, màu sắc vàng và trắng. Cứ đến
giờ Ngọ th́ phóng ra ánh sáng. Ngày xưa khi ḍng họ
Ngật Lợi đă hủy diệt Phật Pháp, th́
Tăng Đồ phải giải tán để ở riêng
biệt các nơi khác. Có một vị Sa Môn đi qua xứ
Ấn Độ, đảnh lễ Thánh Tích, sau đó
trở về lại nước. V́ nghe nước đă
b́nh yên nhưng gặp những con voi phá phách cây cối mùa
màng. Vị Sa Môn ấy thấy vậy liền leo lên cây.
Bầy voi đến hồ nước hút nước phun
lên cây rồi cùng làm cho cây trốc gốc bắt
được Sa Môn kéo vô trong rừng gặp con voi
bệnh đang nằm, dẫn vị Tăng nầy
đến nơi nó chịu khổ, Sa Môn cắt lá trúc khô
làm thuốc bó vào chân nó, thấy nơi chân voi có một
hộp bằng vàng. Vị Sa Môn chữa cho con voi hết
bịnh. Mở hộp ra, Sa Môn thấy trong đó có Răng
của Phật. Tất cả những con voi quây quần
bên vị Tăng không cho đi đâu hết. Trưa hôm sau,
những con voi nầy mang trái cây đến đăi một
bữa ăn thịnh soạn. Ăn xong, chở vị
Tăng ấy ra khỏi rừng đến hơn trăm dặm
thả xuống, và quỳ lạy mà lui về.
Sa Môn đến nước biên giới phía Tây qua
một con sông, đ̣ đến giữa ḍng gần úp.
Người đi cùng thuyền nghĩ rằng thuyền
nầy có chở Sa Môn, chắc chắn có Xá Lợi của
Như Lai, cho nên Rồng Cá mới sợ. Chủ thuyền
kiểm nghiệm quả thật có răng của Phật.
Lúc ấy vị Sa Môn đưa răng Phật lên mà nói
với Rồng ở dưới sông rằng:
-Tôi nay gửi cho người, chẳng lâu nữa
sẽ trở lại lấy, không cần qua sông, bỏ
thuyền mà đi. Ngoái nh́n ḍng sông mà than rằng:
- Tôi không thần thông cho nên chưa độ
được loài rồng. Phải qua lại Ấn
Độ một lần nữa để học phép
chế ngự rồng. Sau khi học Tam Tạng xong trở
về lại nước nầy đến bên bờ sông
kia thiết lập đàn tràng cúng tế. Rồng trả
lại hộp Răng Phật cho vị Sa Môn, vị Sa Môn
ấy mang về cất Già Lam để thờ và tu
phước.
Già Lam phía Nam cách mười bốn dặm
rưỡi có một Già Lam nhỏ, ở giữa có thờ
tượng đức Bồ Tát Quán Tự Tại. Có
một người nhịn ăn cho đến chết,
nguyện thấy được Bồ Tát, tức thời
từ tượng nầy phát ra sắc thân vi diệu.
Chùa nhỏ phía đông nam, hơn 30 dặm có núi
lớn, có một Già Lam cũ h́nh thức rất tráng
lệ to lớn. Bây giờ chỉ c̣n lại một toà lâu
đài. Tăng Tín Đồ hơn 30 người, họ
học theo Giáo Pháp Đại Thừa. Ngày xưa vị
Tăng là Già Bạt Đà La (Chúng Hiền) luận sư
đă soạn bộ luận Thuận Chánh Lư Luận (Thuận
Đạo Lư Luận) ở đây. Hai bên chùa chiền
đều có Bảo Tháp. Đại A La Hán và Xá Lợi
đều có mặt, cho nên chim muông dă thú trong núi rừng
mang Hoa Quả ra cúng dường. Ngày tháng trôi qua tuy không có
bóng dáng của Như Lai, nhưng trong núi nầy có rất
nhiều điều linh dị; hoặc trên tường
đá ngang dọc đều có lưu dấu tích của
chim. Phàm những loại nầy đến đây
đều quỳ xuống cùng với các vị A La Hán Sa Di
nô đùa. Có những bức hoạ ghi lại những con
chim nầy chở người qua lại và những sự
tích khác khó có thể tường thuật hết. Cách
mười dặm về phía đông của chùa có thờ
Răng Phật, đến phía bắc của núi th́ có
một chùa nhỏ. Ở đây ngày xưa là chỗ của
Sách Kiền Địa La Đại luận sư, nơi
đây, cũng đă tạo một phần của Tỳ
Bà Sa Luận.
Giữa ngôi Già Lam nhỏ ấy có một ngôi
Bảo Tháp cao hơn 50 thước, nơi đó cũng là
nơi để lại toàn thân Xá Lợi của một
vị A La Hán. Đầu tiên, thân h́nh vị A La Hán đó
rất vĩ đại. Ngài ăn uống như Voi.
Bị ngài khác hỏi đồ ăn đi đâu mà không
sợ thị phi vậy. Khi A La Hán sắp nhập diệt
có bảo cho mọi người biết rằng ta bây
giờ v́ các ngươi mà nói nhân duyên nầy. Thân nầy là
thọ báo thân voi của kiếp trước. Tại phía
đông Ấn Độ có một vị Vua đang ở,
có một vị Sa Môn cũng ở đó lúc ấy, từ
xa đến Ấn Độ để tham học Thánh
Giáo và Kinh Luật Luận. Nhà Vua mới mang tôi (con voi)
đến cho vị Sa Môn kia, để chở kinh
Phật, mà đến xứ nầy. Sau đó chẳng bao
lâu th́ mất. Do công đức chở kinh nầy mà tái sinh
được làm người. Cuối cùng nhận
được Y Phấn Tảo, tinh tấn bỏ tục
xuất gia, chứng đắc thần thông, ra khỏi ba
cơi. Cho nên ở đây, việc ăn uống trở thành
tập khí. Mỗi lần ăn như thế phải
ăn gấp ba lần để nuôi thân. Tuy nghe như
vậy nhưng có người chưa tin. Ngài liền bay lên
hư không, nhập vào Hỏa Quang định tức th́
thân bốc khói, rồi nhập diệt. Và thân ấy hạ
xuống nơi Bảo Tháp nầy.
Vương thành phía tây bắc, đi hơn hai
trăm dặm, đến chùa Thương Lâm. Có Bố
Sắc Noa luận sư (Viên Măn) chính nơi đây đă
giải thích Luận Tỳ Bà Sa. Phía tây thành đi hơn 145
dặm, đến sông lớn ở phía bắc, tiếp
với núi phía Nam, th́ đến chùa của Đại Chúng
Bộ. Tăng nhân có hơn 100 người. Ngày xưa,
Phật Địa La luận sư đă ở nơi
nầy, mà làm tập Chơn Luận của Đại Chúng
Bộ. Từ nơi nầy đi về phía Tây Nam núi non
rất nguy hiểm. Đi hơn 700 dặm, đến
nước Bán Nô Sai.
7) Nước Bán Nô Sai, chu vi hơn 2000 dặm, núi
sông cách trở, người dân sống nghề canh nông, hoa
quả rất nhiều, có nhiều mía, rượu nho, và
trái ambala (xoài) cùng những rau quả khác. Tại nhà, có cây
được trồng rất nhiều đều là cây
trân quư. Khí hậu ôn hoà, Phong tục thuần hậu. Y
phục là những loại vải thô và làm bằng lông. Nhân
t́nh chất phát. Tánh t́nh ngay thẳng. Tin tưởng Tam
Bảo. Có năm ngôi Già Lam, nhưng đa phần bị
hoang phế. V́ không có Vua, nên trực thuộc nước Ca
Thấp Di La. Phía bắc thành có Chùa nhưng ít có Tăng. Chùa
phía Bắc lại có Bảo Tháp bằng đá rất linh
nghiệm. Từ phía nầy đi sang phía Đông Nam hơn
400 dặm, đến nước Yết La Phạt Bổ
La.
8) Nước Yết La Phạt Bổ La, chu vi
hơn 4000 dặm. Đô thành chu vi hơn 10 dặm, rất
hiểm trở v́ có núi non bao bọc. Có sông hẹp, nên
đất đai không ph́ nhiêu, phong thổ khí hậu
giống như nước Bán Nô Sai, phong tục giữ ǵn
tốt đẹp. Con người dũng căm, nhưng
nước không có Vua nên phải lệ thuộc
nước Ca Thấp Di La. Có hơn mười ngôi chùa, ít
Tăng. Có một đền thờ, mà ngoại đạo
th́ rất đông. Người từ nước Lăm Ba
đến xứ nầy, h́nh thù kỳ dị, tánh t́nh thô
bạo. Ngôn ngữ phong tục lễ nghĩa đơn
giản. Nước nầy không nằm trong biên giới
của Ấn Độ. Và hay có tục lệ buôn bán chung.
Từ đây, đi xuống hướng đông nam qua núi
và sông hơn 700 dặm, đến nước Trách Ca.
Đại Đường Tây Vức Kư hết quyển
thứ ba
Quyển thứ
tư
(Gồm 15
nước)
Tam Tạng
Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Trách Ca
2. Nước Chí
Na Bộc Đệ
3. Nước
Phiệt Lan Đạt La
4. Nước
Quật Lộ Đa
5. Nước
Thiết Đa Đồ Lô
6. Nước Ba
Lư Dạ Đản La
7. Nước
Vị Thố La
8. Nước Tát
Tha Nễ Thấp Phạt La
9. Nước
Tốt Lục Cần Na
10. Nước
Châu Đệ Bổ La
11. Nước
Bàng La Hấp Ma Phổ La
12. Nước Cù
Tỳ Sương Na
13. Nước Ác
Ê Chế Đản La
14. Nước
Tỳ La Sắc Na
15. Nước
Kiếp Tỷ Tha.
1) Nước Trách Ca, chu vi hơn vạn dặm,
phía Đông giáp với sông Tỳ Phấn Xa. Phía Tây giáp
với sông Tín Độ. Đô thành rộng hơn 20
dặm, chuyên nghề trồng lúa, có nhiều lúa mạch.
nơi đây cũng có nhiều vàng, bạc, ch́, đá,
đồng, thiếc v.v... . Khí hậu rất nóng và có
nhiều gió. Phong tục bạo tàn; lời nói thô bỉ. Y
phục thường dùng màu trắng, kiêu xa, lộng
lẫy. Không tin Phật Pháp, tin vào nhiều vị thần
khác nhau. Có 10 ngôi Già Lam, trong khi đó đền thờ
hơn 100 ngôi. Nơi nước nầy có nhiều chỗ
bố thí cho người nghèo, họ cho thưốc men,
hoặc cho đồ ăn. Cho nên những kẻ lữ
hành qua đây cảm thấy ít mệt mơi v́ có ăn và có
mặc. Thành lớn phía tây nam, cách 14.5 dặm đến
thành Xa Yết La Cố. Tuy thành quách đă hư hoại
nhưng nền móng vẫn c̣n chắc chắn, chu vi hơn
20 dặm. Trong đó, xây thêm một thành nhỏ chu vi 6.7
dặm. Những người ở trong thành nầy rất
giàu có và họ là những người ở nước
phía bắc đến, mà cách đây 100 năm, nước
nầy có vị Vua tên là Ma Ê La Cự La.
Thành nầy do một vị Vua người
Ấn, có tài trí và tánh t́nh rất cương trực
trị v́, nhưng những nước láng giềng chưa
thần phục. Đời sống dư dả chuyên
học tập Phật Pháp. Vua sắc lệnh chư
Tăng phải suy tôn một vị phạm hạnh,
nhưng chư tăng chưa chấp thuận, v́ họ
sống theo hạnh xả ly nên không cần tuân lệnh.
Những bậc cao minh học rộng thuộc ḍng họ
Thích oai nghiêm khi nghe đàm luận về vấn đề
đó liền ưng thuận. Nhà vua bảo :
Ta cũng kính Phật Pháp cho nên muốn t́m danh
tăng, trong các ngươi ai có thể làm điều
nầy để cùng đàm luận với ta chăng.
Biết đâu trong tăng đoàn ấy có kẻ hiền
minh cùng sánh vai với ta. Người đó sẽ
được tôn kính. Lệnh nầy đă
được ban ra trong năm xứ Ấn Độ.
Tiếp theo Phật Pháp bị hoại diệt tăng
lữ chẳng có người nào kế vị.
Nước Ma Yết Đa có Vua Bà La A Dật
đă sùng kính Phật Pháp và yêu thương dân chúng. nhưng
đại tộc của Vua lâm vào cảnh dâm loạn
tự giữ phần ḿnh không theo lệnh các viên chức.
Lúc bấy giờ các tướng lănh ở dưới
trướng trị v́ của Vua, biết rằng lúc
nhỏ vua nghe lời các vị quan, c̣n bây giờ không
cần biết đến chỉ lo chiến tranh. Làm
như thế không nghĩ rằng có tội, mà ngay cả
bản thân cũng như cây cỏ cũng bị ảnh
hưởng lây. Nói xong đi ra khỏi cung, đi sâu vào
trong rừng mà trong nước ấy có hơn vạn
người đi theo tận nơi hải đảo.
Đại tộc của nhà Vua cùng với binh lính ra
biển thảo phạt. Nhà vua thấy sự nguy hiểm
nầy, không sợ nguy hiểm liền ra nghinh chiến.
Trống vàng một tiếng nổi lên. Binh lính bốn
bề sáp nhau, bắt sống Đại Tộc, không cho
người tiếp cứu. Đại Tộc của Vua
tự xấu hổ mất luôn đường về. Ai
nấy đều long đong. Nhà Vua ngồi trên toà Sư Tử
bốn bên có quần thần hộ vệ, lại ra
lệnh cho đại thần nói với Đại Tộc
rằng:
- Nhà ngươi đă lộ diện muốn ta xa
rời vương vị phải không?
Đại Tộc thưa:
- Lên Ngôi th́ dễ nhưng gặp oán thù cũng
không khó. Nếu mà không có sự liên hệ th́ làm sao
đối mặt với nhau để nói chuyện.
Nói đi nói lại ba lần như thế
nhưng vẫn không nghe theo. Những lời ra lệnh
như thế rất nhiều và tội nầy đă
được biết. Tam Bảo là phước
điền, là chỗ nương tựa của bốn
loài. Chớ đem tâm lang sói mà hủy hoại nghiệp
lớn. Phước chẳng phải do thần giúp mà nhà
ngươi có thể lấy được sanh mạng
của ta. Tội chẳng có thể xá, bỏ điều
nghi mà tạo nên h́nh phạt được. Khi ấy mẹ
của Vua Ấu Nhựt nghe được và ư thức
việc thiện, nên khi nghe việc sát hại Đại
Tộc liền bảo cho Vua Ấu Nhựt rằng:
- Ta thường nghe Đại Tộc đem
lợi ích cho người có trí tuệ.
Do vậy Vua Ấu Nhựt nên ra lệnh
Đại Tộc đến cung của Mẫu
Hậu.
Mẫu Hậu nói:
- Than ôi! Đại Tộc! Ông không xấu hổ
sao! Thế gian vô thường sự vinh nhục là
điều thường thấy. Ta là mẹ của ông,
nếu ông nhớ t́nh mẹ con, phải nên theo lời mà
thường thăm nom.
Đại Tộc thưa rằng:
- Ngày xưa giết Vua cướp nước.
Bây giờ làm kẻ tù nhân. Vương nghiệp phế
bỏ. Tông miếu không c̣n. Trên xấu hổ tiên linh.
Dưới thẹn với bá tánh. Mặt mũi nào
để nh́n lên và cúi xuống nữa. Chẳng thể
tự sát sao?
Vương Mẫu nói:
- Hưng phế tuỳ thời. Tồn vong
hữu vận (việc thịnh suy theo thời gian, Sự
mất c̣n theo vận mệnh). Lấy tâm để cứu
người tức là được việc đừng
quên vấn đề ấy, đừng lấy vật
để cứu tâm. Lấy tâm mà cứu vật mà
được mất đều quên, c̣n lấy vật mà
cứu tâm th́ buồn vui lại hiện. Hăy nên tin theo
Nghiệp Báo và theo thời gian thay đổi đừng
nên nương vào lời nói và sự tồn tại của
thân nầy. Đại Tộc cảm tạ rồi thưa
:
Há v́ bất tài đă cùng Vua dựng nền hành
chánh của nước, nhưng nay nước đă
mất, đế nghiệp suy tàn. Tuy ở trong cuộc
đời tục luỵ mà tham đắm cuộc sống
ngắn ngủi. Nay th́ biết rồi việc đă
tạo xin cảm tạ thâm ân. Bây giờ sẽ
nương vào đó để mà hành xử.
Mẫu hậu nói :
- Con ta v́ tự ái nên sống chết đến
cùng, rồi bảo với Ấu Nhựt rằng:
Điển tích trước đă đủ sự huấn
dụ cho quá khứ mà nên sống một nếp sống
tốt đẹp. Nay Đại Tộc của Vua chỉ
làm toàn việc ác và chỉ có phước đức
mới không cùng tận. Nếu giết hại những
người nầy, sau 12 năm sẽ nhận báo ứng,
phải có ḷng trung với đất nước mới là
Vua của một nước. Phải biết đất
nước phương bắc kia mà nghe lệnh ta
đừng v́ sự oán thù mà làm cho mất Vua mất
nước.Ta là người đàn bà đang chờ cái
lễ nghĩa ấy. Tất cả các binh lính cùng những
người hộ vệ hăy nên rút ra khỏi biển và Vua
em của Đại Tộc hăy trở lại nước
của ḿnh. Đại Tộc mất ngôi chỉ c̣n lại
rừng núi nên đi đánh nước phía bắc là Ca
Thấp Di La. Vua nước Ca Thấp Di La là người
trọng lễ nghĩa, thương người mất
nước phong cho thái ấp. Thời gian trôi qua, lại
đốc suất dân trong thái ấp khởi lên giết Vua
Ca Thấp Di La mà tự xưng Vương. Thừa
việc chiến thắng nầy, mà ra oai với
nước phía Tây là Kiền Đa La. Đem binh lính chinh
phạt sát hại Vua nước nầy. Đại
thần, dân chúng đều chết oan uổng. Đốt
phá chùa tháp cho đến 1600 cơ sở. Binh lính giết dân
chúng ở ngoài thành nhiều vô kể. Tất cả
đều bị tàn sát chẳng kể loài nào. Lúc bấy
giờ có người tiến đến và can gián nhà Vua
rằng :
Sự uy hiếp của Đại Vương
rất mạnh mẽ. Binh lính chẳng ai giao tiếp
nổi. Giết hết những kẻ ác và người dân
thế nào cũng nguyện lấy thân nầy chết thay
cho họ.
Vua nói:
- Nhà ngươi tin Phật Pháp, làm việc
phước đức, mong được thành Phật,
thường nói về sự sống. Ngươi muốn
dạy đời, nói việc ác của ta cho đời sau
sao. Nay ta bảo cho ngươi biết không được
từ chối. Hăy đem ba ức người kia (?)
nhận ch́m xuống sông Tín Độ. Ba ức
người đó bị ch́m xuống rồi, phân thân
trở thành ba ức binh sĩ và trở về lại
nước của ḿnh bị mất. Sau đó t́m lại
nơi ḿnh bị chết để làm mưa làm gió.
Trời đất kinh hoàng nổi cơn sóng gió. Lúc đó,
quả nhân mới thương mà than rằng giết oan
mọi người không tiếc, làm cho Phật Pháp bị
diệt vong nên phải đoạ vào địa ngục Vô
gián lưu chuyển không cùng.
Cổ Thành của nước Xá Yết La, bên
giữa có một ngôi Già Lam, Tăng tín đồ hơn 100
người. Họ học theo giáo pháp Tiểu Thừa.
Bồ Tát Thế Thân ngày xưa đă ở đây soạn
Thắng Nghĩa Đế Luận. Tại đây có
một Bảo Tháp cao hơn 200 thước. Trong quá khứ
có bốn vị Phật thuyết pháp ở đây và
cũng có di tích của bốn vị Phật kinh hành nơi
đây. Cách phía tây bắc của Già Lam khoảng năm
dặm sáu, lại có một Bảo Tháp cao hơn 200
thước, do Vua Asoka dựng nên để ghi lại
nơi đây là nơi mà bốn đức Phật trong quá
khứ đă thuyết pháp. Phía đông bắc của hoàng
thành đi hơn 10 dặm đến một Bảo Tháp
bằng đá cao hơn 200 mét cũng do Vua Asoka xây dựng.
Đây là nơi ghi lại dấu tích của đức
Như Lai qua phương bắc để hoằng hóa trên
đường dừng lại nơi đây. Theo truyền
kư Ấn Độ chép rằng trong Bảo Tháp ấy có
lưu Xá Lợi, phát ra ánh sáng vào giờ Ngọ. Từ phía
đông đi khoảng năm trăm dặm đến
nước Chí Na Bộc Đệ.
2) Nước chí Na Bộc Đệ, chu vi hơn
hai ngàn dặm. Kinh Đô chu vi mười bốn dặm
năm. Họ trồng lúa hoa quả cùng những cây ăn
trái khác. Nghề nghiệp của nước nầy
rất phong phú, khí hậu ôn ḥa, phong tục yếu kém.
Học Đời Học Đạo đều có, nhưng
tin Tà chánh lẫn lộn. Có hơn 10 ngôi Già Lam và 8 ngôi
Đền Thờ.
Ngày xưa Vua Ca Nị Sắc Ca đă tuần du
đến nơi đây v́ nghe nước bên cạnh
lớn mạnh và có những phong tục đặc thù. Làm
sao mà phía tây lại có uy thế như vậy. Cho nên Vua Ca
Nị Sắc Ca thường gặp những điều
may. Ngày đêm bên nhà đều có binh lính canh gác. Nhà Vua
đă ở lại nước nầy suốt mùa đông.
Rồi đến nơi Na Bộc Đệ Chất
Tử ở. Từ đây trở thành tên nước.
Đất nước nầy cũng theo kịp Ấn
Độ. Đất không có lê, có đào, do đó Chất
Tử nói rằng:
Muốn ăn đào lê th́ phải đến
nước Na La Phiệt Phất Đản La mới có. V́
nước nầy người ta tin kính các nước phía
đông nên được như thế. Đó là quê
hương đất nước của Vua ta đời
trước.
Phía đông nam đại thành, hơn 500 dặm,
đến Chùa Đáp Vị Tô Phạt Na. Tăng Tín
Đồ hơn 300 người, học theo phái Thuyết
Nhứt Thiết Hữu Bộ. Chúng Tăng ở đây
đức hạnh thanh cao, tuy học Tiểu Thừa
nhưng nghiên cứu rất rộng răi. Trong hiền
kiếp có 1000 vị Phật ở đây, tập họp
Trời Người lại giảng sâu về Diệu Pháp.
Đức Như Lai sau khi nhập Niết Bàn 300 năm, có
ngài Ca Chiên Diên luận sư sáng tác Phát Trí Luận tại
nơi nầy.
Ở trong chùa Phiệt Lâm, có một Bảo Tháp
cao hơn 200 thước do Vua A Dục dựng lên. Nơi
đây cũng là nơi mà trong quá khứ có bốn vị
Phật đă ngồi, cũng như đi kinh hành c̣n
lưu lại dấu tích. Nơi tháp nhỏ, có nhiều
động đá lớn thứ tự đối nhau không
biết bao nhiêu mà kể. Ở nơi đây, trong kiếp
sơ cũng có nhiều vị đến tu và chứng
quả Thánh, c̣n nhiều hài cốt lưu lại. Cách Già Lam
Nhiễu Sơn 20 dặm, có hơn 100 ngàn ngôi tháp thờ Xá
Lợi Phật, liên tục với nhau. Từ đây qua phía
đông bắc đi hơn 145 dặm, đến
nước Phiệt Lan Đạt La.
3) Nước Phiệt Lan Đạt La, từ
phía đông sang phía tây tám trăm dặm, từ nam ra bắc
hơn 1000 dặm. Chu vi của Đô thành khoảng 12.3
dặm. Dân chúng sống bằng trồng trọt và cấy
lúa. Cây trái hoa quả sum sê. Khí hậu ôn hoà. Phong tục
cứng cơi. Dung mạo không được đẹp. Nhà
cửa giàu có. Có hơn 50 ngôi Già Lam và 2000 vị Tăng, theo
cả hai trường phái Đại Thừa và Tiểu
Thừa. Có 3 Đền Thờ của Ngoại Đạo
và hơn 500 người theo. Họ dùng tro bôi khắp
người. Tiên Vương của nước nầy sùng
kính ngoại đạo, sau gặp một vị A La Hán và
được nghe Pháp, sanh tín tâm. Cho nên trong nước
Ấn Độ cũng thuần tín theo vua mà phụng
sự Tam Bảo, gần năm nước của Ấn
Độ. Nh́n chung rất hỗn tạp, tốt xấu
khó phân. Vua sắc lệnh chúng Tăng phải trang nghiêm tinh
tấn, đoạn trừ tà niệm, để cho mọi
người khởi tâm cung kính ngưỡng mộ. Vị
nào phạm giới bị phạt rất nặng. Ngài trùng
tu tất cả Thánh tích. Hoặc Bảo Tháp, hoặc Chùa
Viện khắp trong nước Ấn Độ
đều như vậy. Từ đây đến phía
đông bắc qua động Du Tuấn Lănh,
đường bộ rất nguy hiểm, hơn 700
dặm đến nước Quật Lộ Đa.
4) Nước Quật Lộ Đa, chu vi hơn
3000 dặm, có núi non bao bọc chung quanh. Đô thành rộng
hơn 14 dặm rưỡi. Đất đai dùng
để cày cấy trồng trọt. Hoa quả tốt
tươi. V́ ở gần núi Hy Mă Lạp Sơn cho nên có
nhiều dược thảo quư. Nơi đây sản
xuất nhiều vàng, bạc, đồng đỏ, lân
tinh, đá hoa cương. Khí hậu lạnh lẽo,
thường có mưa tuyết. Dáng người thô
kệch. Tánh t́nh cương nghị mạnh mẽ. Có
hơn 20 ngôi Già Lam, và hơn 1000 Tăng Tín Đồ, đa
phần theo Đại Thừa. Một số ít tu học
theo các bộ phái khác. Có hơn 15 ngôi Đền Thờ
ngoại đạo, lẫn lộn với nhau. Hầu
hết những tường Đền Thờ nầy
nằm sát núi, có nhiều pḥng đá.
Những vị A La Hán thường trú nơi
đây. Các vị tiên nhân cũng dừng chân đến. Có
một ngôi Bảo Tháp tại Trung Tâm do Vua A Dục xây
dựng. Ngày xưa, Như Lai cũng đă từng
đến nước nầy thuyết pháp độ sanh.
Vẫn c̣n để lại di tích. Từ đây đi
về hướng bắc bằng đường bộ
hơn 1890 dặm, vượt qua đèo núi hiểm trở
đến được nước Lạt Hộ La. Đi
về phía bắc hơn 2000 dặm nữa, dọc
đường gió lạnh tuyết bay không thể tránh
được đến nước Vị La Sa.
Từ nước Quật Lộ đă đi
về phía nam hơn 700 dặm, vượt qua núi lớn
cùng sông to, đến nước Thiết Đa Đồ
Lô.
5) Nước Thiết Đa Đồ Lô, có chu vi
hơn 2000 dặm. Phía tây giáp với sông lớn. Chu vi
của Đô Thành 17.8 dặm. Dân chúng sống bằng
nghề trồng lúa. Hoa quả tốt tươi. Có
nhiều vàng bạc, ngọc trai. Dân chúng ăn mặc
phức tạp. Khí hậu nóng, phong tục thuần hoà. Tánh
t́nh của người trên làm việc thiện,
người dưới giúp đỡ mọi người.
Thuần tín Phật Pháp, tín nguỡng cung kính. Có mười
ngôi Già Lam ở chung quanh kinh thành, nhưng vườn
tược hoang phế chẳng có bóng dáng một vị
Tăng nào cả. Cách thành phía đông nam ba dặm tư, có
một ngôi Bảo Tháp cao hơn 200 thước, do Vua A
Dục kiến tạo nên. Bên cạnh đó c̣n có di tích
bốn vị Phật quá khứ ngồi và đi kinh hành.
Lại từ đây đi sang phía tây nam hơn 800 dặm,
đến nước Ba Lư Dạ Đản La.
6) Nước Ba Lư Dạ Đản La, chu vi
hơn 3000 dặm. Vương thành 14.5 dặm. Dân chúng
sống bằng nghề canh nông, giàu có lúa mạch. Có
những loại lúa chỉ trong 60 ngày là thu hoạch
được. Nhiều ḅ và dê, ít hoa quả. Khí hậu
nóng nực, phong tục đặc biệt. Họ chẳng
thích học nghề, lại cung kính ngoại đạo,
thuộc ḍng Phệ Xá. Tánh t́nh hung bạo. Có 8 ngôi Già Lam,
hư nát quá nhiều. Tăng đồ cũng ít, lại
học theo phái Tiểu Thừa. Có 10 ngôi đền thờ,
và hơn ngàn người ngoại đạo. Từ đây
đi về hướng đông hơn 500 dặm,
đến nước Vị Thố La.
7) Nước Vị Thố La, chu vi hơn 5000
dặm. Chu vi của Đô Thành hơn 20 dặm. Đất
đai dùng để trồng trọt là chính. Nhiều nhà
trồng xoài thành rừng. Tuy cùng là xoài nhưng có hai
loại. Loại nhỏ màu xanh, chín biến thành màu vàng.
Loại lớn trước sau vẫn là màu xanh. Nơi
đây sản xuất lông thú và vàng bạc. Khí hậu nóng,
gió nhiều. Phong tục lành mạnh. Dân chúng siêng tu
phước, sùng kính bậc phạm hạnh và ham học.
Có hơn 20 ngôi Già Lam và hơn 2000 tăng sĩ, tu theo
cả hai trường phái Tiểu thừa và Đại
thừa. Có 5 ngôi Đền thờ của Ngoại
Đạo sống rất tạp nhạp. Có ba Bảo Tháp
đều do Vua Asoka kiến lập. Nơi đây c̣n
rất nhiều di tích của bốn vị Phật trong quá
khứ. Xá lợi của chư vị Thánh đệ
tử của Phật c̣n lưu giữ tại tháp nầy.
Có tháp thờ quư Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Măn
Từ Tử (Punna-Phú Lâu Na), Đa La Ni Tử, Ưu Ba Li, A
Nan Đà, La Hầu La, Mạn Thù Thất Lợi, (Văn Thù
Sư Lợi) và Tháp thờ chư vị Bồ Tát v.v... .
Mỗi năm chư tăng có ba tháng an cư, và hằng
tháng có sáu ngày trai. Họ sách tấn nhau tu học rất
tốt. Tín Đồ mang đồ cúng đầy
đủ, hầu hết từ những nhà buôn. Tuỳ
theo chùa chiền trang nghiêm mà tạo nên những tôn
tượng đẹp. Ai tu theo A Tỳ Đạt Ma th́
cúng dường ngài Xá Lợi Phất, ai tu theo thiền
định th́ cúng dường ngài Mục Kiền Liên. Ai
tŕ tụng kinh điển th́ cúng dường ngài Măn Từ
Tử. Ai tu theo Luật th́ thờ ngài Ưu Ba Ly. C̣n
những vị Tỳ Kheo Ni cúng dường ngài A Nan.
Những ai chưa thọ cụ túc th́ thờ ngài La Hầu
La. Những ai học Đại Thừa th́ thờ cúng
chư vị Bồ Tát hằng ngày. Các Bảo Tháp cũng
được cúng dường tràng phan, bảo cái, linh,
lọng, hương hoa, đều rải như mưa.
Ngày đêm chấn động không cùng. Quốc Vương
đại thần lấy việc tu thiện làm chính.
Từ thành phía đông đi hơn 6 dặm rưỡi
đến một chùa trong núi, lấy vách đá làm pḥng,
lấy hang làm cửa. Tôn giả Ưu Ba Cúc Đa (Upagupta-Cận
Hộ) đă xây dựng chùa nầy, trong đó có Bảo
Tháp thờ móng tay của đức Như Lai.
Có một ngôi Già Lam ở phía bắc nằm trong
núi có nhiều pḥng bằng đá cao hơn 20 thước,
chiều dài hơn 30 thước. Cứ bốn tấc có
một tấm thẻ làm dấu nơi ngài Ưu Ba Cúc Đa
đă thuyết pháp và hoá độ một đôi vợ
chồng. Họ đă chứng quả A La Hán. Cứ cách
một thẻ, th́ có những pḥng khác biệt có cắm
cờ mà không ghi ǵ cả.
Từ pḥng bằng đá ở phía đông nam cách
hơn 24 dặm rưỡi, có một hồ lớn. Bên
cạnh hồ có một Bảo Tháp, ngày xưa tại
đây đức Như Lai đi kinh hành. Lúc bấy giờ
có một con khỉ mang mật ong đến cúng Phật.
Phật nhận mật ong, đem hoà vào nước cho chung
Đại Chúng. Con khỉ ấy rất vui mừng
nhảy lên chết tức khắc. Nhờ phước
nầy mà tái sanh làm người.
Phía bắc của ao nầy không xa, có một
rừng rậm. Bốn vị Phật ở quá khứ
cũng lưu lại dấu tích trong khi đi kinh hành ở
đây. Nơi đây cũng là nơi nhập định của
Ngài Xá Lợi Phất, Ngài Mục Kiền Liên cùng với
1250 vị Đại A Lán. Có một Bảo Tháp ghi lại
tất cả những di tích ấy. Đức Như Lai
khi c̣n tại thế đă đến đây để
thuyết Pháp và lưu lại trong rừng cây nầy.
Từ đây đi về hướng đông bắc
hơn 500 dặm, đến nước Tát Tha Nễ
Thấp Phạt La.
8) Nước Tát Tha Nễ Thấp Phạt La, chu
vi hơn 7000 dặm. Đô Thành chu vi hơn 20 dặm.
Đất đai nơi đây dùng để cấy lúa. Khí
hậu ôn hoà, phong tục c̣n nguyên sơ. Nhà cửa pḥng
ốc cao sang, trang trí thật là xa hoa. Con người thích
sống an nhàn dùng ảo thuật để biến hoá. Làm
việc ít nhưng thu lợi nhiều, bởi v́ hàng hoá
đa phần từ các quốc gia khác mang tới. Có ba ngôi
Già Lam và hơn 700 Tăng Tín Đồ, hầu hết theo
Tiểu Thừa Phật Giáo. Có hơn 100 ngôi đền
thờ Ngoại Đạo. Dân chúng đa phần theo
ngoại đạo. Chu vi Thành lớn hơn 200 dặm.
Đây là đất lành. Nghe những bậc cổ
đức cho biết rằng ngày xưa ở Ấn
Độ có năm nước chia cho hai vua cai trị. Hai
bên chiến tranh nhưng không phân thắng bại. Cả hai
bên đều có âm mưu muốn chiếm đoạt
bằng vũ lực. Muốn chinh phục thiên hạ mà
quên đi phong tục cho nên người dân oán hờn không
tuân theo mệnh lệnh của Vua. C̣n Vua v́ dân chúng mà khó toan
tính như ban đầu. Thần có thể ở nơi
động vật và quyền bính có thể ở nơi
lập công.
Lúc bấy giờ, có một Phạm Chí trí dũng
tài cao, mật sai cho bó lúa rồi bảo đem vào sân sau, làm
những thư pháp để tàng chứa trong động
núi. Năm tháng trôi qua cây đă cong héo. Nhà vua một hôm vào
buổi sáng khi ngồi bảo cho các quần thần
biết rằng:
- Ta bây giờ không c̣n đức độ
để ở địa vị nầy nên trời đă
báo mộng và sắc chiếu thư đang giấu trong
núi. Nay hạ lệnh vào trong núi t́m kiếm thư ấy.
Các quan phải báo cho dân chúng biết. Ngoài ra cũng nên cho
mọi người xa gần biết được
đại ư rằng:
- Phàm biển sanh tử không có bờ bến, c̣n
sự trôi nổi th́ lại không cùng. Bất luận loài
nào, người nào cũng không phải tự nhiên mà sanh.
Nay ta muốn gửi mệnh lệnh nầy để
được ĺa xa các khổ ải.
- Vương thành nầy phải xây dựng cách
đây 200 dặm, chính tiên đế cũng đă tiên
đoán nơi đó là đất tạo ra phước
đức. Dù có ghi lại nhưng thời gian đă
hủy diệt. Sanh linh không biết nên ch́m đắm trong
biển khổ. Thế mà chẳng cầu cứu th́ làm sao được
ư.
- Các ngươi biết rằng những loài hàm
thức gặp nạn binh đao mà chết sanh lại làm
người. Giết nhiều không tội mà c̣n nhận
được phước báo của trời. Thuận cho
con cháu giữ ǵn kinh điển quí báu ngày xưa để
đem đến đất này tạo nên phước
đức vô cùng. Công ít mà phước th́ nhiều, có ǵ
gọi là thất lợi.
- Một khi mất thân nầy, đọa vào ba
đường khổ, làm sao các loài hàm linh có thể tu hành
được, mà những người nầy đều
là những chiến binh, đă thấy việc chết
rồi quay trở về.
Vua ra lệnh chiêu mộ các bậc dũng sĩ
cả hai nước đều giao chiến. Hai bên
chiến đấu người chết như rạ. Cho
đến bây giờ, mới thật sợ hăi mà
xương cốt đă chất cao, nên nước có
tục lệ tương truyền rằng đó là
phước địa.
Thành phía Tây bắc cách bốn dặm rưỡi,
có một Bảo Tháp cao hơn 400 thước do Vua A
Dục xây. Tháp có màu vàng màu đỏ, chiếu ra ánh sáng
thanh tịnh, trong đó có Xá Lợi của Như Lai
khoảng một đấu, thỉnh thoảng phát ra ánh
sáng rực rỡ.
Thành phía Nam đi hơn 100 dặm, đến Chùa
Cụ Hôn Trà đứng trơ trọi. Chùa Viện nằm
san sát nhau nhưng trơ trọi. Tăng chúng rất thanh
tịnh, uy nghiêm và nhàn nhă. Từ phía đông bắc nầy
đi hơn 400 dặm đến nước Tốt
Lục Cần Na.
9) Nước Tốt Lục Cần Na, chu vi sáu
ngàn dặm. Phía đông giáp sông Hằng. Phía bắc giáp núi
cao và giữa có sông Các Mâu Na. Đô Thành chu vi hơn 20
dặm, Phía đông sông Các Mâu Na, phần nhiều c̣n hoang vu
ít ai đặt chân đến. Đất đai phong
thổ tốt tươi như nước Tát Tha Nễ Thấp
Phạt La. Tánh t́nh dân chúng thuần hậu chất phác.
Họ tin theo Ngoại Đạo, tu Phước và Huệ.
Có năm ngôi Già Lam và hơn 1000 Tăng Sĩ. Đa phần
tu theo Tiểu Thừa thuộc Tiểu Tập Du Bộ.
Thường nghiên cứu huyền nghĩa của Luận
và t́m cầu so sánh với những luận khác. Có hơn 100
ngôi đền nhưng ngoại đạo rất đông.
Thành lớn ở phía đông của sông Cát Mâu Na, có một
ngôi Bảo Tháp do vua A Dục dựng. Ngày xưa Như Lai
đă từng trú ở đây để thuyết pháp
độ sanh. Có một ngôi Bảo Tháp nữa, trong đó
có thờ tóc và móng tay của Như Lai. Cũng có những
tháp nhỏ, thờ tóc và móng tay của ngài Xá Lợi
Phất, ngài Mục Kiền Liên và ngài La Hầu La, chung quanh
có hơn mười ngôi như thế.
Sau khi đức Như Lai diệt độ
rồi, nước nầy v́ ngoại đạo lầm
lẫn nên bị quở phạt. Họ tin theo tà pháp
tổn hại chánh kiến. Hiện tại có năm ngôi Già
Lam, nơi mà các luận sư nước ngoài tranh luận
cùng ngoại đạo Bà La Môn. Từ phía đông của
sông Cát Mâu Na đi hơn 800 dặm nữa, đến sông
Hằng. B́nh nguyên của sông rộng ba dặm tư. Phía
đông nam chảy vào biển rộng hơn 10 dặm. Nước
màu lóng lánh chảy xiết, nhiều quái vật nhưng
không hại. Nơi đây đất cát rất đẹp.
Tục lệ ở đây ghi lại rằng đó là
nước của Phước Đức. Cho nên ai có
tội xuống tắm th́ sẽ hết tội. Khi dầm
ḿnh xuống đó, tái sanh về cơi Phạm Thiên. Hài cốt
người chết nhúng xuống nước sông nầy,
hương hồn không bị đoạ vào Ác Thú. Sóng
nước đưa thần thức đầu thai. Lúc
ấy ở nước Chấp Sư Tử (Tích Lan
hiện nay), có Bồ Tát Đề Bà thâm chứng về
thật tướng của các pháp tánh, buồn
thương cho những kẻ ngu muội đă đến
đây bị ngoại đạo dụ dỗ, bảo
đàn bà và thiếu nữ tập họp lại thành
đoàn từ nơi bờ sông làm cho nổi sóng
nước. Bồ Tát Đề Bà dùng ánh sáng kéo đầu
họ lại cho nên ngoại đạo bảo rằng:
- Ta khác họ cái ǵ?
Bồ Tát đáp:
- Cha mẹ tôi và thân tộc đang ở tại
nước Chấp Sư Tử sợ khổ năo đói
khát cho nên mới đi xa.
Ngoại Đạo nói:
- Ta có ǵ sai đâu? chưa hề quên đi
việc làm đấy. Đất nước của Ta có
sông rộng có núi cao tạo nên nước nầy chung quy
để cứu mọi người khỏi đói
khổ. Đến nơi nầy để t́m cầu
như trước. Chẳng nghe như thế sao?
Bồ Tát Đề Bà đáp:
- Làm sao nước sông và núi kia cứu
được tội lỗi chất chồng?
Thời bấy giờ ngoại đạo nghe
xong cảm tạ cúi đầu thuận quy Chánh Pháp. Sau khi
hối cải, nguyện phụng tŕ Chánh Pháp. Sau khi qua sông
ở bờ phía đông đến nước Châu
Đệ Bổ La.
10) Nước Châu Đệ Bổ La, chu vi 6000
dặm. Đô Thành chu vi hơn 20 dặm. Dân chúng chuyên
về trồng lúa mạch, có nhiều hoa quả. Khí
hậu ôn hoà. Gió mưa đều đặn. Họ tôn sùng
học thuật, tin sâu tà chú. Cả chánh lẫn tà họ tin
như nhau. Nhà Vua thuộc ḍng Tuất Đạt La
chẳng hề tin kính Phật Pháp mà tin Phạm Thiên. Có
mười ngôi Già Lam, và hơn 800 Tăng Sĩ. Đa
phần tu theo Đại Thừa Giáo của Bộ Phái
Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ. Có hơn 50 ngôi
đền thờ, ngoại đạo sống tạp
nhạp với nhau.
Thành lớn phía nam đi hơn bốn dặm
rưỡi, đến một Già Lam nhỏ. Có hơn 50
Tăng Sĩ. Ngày xưa luận sư Cù Noa Bác Tà Bà
(Đức Quang) cũng ở tại nầy soạn ra Bàng
Chơn Đẳng Luận. Trong hơn một trăm
bộ phái, luận sư thuộc phái Tiểu Thừa
nhưng là người thông minh, tài giỏi, mẫn
tiệp, học nhiều, hiểu rộng và c̣n uyên bác
cả Giáo Lư Đại Thừa nữa. V́ đọc
Tỳ Bà Sa, nên Ngài tu theo Tiểu Thừa và sáng tác hơn mười
bộ luận, trở thành người chấp
trước Tiểu thừa, phản đối giáo
nghĩa Đại Thừa. Ngài c̣n soạn hơn
mười bộ Tục Thơ. Nhưng luận chứng
của Ngài không bài xích những bậc tiền bối mà
tư tưởng Giáo nghĩa Phật lư rất uyên áo,
đến hơn mười thể loại, không thể
diễn nói hết. Ngài c̣n nghiên tầm những tinh tuư và
những nghi vấn đă từ lâu chưa giải
quyết được.
Lúc ấy v́ có Đề Bà Tê Na (Thiên Quân A La Hán)
thường lên xuống cơi trời Đâu Suất, gặp
đức Di Lặc để thỉnh hỏi điều
nghi, cho nên Ngài cũng dùng thần lực lên đó, cầu
gặp đức Di Lặc. Thấy đức Di Lặc
từ xa nhưng ngài không vái chào. Rồi lại nghĩ
rằng đức Bồ Tát Di Lặc sẽ thành Phật,
sao ḿnh c̣n tự cao chưa đến kính lễ. Ḿnh
muốn thọ giáo mà lại không chịu kính phục. Ngài
Đức Quang lại nghĩ rằng Tôn giả
thường có những lời nói thành thật làm kim
chỉ nam, nhưng ḿnh là những đệ tử xuất
gia đă thọ giới Cụ túc làm Tỳ Kheo. C̣n ngài
Bồ Tát Từ Thị hưởng phước lạc
của chư thiên nhưng chưa xuất gia làm tăng
lữ. Ḿnh thi lễ e rằng không đúng oai nghi. Bồ Tát
biết rơ tâm ngă mạn của ta, và cũng biết
chẳng phải là pháp khí. Lên xuống ba lần như
thế nhưng chẳng giải quyết được
ǵ. Bèn thỉnh ngài Thiên Quân để lễ. Ngài Thiên Quân
biết rằng kẻ kia ngă mạn, nên không đối
đáp. Nhưng tâm của ngài Đức Quang chẳng
hề thối lui. Giận khởi lên, ngài vào rừng sâu tu
tập một thời gian chứng được
định tuệ, mới biết rằng ngă mạn
chưa trừ chẳng chứng được đạo
quả.
Phía bắc của chùa Đức Quang cách ba
dặm tư có một Đại Già Lam, có hơn 200
Tăng Sĩ. Họ đều học tập theo phái
Tiểu Thừa, ở nơi mà Ngài Chúng Hiền (Sangha
Bhadra) luận sư viên tịch. Luận sư là
người Ca Thấp Di La, thông minh lanh lợi từ lúc
c̣n thơ, cho nên đặc biệt nghiên cứu sâu Bộ
Luận Tỳ Bà Sa của Thuyết Nhứt Thiết
Hữu Bộ. Khi ấy có Bồ Tát Thế Thân phát tâm
xiển dương giáo điển cho thật minh bạch
nên soạn A tỳ đạt ma Câu Xá Luận để phá
Luận Tỳ Ba Sa với ư nghĩa thiện xảo, lư
lẽ thanh cao. Bộ Luận nầy làm cho ngài Chúng Hiền
xem qua lưu ư và phát tâm bỏ ra 12 năm nghiên cứu và
soạn Câu Xá Bạt Luận, có 25 ngàn bài tụng và hơn
800 ngàn lời. Ngôn ngữ thâm sâu cao xa vời vợi.
Rồi bảo với môn nhân rằng:
- Ta đem sức tàn mà soạn ra Chánh Luận
nầy, để phản bác tư tưởng của ngài
Thế Thân, không cho lăo già đó một ḿnh nêu danh trên
diễn đàn.
V́ vậy ông cho 43 người học tṛ mang
luận văn nầy đi t́m gặp ngài Thế Thân.
Lúc đó đang ở trong thành Xá Yết La
thuộc nước Lân Ca nghe tin đồn ngài Chúng
Hiền sẽ đến tra vấn, ngài Thế Thân
chuẩn bị hành trang. Học tṛ hoài nghi thưa với
Ngài:
- Đại sư là bậc đức cao,
hiền triết nổi danh đương thời, học
tṛ xa gần đều kính nể phục tài. Mà bây giờ
mới nghe tên Ngài Chúng Hiền đă lo lắng như
vậy? Chúng con mạnh lắm.
Ngài Thế Thân nói:
- Ta không biết tránh tên nầy ở đâu. Nh́n
cả nước, không có ai lịch lăm như kẻ
hậu học Chúng Hiền nầy. Nghe nói biện luận
rất lưu loát c̣n ta đă già rồi không thể luận
nữa. Nếu nói một lời sanh ra chấp
trước. Nên đưa họ đến miền trung
Ấn Độ đối chất với những vị
tăng khác, mới biết đúng sai, được
mất như thế nào.
Một ngày sau, luận sư Chúng Hiền
đến chùa nầy bỗng nhiên thần khí thay
đổi. Mang sách ra để trước mặt và
vọng nói tạ lỗi ngài Thế Thân rằng sau khi
Như Lai diệt độ, v́ các đệ tử chấp
trước bộ phái và truyền lại các môn học
trong phạm vi chuyên môn cho nên có sự khác nhau. Tuy cùng
gốc nhưng khác ngọn. Con là người ngu chưa rơ
cho nên tiếp tục soạn ra A Tỳ Đạt Ma Câu Xá
Luận để phá Đại nghĩa của luận
sư của Tỳ Bà Sa. Chẳng lượng sức ḿnh
nên đă nhiều năm nghiên cứu và soạn ra luận
nầy để phù trợ cho việc học chánh đáng.
Sự hiểu biết th́ ít, c̣n tham vọng th́ nhiều,
trong khi cái chết gần kề. Trong khi đó, những ǵ
Bồ Tát tuyên dương thật chí lư, chẳng chấp
vào có được của di văn, là điều hân
hạnh lắm có chết cũng chẳng hối
hận.
Các môn nhân cũng xin từ biệt mà thưa
rằng:
- Chúng con là kẻ hậu học mà khinh chê bậc
tiền bối, th́ số phận ra sao?
Nay các người v́ ta mang luận nầy và
thư nầy đến thay ta sám hối với Bồ Tát.
Họ nhận lănh xong rồi ra đi với thư ấy.
Khi đến nơi ngài Thế Thân ở thưa rằng:
- Thầy của chúng con là Chúng Hiền đă
xả thọ mạng và có dạy rằng mang thư
nầy đến để tạ lỗi, chẳng bỏ
sót tên tuổi mà cũng chẳng quên. Bồ Tát Thế Thân
xem xong luận rồi trầm ngâm một hồi lâu mà nói với
môn nhân rằng:
Luận sư Chúng Hiền là người hậu
học nhưng rất thông minh, lư luận tuy chưa
đủ nhưng chữ nghĩa th́ có dư. Nay ta muốn
bài bác Luận nầy của Chúng Hiền chỉ rơ cho minh
bạch cho đến chết cũng chưa xong. Quả
thật là lời rất khó, huống ǵ nhân duyên nghĩa
lớn c̣n tồn đọng lại sao. Và huống ǵ
luận nầy c̣n làm rơ tông phái của ḿnh cho nên ta chỉ
đổi thành Thuận Chánh Lư Luận là đủ.
Môn nhân mới thưa rằng:
- Thầy chúng con là Chúng Hiền mất chưa bao
lâu mà đă được Ngài sửa đổi luận
nầy, chúng con rất vui mừng nhận lănh.
Bồ Tát Thế Thân v́ muốn trừ nghi của
chúng, nên nói bài kệ rằng :
Như Vua Sư Tử
Heo thấy liền tránh
Hai lực hơn thua
Người Trí nên biết
Sau khi thiêu xong, hài cốt của Ngài Chúng Hiền
thờ trong Bảo Tháp cách chùa phía tây bắc hơn 200
dặm trong rừng Ám Một La đến bây giờ
vẫn c̣n tồn tại.
Từ phía rừng Ám Một La lại có một
Bảo Tháp, thờ nhục thân của luận sư Tỳ
Mạt La Mạt Đa La (Vô cấu Hữu Vimalamitra).
Luận sư là người của nước Ca Thấp
Di La. Ngài xuất gia với Bộ phái Thuyết Nhứt
Thiết Hữu Bộ, hiểu rộng các kinh điển
và nghiên cứu các luận khác. Ưa qua năm nước
của Ấn Độ để học Tam Tạng giáo
điển. Sau khi tu học thành tựu, Ngài trở về
lại quê hương của ḿnh. Trên đường
về, ghé Bảo Tháp của Ngài Chúng Hiền than rằng:
Nguỡng bạch luận sư, Ngài là bậc
thạc đức cao uyên, v́ hoằng dương Luận
nghĩa, đă tranh biện với bộ phái khác để
giữ tôn chỉ của Bộ Phái ḿnh. Sao ngài không sống
lâu nữa. Con không sợ mất mác nhưng buồn v́
chưa học được ǵ về những ư nghĩa
sai khác để thay thế cho những sự nhớ mong
về đức độ. Ngài Thế Thân tuy mất
nhưng Tông của ngài vẫn c̣n truyền, con đă
biết nên đă chế ra các Luận làm cho những
người học trong cơi Thiệm Bộ Châu này dù theo
Đại Thừa không c̣n nêu tên tuổi của Ngài Thế
Thân nữa.
Phát tâm nguyện, đă dụng hết khả
năng mà nói lên lời ấy, liền phát cuồng
loạn, máu từ năm căn tuôn ra, liền biết
mạng sống đă hết.
Cho nên trong thư có lời sám hối rằng:
Phàm là những ai theo Đại Thừa mà nói
về Thuyết cứu cánh của Phật Pháp, khi tên
gọi không c̣n nữa lư mới đến chỗ thanh cao.
V́ ngu muội mà khinh chê bài xích sự tiến bộ của
bậc tiền bối. Khi phước nghiệp đă
hết th́ thân nầy không c̣n nữa. Cho nên mọi
người học trong hiện tại, phải biết
rằng đừng nên sân hận mà phát chí cao sang, và chớ
nên hoài nghi.
Lúc ấy đại địa chấn
động, thân mệnh liền mất, rơi vào hầm
lửa, những người đi chung thiêu xác và tạo
tháp miếu để thờ. Lúc bấy giờ có vị A
La Hán thấy Tháp Miếu mà than rằng:
Thật là khổ thay thương thay, vị
luận sư nầy đă v́ sự chấp kiến, có
lời nói ác để hủy báng Đại Thừa mà
bị đọa vào Vô gián địa ngục.
Phía tây bắc của nước nầy có sông
Hằng. Bên cạnh phía đông có thành Ma Cốt La, chu vi
hơn 20 dặm. Những người ở đó
thường hay giao lưu với nhau chặt chẽ.
Nơi đây cũng sản xuất những đá thủy
tinh và đồ kim khí tốt. Rời khỏi thành chẳng
bao xa, gặp sông Hằng, bên cạnh đó có một
đền thờ rất linh hiển, mà ở trong có một
cái hồ có bờ đá bao quanh, lấy nước từ
sông Hằng vào và là cửa ngơ của năm nước
Ấn Độ. Sông nầy tức là sông sanh Phước
diệt tội. những người ở xa thường
hay đến đây hơn trăm ngàn người
để tắm rửa. Các vị vua có tâm từ
thường hay tạo những ngôi nhà từ thiện
để chứa thuốc men, bố thí chu cấp cho
những người cô độc. Từ phía bắc,
đi hơn ba trăm dặm, đến nước Bàng La
Hấp Ma Phố Ma.
11) Nước Bàng La Hấp Ma Phổ La, chu vi
hơn 4000 dặm, núi non bao bọc bốn bề. Đô
thành hơn 20 dặm. Người ở đây cũng
như nhà cửa rất giàu có. Đất đai dùng
để cày cấy và trồng trọt. Nơi nầy
sản xuất đá thủy tinh. Khí hậu ít lạnh, gió
mưa điều ḥa. Phong tục thuần hậu. Tuy
nghề nghiệp nhẹ nhưng nhiều lợi tức.
Tánh t́nh cộc cằn, cả tà lẫn chánh đều tin.
Có năm ngôi Già Lam, nhưng ít Tăng Sĩ. Có hơn
mười ngôi đền thờ. Ngoại đạo
sống chen chúc với nhau. Biên giới phía bắc giáp núi Hy
Mă Lạp Sơn. Ở trong đó có nước Tô Phạt
Sắc Nô Cô Đản La, nơi đây sản xuất vàng
rất nổi tiếng. Đông Tây dài. Nam Bắc hẹp,
tức là nước Đông Nữ, chỉ có những người
đàn bà trị quốc cũng như làm Vua. Họ
chẳng biết chánh sự là ǵ. C̣n đàn ông chỉ lo làm
ruộng. Đất đai trồng nhiều lúa mạch, có
nhiều gia súc như ḅ, ngựa. Khí hậu lạnh
lẽo. Nhân t́nh thô bạo. Phía đông giáp với
nước Thố Phan, Phía bắc giáp với nước
Vu Điền. Phía tây giáp với nước Tam Ba Ha. Từ
Vị Đệ Phổ La đi xuống phía Đông Nam
hơn 400 dặm gặp nước Cù Tỳ Sương
Na.
12) Nước Cù Tỳ Sương Na, chu vi
hơn 2000 dặm. Đô thành hơn 14.5 dặm. Dân cư
ở nơi đó thuần hậu. Chung quanh bao bọc
bởi núi cao. Rừng, núi và hồ ao liên tục với
nhau. Khí hậu và đất đai cũng giống như
nước Vị Đệ Bổ La. Phong tục thuần
chất, thích học hỏi, ưa làm phước. Đa
phần tu theo Ngoại Đạo, cầu cho hiện
tại được an vui. Có hai ngôi Già Lam và hơn 100
Tăng Sĩ, phần lớn tu theo phái Tiểu Thừa. Có
hơn 30 ngôi đền thờ. Những ngoại
đạo sống chen chúc với nhau.
Có một ngôi Già Lam ở ngoài thành lớn, trong
đó có Bảo Tháp, do Vua A Dục xây dựng nên, cao hơn
hai trăm thước. Như Lai ngày xưa tại đây,
mỗi tháng giảng Pháp một lần. Bên cạnh đó có
di tích của bốn vị Phật quá khứ tọa
thiền và kinh hành. Nơi đây cũng có hai cái Tháp thờ
tóc và móng tay của Như Lai, mỗi tháp cao một
trượng. Từ đây đi qua phía đông nam hơn
400 dặm, đến nước Ác Ê Chế Đản
La.
13) Nước Ác Ê Chế Đản La, chu vi
hơn 3000 dặm. Đô thành 17.8 dặm. Nơi nầy
hiểm trở. Họ trồng lúa mạch, có nhiều
rừng và suối. Khí hậu ôn ḥa. Phong tục thuần
chất, ngoan đạo, ham học, nhiều tài biết
rộng. Có mười ngôi Già Lam và hơn 1000 Tăng Sĩ
tu theo phái Chánh Lượng Bộ, thuộc Tiểu
Thừa. Có 9 ngôi đền thờ và hơn 300 ngoại
đạo. Họ tu theo Tự Tại Thiên và bôi tro vào ḿnh.
Phía bên ngoài thành, có ao rồng và có một Bảo
Tháp, do Vua A Dục xây. Nơi đây ngày xưa Như Lai
đă v́ Long Vương mà thuyết Pháp 7 ngày. Cạnh bên
đó cũng có bốn Bảo Tháp nhỏ, chính là nơi
bốn vị Phật trong quá khứ tọa thiền và kinh
hành. Từ đây qua phía đông đi hơn 267 dặm, qua
sông Hằng, đến nước Tỳ La Sắc
Noa.
14) Nước Tỳ La Sắc Noa chu vi hơn 2000
dặm. Đô thành hơn 10 dặm. Khí hậu và phong
thổ giống nước Ác Ê Chế Đản La. Phong
tục mạnh mẽ, con người hiểu biết
về nghệ thuật, sùng tín ngoại đạo ít kính
tin Phật Pháp. Có hai ngôi Già Lam, và 300 Tăng Sĩ tu theo phái
Đại Thừa. Có năm ngôi đền thờ
Ngoại Đạo sống hỗn tạp với nhau. Trong
thành lớn có chùa và có Bảo Tháp, cao hơn 100 thước,
do Vua A Dục dựng lên. Như Lai ngày trước ở
tại nơi đây thuyết kinh Uẩn Giới Xứ.
Phía nầy lại có di tích của bốn vị Phật
trong quá khứ đi kinh hành.
Từ đây qua hướng đông nam, hơn 200
dặm, đến nước Kiết Tỷ Tha.
15) Nước Kiết Tỷ Tha chu vi hơn 2000
dặm. Đô thành hơn 20 dặm. Khí hậu đất
đai cũng như nước Tỳ La Sắc Noa. Phong
tục thuần ḥa, người người ưa học,
có nhiều nghệ thuật. Có bốn ngôi Già Lam và hơn
1000 người tu theo phái Chánh Lượng Bộ thuộc
Tiểu Thừa. Có 10 đền thờ. Ngoại
đạo thờ Đại Tự Tại Thiên sống
hỗn tạp với nhau. Có một ngôi chùa lớn cách thành
phía tây hơn 20 dặm, có những bản kinh khắc
rất công phu và tôn tượng các vị Thánh cực
kỳ trang nghiêm. Có hơn 100 Tăng sĩ tu theo Chánh
Lượng Bộ và hơn 10 ngàn tịnh nhơn cư trú
nơi đây. Chùa rất lớn, thờ Tam Bảo bên trong
và ba bên đông nam bắc đều để trống.
Đây là nơi đức Như Lai từ cơi Tam Thập
Tam Thiên trở về. Ngày xưa đức Như Lai
từ rừng Tự Thắng để vào Thiên cung. Ngài
ngự nơi Thiện Pháp Đường thuyết Pháp cho
mẹ. Sau ba tháng muốn trở lại trần gian. Nên
Thiên Đế Thích mới dùng thần lực kiến
tạo một cái thang báu toàn bằng vàng ṛng, bên trái
bằng thủy tinh, bên phải bằng bạc trắng.
Đức Như Lai đă từ Thiện Pháp
Đường được chư thiên cung tiễn
đến thang lầu. Đại Phạm Vương tay
cầm cây phất trần màu trắng đứng chờ
ở đầu thang bên phải của thang lầu. Thiên
Đế Thích cầm bảo cái bằng thủy tinh
đứng chờ ở phía bên phải. Thiên chúng từ
hư không rải hoa báu cúng dường và tán thán công
đức của Phật. Trăm năm về
trước cũng chưa có ai được, và măi
đến bây giờ cũng không cùng tận.
Vua các nước nhớ Ngài cho nên ra lệnh làm
một trụ đá quư bằng trân bảo, ghi lại thang
báu ngày trước. Trụ nầy cao 70 thước. Bên
trên cùng khắc tinh xá, ở giữa khắc tượng
Phật. Hai bên phải trái khắc h́nh Phạm Thiên
Đế Thích để ghi nhớ nơi hạ thế
của đức Phật. Bên cạnh đó cũng có
một trụ đá do Vua A Dục xây cao hơn 70
thước màu sắc trong sáng. Phẩm chất chắc
chắn. Bên trên có h́nh đầu Sư Tử hướng
đến cầu thang và khắc những h́nh tượng
khác chung quanh trụ đá nầy. Tùy theo tội phước
của mỗi người mà ảnh của ḿnh hiện lên
trên trụ đá đó.
Bên cạnh trụ đá không xa, có một Bảo
Tháp. Nơi đây ghi lại dấu tích của bốn
vị Phật trong quá khứ tọa thiền và kinh hành.
nơi Tháp nầy, ngày xưa là nơi của Như Lai
tắm rửa. Tháp cũng là nơi Như Lai thiền
định. Bên cạnh Tháp có một tảng đá rất
lớn dài 50 bước, cao 7 thước. Đây là nơi
kinh hành của đức Như Lai, dấu chân của Phật
in xuống đó thành h́nh hoa sen. Hai bên tả hữu
đều có những tháp nhỏ do Đế Thích và
Phạm Vương kiến tạo nên. Phía trước tháp
của Phạm Thiên Đế Thích là nơi mà Tỳ Kheo Ni
Liên Hoa Sắc muốn thấy Phật trước, nên hóa
làm Vua chuyển Luân Vương. Khi Như Lai từ Tự
Tại Thiên Cung trở lại Nam Thiệm Bộ Châu. Lúc
đó ông Tô Bộ Thị (Thiện Hiện Tu Bồ
Đề) đang ở trong động đá suy nghĩ
rằng:
Nay Phật từ Thiên Cung trở về, nếu
đến đó nghe Phật thuyết Pháp th́ sẽ
biết được các Pháp Không và Tánh của các Pháp nên
dùng Huệ Nhăn để quán Pháp Thân của Phật. Tỳ
Kheo Ni Liên Hoa Sắc muốn thấy Phật trước
nên hóa làm Chuyển Luân Vương, có binh lính theo hầu
bốn bên, trải đường đi bằng bảy
báu, gặp đức Thế Tôn và thưa rằng:
- Con là Tỳ Kheo Ni.
Lúc ấy đức Như Lai bảo
rằng:
- Ngươi không phải là người đón ta
đầu tiên mà kẻ có duyên ấy là người quán
về Pháp Không nên thấy được Pháp Thân ta
trước.
Thánh tích nầy rất linh thiêng và được
lưu truyền như thế. Phía đông nam của
Bảo Tháp có một ao rồng được làm nên
để bảo vệ thánh tích, nhằm ngăn chận
những ai khinh phạm. Thời gian năm tháng tự tàn
hoại. Không ai có thể phá được. Từ đây
đi về phía đông nam ít hơn 200 dặm đến
nước Yết Nhă Cúc Xà (Kanjakubja).
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển bốn
Quyển thứ
năm
(6 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Yết Nhă Cúc Xà (Kanjakubja)
2. Nước A
Du Đà
3. Nước A
Dà Mục Khứ
4. Nước Bát
La Dà Dà
5. Nước
Kiều Thường Di
6. Nước Bi
Tác Ca
1) Nước Yết Nhă Cúc Xà (Kanjakubja), có chu vi
hơn 4000 dặm. Thủ đô bốn bên giáp với sông
Hằng. Chiều dài 20 dặm. Chiều ngang 4.5 dặm.
Thành được bao bọc rất kiên cố. Hoa trái cây
cối soi bóng xuống mặt hồ phản chiếu
như trong gương. Những nước phương xa
đem hàng hóa đến đây tụ tập buôn bán rất
nhiều. Người ở tại đây rất sung túc.
Nhà cửa giàu có. Hoa quả đầy đủ. Lúa
gạo dồi dào. Khí hậu ôn ḥa gió mát. Phong tục
thuần chất. Người dung mạo xinh đẹp,
trang sức lộng lẫy, học rộng, thích nghiên
cứu nghệ thuật, đàm luận cao siêu và sùng tín Tà
Chánh như nhau. Có hơn 100 ngôi Già Lam và 10 ngàn Tăng Sĩ
tu theo cả hai hệ phái Đại Thừa và Tiểu
Thừa. Có hơn 200 ngôi Đền thờ và hơn 1000
ngoại đạo.
Nước Yết Nhă Cúc Xà (Kanjakubja),
người dân sống lâu. Ngày xưa Vương Thành có tên
là Câu Tô Ma Bổ La (Kusumapura)và Vua tên là Phạm Thọ.
Phước Trí đầy đủ văn vơ song toàn, uy
hiếp xâm chiếm khắp nơi làm cho các nước lân
bang khiếp sợ. Vua có 1000 người con trai, mưu trí
dũng lược, và 100 người con gái tuyệt
thế giai nhân. Lúc bấy giờ có một vị tiên nhân
ngồi nhập định ở phía sông Hằng qua hàng
vạn năm thân h́nh như củi khô. Chim chóc tập trung
để ở, nơi quả A Na Luật trên vai ông tiên.
Mùa nóng qua, mùa lạnh đến đều không xao
động. Trải qua nhiều năm như thế mà
không muốn xả thiền, đi khỏi nơi nầy v́
sợ ổ chim bị động, cho nên người
đời cảm đức đặt tên là Đại
Thọ Tiên Nhơn. Một hôm ngồi trên bờ sông thấy
Vua và các công chúa đang đùa giỡn trong rừng, nên
khởi ái dục, sanh tâm nhiễm trước. Ngài muốn
đến Hoa Cung thi lễ. Vua nghe tin Tiên nhơn
đến vui vẻ nghinh tiếp và nói:
Đại tiên là bậc đứng ngoài t́nh
cảm nhưng tại sao bị khích động như
thế?
Tiên nhơn đáp:
- Ta ở trong rừng sâu lâu năm rồi. Khi
xuất định ra đi, th́ thấy vua và các công chúa xinh
đẹp đùa giỡn như thế, nên tâm đă sinh
nhiễm ái mà từ xa đến đây vậy.
Vua nghe như vậy rồi không biết làm sao nên
bảo Tiên nhơn rằng:
- Ngài hăy vui vẻ về rừng đi
đừng yêu cầu ǵ nữa.
Tiên nhơn trở về. Vua hỏi từng
người con nhưng không ai ưng thuận. Thấy Vua
bị Tiên nhơn uy hiếp mà lo sầu. Cho nên công chúa
nhỏ nhất của Vua liền thưa:
-Thưa Phụ Vương, Ngài đă có cả
ngàn thiên tử và đầy đủ chư hầu sao
lại ưu sầu lo lắng như thế?
Vua đáp:
- Đại Thọ Tiên Nhơn muốn cầu hôn
nhưng các chị của con không có ai đồng ư. Tiên
nhơn có uy lực rất lớn có thể gây nên binh
lửa. Nếu không thuận theo, ông ta giận dữ.
Nước ta bị diệt làm sao ăn nói với tiên
vương. V́ thế cha mới khổ tâm.
Cô công chúa nhỏ thưa rằng:
- Con xin phạm thượng làm để cha
bớt sầu lo. Con nguyện đem thân nhỏ bé của
con giúp nước trường cửu. Vua nghe như
thế rất hoan hỷ ra lệnh cho xe giá mang đi. Khi
đến chỗ ở của tiên nhân, nói lời cảm
tạ rằng:
- Tiên nhơn v́ t́nh nghĩa nầy xin ở bên
ngoài mà lo lắng cho thế gian. Nay xin gửi ấu nử
để hầu hạ.
Tiên nhơn thấy vậy chẳng vui bèn nói
với Vua rằng:
- Khinh lăo già nầy đến thế sao mà
gửi người chẳng đẹp ǵ hết.
Vua nói:
- Tôi đă hỏi qua các người con, nhưng
không có ai đồng ư, chỉ có ấu nữ nầy
nguyện hiến thân mà thôi.
Tiên nhơn giận dữ đọc tà chú và nói
rằng:
- Chín mươi chín công chúa kia chỉ trong giây lát
nữa ngực và lưng sẽ bị thương tổn
và suốt đời không kết hôn được.
Vua sai người chạy về xem xét, th́
đúng là lưng họ đă gù rồi. Cho nên từ đó
về sau người ta gọi đây là Thành những cô
công chúa gù.
Nhà Vua thuộc ḍng Phệ Xá gọi là Yết
Lợi Sa Phạt Đằng Na. Tại đây, Ba vua mà
chỉ hai đời thôi. Tên của Phụ Vương là
Ba La Yết La Phạt Đà La. Tên của Người Anh là
Yết La Bạt Đà La, Vua lấy Đức để
trị v́ nên được lâu dài.
Lúc bấy giờ phía đông Ấn Độ
nước Yết La Nô Tô Phạt Sắc La thiết lễ
để thưởng cho Vua. Cho nên có vị quan nói
rằng:
- Nước lân bang có vị Vua Hiền nhưng
lại là hiểm họa, nên dụ thỉnh đến
để hại. Khi Vua mất, th́ nước ắt
loạn.
Lúc bấy giờ Đại Thần Bà Ni chức
vị cao liền thưa rằng:
- Chỉ trong ngày hôm nay định kế cho
quốc gia. Con của Vua trước đă mất. Em
của Vua rất là nhơn từ. Thiên tánh hiếu kính nhân
tâm, xa gần đều thuận, mà muốn soán
được địa vị nầy th́ phải làm
thế nào, để cho mọi người quy nguỡng
cái đức mà không có sự dị nghị âm mưu.
Lại có vị Đại Thần khác khuyên
rằng:
- Vương tử cũng biết rằng tiên
vương tích công bồi đức làm cho nước
nầy ḥa b́nh cho nên khó mà giết Vua đó lắm. Ai trong
chúng ta có thể hy sinh mà ra tay. V́ nước mà không xấu
hổ tội lỗi với đời.
Hay điều đ́nh mà tựu trung vẫn sáng
cái Đức. Nếu chúng ta đến họ bàn việc
thân thù không xấu hổ với sự nghiệp của cha
ḿnh ngày trước. Công rất lớn mà Hạnh cũng
không sao kể hết.
Vương tử nói rằng:
-Việc nước vẫn là việc lớn
xưa nay đều khó. Địa vị của vua ở
nơi trừng phạt. Ta hôm nay thừa đức của
cha và anh để lại mà nắm giữ ngôi trời há có
thể dễ lắm ru. Điều đ́nh có thể sinh ra
sự nghi ngờ thiện chí không biết hư thật ra
sao cho nên ta sẽ đến bờ sông Hằng để
bạch lên tượng Bồ Tát. V́ tượng nầy có
nhiều linh nghiệm qua sự thỉnh cầu. Sau đó
liền đến nơi trước tượng Bồ
Tát nhịn ăn trong bảy ngày để cầu
thỉnh. Bồ Tát cảm ứng sự thành tâm mà hiện
ra nói rằng:
- Ngươi cầu ǵ mà thành tâm như thế?
Vương Tử đáp:
- Con thật là khó xử. Khi cha con mất có
dặn phải cáo phạt lân bang, trong khi đó anh con
lại thấy hại đến đạo đức.
Nhân dân tuy tôn trọng Vương quyền mà ánh sáng của
phụ thân về cơ nghiệp, làm sao khỏi bị trách
là ngu muội, khi mà trái Thánh Chỉ ấy.
Bồ Tát bảo rằng:
- Kiếp trước ngươi là vị Tỳ
Kheo tu ở núi rừng nầy rất là tinh tấn chưa
từng giải đăi. Nhờ phước đó nay
trở thành Vương Tử. Vua nước Kim Nhi đă
hủy hoại Phật Pháp, nay nếu muốn cho ngai vàng
được hưng long mà làm hoại ḷng từ bi và phá
nát đi t́nh thương ấy, chẳng bao lâu nữa, biên
giới của năm vua Ấn Độ muốn cho
đất nước được ḥa b́nh, phải nghe
lời ta mà sám hối. Nếu chẳng nghe, khó mà
địch nổi phước của lân bang. Chớ
vội lên ngồi ṭa Sư Tử, chớ vội xưng
Vương Hiệu.
Vương Tử nghe như thế xin lănh
thọ rồi lui. Sau khi lên ngôi, Vương Tử hiệu
là Thi La A Dật Đa. Lúc đó có vị đại
thần nói:
- Thù của anh chưa trả, nước kia
chưa phải là khách. Cho đến trọn đời
không đưa cơm bằng tay phải.
Mọi người đều đồng tâm
hiệp lực và toàn quốc chuẩn bị binh lính
chiến mă ngựa voi ứng chiến gồm có: 5000
thớt voi trận, 20 ngàn ngựa chiến, 50 ngàn bộ
binh. Từ phía tây bất thần thả quân chinh phạt
xuống phía đông, nhưng voi không buộc yên và
người không áo giáp. ṛng ră sáu năm trong năm
nước Ấn Độ. V́ đất đai rộng
cho nên phải tăng quân số lên đến 60 ngàn con voi
trận, 10 ngàn con ngựa chiến, đóng giữ biên thùy
30 năm mà chưa khởi chiến. Chính giáo ḥa b́nh v́
việc tu duỡng mà tiết kiệm vun bồi cây
phước đức để tưới tẩm món
ăn thiện cho mọi người, cho nên ra lệnh
năm nước Ấn Độ không được
ăn thịt. Nếu ai giết hại sinh mệnh, sẽ
bị tru di không người kế tự. Từ đó
ở sông Hằng kiến lập hàng ngàn Bảo Tháp.
Mỗi tháp cao hơn 100 thước. Và khắp nơi thành
ấp của năm xứ Ấn Độ đều cho
xây dựng chỗ ngồi Thiền. Tích trữ đồ
ăn thức uống cũng như thưốc men
để bố thí cho kẻ bần cùng và người cô
quả. Nơi Thánh tích cho lập chùa viện, và cứ 5
năm tổ chức một lần Vô giá đại
hội (thí thực). Xuất lương thực trong kho
để bố thí cho mọi người, duy chỉ
giữ lại binh khí không nên cho đi. Cứ mỗi năm
một lần cung thỉnh Sa Môn khắp nơi lại
để cúng dường tứ sự trong hai mươi
mốt ngày. Để trang nghiêm Pháp Ṭa và rộng mở trai
diên nên yêu cầu đàm luận với nhau để
biết cao thấp. Những người không có khả
năng th́ yên lặng, c̣n kẻ có giới hạnh
đạo đức nhuần thấm th́ được
cung thỉnh thăng ṭa thuyết pháp cho Vương tôn, công
tử thọ Pháp. Chỉ có giới đức thanh
tịnh mới có thể đối lại cái học
xưa nay, mà từ đó mọi người mới kính
lễ tôn sùng. Nếu Luật Nghi không có kỷ cương
th́ đạo đức bị chướng ngại.
Phải ra khỏi biên giới của quốc gia và
nguyện không bao giờ thấy lại.
Đối với nước lân bang, Tiểu
Vương cùng với một vị đại thần, v́
phước đức của quốc gia mà không nại khó
khăn sang cầu ḥa làm bạn, nhưng không nói một
lời khi đối mặt. Mọi viêc chỉ là nghe
lời Sắc Nghị giao hảo rồi về. Vua đi
thăm các tỉnh, không dừng lại ở đâu lâu.
Đi đến đâu cũng dừng lại để
tham thiền. Chỉ có mùa mưa ba tháng là không đi, c̣n
mỗi ngày đều đi như thế để khất
thực cùng với 1000 tăng chúng và 500 Bà La Môn. Mỗi ngày
chia ra ba thời, một thời lư luận về chính
trị c̣n hai thời khác làm phước tu thiện, không có
ngày nào, không làm đủ như thế.
Vua Câu Ma La Vương vừa phong vương
thỉnh ư rằng:
- Từ nước Ma Yết Đà đi qua
nước Ca Ma Lầu Ba, gặp Vua Giới Nhật
đang tuần du ở tại nước Yết Chư Ôn
Đệ La, ra lệnh cho Vua nước Câu Ma La nên báo cho
vị khách Sa Môn ở xa tại Na Lan Đà đến
đây phó hội. Tức th́ Vua Câu Ma La đến hội
kiến. Vua Giới Nhựt bảo rằng:
- Đến từ nước nào và mong muốn
điều ǵ?
Trả lời rằng:
- Từ nước Đại Đường
đến để cầu Phật Pháp.
- Nước Đại Đường là
nước ở đâu vậy? Đi bao lâu mới
đến đây?
Đáp rằng:
- Từ phía đông bắc hơn 10 ngàn dặm
của xứ Ấn Độ nầy th́ đến
được nước kia.
Vua nói:
- Ta thường nghe từ Ma Ha đến
nước kia th́ có Tần Vương thiên tử từ
nhỏ vốn đă hiên ngang uy vũ. Từ xưa đă
chinh phạt các nước khác, dấy binh chinh chiến
khắp nơi. Mà Tần Vương Thiên Tử sớm mong
cơ đồ đă dùng từ bi tế độ tất
cả chúng sanh, chinh phục năm châu bốn bể. Làn gió
ấy mang đức đến cai trị các phương
khác. Sau đó xưng Vương. Mọi người
được nhờ ân và có lời ca rằng:
- Tần Vương vui phá trận. Nghe
được lời xưng tụng, Đức
độ được thấm y. Người
người cũng vui lây:
- Người của nước Đại
Đường há có biết điều nầy là tà
chăng?
Đáp rằng:
- Khi đến đó đối trước
mặt Vua, th́ biết được tên nước.
- Đó là nước Đại Đường.
Nước ấy có Vua mà từ xưa nay ngôi vị
đươc gọi là Vua Tần, và bây giờ truyền
thừa cho đến ngày nay gọi là Thiên Tử. Thiên
Tử là người thay thế cho vận mệnh phía
trước đă xong v́ quần sanh không có người làm
chủ nên đă đem binh nổi loạn, cung tên làm
hại sinh linh. Vua Tần là Thiên Tử, dụng tâm từ mẫn,
uy phong lẫm liệt chưa bao giờ hết, tám
phương yên ổn, vạn nước triều
cống; trải ḷng thương đến muôn loài và sùng
kính Tam Bảo. Những kẻ có tội được
giảm. Dùng tục lệ của ḿnh để không bị
chôn vùi. Phong tục tập quán khó mà chuyển hóa th́
được bổ sung.
Vua Giới Nhựt bèn nói rằng:
- Tốt lành thay, nhân dân của nước kia,
thật là có phước nên cảm đến vua của
họ.
Sau đó Vua Giới Nhựt trở về lại
thành Khúc Nữ để thuyết Pháp Hội cúng
dường. Cùng đi với vua có hơn 10 vạn
người đến phía Nam bờ sông Hằng. C̣n Vua Câu
Ma La cũng đến với một vạn người
ở bờ sông phía bắc. Phân chia ḍng sông ở giữa
rồi hai bên cùng tiến. Hai vua cùng có bốn loại binh
lính rất nghi vệ. Hoặc dùng thuyền, hoặc
cỡi voi, đánh trống, thổi sáo. Trải qua 90 ngày
mới đến thành Khúc Nữ. Tại phía Tây của sông
Hằng, nơi giữa rừng Hoa, lúc bấy giờ các Vua
của hơn 20 nước cùng ra lệnh cho các Sa Môn
của nước họ cùng các Bà La Môn, quan quân
tướng sĩ đến tham dự Đại Hội.
Trước tiên nhà Vua cho xây dựng chùa ở phía Tây
của sông và phía đông cho dựng bảo đài quư báu, cao
hơn 100 thước, ở giữa có tượng
Phật bằng vàng lớn bằng thân Vua. Đài phía Nam,
dựng đàn tràng để tắm tượng Phật.
Ở phía Đông Bắc 14.5 dặm cho kiến tạo hành
dinh. Lúc ấy vào giữa mùa Xuân. Từ ngày 1 đến ngày
21 dùng những món ngon vật lạ để cho các vị
Sa Môn và Bà La Môn đến hành dinh và Già Lam để cúng
dường. Trên đường đi nhà cửa được
trang sức, người người vui vẻ và ở
đâu cũng nghe tiếng sáo thổi. Nhà Vua từ hành dinh
ra đi với một con voi vàng, con voi ấy cao
đến ba thước mang một cây cờ. Vua Giới
Nhựt mặc đồ Đế Thích. Tay trái cầm
Bảo Cái đứng chờ Vua Câu Ma La đă làm Nghi Lễ
cầu thỉnh Phạm Vương. Tay cầm phất
trần trắng đứng chờ bên phải. Mỗi bên
đều có năm trăm voi chiến và trước sau
đều có tượng Phật. Trên trăm voi đó các
nhạc công cỡi voi đánh trống và tấu nhạc.
Vua Giới Nhựt đă dùng hoa bằng vàng bạc và các
thứ trân châu quư giá rải khắp nơi để cúng
dường Tam Bảo. Đầu tiên đến Bảo
Đài để dâng hương và dùng nước
để tắm tượng. Nhà Vua cùng những
người cận thần đă gửi đến
bốn đăy các đồ trân quư kiêu sa, với số
lượng đủ trăm ngàn mà làm lễ cúng
dường. Lúc đó chỉ có hơn 20 vị Sa Môn
đến dự. Các Vua chúa hầu hạ cơm
nước xong, tập trung lại để học
hỏi đắn đo nói lời nhỏ nhẹ:
- Ngưỡng mong hiểu được Chân
lư
Khi mặt trời lặn trở về lại
hành dinh. Cứ như thế mỗi ngày cho voi Vàng ra đi
như ngày đầu cho đến ngày cuối cùng. Đài
lớn tự nhiên phát hỏa, Chùa Viện cũng lên khói.
Vua nói:
- Đă v́ tiên vương mà bỏ hết của
báu của quốc gia để kiến lập nên Già Lam
nầy, nhằm để ra khỏi nghiệp lực,
chưa có đủ đức và chưa có thần giúp, cho
nên lửa cháy mới khổ như thế này làm sao cứu
được sự sống nầy nên đốt
hương để bái thỉnh và tự thệ rằng:
V́ túc nghiệp làm thiện của các vị Vua Ấn
Độ đời trước nguyện cho phước
lực của tôi đầy đủ để diệt
được đám lửa cháy kia. Nếu không có sự
chiêu cảm ở nơi nầy th́ con sẽ bỏ mạng
đọa xuống địa ngục, như nghiệp con
sạch lửa sẽ tắt ngay.
Các vị Vua khác vây quanh nơi Đề Cù,
thấy nhan sắc không thay đổi không nói ǵ cả,
đoạn hỏi các Vua rằng:
- Nếu hỏa tai nầy cháy hết, trong tâm
của mọi người c̣n mong ǵ nữa không?
Các Vua phủ phục khóc lóc và nói rằng:
- Sự thành công để lại kỳ tích
truyền lại đời sau, c̣n nếu chẳng may
bị lửa cháy th́ c̣n ǵ mà để lại. Huống
nữa ngoại đạo c̣n khoái lên mặt. Vua bảo:
Hăy quán sát điều nầy như Như Lai
đă nói rơ chỉ có ngoại đạo mới chấp
Thường kiến, c̣n bậc Đạo Sư của
chúng ta chỉ rơ về Vô Thường, cho nên ta đă
xả bỏ các đàn nầy như chỗ tâm nguyện
đă cố ư, tùy theo đó mà biến diệt. Phải
hiểu rằng đó là chân lư như thật mà Như Lai
đă thuyết. Hăy biết rằng đó là điều
tốt chẳng có ǵ sầu bi cả.
Nơi đó các Vua ở phía đông leo lên các
Bảo Tháp để xem ở phía dưới đất
liền thấy có người mang dao đi về phía Vua.
Vua liền tiến tới giữ người ấy
lại và gọi các quan. Lúc bấy giờ các quan hoảng
hốt không biết cứu làm sao. Cho nên các Vua đ̣i
giết người ấy, nhưng Vua Giới Nhựt
mặt không đổi sắc ra lệnh đừng
giết.
Vua mới hỏi rằng:
- Ta phạm điều ǵ mà người làm
điều bạo ác như thế.
Kẻ ấy nói rằng:
- Đức của Đại Vương
nhuận khắp trong ngoài đâu có ǵ mà phạm. Tôi chỉ
là kẻ cuồng ngu chẳng có mưu kế sách
lược. V́ chỉ nghe lời ngoại đạo làm
kẻ nghịch hại thích khách.
Vua nói:
- Cớ sao ngoại đạo có ác tâm
nầy?
Kẻ ấy thưa:
- V́ Đại Vương đă tập họp
các nước, lấy của cải trong kho để cúng
dường cho Sa Môn, tạo tượng trang nghiêm, nên
ngoại đạo biết việc đó mà triệu
tập lại không ngại một kế nhỏ, trong ḷng
đầy xấu xa ra lịnh kẻ cuồng ngu nầy
làm việc dối trá hung dữ. Họ nghiên cứu và
hỏi các ngoại đạo khác gồm 500 Bà La Môn và các
Bậc Cao Đức đều đă được
triệu tập để phá các vị Sa Môn mà nhà Vua
thường kính lễ, ra lệnh bắn những tên
lửa vào các lễ đài nầy. V́ nguyên nhân cứu
lửa mà mọi người nổi loạn. Nhân cơ
hội nầy họ cho sát hại Đại Vương.
Nay tôi đă khỏi chết mà c̣n được nhà Vua
chiếu cố đến người đi hành thích.
Lúc bấy giờ các Vua khác và đại thần
yêu cầu chém Ngoại Đạo nầy, hoặc là
trừng trị kẻ làm ác để trừ khử và
đuổi 500 ngoại đạo và Bà La Môn ra khỏi
Ấn Độ hoặc cho về lại quê hương
của chúng.
Phía Tây bắc của thành có một Bảo Tháp, do
Vua A Dục dựng nên để ghi dấu ngày xưa
Như Lai đă thuyết Diệu Pháp 7 ngày và cũng là
nơi ghi lại dấu tích của bốn vị Phật
trong quá khứ đă đi kinh hành tọa thiền. Lại
có một Bảo Tháp thờ tóc và móng tay của Như Lai.
Phía Nam của tháp nơi đức Phật thuyết Pháp
giáp với sông Hằng lại có ba ngôi chùa cùng một
nơi nhưng khác cửa. Tượng Phật trang nghiêm.
Tăng chúng trang nghiêm ḥa hợp. Có hơn 1000 người
Phật tử. Trong tịnh xá có lưu giữ răng
của Phật dài một tấc rưỡi xưa,
thường phát ra ánh sáng và màu sắc, thay đổi vào
hai buổi sáng và tối. Hằng ngày có hơn trăm ngàn
người liên tục đến lễ bái tu học chiêm
nguỡng. Kẻ giữ ǵn nơi đó đă ra một
loại thuế lạ lùng cho mọi người xa gần
biết rằng muốn thấy được răng
Phật th́ phải bị thâu tiền. V́ vậy,
người chiêm bái phẫn nộ với các vị Tăng
Sĩ. Tiền bạc thuế má đă tạo cho họ
một sự cạnh tranh. Cho nên cứ mỗi buổi
trưa xá lợi được an trí nơi cao nhất
để trăm ngàn người có thể rải hoa cúng
dường. Hoa rơi chồng chất trên hộp
đựng răng không kể xiết. Hai bên phải trái
phía trước chùa đều có Tinh Xá, cao hơn 100
thước. Lấy đá làm pḥng, ở trong đó các
tượng Phật được trang nghiêm bằng
đồ trân bảo hoặc bằng vàng bạc, hoặc
bằng đá quư. Trước hai tinh xá nầy, nơi nào
cũng có một chùa nhỏ.
Không xa mấy phía đông nam của Già Lam nầy
lại có một đại tinh xá. Nền móng đều
bằng đá cao hơn 200 thước. Ở giữa có
tạo tượng đức Như Lai cao 30 thước,
làm bằng đá hoa cương, màu sắc rất
đẹp mắt. Chung quanh tinh xá, tường
được làm bằng đá từ dưới lên trên
điêu khắc chạm trỗ. Lúc Như Lai c̣n hành hạnh
Bồ Tát. Những sự tích như vậy, cũng
được khắc họa đầy vách.
Phía nam của tinh xá bằng đá đó không xa,
lại có một đền thờ mặt trời và phía
Nam của đền thờ này lại có một
đền thờ Đại Tự Tại Thiên, được
xây dựng bằng đá ngọc thạch xanh và chạm
trỗ rất tinh vi quy mô to lớn cũng giống như
tinh xá thờ Phật bên kia. Bên nầy cũng có một ngàn
người lo việc quét dọn. Trổi nhạc ca hát
suốt đêm.
Phía đông nam của đại thành 6.7 dặm
về phía Nam của sông Hằng có một Bảo Tháp
nữa cao hơn 200 thước do vua A Dục xây dựng.
Chính tại nơi đây ngày xưa đức Như Lai
đă thuyết pháp trong ṿng 6 tháng về sự vô thường,
khổ, không, bất tịnh của thân thể. Phía nầy
cũng là nơi ghi lại di tích kinh hành tọa thiền
của bốn vị Phật trong quá khứ. Lại cũng
có Bảo Tháp thờ tóc và móng tay của Như Lai.
Người nào có bịnh nặng trầm kha, thành tâm
đến đây đi lễ tháp bệnh kia nhờ
phước đức nầy sẽ được thuyên
giảm. Phía Đông Nam của đại thành đi hơn
200 dặm, đến thành Nạp Phược Đề Bà
Cự La, nằm bên phía đông của bờ sông Hằng,
chu vi hơn 20 dặm có rừng cây soi bóng trên hồ
nước phản ảnh chiếu sáng lung linh trông rất
đẹp mắt.
Phía tây bắc của thành Nạp Phược
Đề Bà Cự La là sông Hằng. Phía đông của sông
nầy có một đền thờ. Đền thờ
kiến trúc rất tinh vi đẹp đẽ. Phía đông
của thành 5 dặm có ba ngôi Già Lam cùng một nơi,
nhưng cửa đi lại khác. Có hơn 500 Tăng Sĩ,
tu theo phái Tiểu Thừa, thuộc Thuyết Nhứt
Thiết Hữu Bộ. Mặt trước của chùa
đi hơn 200 bước lại có một Bảo Tháp, do
Vua A Dục xây, nền móng vững chắc cao hơn 100
thước. Nơi đây ghi lại ngày xưa, đức
Như Lai đă thuyết pháp bảy ngày. Trong tháp ấy có
Xá Lợi, thường phóng ra hào quang và chính nơi đây
cũng là nơi ghi lại dấu tích và là nơi kinh hành
tọa thiền của bốn vị Phật trong quá
khứ. Phía bắc của chùa nầy cách 3.4 dặm, đến
bờ sông Hằng. Ở đó có một Bảo Tháp cao
hơn 200 thước, do Vua A Dục kiến tạo nên,
để ghi lại nơi đây ngày xưa đức
Như Lai đă thuyết Pháp bảy ngày. Lúc bấy giờ
có 500 Ngạ Quỷ đến nơi Phật thuyết
Pháp, sau đó giác ngộ bỏ thân quỷ mà được
sanh Thiên, bên cạnh Bảo Tháp Thuyết Pháp cũng là
nơi ghi lại dấu tích của bốn vị Phật
trong quá khứ kinh hành và tọa thiền. Nơi đây
cũng có Bảo Tháp thờ tóc và móng tay của Như Lai.
Từ đây đi về hướng đông nam hơn 600
dặm qua sông Hằng, phía Nam đến nước A Du Đà.
2) Nước A Du Đà, chu vi 5000 dặm. Đô
thành chu vi hơn 20 dặm. Nông nghiệp rất thịnh
hành. Hoa quả tốt tươi. Khí hậu ôn ḥa. Gió
mưa phong tục đều tốt đẹp.
Người thích tu phước, siêng năng học
tập. Có hơn 100 ngôi Già Lam, hơn 3000 Tăng Sĩ, theo
cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có 10
đền thờ và ít ngoại đạo. Bên trong thành
lớn có một ngôi chùa cũ có thờ đức Phạt
Tô Bán Độ (Vasubandhu) Bồ Tát (Thế Thân-Thiên Thân).
Ngài ở đây hơn 10 năm, để soạn ra các tác
phẩm Luận Nghị giữa Tiểu Thừa và
Đại Thừa. Tại nơi nầy ngày xưa cũng
là nơi mà Ngài Thế Thân Bồ Tát cũng v́ các vị
Quốc Vương ở bốn phương và các vị
Sa Môn, Bà La Môn mẫn tuệ, giảng nghĩa và thuyết
pháp nghị luận tại nơi đây. Phía bắc
của thành hơn 4 dặm rưỡi, giáp bờ sông
Hằng, nơi đây có một đại Già Lam, trong
đó có một Bảo Tháp cao hơn 200 thước do vua A
Dục dựng lên. Nơi đây là nơi mà Như Lai đă
v́ trời người, các loài thuyết Diệu Pháp trong
ṿng ba tháng. Nơi đây cũng có Bảo Tháp ghi lại
dấu tích của vị Phật trong quá khứ đi kinh
hành và tọa thiền. Già Lam phía Tây hơn 4.5 dặm, có
Bảo Tháp thờ tóc và móng tay của Như Lai. Phía bắc
của Bảo Tháp thờ tóc và móng tay, có một Già Lam, ghi
lại dấu tích của luận sư về kinh bộ
Thất Lợi Đa La (Thắng Thọ). Chính nơi
nầy Ngài đă chế ra kinh bộ Tỳ Bà Sa. Phía tây nam
của thành hơn 4.6 dặm có một rừng xoài trong
đó có một ngôi Già Lam cũ. Nơi đây là nơi mà
Bồ Tát A Tăng Già (Vô Trước-Asangha) đă v́ phàm phu
mà làm lợi ích. Một đêm Bồ Tát lên thiên cung gặp
Bồ Tát Từ Thị để thọ lănh Du Già Sư
Địa Luận và Trang Nghiêm Đại Thừa Kinh
Luận cũng như Trung Biên Phân Biệt Luận v.v....v́
đại chúng mà giảng thật cặn kẽ tất
cả những diệu lư nầy.
Phía Tây Bắc của vườn xoài hơn 100
dặm, có Bảo Tháp thờ tóc và móng tay của Như Lai.
Chính nơi nầy là nơi mà ngài Thế Thân Bồ Tát
đă từ trên cơi trời Đâu Suất hạ xuống
thấy được ngài Vô Trước Bồ Tát. Ngài Vô
Trước là người của nước Kiền
Đà La. Ngài sinh ra sau khi Phật diệt độ 1000
năm, rất thông minh lanh lợi, thấy biết và
gặp gỡ giáo Pháp Đại Thừa nên liễu ngộ
theo Di Sa Tắc Bộ (Mahisasaka) xuất gia tu học. Sau
đó, chuyển sang Đại Thừa v́ người em là
Thế Thân Bồ Tát đă xuất gia theo Thuyết Nhứt
Thiết Hữu Bộ mà hướng dẫn. Ngài là bậc
nghe rộng hiểu nhiều nhớ lâu học kỹ nghiên
tầm chín chắn. Người em của ngài Vô
Trước là Phật Đà Tăng Hà (Buddhasimha Sư
Tử Giác) ngài tu về Mật Hạnh. Những
người học rộng tài cao đều nghe tiếng.
Có hai ba hiền triết mỗi lần gặp Ngài
đều nói:
Phàm những người tu Mật Hạnh
nguyện cận kề bên đức Di Lặc liền
được tùy tâm và có thể biết được
nơi mà ḿnh sắp đến. Sau đó ba năm, Ngài
Sư Tử Giác sẽ bỏ thọ mạng nhưng không
báo tin. Ngài Thế Thân Bồ Tát mới t́m đến nơi
xả bỏ báo thân trải qua 6 tháng liền, nhưng
cũng chẳng thấy đầu thai. Ở các nơi
đạo khác cũng đều không có tin tức. V́
thế ngài Thế Thân Bồ Tát nghi rằng Sư Tử
Giác đă lưu chuyển ác thú đọa vào chỗ Vô Linh
Gián (Địa Ngục). Kế đó ngài Vô Trước
Bồ Tát trong canh đầu của một đêm, đang
dạy Thiền cho Tăng chúng, bỗng nhiên ánh sáng từ
cây đèn phụt lên trên hư không, nơi đó có một
vị tiên từ trên hư không đi xuống, đến trước
thềm kính lễ ngài Vô Trước. Ngài Vô Trước
hỏi:
- Ngài từ đâu đến và tên là ǵ?
Người kia đáp:
- Sau khi xả bỏ thọ mệnh, tôi
được sanh lên cơi trời Đẩu Suất, sanh
vào trong hoa sen nơi đức Từ Thị. Khi hoa sen
nở đức Di Lặc tán thán rằng: Lành thay
người có trí. Lành thay người có trí. Ông đă đi
đến đây là xả bỏ thọ mệnh.
Vô Trước Bồ Tát hỏi:
- Ông có gặp Sư Tử Giác ở đâu
không?
- Khi tôi đi nhiễu th́ thấy Sư Tử Giác
ở ngoại viện đang mê đắm hoan lạc,
không đoái hoài ǵ đến báo thân thọ mệnh.
Bồ Tát Vô Trước hỏi:
- Thật như vậy sao? Ông có gặp
đức Di Lặc không? Ngài đang thuyết Pháp ǵ
vậy?
- Có gặp, Ngài bảo chưa nên nói và đang
diễn thuyết Diệu Pháp giống hệt như ở
đây. Tiếng của Bồ Tát Diệu Âm thanh tao ḥa nhă,
nghe không mệt, nhận không chán.
Phía bên tây bắc của giảng đường
Vô Trước hơn 40 dặm đến một ngôi chùa
cổ, phía bắc giáp với sông Hằng, ở giữa có
một Bảo Tháp rộng lớn cao hơn 100 mét. Đây là
nơi mà ngài Thế Thân Bồ Tát sơ phát Đại
Thừa tâm. Ngài Thế Thân Bồ Tát từ bắc Ấn Độ
đến nơi đây. Lúc ấy ngài Vô Trước
Bồ Tát bảo môn nhân ra nghinh tiếp. Khi đến Già
Lam nầy, gặp gỡ và hội kiến với nhau.
Đệ tử Vô Trước dừng ở phía ngoài
cửa pḥng vào ban đêm tụng kinh Thập Địa,
ngài Thế Thân nghe rồi, cảm động giác ngộ và
hối hận. Giáo Pháp thậm thâm vi diệu từ xưa
đến nay chưa từng nghe qua. Sự phỉ báng
trước đây phát xuất từ lưỡi nầy,
mà lưỡi nầy là tội căn bản cho nên ta
muốn cắt đi. Liền cầm dao lên và muốn
tự cắt lưỡi. Lúc đó thấy ngài Vô
Trước đến và bảo rằng:
Phàm muốn cho giáo lư Đại Thừa
được tuyên dương mà chư Phật tán thán,
chư Thánh đệ tử ca ngợi. Ta muốn sự
hối quá của ông nên tự hiểu biết, mà sự
hiểu biết đó không có ǵ hơn là dùng lưỡi
nầy để phù trợ Thánh Giáo Đại Thừa
chớ không nên cắt lưỡi. Trước đây
lưỡi nầy hủy báng Đại Thừa th́ bây
giờ chính cái lưỡi đó nên tán thán Đại
Thừa. Điều ấy có phải là một sự thay
đổi tốt đẹp hơn không. Ngậm miệng
im lời th́ lợi ích hơn. Khi nói lời ấy xong
rồi th́ chẳng thấy đâu nữa. Ngài Thế Thân
theo lời dạy ấy chẳng cắt lưỡi mà tiếp
thọ Giáo Lư Đại Thừa. Từ đó nghiên cứu
tinh chuyên tư tưởng để chế ra Đại
Thừa Luận có cả trăm bộ như thế
để tuyên dương Pháp nầy. Từ phía đông
hơn 300 dặm đi qua sông Hằng đến phía
bắc, gặp nước A Dà Mục Khứ.
3) Nước A Dà Mục Khứ, chu vi 2450
dặm. Đô thành tiếp giáp với sông Hằng chu vi
hơn 20 dặm. Khí hậu và phong thổ nước
nầy giống như nước A Du Đà. Nhân t́nh
thuần hậu. Phong tục chất phác. Siêng năng
học tập và làm phước bố thí. Già Lam có năm
cảnh và Tăng tín đồ hơn 1000 người.
Họ học theo phái Tiểu Thừa Chánh Lượng
Bộ. Đền thờ có 10 ngôi. Ngoại Đạo
sống hỗn tạp.
Phía đông nam của thành không xa, th́ gặp sông
Hằng. Bên bờ sông có một Bảo Tháp do Vua A Dục
dựng nên cao hơn 200 thước. Nơi đây là nơi
ghi lại đức Như Lai ngày xưa thuyết pháp ba
tháng. Ở tại phía đây cũng có di tích ghi lại
nơi tọa thiền và kinh hành của bốn vị
Phật trong quá khứ. Nơi đây cũng có Bảo Tháp
bằng đá để tôn thờ tóc và móng tay của
Như Lai. Tăng Già Lam nầy có hơn 200 người.
Họ trang sức tượng Phật rất uy nghiêm
tự tại. Có nhiều nhà cửa rộng răi bên cạnh.
Đây là nơi ngày xưa Phật Đà Đà Bàn (Giác
Sử) luận sư đă chế ra Đại Tỳ Ba Sa
Luận thuộc Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ,
từ đây qua phía đông nam đi hơn 700 dặm qua
sông Hằng và tiếp đến là sông Diêm Mâu Na,
đến phía bắc, gặp nước Bát La Dà Dà.
4) Nước Bát La Dà Dà, chu vi hơn 5000 dặm.
Đô thành nằm hai bên sông giao nhau. Chu vi hơn 20 dặm.
Họ sống bằng nghề trồng trọt lúa và hoa
quả. Khí hậu ôn ḥa. Phong tục tập quán hiền
lành, ham học nghề nghiệp, tin theo Ngoại
Đạo. Có hai ngôi Già Lam, ít Tăng Sĩ. Họ tu theo
phái Tiểu Thừa, Có hơn 100 ngôi đền. Ngoại
Đạo sống hỗn tạp. Phía tây nam thành lớn,
ở giữa rừng cây Bát Ca Hoa, có một Bảo Tháp do
Vua A Dục dựng lên.
Tháp nầy cao hơn 100 thước, nơi
đây ghi lại ngày xưa đức Như Lai đă hàng
phục ngọai Đạo. Bên cạnh đó có tháp thờ
tóc và móng tay của Như Lai, cùng nơi kinh hành và nhiễu
Phật.
Bên cạnh Tháp thờ tóc và móng tay, có một ngôi
chùa cũ. Nơi đây ngài Đề Bà (Thiên Thọ)
Bồ Tát đă tạo ra Quảng Bách Luận. Nhằm
khuất phục Tiểu Thừa và hàng phục Ngoại
Đạo. Đầu tiên Đề Bà Bồ Tát
đến ở chùa nầy. Ở trong thành có nhiều
Ngoại Đạo Bà La Môn. Họ là những bậc
luận sư biện tài vô ngại. Khi nghe đến tên,
không thể không biết đến được tuy
họ biết ngài Đề Bà là người nghiên cứu
sâu về áo nghĩa của kinh điển. Họ vẫn
muốn luận đạo với ngài, lại hỏi
về tên tuổi.
- Ông tên ǵ?
Đề Bà đáp:
- Tên là Trời
Ngoại Đạo hỏi:
- Trời là ai?
Đề Bà đáp:
- Là Ta
Ngoại Đạo hỏi:
- Ta là ai?
Đề Bà đáp:
- Là con Chó
Ngoại Đạo hỏi:
- Chó là con nào?
Đề Bà đáp:
- Nhà Ngươi
Ngoại Đạo hỏi:
- Nhà Ngươi là ai?
Đề Bà đáp:
- Là Trời
Ngoại Đạo hỏi:
- Trời là ai?
Đề Bà đáp:
- Là Ta
Ngoại Đạo hỏi:
- Ta là ai?
Đề Bà đáp:
- Là Chó
Ngoại Đạo hỏi:
- Ai là Chó?
Đề Bà đáp:
- Là Ngươi
Ngoại Đạo hỏi:
- Ngươi là ai?
Đề Bà đáp:
- Là Trời.
Cứ như thế mà hỏi qua đáp lại.
Ngoại Đạo bèn ngộ, tự ḿnh cung kính thâm sâu
về phong cách đó. Trong thành có đền thờ, trang trí
cực kỳ linh động đẹp đẽ. Theo
những điển tích biết được nơi
nầy chính là nơi chúng sanh gieo trồng phước
đức rất nhiều. V́ đă cúng dường cho
đền thờ một quan tiền và với công
đức đó đă trở thành một ngàn đồng
tiền thí. Lại cũng có người không tiếc thân
mệnh dứt bỏ sanh mạng của ḿnh trong
đền thờ, sẽ thọ được
phước báo cơi trời vô cùng tận.
Phía trước đền thờ có một
cội cây rất lớn. Cành lá sum sê bóng mát che phủ kín
cho nên đó cũng là chỗ ăn ở nương
nhờ của người và quỷ. Hai bên tả hữu
có rất nhiều di cốt của những người
đă bỏ mạng tại đây. Bởi v́ nghe theo tà thuyết
và những lời dụ dỗ của thần linh.
Chuyện dụ dỗ cho đến nay vẫn c̣n chưa
thay đổi.
Gần đây, có con cháu của những
người Bà La Môn, tên là Hoát Đạt Đa, trí tuệ
mẫn tiệp, đến ở trong đền thờ
nầy mà bảo mọi người rằng:
- Phàm những tục xấu xa xưa kia rất
là khó bỏ, nhưng bây giờ trở đi ta muốn
nhiếp hóa, để người trên kẻ dưới
được lợi lạc.
Ông nói tiếp:
- Ta đă chết rồi. V́ ngày xưa hay nói
dối nhưng bây giờ th́ nói thật. Chư thiên vui
mừng tiếp dẫn ta về hư không. Từ cảnh
giới ấy thấy những h́nh ảnh bên dưới bị
tổn hoại sai trái, nên muốn về trở lại
để tự thú và đảnh lễ. Người quen
của ta đă cản ngăn, nhưng ư chí không thay
đổi.
Bèn dùng y phục bao gốc cây lại rồi th́
tự ḿnh đảnh lễ sát đất. Hồi lâu
tỉnh lại nói rằng:
- Tuy thấy trên không trung có chư thiên triệu
thần nhưng đó là một tà thần dẫn nhập
nên không nhận được phước lạc của
chư thiên.
Đại Thành ở phía đông nằm hai bên con
sông giao nhau rộng độ mười dặm
đất đai hẹp, cát bồi nhiều .Từ xưa
đến nay là nơi xuất thân của Vua chúa. Cho nên
từ nơi đây bố thí chưa ngừng nghỉ chu
cấp bất kể số lượng và nơi chốn.
Hiện tại vua Giới Nhựt đă tu hạnh bố
thí rất là quảng đại, đem tài sản tích
lũy trong 5 năm chỉ cho một ngày là hết. Ở
nơi phát chẩn có nhiều vật giá trị. Phần
đầu trong ngày ấy có để một tượng
Phật lớn và các báu vật khác rất trang nghiêm và
bắt đầu cho những của cải quư giá
trước, sau đó đến thường trụ
tăng và sau nữa là hiện tiền chúng. Tiếp nữa
là những bậc cao đức thạc học hiểu
rộng biết nhiều, thứ nữa là ngoại
đạo và những luận sư của ngọai
đạo, tiếp theo là những người cô
độc nghèo khổ, tiếp nữa là những kẻ
giá áo túi cơm v.v... tất cả đều nhận được
những đồ trân quư cho đến thực phẩm,
cứ như thế mà phát chưa bao giờ cùng, nhưng
kho của nhà vua th́ đă hết. Nhà vua liền lấy
hạt minh châu trong búi tóc ra, toàn bằng anh lạc. Sau
đó tiếp tục cho mà trong tâm không có ǵ hối hận
cả và tự nói rằng: Lành thay những ǵ mà ta có hăy cho
vào trong tàng kim cang bền chắc. Từ nay về sau,
nếu có các Vua của nước khác đem hiến
tặng những đồ trân quư th́ đừng lấy mà
đem cất vào trong kho đó.
Nơi phía đông của chỗ bố thí là
cửa ngơ của hai con sông giao nhau. Mỗi ngày có hàng
trăm người tự dầm ḿnh chết theo tục
lệ ở đó v́ cầu sanh vào thiên giới. Ở
nơi nầy họ không ăn ǵ hết mà tự trầm
ḿnh tắm rửa trong ḍng sông đó để tội
dơ được tiêu diệt, mà theo tục lệ
của nước kia từ xưa đến nay chưa
dừng nghỉ. Họ không ăn trong bảy ngày như
thế và sau đó tự giết ḿnh. Cho đến
những con thú núi rừng cũng vân tập bên bờ sông
hoặc lặn hụp trong đó hoặc nhịn ăn mà
chết. Đây là nơi mà vua Giới Nhựt chẩn thí
rất nhiều. Có một con khỉ ở bên bờ sông,
ngồi dưới gốc cây tuyệt thực qua nhiều
ngày như thế đói mà chết. Ở đây những
người ngoại đạo tu khổ hạnh
thường hay đứng bên bờ sông để chờ
mặt trời lên rồi một tay một chân đưa
sát nhau và tay khác chân khác giữ nguyên vị trí cũ.
Đứng một chân như vậy chẳng nhúc nhích
mắt không rời, quán mặt trời qua bên trái cho
đến tối mới buông xả, những người
như thế nầy nhiều vô cùng. Họ nghĩ rằng
siêng năng hành tŕ khổ hạnh như thế mới xuất
ly sanh tử. Hoặc có người thực hành như
thế hơn 10 năm không giải đăi. Từ đây qua
phía tây nam vào trong khu rừng lớn, có ác thú và voi dữ qua
lại rất nhiều. Nếu người đi không
đông th́ khó mà qua được. Đi hơn 500 dặm,
đến nước Kiều Thường Di.
5) Nước Kiều Thường Di chu vi hơn
6000 dặm. Đô thành hơn 30 dặm. Đất đai
màu mỡ, lợi tức rất nhiều. Họ cấy lúa
và có trồng nhiều mía. Khí hậu nóng. Phong tục
tập quán thuần ḥa, ưa học nghề nghiệp và
thích làm phước thiện. Có hơn 10 ngôi Già Lam, đa
phần bị hoang phế. Có hơn 300 Tăng Sĩ tu theo
Tiểu Thừa. Đền thờ hơn 50 ngôi. Ngoại
Đạo sống tạp nhạp. Trong thành nội
thuộc cố cung có một tịnh xá lớn cao hơn 60
thước có khắc tượng Phật bằng
trầm, bên trên có một Bảo Cái toàn bằng đá. Vua
Ổ Đà Diễn Na đă tạo nên tượng ấy
h́nh dáng rất đẹp đẽ trang nghiêm. Ánh sáng quang
minh rực rỡ mà các Vua nước khác đă ỷ
lại vào sức lực nên muốn chiếm đoạt.
Tuy rằng có nhiều người nhưng chưa ai có
thể di chuyển được. Khi thành tâm cúng
dường lời nói chân thật sẽ được
giữ nguyên tức là tượng nầy vậy. Sau khi
Như Lai thành Chánh Giác rồi, Ngài thăng thiên cung
để thuyết pháp cho mẹ ba tháng không trở lại,
vị Vua nầy nguyện đúc tượng Phật cho
nên mới thỉnh Tôn Giả Một Đặc Già La
Tử (Mục Kiền Liên) dùng thần thông lực
để đón tiếp công nhân từ thượng
giới về, quán thân của đức Như Lai
để làm tượng bằng gỗ Bạch Đàn. Khi
đức Như Lai từ cơi Tự Tại Thiên cung trở
về, tượng khắc bằng Bạch Đàn tự
nhiên đứng lên nghinh tiếp Thế Tôn và vấn an
Thế Tôn rằng:
- "Ngài giáo hóa có mệt không? Ngài khai đạo
cho đời sau có khác ǵ không?
Ở phía đông tịnh xá cách hơn 100
bước, có một nơi ghi lại dấu tích của
bốn vị Phật trong quá khứ đă ngồi
thiền và kinh hành. Từ đây không xa, có một cái
giếng và pḥng tắm của Như Lai. Giếng đă
hư rồi, c̣n pḥng tắm đă hoại rồi. Trong
thành phía đông nam c̣n dấu tích của một nền nhà
là nơi của trưởng giả Cù Sử La (Ghosira)
cư ngụ. Trong đó cũng có một tịnh xá và
một bảo tháp thờ tóc cũng như móng tay của
đức Phật. Lại cũng có nơi ghi lại
chỗ tắm của đức Phật.
Phía đông nam của thành không xa, có một ngôi Già
Lam cũ. Đây là vườn nhà cũ của ông Cù Sử
La, giữa đó có một Bảo Tháp do Vua A Dục xây
dựng cao 200 thước. Như Lai đă thuyết pháp
nhiều năm ở đây. Tại đây cũng có
dấu tích ghi lại nơi kinh hành và ngồi thiền
của bốn vị Phật trong quá khứ. Lại
cũng có Bảo Tháp thờ tóc và răng của đức
Như Lai. Già Lam phía đông nam, có một viện Bảo
Tàng. Nơi đó là nơi mà ngài Thế Thân Bồ Tát đă
ở, soạn ra Luận Duy Thức để bài bác
Tiểu Thừa cũng như để vấn nạn
Ngoại Đạo. Phía đông của Già Lam có một
vườn xoài. Nơi đây cũng là nơi ghi lại di
tích của Ngài Vô Trước soạn ra Hiển
Dương Thánh Giáo Luận. Phía tây nam của thành đi tám
dặm chín, đến động đá Độc Long,
nơi đây đức Phật đă hàng phục con
Rồng dữ, bên trong c̣n lưu ảnh lại, nhưng
đó chỉ là truyền thuyết, bây giờ không thấy
nữa. Phía bên nầy cũng có một Bảo Tháp do Vua A
Dục xây dựng cao hơn 200 thước, bên cạnh là
di tích Như Lai đi kinh hành và có Bảo Tháp thờ tóc và
móng tay của Như Lai. Những người nào có bệnh
đến đây cầu nguyện đa phần được
linh ứng. Khi giáo pháp của đức Như Lai diệt
tận nước nầy là nơi sau cùng. Trên từ quân
vương, dưới đến thứ dân khi vào biên
giới nước nầy tự nhiên cảm thương,
chẳng muốn ăn uống khóc lóc ta thán rồi trở
về.
Phía đông bắc của hang rồng kia là
rừng rậm, cách hơn 700 dặm là sông Hằng. Phía
bắc đến thành Ca Xà Bố La, chu vi hơn 10 dặm.
Mọi người giàu có, bên cạnh thành có một ngôi Già
Lam, nhưng không c̣n vết tích ǵ cả. Nơi đây
cũng là nơi mà ngày xưa Bồ Tát Hộ Pháp hàng
phục Ngoại Đạo. Tiên Vương của
nước nầy đă trợ giúp cho tà thuyết muốn
hủy báng Phật Pháp sùng kính Ngoại Đạo.
Ngoại Đạo đă triệu thỉnh một vị
luận sư thông mẫn cao minh đạt lẽ u
huyền soạn Ngụy Tà Thư hơn ngàn bài tụng và
ba vạn hai ngàn lời, để hủy báng Phật Pháp,
xiển dương đạo giáo của họ. Vua
cũng có lệnh triệu tập tăng chúng nơi đây
để biện luận. Nếu Ngoại Đạo
thắng, th́ hủy bỏ Pháp của Phật. Nếu chúng
tăng không thua, họ tự cắt lưỡi để
tạ lỗi. Lúc bấy giờ tăng đồ sợ
thua nên mới bàn rằng: Có lẽ mặt trời trí
tuệ đă ch́m rồi cho nên Pháp Phật bị hủy
diệt thế nầy. Nhà Vua sùng kính Ngoại Đạo
làm sao chúng ta thắng được. Sự việc đă
như vậy th́ có kế ǵ được an ổn
chăng? Trong chúng ai cũng làm thinh. Ngài Hộ Pháp Bồ Tát
từ thưở nhỏ đă là bậc biện tài vô
ngại, đa văn xa gần ai cũng biết, cho nên
đại chúng đề nghị và bảo rằng:
- Sao chúng ta không cầu thỉnh Ngài để
đối lại sự tuyên bố của Vua. Nếu
họ thắng được, họ sẽ cao ngạo,
c̣n ḿnh bị thua th́ sẽ bị nhổ răng. Trong chúng
tiến thối luỡng nan không ai đáp được
cả, cho nên mới cung thỉnh Ngài, tùy theo cách mà đáp
ứng lệnh Vua.
Lúc đó, Ngài liền thăng ṭa để
luận bàn. Ngọai Đạo dương dương
tự đắc ngữa mặt lên trời tụng
đọc những sở chấp của dị luận.
Khi ngài Hộ Pháp Bồ Tát nghe những lời nầy
liền cười mà nói rằng:
- Ta được thắng chưa? Ta sẽ
đọc ngược lại cho các ngươi nghe và ta
tụng ngược tất cả.
Ngoại Đạo tái mặt và nói rằng:
- Chúng con không dám tự cao và xin tận lănh ư
của Ngài và Ngài là người thắng cuộc rồi
đấy!
Đúng như ư nghĩa đă giao kết, Ngài
Hộ Pháp nghe và thuật lại ư nghĩa của câu
văn, chương cú lư luận, chẳng sai và sót một
chữ nào. Khi Ngoại Đạo nghe xong liền muốn
tự ḿnh cắt lưỡi. Ngài Hộ Pháp nói rằng:
Cắt lưỡi chẳng phải là điều
để tạ lỗi, mà sửa đổi những
điều chấp trước đó mới là
điều hối cải, liền sau đó, Ngài thuyết
pháp, tâm ư của Ngoại Đạo được tỏ
ngộ chân lư. Vua bỏ Tà Đạo, tôn sùng Chánh
Đạo.
Bên cạnh nơi hàng phục Ngoại Đạo
của Ngài Hộ Pháp, có một Bảo Tháp do Vua A Dục
xây. Bây giờ đă nghiêng đổ, cao hơn 200 mét.
Đây là nơi Như Lai ngày xưa đă từng thuyết
pháp sáu tháng. Bên cạnh đó là di tích nơi kinh hành, cũng
như Bảo Tháp thờ tóc và móng tay của Như Lai.
Từ đây đi qua phía bắc hơn 178 dặm
đến nước Bi Tác Ca.
6) Nước Bi Tác Ca chu vi hơn 4000 dặm.
Đô Thành hơn 16 dặm. Họ cấy lúa và trồng hoa
quả rất nhiều. Khí hậu ôn ḥa, phong tục
thuần chất. Dân chúng thích học hỏi, nhưng
chẳng t́m cầu phước đức và không tin luân
hồi. Có hơn 20 ngôi Già Lam, và 3000 Tăng Sĩ, tu theo phái
Chánh Lượng Bộ thuộc Tiểu Thừa. Có hơn
50 đền thờ và rất nhiều ngoại
đạo.
Từ thành phía Nam đi qua bên trái, có một ngôi
chùa lớn. Ngày xưa nơi đây, Ngài Đề Bà
Thiết Ma A La Hán đă tạo Thích Thân Luận tại
nơi nầy, nói về Vô Ngă, Nhân và Ngài Cù Ba A La Hán soạn
ra Thánh Giáo Yếu Thật Luận nói về Hữu Ngă, Nhân.
Do đây mà có sự chấp vướng về Pháp và đă
tranh luận dữ dội. Nơi đây cũng là nơi
Bồ Tát Hộ Pháp suốt trong bảy ngày đă hàng
phục Tiểu Thừa và hàng trăm luận sư. Phía bên
Già Lam có một Bảo Tháp cao hơn 200 mét, do Vua A Dục
dựng lên, ngày xưa đức Như Lai đă thuyết
pháp hóa độ suốt 60 năm. Bên cạnh tháp Thuyết
Pháp, có một cây rất kỳ lạ, cao đến 67
thước. Hai mùa Xuân Thu không tăng giảm. Ngày xưa
Như Lai lấy cành cây để đánh răng. V́ vậy
người ta vẫn bảo vệ cây nầy cho
đến ngày hôm nay. Những người Tà Kiến và Ngoại
Đạo thường đến đây để
chặt cây, nhưng tự nhiên nó sanh lại như cũ.
Từ phía nầy không xa là nơi ghi lại dấu tích
của bốn vị Phật trong quá khứ đă tọa
thiền và kinh hành. Lại cũng có Bảo Tháp thờ tóc
và móng tay của Như Lai. Cây cối và Bảo Tháp soi
dấu xuống mặt hồ giao nhau rất đẹp.
Từ đây đi về phía đông bắc hơn 500
dặm đến nước Thất La Phiệt Thất
Để (Xá Vệ -Savarthi).
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển thứ năm
Quyển thứ
sáu
(4 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Thất La Phiệt Tất
Để
2. Nước
Kiết Tỷ La Phạt Tốt Đổ
3. Nước Lam
Ma
4. Nước Câu
Thi Na Yết La
1) Nước Thất La Phiệt Tất
Để chu vi 6000 dặm. Đô Thành bị hoang
phế không c̣n kỷ cương ǵ nữa. Cung thành nầy
chu vi hơn 20 dặm, cũng rất tiêu điều,
chỉ c̣n lại ít người ở. Nơi đây
trồng lúa, khí hậu điều ḥa. Phong tục thuần
chất, người ham học và thích làm phước. Có
trên 100 ngôi Già Lam, bị đổ nát rất nhiều, ít tu
sĩ, phần lớn họ tu theo Chánh Lượng Bộ.
Có 100 đền thờ và có rất nhiều ngoại
đạo ở đây. Khi Như Lai c̣n tại thế, có
Vua Bát La Thê Na Thị Đa (Ba Tư Nặc) trị v́
nơi cố cung, có một nơi c̣n lại dấu tích
điện đài cũ của vua. Cách đó về
hướng đông không xa mấy, lại có một nền
gạch cũ, trên nền gạch ấy có một Bảo Tháp.
Nơi đây ngày xưa, nhà Vua đă v́ đức Như
Lai, mà xây dựng nơi thuyết pháp cho Ngài. Phía pháp
đường không xa mấy, laị có một Bảo Tháp
để ghi dấu lại nơi đây là tịnh xá
Tỳ Kheo Ni của Di Mẫu đức Phật, Bát La Xà
Bát Đề (Ba Xà Ba Đề). Tháp nầy chính nhà Vua
đă xây dựng nên. Tiếp theo đó về phía đông. Có
một Bảo Tháp là ngôi nhà cũ của ông Tu Đạt
Đa (Thiện Thí - Cấp Cô Độc). Bên cạnh nhà
của ông Trưởng giả Thiện Thí có một
Bảo Tháp lớn, là nơi mà ông Ma Lu Li Ma La (Angulimala - Vô
Năo) đă xả tà quy chánh. Vô Năo là một người hung
bạo ở thành Xá Vệ, đă làm hại rất
nhiều sanh linh trong thành nầy, người mà đă
giết người, lấy ngón tay xâu vào đeo lên cổ,
muốn hại mẹ ḿnh cho đủ số ngón tay.
Đức Thế Tôn v́ ḷng bi mẫn hiện ra để
hóa độ. Từ xa thấy đức Thế Tôn, ông vui
mừng nói rằng hôm nay chắc chắn là sẽ sanh thiên,
điều mà Thầy của ta đă di chúc như vậy.
Hại được Phật, giết được
mẹ được sanh thiên, nên hướng về
mẹ mà nói rằng, nay con thả mẹ, đi hại
vị Sa Môn trước đă. Rồi đi ngược
hướng Thế Tôn, đức Như Lai vẫn đi
như thế không thối lui. Bỗng nhiên, kẻ sát nhân
không di chuyển được, đức Thế Tôn
liền bảo:
- Sao lại vẫn giữ việc xấu, bỏ
việc lành. Đó không phải là nguyên nhân của việc
ác?
Lúc bấy giờ chàng Vô Năo hối hận
những việc làm sai trái của ḿnh. Sau đó liền quy
y và xin gia nhập vào Giáo Pháp của Ngài, tinh cần tu
học không giải đăi và chứng được
quả vị A La Hán.
Phía Nam của thành cách năm dặm sáu, có
rừng cây Kỳ Đà, thuộc vườn của ông
Cấp Cô Độc. Vua Ba Tư Nặc v́ Phật, mà
kiến tạo tinh xá. Nơi đây ngày xưa có chùa viện
nhưng bây giờ đă hoang phế. Cửa phía đông trái
phải đều có những thạch trụ cao hơn 47
thước. Trụ bên trái có những h́nh bánh xe rất
đẹp. Trụ đá bên phải, khắc h́nh con ḅ
ở bên trên. Cả hai đều do Vua A Dục dựng
nên. Pḥng ốc đă hư hại hết chỉ c̣n nền
nhà, duy nhất một mái ngói của một pḥng c̣n tồn
tại trong đó có một tượng Phật, mà
tượng nầy là tượng ngày xưa đức Như
Lai đă lên cơi trời thứ ba mươi ba v́ mẹ
thuyết pháp và sau đó vua Ba Tư Nặc đă nghe
Vua Xuất Ái, khắc tượng Phật nầy
bằng trầm hương. Trưởng giả Cấp Cô
Độc rất hoan hỷ tán thán mà giữ ǵn lại
tượng nầy. Người mà đă v́ sự nghèo
khổ của những người già đă có một
đức hạnh tốt đẹp nên hiệu là Cấp
Cô Độc. Ông đă nghe về công đức của
đức Phật rất thâm hậu và tôn kính nên đă xây
dựng tinh xá thỉnh Phật đến đây.
Đức Thế Tôn ra lệnh cho ngài Xá Lợi Phất tùy
theo nhu cầu mà t́m hiểu trước.
Chỉ có khu vườn của Thái Tử Kỳ
Đà là cao ráo đẹp đẽ, cho nên đến
gặp Thái Tử mà hỏi mua. Thái Tử bảo đem vàng
đến lót th́ mua. Cấp Cô Độc nghe xong tâm hoan hỷ
liền xuất kho, lấy vàng trong kho để mà lót lên
đất. Có chỗ không lót được. Thái Tử
nói: Phật thật là ruộng Phước, chúng ta nên
cùng gieo giống lành. Sau đó xây tinh xá trên khoảng
đất trống và đức Thế Tôn bảo ngài A Nan
rằng:
Vườn do ông Trưởng Giả mua, c̣n cây do
Thái Tử Kỳ Đà cúng. Cả hai người cùng có tâm
có sức là một công đức rất lớn. Cho nên
từ nay về sau nên gọi nơi đây là rừng
của Thái Tử Kỳ Đà và Vườn của ông
Cấp Cô Độc. Phía đông bắc của vườn
ông Cấp Cô Độc có một Bảo Tháp, nơi đây
đức Như Lai đă rửa vết thương
bịnh cho một Tỳ Kheo. Lúc Như Lai c̣n tại
thế, có một vị Tỳ Kheo, bịnh đau nhức
nhối khổ sở. Thế Tôn thấy như vậy mà
hỏi rằng:
- Ngươi v́ sao khổ như thế, tại
sao ngươi lại ở một ḿnh?
Đáp rằng:
- Con tên là Sơ Lại, không chịu khám bịnh.
Lại cũng chẳng có người nào đoái hoài
đến con.
Như Lai lúc bấy giờ thương cảm mà
nói rằng:
- Nầy con! Nay ta sẽ khám bệnh cho con.
Đoạn lấy tay xoa vào người, bệnh
liền tiêu. Rồi đem ra bên ngoài đặt nằm trên
cỏ mà rửa vết thương, thay đổi y
phục mới. Phật bảo vị Tỳ Kheo
rằng:
- Hăy nỗ lực tinh tấn lên.
Khi nghe lời ai mẫn ấy, rất cảm
động thân tâm nhẹ nhàng.
Phía tây bắc của vườn Cấp Cô
Độc có một Bảo Tháp nhỏ. Đây là nơi ghi
lại chỗ ngài Mục Kiền Liên vận thần thông
không thể nhấc nổi y áo của ngài Xá Lợi
Phất. Ngày xưa khi Phật c̣n tại thế, tại
đây có một cái hồ gọi là Vô Nhiệt Năo cùng
trời người đều tụ họp, duy chỉ có
ngài Xá Lợi Phất chưa đến được.
Phật ra lệnh ngài Mục Kiền Liên đến
triệu ngài lại. Ngài Mục Kiền Liên vâng
mệnh liền đi. Ngài Xá Lợi Phất đang giữ
pháp y. Ngài Mục Kiên Liên nói:
- Đức Thế Tôn hiện đang ở
tại hồ Vô Nhiệt Năo, bảo tôi gọi Ngài
đến.
Ngài Xá Lợi Phất đáp rằng:
- Tôi không thể đi được.
Ngài Mục Kiền Liên nói:
- Nếu không đi nhanh được, Ngài có
muốn tôi vận thần thông đưa ngài đến
thạch thất đó không?
Ngài Xá Lợi Phất bèn để y áo trên
đất, nếu ngài nhấc nổi y áo nầy lên
được th́ nhấc nổi thân tôi. Ngài Mục
Kiền Liên vận thần thông nhấc y áo lên nhưng không
nổi,. Lúc bấy giờ đại điạ chấn
động. Nhân đó dùng thần túc đi đến
chỗ Phật thấy ngài Xá Lợi Phất đă ngồi
đấy rồi Mục Kiền Liền thán rằng:
- Bây giờ mới biết là thần thông lực
không bằng trí tuệ lực.
Bên cạnh Bảo Tháp Nhấc Y chẳng xa bao
nhiêu có một cái giếng, Như Lai lúc c̣n tại thế
dùng nước giếng nầy, tại đây có một
bảo tháp do vua A Dục dựng lên trong đó có thờ Xá
Lợi của Như Lai. Đây cũng là nơi kinh hành thuyết
pháp của đức Phật. Bên cạnh gốc cây
lại có một Bảo Tháp, do ông Minh Kỳ Cảnh Vệ
Linh Đan xây dựng để nghe âm nhạc của
chư thiên, ngửi mùi hương của chư thần,
mà cảnh nầy là nơi phước đức khó
thể diễn tả hết.
Phía sau Già Lam không xa, có một nơi mà ngoại
đạo Phạm Chí, đă giết hại dâm nữ
để phỉ báng Phật. V́ Như Lai là bậc
thập lực vô úy và nhất thiết chủng trí, trời
người đều quy nguỡng, thánh hiền
đều tôn sùng, cho nên ngoại đạo bàn với nhau
rằng. Chúng ta nên bày mưu phỉ báng, dụ một dâm
nữ giả bộ vào nghe Pháp. Khi mọi người
biết, chúng ta bí mật giết đi, chôn tử thi
dưới gốc cây rồi báo cho Vua biết.
Nhà Vua ra lệnh đến khám vườn Thái
Tử Kỳ Đà để xem tử thi.
Lúc bấy giờ ngoại đạo lớn
tiếng nói rằng:
- Sa Môn Cù Đàm thường xưng là giữ
giới thế mà giết người để bịt
miệng. Có phải đă hành dâm rồi giết đi
chăng. Thế là giới là ǵ, nhẫn là ǵ?
Chư Thiên lúc bấy giờ ở trên không trung
nói lớn tiếng rằng:
- Nầy kẻ ngọai đạo hung ác, các
ngươi phỉ báng như thế làm sao nghe cho lọt
vào tai được.
Phía đông của chùa nầy hơn 100
bước. Có một cái hố rất sâu. Đây là nơi
mà Đề Bà Đạt Đa dùng độc dược
muốn hại Phật. Thân nầy c̣n sống mà bị
đọa vào địa ngục. Đề Bà Đạt
Đa (Thiên Thọ) là con của Vua Hộc Phạn,
Người đă tinh cần trải qua 12 năm, tŕ
tụng 80 ngàn Pháp Tạng. Sau v́ lợi dưỡng cầu
học thần thông thân cận với bạn ác, rồi
cùng đề nghị rằng. Ta nhỏ hơn Phật 30
tuổi. Đại chúng vây quanh đâu có khác ǵ Như
Lai.
Suy nghĩ xong liền làm việc phá tăng. Ngài
Xá Lợi Phất, Ngài Mục Kiền Liên đă cầu
thỉnh Phật chỉ bảo và nhờ vào oai lực
của Phật, Thuyết pháp để hối quá. Tăng
chúng lại ḥa hợp, nhưng ác tâm của Đề Bà
Đạt Đa th́ không bỏ, đă dùng thưốc
độc để vào trong móng tay. Muốn rằng nhân lúc
lễ Phật làm cho Phật bị thương. Bèn đi
đến với mưu mô nầy. Từ xa đi
đến đây, đất nứt ra liền bị
rơi xuống địa ngục trong lúc c̣n sống.
Ở phía Nam lại có một hầm lớn
nữa. Tỳ Kheo Cù Đa Lê đă phỉ báng Như
Lai, cũng bị vào địa ngục trong lúc c̣n sống.
Phía Nam hố Châu Cù Đà Di đi bộ 800
bước, có một cái hố sâu nữa. Đây là nơi
mà Bà La Môn Nữ tên là Chiến Giá hủy báng đức
Như Lai, bèn đọa vào địa ngục khi c̣n
sống. Phật đă v́ trời người thuyết các
pháp trọng yếu.
Đệ tử của ngọai đạo xa
thấy đức Thế Tôn được đại
chúng cung kính liền tự nghĩ rằng: - Nhất
định hôm nay, làm cho Gotama bị nhục, thất
bại trước danh dự và chỉ làm cho Thầy chúng
ta, đăng đàn một ḿnh mà thôi, bỏ một cái bát
gỗ trong ḿnh đến vườn Cấp Cô Độc
ở trong đại chúng, rồi lên tiếng mà nói
rằng:
Người thuyết pháp kia đă cùng ta tư
thông với nhau, trong bụng nầy đă có một
đứa con thuộc ḍng họ Thích. Những kẻ tà
kiến chưa tin được thật hư, nhưng
người có ḷng tin kiên cố biết rằng đây là
phỉ báng. Thiên Đế Thích muốn trừ nghi kia
liền hiện làm con chuột trắng, cắn dây buộc
bát gỗ. Bát gỗ rơi xuống thành tiếng làm
chấn động đại chúng. Phàm những kẻ
thấy nghe đều tăng thêm sự tin sâu và hỉ
lạc. Trong chúng có một người đứng lên mang
bát gỗ đến chỉ cho người nữ kia mà nói
rằng:
Ngươi là kẻ tà vạy. Tự nhiên lúc
bấy giờ mặt đất nứt ra và toàn thân
của cô ta bị rơi vào Vô gián địa ngục
thọ các cực h́nh. Phàm ở nơi Ba Hố sâu nầy
không có bờ đáy. Mùa Thu mùa hạ có sương phủ
trên mặt hồ giống như dưới hố sâu kia
nước không ngừng chảy. Phía đông của Già Lam
hơn 67 bước đi bộ có một tinh xá cao hơn
60 thước ở giữa có một tượng
Phật, ngồi mặt xây về hướng đông.
Nơi đây chính là nơi Như Lai ngày xưa cùng các
ngoại đạo luận nghị. Lại nữa ở
phía đông kia cũng có một đền thờ cũng
giống như tinh xá ngày ngày đều phát ra ánh sáng, bóng
của đền thờ không phủ được tinh
xá. Khi mặt trời lặn rồi cái bóng của tinh xá
phủ lên trên đền thờ.
Phía đông tịnh xá đó cách 3.4 dặm, có
một Bảo Tháp. Đây là nơi tôn giả Xá Lợi
Phất đă luận nghị cùng ngoại đạo.
Đầu tiên ông Trưởng giả Cấp Cô Độc
mua vườn của Thái Tử Kỳ Đà muốn v́
đức Như Lai mà làm tinh xá, mà lúc ấy Tôn giả Xá
Lợi Phất đă tùy theo Trưởng giả mà xem
phương hướng và đo đạc.
Ngoại đạo luật sư yêu cầu dùng
thần lực. Ngài Xá Lợi Phất đă tùy theo việc
nầy mà nhiếp hóa để hàng phục. Bên phía
trước Tịnh Xá nầy có kiến lập một
Bảo Tháp. Nơi đây Như Lai đă dời ngoại
đạo đi mà nhận lời thỉnh cầu của
bà Tỳ Xá Khư.
Bên phía Nam của Bảo Tháp thọ thỉnh
ấy là nơi Vua Tỳ Lô Thích Ca (Tỳ Lưu Ly) dẫn
quân lính sát hại, đến đây thấy Phật bèn
dẫn binh lui về. Sau khi Vua Tỳ Lô Thích Ca xưng
vương đă hận việc nhục nhă lúc
trước, nên đă đem binh khuấy động
đại chúng. Ông Bộ Trứ Di Tất đă phụng
mệnh mà đi, lúc đó các vị Tỳ kheo đă
thấy bạch Phật. Đức Thế Tôn ngồi
dưới gốc cây khô, vua Tỳ Lô Thích Ca xa thấy
Thế Tôn liền xuống ngựa mà thi lễ. Xong rồi
liền hỏi:
- Tại sao, ngài không ngồi chỗ cây tốt mà
ngồi dưới gốc cây khô không c̣n cành lá ǵ hết?
Thế Tôn bảo rằng:
- Tông tộc cũng như cành lá vậy, cành lá mà
nguy th́ gốc đâu c̣n nữa.
Vua nói:
- Thế Tôn v́ tôn thân mà có thể hồi giá
chăng?
Nói xong th́ cảm nhận được
lời Thánh ấy cho nên đem quân về lại
nước ḿnh.
Bên cạnh Bảo Tháp lui quân ấy là nơi
những người đàn bà ḍng họ Thích bị
giết. Vua Tỳ Lô Thích Ca đă tru diệt ḍng họ
Thích, gồm năm trăm người nữ cho vào cung
những người đàn bà họ Thích giận dữ oán
hờn nhưng không trốn, mà mắng người con
của nhà vua. Vua nghe phát giận, liền ra lệnh
giết đi. Người chấp hành lệnh trên của
Vua Đa Bảo rằng: h́nh phạt là cắt chân tay và
vứt vào hầm hố. Lúc bấy giờ các người
nữ ḍng họ Thích chịu khổ cho nên mới gọi
danh Phật. Đức Thế Tôn quán chiếu thấy
cảnh khổ sở, ra lệnh các thầy Tỳ Kheo mang
y đến mà thuyết pháp cho họ nghe. V́ sự ràng
buộc trong ngũ dục mà lưu chuyển trong tam
đồ, ân ái biệt ly sanh tử nhiều đời.
Lúc ấy các người con gái nghe Phật chỉ bày rồi,
liền xa trần cấu chứng được pháp nhăn
thanh tịnh, đồng thời khi mệnh chung
được sanh về cơi chư thiên. Lúc ấy Thiên
Đế Thích hóa làm Bà La Môn thâu nhận những thi hài
ấy để hỏa táng và viết để lại cho
người đời sau vậy.
Chẳng xa bên cạnh tháp tru di ḍng họ Thích, có
một ao lớn. Đây là nơi Vua Tỳ Lô Thích Ca c̣n
sống mà đă vào địa ngục. Sau khi đức
Phật đă thấy những người nữ ḍng
họ Thích rồi về lại vườn Trưởng
Giả Cấp Cô Độc nói với các vị Tỳ Kheo
rằng:
Nay Vua Tỳ Lô Thích Ca sau bảy ngày, sẽ bị
hỏa thiêu nơi hầm lửa. Vua nghe Phật nói như
vậy kinh hoàng và lo lắng vô cùng. Cho đến ngày
thứ bảy mới được an lạc không nguy
hiểm. Nhà Vua vui vẻ khôn xiết cho nên đă ra lệnh
cho các cung nữ đến nơi hồ mà hát xướng
ăn uống. Khi mà lửa bốc cháy th́ đánh trống
như thác đổ. Khi lửa quây quanh thân Vua, Vua
đọa vào Vô Gián Địa ngục thọ khổ vô
cùng.
Cách Già Lam phía tây bắc 3.4 dặm đến
rừng Đắc Nhăn, nơi đây có di tích ghi lại
nơi kinh hành của Như Lai và là nơi tu thiền
định của các Thánh đệ tử. Cả hai
nơi dưới gốc cây nầy đều có kiến
lập Bảo Tháp. Ngày xưa nơi nầy là nơi
tập họp của năm tên ăn trộm, chúng đă
hoành hành phá phách khắp nơi trong làng trong xóm. Vua Ba Tư
Nặc bắt được ra lệnh móc mắt thả
vào rừng sâu. Bọn trộm khổ sở quá cầu
Phật. Lúc đó Phật đang ở tại Tịnh Xá
Kỳ Viên nghe được âm thanh bi năo ấy liền
khởi từ tâm, làm cho gió mát êm dịu thổi thuốc
từ núi Tuyết Sơn đến làm cho mắt họ
được sáng lại như cũ. Sau đó họ
gặp đức Thế Tôn ở đây mà phát tâm Bồ
Đề hoan hỷ đảnh lễ, lănh hội lời
Phật rồi lui về trồng căn lành.
Đại Thành phía tây bắc hơn 60 dặm
lại có một thành cũ, nơi mà trong hiền kiếp
nầy con người thọ đến 20 ngàn tuổi, và
cũng là nơi mà đức Phật Ca Diếp Ba sanh ra,
thành ở phía Nam cũng có một Bảo Tháp. Đây là
nơi mà sau khi thành Chánh Giác đức Phật đă
gặp Phụ Thân lần đầu. Thành phía bắc
cũng có một Bảo Tháp, nơi đây thờ toàn thân Xá
Lợi của Đức Phật Ca Diếp tất cả
đều do Vua A Dục dựng nên. Từ phía đông nam
nầy, đi hơn năm trăm dặm đến
nước Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ (Ca
Tỳ La Vệ).
2) Nước Kiếp Tỷ La Phạt Tốt
Đổ (Capilavastu - Ca Tỳ La Vệ). Nước Ca
Tỳ La Vệ chu vi hơn bốn ngàn dặm. Cung thành
đa số đều bị hoang phế. Vương thành
cũng không biết lớn là bao nhiêu, chỉ c̣n thành
nội chu vi là 14.5 dặm. Nơi đây chỉ c̣n sót
lại gạch ngói giống như vườn không nhà
trống lâu nay chẳng ai vào, chẳng có ai là thủ lănh
của thành. Đất đai nơi đây cũng tốt,
cày cấy lúa, khí hậu không điều ḥa, phong tục
sáng sủa. Có hơn 1000 ngôi Già Lam, mà nơi cung thành chỉ
có một ngôi mà thôi. Khoảng hơn 3000 Tăng Sĩ, tu
theo Chánh Lượng Bộ thuộc Tiểu Thừa.
Đền thờ có hai cái, ngọai đạo sống
rất hỗn tạp.
Tại cung nội, c̣n một nơi là
điện đường của Vua Tịnh Phạn, trên
đó có dựng một Tịnh Xá và bên trong có tượng
của Vua. Gần đó không xa c̣n một di tích của bà Ma
Ha Ba Xà Ba Đề (Đạt Thuật). Trên đó cũng
dựng một tinh xá và trong đó có tôn tượng của
Phu Nhân. Tinh xá nầy là nơi mà Bồ Tát Thích Ca đă giáng
thần vào thai mẹ. Nơi đó cũng có một
tượng Bồ Tát giáng thần. Theo Thượng
Tọa Bộ, Bồ Tát giáng thần vào thai mẹ nhằm
đêm ba mươi của tháng Uẩn Đản La An Sa
Trà, nhằm vào ngày 15 tháng 5. Trong khi đó các Bộ phái khác,
cho rằng Bồ Tát giáng thai mẹ vào đêm 23 cùng tháng
đó, nhằm vào ngày mồng 8 tháng 5.
Phía bên đông bắc của tháp Bồ Tát giáng
thần là nơi kỷ niệm Tiên A Tu Đà đoán
tướng Thái Tử. Ngày Bồ Tát giáng sanh, là ngày vui
mừng của Hoàng Gia. Vua Tịnh Phạn mời các
vị đoán tướng vào để hỏi rằng:
- Đứa bé nầy sanh như vậy là tốt
hay xấu, nói cho ta biết rơ ràng?
Đáp rằng:
- Nương vào dấu thánh mà khảo sát thấy
có hiện tướng cát tường. Nếu ở
đời th́ làm chuyển Luân Thánh Vương, nếu
xả tục th́ thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Lúc bấy
giờ tiên A Tu Đà từ xa đến, vào cửa
muốn diện kiến, Vua liền hoan hỷ thân chinh ra
đón rồi mời ngồi và nói:
- Chẳng hay ư đại tiên như thế nào mà
hôm nay chiếu cố như vậy?
Tiên nhơn đáp rằng:
- Ta đang ở thiên cung an vui ngồi nghỉ,
lại nghe thấy chư thiên quần tụ lại
với nhau, tôi bèn hỏi việc ǵ vậy th́
được đáp rằng:
Đại Tiên nên biết ở Nam Thiệm
Bộ Châu, trong ḍng họ Thích của Vua Tịnh Phạn,
vị Phu nhân thứ nhất vừa hạ sanh một Thái
Tử sẽ chứng quả Chánh Giác và thành tựu
Nhất thiết trí. Nghe vậy cho nên tôi mới lại
đây chiêm nguỡng và buồn rằng không thể gặp
được Thánh Nhân nữa.
Cửa phía Nam của thành có một Bảo Tháp,
đây là nơi Thái Tử và các vương tử họ
Thích thi đấu voi. Thái Tử có nhiều kỹ thuật
hàng phục voi. Vua Tịnh Phạn mong rằng
được thành tựu rồi trở về, cho phép
cỡi voi ra cửa thành. Đề Bà Đạt Đa
cũng là người không kém sức mạnh, từ ngoài
đi vào hỏi ai là người cỡi, và ai là
người muốn leo lên con voi nầy.
Đáp rằng:
- Thái Tử là người cỡi con voi nầy.
Lúc ấy Đề Bà Đạt Đa giận dữ,
giết con voi thi đấu của ḿnh để nằm
chận đường không cho di chuyển. Mọi
người ùn lại. Ông Nan Đà đến sau hỏi
rằng:
- Ai làm chết con voi nầy?
Đáp rằng:
- Đề Bà Đạt Đa.
Bèn đi đường khác. Lúc ấy Thái Tử
đến và liền hỏi:
- Ai đă giết con voi nầy?
Đáp:
- Đề Bà Đạt Đa đă hại
trước cửa thành. Và Nan Đà đă dẫn lối
khác để đi.
Thái Tử cỡi voi vượt qua thành, con voi
bị sa xuống hầm lớn, mà tương truyền
đây là nơi voi bị sụp hầm. Phía tinh xá nầy
có tượng của Thái Tử, cũng có một tinh xá
khác, là nơi nghĩ của Hoàng Phi, trong đó có
tượng của Gia Du Đà La và La Hầu La. Tại cung
nầy cũng có một tinh xá, thờ những
tượng lúc c̣n Thái Tử.
Thành phía đông nam có một tinh xá có tượng
Thái Tử phi bạch mă. Đây là nơi Thái Tử du thành.
Ngoài cửa phía tây của thành có nhiều tinh xá, trong đó
có tạo những tượng về lăo bệnh tử và
sa môn. Thái Tử sau khi đi thăm thấy được
các tướng băng hoại, chán ngán cuộc đời
và cảm nhận được điều nầy cho nên
ra lệnh hồi xa giá.
Thành phía nam đi hơn 50 dặm, có một
cổ thành, nơi đây có một Bảo Tháp, đó là
nơi mà trong hiền kiếp nầy con người
thọ đến 60 ngàn tuổi, cũng là nơi mà
Phật Ca La Ca Phù đă sanh ra. Cách thành phía nam không xa cũng
có một Bảo Tháp, nơi đây ghi lại sau khi thành
Chánh Giác đức Phật đă gặp Phụ Vương.
Thành Phía đông nam cũng có một Bảo Tháp, nơi
đó có thờ di thân của đức Như Lai,
trước đây cho xây bằng trụ đá cao 30
thước bên trên có khắc đầu Sư Tử và bên
cạnh ghi lại sự tịch diệt do vua Asoka xây
dựng.
Phía đông bắc của thành Ca La Ca Phù đă
đi hơn 30 dặm đến một thành cũ. Nơi
đó cũng có một Bảo Tháp để ghi lại trong
hiền kiếp nầy lúc mà con người thọ 40 ngàn
tuổi và là nơi đản sanh của Phật Ca Nặc
Ca Mâu Ni.
Phía đông bắc chẳng xa mấy có một
Bảo Tháp ghi lại nơi mà sau khi thành Chánh Giác, Phật
đă độ cho Phụ Vương, tiếp theo đó
ở phía bắc cũng có một Bảo Tháp, ở nơi
đây cũng thờ di thân Xá Lợi của Như Lai,
trước đây được xây dựng bằng
trụ đá cao hơn 20 thước, trên có khắc h́nh
Sư Tử. Bên cạnh đó có ghi lại cảnh tịch
diệt do vua Asoka dựng nên.
Phía đông bắc của thành hơn 40 dặm,
lại có một Bảo Tháp, nơi mà Thái Tử ngồi
dưới tàng cây để xem người ta cày
cấy. Lúc đó ngài đă nhập định
chứng được pháp ly dục. Vua Tịnh Phạn
thấy Thái Tử ngồi dưới tàng cây nhập
định, thấy ánh sáng mặt trời quay chiếu
xuống cây nhưng ảnh không di động, tâm trí
của Vua linh cảm đây là điều lành nên vua rất
trân trọng.
Phía tây bắc của thành lớn, lại có
trăm ngàn Bảo Tháp khác là nơi mà ḍng họ Thích bị
tru di, cũng là nơi mà vua Tỳ Lô Thích Ca sát hại ḍng
họ Thích. Số người tính đến 9.990 vạn
người, tất cả đều bị giết
hại, xương chất thành núi, máu chảy thành hồ.
Chư thiên động ḷng nên đă thu cốt hỏa
táng.
Phía tây nam của nơi ḍng họ Thích bị
mưu hại, có bốn Bảo Tháp nhỏ là nơi quân
của ḍng họ Thích kháng cự lại. Lúc đầu, Vua
Ba Tư Nặc muốn cầu hôn với ḍng họ Thích.
Ḍng họ Thích cho rằng vua thuộc ḍng thấp hèn, cho nên
mới gă một gia nhân cho Vua. Sau đó Vua Ba Tư Nặc
lập làm chánh hậu. Bà nầy sinh ra một người
con trai. Đó là vua Tỳ Lô Thích Ca. Tỳ Lô Thích Ca muốn
biết ḍng họ của ḿnh cho nên họ bị thọ
nghiệp.
Đến phía nam của thành th́ thấy một
giảng đường mới trong đó có chỗ
nghỉ ngơi xa giá. Ḍng họ Thích nghe như thế bèn
lui mà nói rằng:
- Đây là nhà của người tỳ nữ
ở, do ḍng họ Thích lập,
Biết thế, Vua Tỳ Lô Thích Ca muốn
rửa nhục trước nên đem binh đến đây
để đánh với bốn người lực
luỡng của ḍng họ Thích, liền kháng cự
mạnh, nhưng bị thất bại cho nên binh lính vào
thành, những người hoàng tộc v́ thừa mệnh
vua trước mà làm cho đất nước
trường tồn và v́ là con cháu của Pháp Vương
nên ra đi trước sự hung bạo và an nhẫn
trước sự giết hại, v́ đó là sự ô
nhục của tông môn, nên xa rời thân tộc và bốn
người đó đi vào phía bắc của núi tuyết.
Một vị làm vua nước Ô Trượng Na, một
vị làm vua nước Phạm Diễn Na, một vị
làm vua nước Tu Ma Đản La, một vị làm vua
nước Thương Di, để cho hoàng đồ
cơ nghiệp không tuyệt tự.
Phía nam của thành ba dặm tư, nơi rừng
Câu Luật Thụ có một Bảo Tháp do vua A Dục xây,
đây là nơi mà sau khi đức Thích Ca thành Chánh Giác
rồi, về lại nước gặp phụ
vương thuyết pháp. Vua Tịnh Phạn biết
rằng Như Lai đă hàng phục được ma quân và
du hành hóa độ nhưng trong ḷng rất khao khát
được đảnh lễ, liền ra lệnh
thỉnh Như Lai và nói rằng:
- Ngày xưa hứa sau khi thành Phật trở
về nơi sanh quán, lời nói nầy vẫn c̣n ở
trong ḷng ta.
Vua sai sứ đến nơi Phật tuyên
nhắc lại ư của Phụ Vương. Như Lai
thưa rằng:
- Sau bảy ngày sẽ trở về lại quê
quán.
Sứ thần về lại tâu lên Vua. Vua ra
lệnh cho thần dân phải quét dọn đường
sá cùng trưng bày hương hoa và cùng quần thần
đi 40 dặm hơn, với xa giá để nghinh
tiếp. Lúc ấy đức Như Lai cùng đại chúng
câu hội. Có tám vị thần Kim Cang hộ vệ và
tứ thiên vương dẫn đầu. Đế Thích và
các vua trời Dục giới. Phạm Vương cùng các
Vua trời Sắc giới đứng bên phải. Các
vị Tỳ kheo tăng xếp hàng đi phía sau. Chỉ có
đức Phật ở giữa chúng hội như là
mặt trăng giữa các v́ sao. Uy thần động
đến tam giới. Ánh sáng quang minh gấp bảy
lần mặt trời, đi bộ trên hư không,
để về lại nơi sanh quán của ḿnh. Vua cùng
triều thần các quan lễ kính rồi lui. Về lại
nơi ḿnh ở. Tại đây cũng có một Già Lam
của Câu Lô Đà Tăng. Phía bên nầy không xa cũng có
một Bảo Tháp. Đây là nơi mà Như Lai đă
ngồi dưới gốc cây đại thọ mặt
hướng về hướng đông, thọ nhận Cà
Sa bằng tơ vàng của Di Mẫu. Kế đến là
Bảo Tháp để ghi lại nơi Như Lai đă
độ cho tám vương tử và năm trăm
người ḍng họ Thích.
Cửa phía đông của thành và phía bên tay trái có
một Bảo Tháp. Nơi đây ngày xưa tất cả
các nghi lễ đă được luyện tập học
hỏi. Bên ngoài cửa có một đền thờ Tự
Tại Thiên, trong đền thờ có tượng Thiên
Vương uy nghi đĩnh đạc, mà nơi đây
Thái Tử đă ở lại đền nầy. Vua
Tịnh Phạn đă cho người đến
nước Thử Phạt Ni nghinh đón Thái Tử về.
Sau đó đến đền khác, Vua nói đền
nầy rất linh. Các đứa bé ḍng họ Thích
đều đem đến đây cầu nguyện gia
hộ, có hiệu quả, cho nên đem Thái Tử
đến đây để cầu nguyện. Lúc bấy
giờ truyền mẫu hậu vào đền, tượng
đá liền đứng dậy để nghinh đón Thái
Tử. Thái Tử đi rồi, tượng mới
ngồi xuống.
Cửa phía nam của thành ở phía bên trái của
đường đi có một Bảo Tháp, đây là nơi
mà Thái Tử và những vương tử họ Thích thi
bắn cung, thi đấu với nhau. Từ phía đông nam
hơn ba mươi dặm, có một Bảo Tháp nhỏ,
đây là nơi mà có ḍng suối chảy trong như mặt
kính. Nơi đây Thái Tử cùng những vương tử
ḍng họ Thích đă thi bắn cung tên và biểu diễn các
nghệ thuật khác. Tiếp theo có một cái ao
nước rất trong, tương truyền rằng
đây là ḍng suối của cung tên. Phàm người nào có bệnh
uống nước nầy vào th́ khỏi. Người
ở xa đôi lúc mang cả bồn về tùy theo sự
bịnh khổ mà những linh thần hộ vệ
để tật bệnh được tiêu trừ. Phía
đông bắc của suối cung tên, cách hơn 89 dặm,
đến rừng Thử Phạt Ni. Nơi đây là ao
tắm của ḍng họ Thích, nước trong như
gương, hoa thơm đầy dẫy. Từ đây qua
phía bắc 24 dặm rưỡi có một cây Vô ưu bây
giờ đă khô héo hết rồi. Đây là nơi linh thiêng
đản sanh của Bồ Tát. Bồ Tát sanh ra vào lúc
nửa đêm vào ngày mồng tám tháng Phệ Xá Khư
(Vesakha) tức nhằm ngày mồng tám tháng tư, mà theo Thượng
Tọa Bộ cho rằng nhằm giữa đêm ngày 15 tháng
Phệ Xá Khư, tức ngày 15 tháng 4.
Tiếp đến ở phía đông có một
Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên. Nơi đây có hai con
rồng phun nước tắm Thái Tử. Sau khi Bồ Tát
sanh liền tự đi không cần nâng đỡ ngài
đi bốn hướng, mỗi hướng bảy
bước, và tự nói rằng: "THIÊN THƯỢNG
THIÊN HẠ DUY NGĂ ĐỘC TÔN. ĐÂY LÀ LẦN SANH
CUỐI CÙNG CỦA TA" Tự nhiên dưới chân
mọc lên những đóa hoa lớn, rồi hai con rồng
bỗng nhiên xuất hiện từ hư không cùng phun
nước xuống, một ṿi nước lạnh,
một ṿi nước ấm để tắm cho Thái
Tử.
Bên Bảo Tháp tắm rửa cho Thái Tử về
hướng đông có hai ḍng suối trong veo. Bên cạnh
đó có hai Bảo Tháp là nơi mà hai con rồng từ
dưới đất trồi lên. Bồ Tát sanh rồi mà
những người hoàng tộc chưa kịp mang nước
đến để tắm th́ trước mặt hoàng
hậu đă phát sinh ra hai ḍng suối, một ấm
một lạnh để tắm rửa. Phía Nam của
Bảo Tháp là nơi mà Thiên Đế Thích đă đón
tiếp Bồ Tát khi Bồ Tát mới đản sanh. Thiên
Đế Thích đă dùng áo mềm mại của trời
quỳ xuống dâng cho Bồ Tát. Tiếp theo đó có
bốn Bảo Tháp, đây là nơi Tứ Thiên Vương
bồng ẵm Bồ Tát. Bồ Tát từ hông phải mà sanh
ra.
Tứ Đại Thiên Vương mặc áo màu
vàng, ẵm Bồ Tát để trên bàn vàng, rồi
đến trước hoàng hậu thưa rằng phu nhân
đă sanh một quư tử phước đức, xin hoan
hỷ chúc mừng. Chư thiên c̣n hỷ lạc huống ǵ
người trần thế.
Cách Bảo Tháp của Tứ Thiên Vương
bồng Thái Tử không xa mấy, có một thạch trụ
lớn, trên đầu có chạm h́nh con ngựa do Vua A
Dục kiến tạo nên. Sau nầy bị con ác long
nổi sấm sét làm cho trụ đá bị găy ngang ở
giữa và rơi xuống đất. Bên cạnh đó có
một con sông nhỏ chảy về hướng đông
nam. Phong tục địa phương gọi nơi
đây là sông Dầu, là nơi mà hoàng hậu Ma Gia sanh xong,
chư Thiên hóa ra ao nầy để tắm gội cho
sạch sẽ. Muốn làm cho phu nhân lấy nước
nầy trừ khử những gió bụi và sau đó
biến thành nước chảy qua ḍng sông nầy. Từ
phía đông đi tiếp qua khu rừng rậm, đến
nước Lam Ma.
3) Nước Lam Ma bây giờ đă hoang phế
không c̣n dấu vết ǵ, thành ấp đă đổ nát xiêu
vẹo, người dân thưa thớt. Thành xưa ở
phía đông nam có một Bảo Tháp lợp ngói cao gần 100
mét. Ngày xưa sau khi đức Như Lai nhập diệt,
Vua của nước nầy đến phân chia Xá Lợi
mang về nước của ḿnh rồi ra sức tôn
tạo kiến thiết nên. Đây là nơi rất linh
thiêng, có ánh sáng phát ra từ Tháp. Bên cạnh Bảo Tháp có
một ao nước trong. Mỗi lần con rồng ra
đi nó biến thành con rắn. Phía bên phải cũng có
một Bảo Tháp. Có các con voi dùng ṿi để rải hoa.
Để cho các thế lực khác không thể xen vào, Vua
Asoka đă kiến tạo nên Bảo Tháp ấy. Bảy
nước đă xây dựng xong rồi bắt đầu
đến nước nầy muốn làm Bảo Tháp khác,
nhưng con rồng ở hồ nầy giận dữ khi
thấy được và muốn cướp đoạt
nên biến thành một Bà La Môn cúi đầu trước
con voi mà nói: Đại Vương có tấm thịnh t́nh
hoằng dương Phật Pháp là một ruộng
phước rất lớn, xin thỉnh đại
vương giáng lâm nơi tệ xá của tôi. Vua hỏi:
- Nhà của ngươi cách đây xa gần?
Bà La Môn đáp:
- Tôi là vua rồng của hồ nầy, thấy
đại vương muốn xây dựng nơi
phước đức nên đến thỉnh mời. Vua
thọ nhận sự thỉnh mời mà đi vào Long cung,
ngồi chờ một hồi lâu rồng tiến
đến nói:
- Tuy tôi thọ ác nghiệp nên làm thân rồng
nầy. Nay muốn cúng dường xá lợi để
được tiêu tội, nên mời vua đến đây
để mà đảnh lễ.
Vua A Dục nghe thấy xong liền vui vẻ mà
nói:
- Mọi sự cúng dường không phải
chỉ của người trong nhân gian.
Rồng đáp:
- Nếu vậy th́ nguyện không bao giờ phá
hoại.
Vua A Dục tự nghĩ chính ḿnh làm không cần
người khác, lui về mà chẳng khai phát và sau khi đi
khỏi ao rồi, chỗ nầy vẫn c̣n nguyên như
cũ.
Bên cạnh Bảo Tháp chẳng bao xa, có một Già
Lam, tăng chúng an ḥa thanh tịnh trang nghiêm mà hầu như
chỉ có Sa Di là đảm nhận việc chúng. Khách
tăng từ xa đến lễ bái gặp những
vị nầy, chắc chắn được ở
lại ba ngày và tứ sự cúng dường. Nghe
người xưa thuật lại rằng:
Ngày xưa ở đây có một vị Tỳ Kheo
đă gọi mời bạn của ḿnh đến. Khi
từ xa đến lễ Tháp thấy những con voi bao
bọc chung quanh và tới lui nơi đó, hoặc chúng
lấy ngà xới cỏ, lấy ṿi phun nước, chúng
mang những hoa lạ đến cúng dường. Lúc
thấy chúng như vậy, cho nên mới bi thán cảm
động và có một vị Tỳ kheo liền xả
giới cụ túc nguyện ở lại đó để
cúng dường, rồi cùng chúng nói rằng:
Ta tuy có nhiều phước nhưng lạm
ở trong tăng. Năm tháng qua mau mà hành nghiệp
chẳng có ǵ. Trong tháp nầy có thờ Xá Lợi. Do
đức độ của Phật mà dung thông đến
loài voi, cho nên ta mang thân đến nơi nầy để
cùng chịu cực khổ với các ngươi. Nói xong
liền được thêm một cái răng nên rất sung
sướng.
Loài voi bảo rằng:
- Thật là đáng quư hóa thay. Chúng tôi không có tâm
xấu để làm việc nầy, mà do sự tự ái
không thể thắng được nghiệp. Cũng
như đă xa bầy mà làm nên lời nguyện. Riêng ở
một ḿnh cho đến cuối đời để
lập chí. Đây giống như cỏ tranh để làm
nhà, dẫn nước mưa thành hồ. Hái hoa trải ra,
quét dọn sạch sẽ. Cả thời gian như thế
mà tâm không giải đăi. Các Vua nước khác nghe việc
như trên, bèn bỏ của báu ra để kiến tạo
Già Lam, để mà khuyến khích nhiệm vụ của
một vị Tăng. Từ đó đến nay không lăng
xao công việc cho nên gọi là Sa Di Tổng Tri Tăng
Sự. Phía đông của chùa Sa Di là một rừng
lớn, đi hơn một trăm dặm th́ đến
một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên. Đây là
nơi Thái Tử du thành cởi bỏ hoàng bào, chuỗi anh
lạc giao lại cho phụ thân. Thái Tử đi ra
khỏi thành từ lúc nửa đêm cho đến sáng th́
đến đây. Nhờ túc duyên đời trước mà
nay được thân người nên nói rằng:
- Ta cởi Long Bào xa ĺa sự ràng buộc là
nơi sang trọng cuối cùng của vương tử
ḍng họ Thích, rồi đưa lên trên không trung những
bảo vật nầy nói:
Ngươi nên mang những thứ quư giá nầy
về cho phụ vương ta. Đừng trông chờ ta
nữa v́ ta đă xa ĺa rồi. Ta muốn đọan
bỏ sự vô thường và cắt trừ các lậu
hoặc. Xa Nặc đáp:
- Kẻ hạ thần nầy phải trở
về xa giá không sao? Thái Tử liền uỷ dụ
những lời lẽ thân t́nh rồi bảo lui. Phía
đông của Bảo Tháp hồi giá có một cây Trâm (Jimbu),
cành lá đă khô nhưng vẫn c̣n chắc. Bên cạnh đó
lại có một Bảo Tháp nhỏ, nơi mà Thái Tử
cởi áo quư làm bằng da nai rồi tự ḿnh cắt tóc.
Tuy chỉ cởi chuỗi anh lạc mà c̣n chiếc áo trên
người, y phục b́nh thường làm sao có thể
cải đổi dễ dàng được. Lúc đó
trời Tịnh Cư hoá thành chuột núp trong hai cánh áo da
nai. Thái Tử đưa y lên mà nói rằng:
- Muốn trao đổi, th́ nguyện phải
đầy đủ.
Con chưột thưa rằng:
- Tốt
Đoạn Thái Tử cởi y phục giao cho con
chuột. Được y con chuột thăng lên trời,
mang áo nầy lui về hư không.
Nơi cởi áo của Thái Tử chẳng xa
mấy có một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng lên.
Đây là nơi Thái Tử cắt tóc. Thái Tử tự
lấy dao nơi Xa Nặc để cắt tóc. Thiên
Đế Thích đưa về Thiên cung để cúng
dường. Lúc bấy giờ Vua trời Tịnh Cư hóa
làm một người có tóc cầm con dao đi bộ
đến. Thái Tử hỏi:
- Có thể cắt tóc sao? Ngươi có thể
cạo sạch cho ta.
Sau đó kẻ hóa thành người đó
phụng mệnh cạo tóc.
Sau khi đi rời thành xuất gia mà thời gian
nầy không rơ, có nơi nói lúc Bồ Tát 19 tuổi, có nơi
nói 29 tuổi đó là nhằm giữa đêm ngày mồng 8
tháng Vệ Sa Khư, ra khỏi thành xuất gia t́m đạo
nhằm ngày mồng tám tháng ba. Hoặc có nơi nói giữa
đêm ngày 15 tháng Vệ Sá Khư, tức nhằm ngày 15 tháng
3.
Phía đông nam của Bảo Tháp, nơi Thái
Tử cắt tóc là một ngôi rừng đi hơn 189
dặm, đến rừng Ni Câu Lô Đa, nơi đó có
một Bảo Tháp cao hơn 30 thước. Ngày xưa, sau
khi Như Lai tịch diệt, Xá Lợi được phân
chia mà các Bà La Môn th́ không có được. Sau lễ Trà
Tỳ nên đến lấy phần than c̣n lại
để mang về nước ḿnh xây tháp để cúng
dường. Tại nơi nầy có nhiều điều
linh thiêng, ai có tật bịnh đến cầu nguyện
th́ khỏi.
Nơi phía Tháp trơ có một Già Lam cũ, đó
cũng là nơi di tích của bốn vị Phật quá
khứ tọa thiền cùng kinh hành.
Hai bên trái phải của Già Lam cổ có cả
hàng trăm Bảo Tháp khác. Trong đó có một cái lớn do
Vua A Dục xây, đă được tôn sùng nhưng đă
bị hư hoại, cao hơn 100 thước.
Từ phía đông bắc đi về phía rừng
lớn qua một con đường rất khó khăn và
đầy nguy hiểm có sơn dương, voi, sư
tử. Chúng đă làm hại không biết bao nhiêu
người lữ hành nơi đây. Ra khỏi rừng
nầy th́ đến nước Câu Thi Na Kệ La.
4) Nước Câu Thi Na Kệ La thành ấp đă
bị hư nhưng cũng có nhiều chỗ c̣n tốt,
chu vi thành bằng gạch hơn 10 dặm. Người
ở rất thưa thớt. Trong thành nội phía đông
bắc có một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên.
Đây là nhà cũ của ông Thuần Đà, trong nhà có
một cái giếng, mà ông đă lấy nước cúng cho
Phật, thời gian tuy qua lâu nhưng nước giếng
vẫn c̣n trong suốt.
Phía tây bắc của thành hơn 3.4 dặm
băng qua sông A Tỳ Ba Phạt Đễ. Không xa bờ
sông phía tây th́ đến rừng Sa La. Loại cây nầy có
vỏ xanh trắng, lá có nhiều ánh sáng. Có bốn cây
thật cao. Đây là nơi Như Lai đă tịch
diệt. Trong tịnh xá làm bằng gạch, có tạc
tượng Như Lai nhập Niết Bàn, đầu
nằm xây về hướng bắc. Bên cạnh đó có
một Bảo Tháp do Vua A Dục xây, mà nền móng đă
nghiêng, cao hơn 200 mét. Phía trước có dựng một
trụ đá ghi lại sự tịch diệt của
Như Lai. Tuy có chữ ghi nhưng không thấy ngày tháng.
Tương truyền rằng: Phật sống 80 tuổi
đến ngày 15 tháng Vê Sa Khư th́ nhập Niết Bàn. Bây
giờ nhằm ngày 15 tháng 3. Theo Thuyết Nhứt Thiết
Hữu Bộ. Phật nhập Niết Bàn vào lúc nửa
đêm ngày mồng tám tháng Ca Sắc Đệ Ca, bây giờ
nhằm ngày mồng tám tháng chín. Việc Phật nhập
Niết Bàn có nhiều bộ phái có ư kiến khác nhau,
hoặc nói hơn 1200 năm, hoặc nói hơn 1300 năm,
hoặc nói hơn 1500 năm, hoặc nói hơn 900
đến 1000 năm, (tính từ thời Ngài
Đường Tam Tạng)
Cách Tịnh Xá chẳng xa, có một Bảo Tháp,
đó là nơi ngày xưa Như Lai tu Bồ Tát hạnh
cứu con chim trĩ chúa thoát chết. V́ là rừng cây cho nên
có nhiều thú và chim muông làm tổ. Gió từ bốn
phương thổi mạnh, con chim bị thương
đau đớn phát tiếng ai oán mỗi lần nó bay lên.
Lúc ấy Thiên Đế Thích thấy và nói rằng:
- Nhà ngươi sao lại ngu thế mang một
đôi cánh nặng nhọc như thế. Khi lửa cháy
rừng há ngươi chẳng biết bị hại
đến tánh mạng sao?
Con chim trĩ đáp rằng:
- Ai nói vậy?
Đáp rằng:
- Ta là Thiên Đế Thích đây
Con chim trĩ nói:
- Hôm nay Thiên Đế Thích có đại
phước lực, không muốn chẳng gặp. Cứu
tai trừ nạn, nếu có thể ra tay. Bằng không th́
chẳng có công đức ǵ hết. Bây giờ, lửa cháy
đă nhiều rồi không thể dùng lời nói nữa, hăy
làm cho tất cả bay đi, ḷai khác th́ cho lặn xuống
nước.
Rồi th́ Đế Thích mang nước
tưới vào rừng, lửa tắt hết khói các
mạng sống hoàn mệnh. Cho nên, đây có tên là Bảo
Tháp Cứu Hỏa.
Cách Bảo Tháp Cứu Hỏa không xa, đó là
nơi Như Lai tu Bồ Tát hạnh cứu sanh mạng
của con nai. Ngày xưa đây cũng là một khu rừng
lớn. Khi lửa bắt đầu cháy, muôn thú chạy
tứ tán. Chạy phía trước gặp một nơi
rất nguy hiểm, thối lui sau th́ gặp ngọn
lửa lớn. Chắc phải trầm ḿnh để thí
thân mạng nầy. Trong lúc con nai lo chạy thoát thân nh́n
tới nh́n lui, không muốn bị chết thiêu, bỗng
nhiên có một con thỏ phía sau chạy tới, trông
thấy nó rất là khổ sở. Nước đă
đến cổ và đến lưng nên phải chết.
Chư Thiên thâu cốt về xây tháp. Không xa về phía tây
của Bảo Tháp con nai nầy là nơi ông Tu Bạt Đà
Na nhập diệt. Ông ta vốn là người theo Phạm
Chí sống đến 120 tuổi, là người
đặc biệt đa trí, nghe Phật nhập diệt,
đến rừng Ta La Song Thọ yêu cầu ngài A Nan
thưa rằng:
- Tuy biết đức Phật sắp Nhập
diệt, nhưng tôi c̣n nhiều điều nghi ngờ,
nguyện muốn được thỉnh vấn.
A Nan bảo:
- Phật sắp vào Niết Bàn không nên quấy
rầy.
Đáp rằng:
- Tôi nghe Phật ở đời khó gặp, chánh
pháp khó nghe. Tôi có ḷng nghi lớn sợ rằng không thể
hỏi ở đâu được.
Tu Đạt bèn được vào trước
gặp Phật và hỏi Phật rằng:
- Ai cũng tự xưng làm Thầy riêng biệt,
Mỗi vị có mỗi pháp khác nhau để giảng
dạy cho người đời, Cồ Đàm có thể
biết hết không?
Như Lai đáp:
- Ta đă chứng đắc và hiểu biết
sâu xa mà v́ đó diễn thuyết. Ngài Tu Đạt nghe xong
tín tâm thanh tịnh, cầu vào trong pháp nầy để
được thọ Cụ Túc giới.
Như Lai bảo rằng: Ngươi há có thể
làm được sao? Ông là kẻ ngoại đạo tu
học theo Phạm Chí, từ lúc lên bốn?
Sau khi quán sát những việc làm và tư cách, oai
nghi tịch tĩnh, ngôn ngữ thành thật, liền cho vào
trong Giáo đoàn của Ngài để tu phạm hạnh.
Tại đó ông thực hành không có ǵ khó cả.
Tu Đạt đáp rằng:
- Thế Tôn thương tưởng tế
độ vô tư. Từ bốn tuổi đă học ba
nghiệp cho nên thuận lợi.
Phật bảo rằng:
- Ta đă nói hết rồi, ngươi tự mà
hành tŕ.
Liền cho phép Tu Đạt xuất gia và thọ
giới Cụ Túc. Ông ta tinh cần tu tập phát tâm dơng mănh.
Ở trong pháp chẳng nghi mà tự chứng
được đạo quả. Đêm chưa tàn, ông
đă chứng được quả A La Hán, các lậu
đă hết, các phạm hạnh đă lập và không
muốn thấy cảnh Phật nhập Niết Bàn cho nên
liền từ trong chúng nhập vào lửa tam muội
hiện biến thần thông để tịch diệt
trước. Đây là đệ tử cuối cùng của
đức Như Lai.
Cho đến trước khi nhập diệt
Như Lai c̣n độ cho ông Tu Đạt, hậu thân
của con thỏ què kiếp trước.
Bên cạnh tháp tịch diệt của Thiện
Hiền là nơi của các thần Chấp Kim Cang.
Đức Đại Bi Thế Tôn tùy căn cơ mà làm
lợi lạc. Việc hóa độ đă xong nên vui vào
cảnh Niết Bàn, nơi hai cây Ta La Song Thọ, nằm
đầu xoay về hướng bắc. Thần Chấp
Kim Cang Mật Tích Lực Sĩ thấy Phật diệt
độ sầu thảm than rằng:
- Như Lai đă bỏ con mà vào Niết bàn
rồi, không có chỗ nương tựa, không có chỗ
bảo hộ, như gặp phải tên độc và
gặp phải lửa dữ. Thần Kim Cang buồn
thả chày trên mặt đất, rồi bi ai luyến
tiếc và tự nói rằng: Biển sanh tử lớn lao,
ai là người có thể tạo thuyền
được. Đêm dài vô minh tăm tối ai là bậc
làm đuốc soi đường.
Phía bên Bảo Tháp nơi Thần Kim Cang bỏ chày
là nơi mà thiết lễ cúng dường sau khi Như Lai
diệt độ bảy ngày. Khi Như Lai sắp diệt
độ ánh sáng chiếu bừng lên, trời người đều
thấy biết, chưa hết sầu bi th́ đă nghe la
rằng:
Đấng Đại Giác Thế Tôn sắp vào
Niết Bàn, chúng sanh phước đă hết, Thế gian
không có nơi nương tựa. Đức Như Lai
nằm với dáng sư tử nghiêng bên phải bảo
với đại chúng rằng:
- Hăy đừng thấy Như Lai nhập
diệt, v́ pháp thân thường trụ ĺa các sự
biến đổi. Hăy đừng giải đăi nữa mà
sớm cầu giải thoát.
Các vị Tỳ kheo nghe rồi ḷng rất bi
cảm. Lúc bấy giờ ngài A Na Luật bảo cùng các
Tỳ Kheo rằng:
- Hăy đừng sầu bi nữa, để cho
chư thiên quở trách. Lúc bấy giờ dân chúng làng
Mạt La đến cúng dường rồi muốn
giở kim quan của đức Phật nơi ngài nhập
Niết Bàn th́ ngài A Na Luật bảo rằng:
Hăy dừng lại, chư thiên muốn lưu
lại bảy ngày để cúng dường.
Chư Thiên mang hoa hương kỹ nhạc
từ trên không trung tán tụng Thánh Đức, ai ai cũng
đều thành tâm để lo việc cúng dường.
Bên cạnh chỗ để kim quan ấy có
một Bảo Tháp, là nơi Ma Gia phu nhân khóc thương
Phật. Sau khi đến viếng thăm kim quan. Lúc
đức Như Lai tịch diệt. Lúc bấy giờ Ngài
A Na Luật cáo bạch với Ma Gia phu nhân rằng:
- Đấng Đại Thánh Pháp Vương
đă tịch diệt rồi.
Ma Gia nghe xong bi lụy buồn khổ, cùng với
Thiên Chúng xuống nơi Ta La Song Thọ. Thấy
Đại Y, B́nh Bát và Tích Trượng, vỗ kim quan
sầu thảm bi ai than rằng:
- Phước của trời người đă
hết. Thế gian không c̣n mắt nữa. Từ đây
không c̣n ai làm chủ.
Lúc ấy nhờ vào Thánh lực của Như Lai,
nắp kim quan tự mở ra, phóng đại quang minh,
đức Phật ngồi dậy chắp tay an ủi
hỏi han từ mẫu từ xa giáng xuống. Các pháp hành
đều như thế xin đừng sầu bi. Ngài A Nan
đứng kế cận đó cũng bi ai mà thỉnh
Phật rằng:
- Như người đời sau hỏi con, con
biết đối đáp làm sao!
Đáp rằng:
- Khi Phật nhập Niết Bàn mà từ mẫu
Ma Gia từ thiên cung giáng xuống rừng Sa La. Như Lai v́
chúng sanh bất hiếu mà từ kim quan trổi dậy
chắp tay để nói pháp. Phía bắc của thành qua con
sông ba trăm bước đi bộ có một Bảo Tháp.
Đó là nơi làm lễ trà tỳ của đức Như
Lai. Nơi đất hỏa táng nầy cho đến bây
giờ vẫn c̣n màu vàng và màu đen. Có người chí thành
thỉnh cầu cũng được Xá Lợi. Khi
đức Như Lai tịch diệt, trời người
bi cảm, đă bọc bảy lớp báu chung quanh quan tài
với cả ngàn sợi dây, đem hương hoa và tràng
phan bảo cái trang hoàng trang nghiêm đẹp đẽ
trước sau hai bên đường. Phía bắc qua
một con sông toàn là mùi hương dầu gồm nhiều
loại hương khác nhau từ gỗ thơm để
hỏa thiêu. Gồm hai lớp quấn không thiêu
được, một lớp sát trong thân, một lớp
bao ở bên ngoài, để v́ chúng sanh mà phân tán Xá Lợi.
Duy chỉ có tóc và móng tay là không tổn hại.
Bên cạnh chỗ trà tỳ có một Bảo
Tháp, đây là nơi mà Như Lai đă hiện hai chân ra cho
ngài Đại Ca Diếp thấy. V́ dưới kim quan
đức Như Lai, chất toàn là gỗ thơm. Khi
hỏa thiêu, không cháy làm cho mọi người kinh ngạc.
Ngài A Na Luật bảo rằng hăy chờ Ngài Ca Diếp
đă. Lúc ấy Ngài Đại Ca Diếp cùng năm trăm
đệ tử từ rừng xa về đến thành Câu
Thi và hỏi ngài A Nan rằng:
- Có thể xem thân thể Thế Tôn chăng?
Ngài A Nan đáp:
- Đă quấn hàng ngàn lớp vải chung quanh
rồi, đồng thời đă chưẩn bị
gỗ thơm để thiêu.
Ngay lúc ấy, Phật từ trong kim quan tḥ hai chân
ra và h́nh bánh xe trong ḷng bàn chân đă biến sắc.
Đoạn hỏi A Nan:
- Làm sao có việc nầy được?
Đáp rằng:
- Phật đă vào Niết Bàn lần thứ
nhất. Trời người bi lụy. Nước
mắt của họ đă thấm vào chân cho nên mới
biến sắc như vậy.
Ngài Ca Diếp đă đảnh lễ đi
nhiễu và tán thán ca ngợi. Lúc bấy giờ gỗ
thơm mới bắt đầu phựt lửa cháy
lớn. Đây là ba lần ra khỏi quan tài của Như
Lai sau khi tịch diệt. Lần thứ nhất ra
để hỏi A Nan cách trị lộ (giữ
đường). Lần thứ hai, ngồi dậy
thuyết pháp cho mẫu hậu. Lần thứ ba hiện
đôi chân cho Ngài Ca Diếp thấy. Phía nơi hiện chân
ra của đức Phật có một Bảo Tháp do Vua A
Dục xây dựng. Đây là nơi phân chia tám phần Xá
Lợi cho tám ông Vua. Phía trước có dựng trụ
đá có khắc ghi lại việc nầy. Sau khi thị
tịch, Phật vào sâu trong Niết Bàn. Chư Vương
trong tám nước đem bốn loại binh đến và
có những vị Trực Tánh Bà La Môn đến thành Câu Thi
yêu cầu những đại lực sĩ rằng:
- Bậc Thầy của trời và người
đă tịch diệt ở nước nầy cho nên
lặn lội đến đây để chia Xá
Lợi
Lực sĩ đáp:
- Như Lai giáng sanh ở đây là bậc Tôn Quư,
thị tịch ở đây. Việc thị tịch ấy
thế gian đă biết rơ. Ngài là bậc cha lành của
chúng sanh, đương nhiên Xá Lợi của Như Lai
được cúng dường, mà những kẻ bên ngoài
không được ǵ cả.
Lúc bấy giờ các Đại Vương
mới t́m đến, rồi chẳng hài ḷng nên nói
rằng:
- Việc thỉnh Xá Lợi chẳng phải là
dùng binh lính từ xa đến uy hiếp và ông Trực Tánh
Bà La Môn nói cao giọng rằng:
- Kính lạy đức Đại Bi Thế Tôn,
Ngài tu phước và làm lành qua nhiều đời nhiều
kiếp. Ở đây ai cũng nghe đầy đủ
rồi, mà nay c̣n muốn tranh giành xá lợi của Ngài là
điều rất phi lư.
Bấy giờ Xá Lợi chia ra làm tám phần,
mỗi vị đều được cúng dường,
khỏi phải cần binh lính. Các lực sĩ y theo
lời nầy, liền chia ra làm tám phần và Đế
Thích nói với chư Vương rằng:
- Trời cũng sẽ có một phần xin
đừng dùng lực mà mang đi.
Long Vương A Na Bà Đáp Đa, Long
Vương Văn Lân, Long Vương Y Na Bát Đản
Đa... cùng bàn với nhau tại sao ḿnh không có. Nếu mà
dùng lực để cạnh tranh, chắc là không
địch nổi.
Ông Trực Tánh Bà La Môn nói rằng:
- Đừng có tranh nữa. Ai cũng có phần
hết.
Sau đó chia ra làm ba phần, phần thứ
nhất cho chư Thiên, phần thứ hai cho Long
Vương, phần thứ ba cho Người lưu
giữ, chia đều cho tám Vua. Lúc ấy Trời,
Rồng, Người, Vua chẳng ai buồn ǵ cả.
Phía Tây Nam của Bảo Tháp phân chia Xá Lợi,
đi hơn hai trăm dặm, th́ đến làng của
một vị Bà La Môn. Ông nầy là người giàu có sung
túc, thật học không xen tạp, nghiên cứu Ngũ Minh,
tôn kính Tam Bảo. Ông ta đến ở đây và kiến
lập nơi chốn để cúng dường chư
Tăng. Ông cung cấp đầy đủ những vật
dụng cần thiết khi mà chúng Tăng ngang qua nhà. Ông vui
vẻ cung thỉnh lưu lại và phát tâm cúng dường.
Hoặc ở lại một đêm cho đến bảy
ngày. Trong khi đó Vua Thường Ca hủy diệt
Phật pháp, chúng Tăng dần dần chẳng c̣n ai. Ông Bà
La Môn luôn luôn hoài niệm. Có hôm đang đi kinh hành,
thấy một vị Sa Môn tóc bạc mi dài tay cầm tích
trượng đang đi. Vị Bà La Môn chạy
đến trước mặt và hỏi:
- Ngài từ đâu đến?
Sau đó thỉnh vào tăng pḥng để làm
lễ cúng dường cháo nấu bằng sữa. Vị Sa
Môn đang ăn, bị sút một cái răng. Ngài để
b́nh bát xuống và trầm ngâm suy nghĩ. Vị Bà La Môn
quỳ xuống hỏi rằng:
- Đại Đức liễu tri. Nhân duyên ǵ mà
suy tư như thế, có phải v́ đêm qua không an ổn
hay v́ cháo không ngon?
Vị Sa Môn từ tốn đáp rằng:
- Ta thương cho chúng sanh phước mỏng,
muốn nói mà chưa đúng lúc. Ăn xong sẽ nói.
Sau khi Sa Môn ăn xong xếp y. Ông Bà La Môn thưa:
- Ngài đă hứa khả, sao Ngài chưa nói?
Sa Môn đáp:
- Ta không quên đâu. Nhưng mà nói không dễ dàng.
Cho đến khi nào sự viêc thành nghi, ta mới nói. Ta tán
thán không phải coi nhẹ bát cháo của ngươi
đâu, và từ trăm năm nay chưa được mùi
vị như thế. Ta đă có mặt từ khi Như Lai
c̣n tại thế. Trong Tinh Xá Trúc Lâm, thành Vương Xá, ta
rửa chén bát, hoặc lấy nước tắm. Khi
phước báo của trời người đă hết
giống như sữa sẽ thành nước trong.
Bà La Môn hỏi:
- Đích thân Đại Đức có gặp
Phật không?
- Đương nhiên, Người không nghe La
Hầu La, đệ tử của Phật. Chính ta đó. V́
hộ tŕ Chánh Pháp của Phật mà chưa vào Niết
Bàn.
Nói xong, liền biến mất không c̣n thấy
nữa. Vị Bà La Môn bèn quét dọn căn pḥng sạch
sẽ, xông hương và tạo tượng và cung kính
như lúc đă gặp.
Lại nữa từ rừng sâu kia đi hơn
500 dặm, đến nước Bà La Nê Tu (Ba La
Nại)
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển thứ sáu
Quyển thứ
bảy
(5 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Ba La Nại
2.
Nước Chiến Chủ
3.
Nước Phệ Xá Phân (Tỳ Xá Ly - Vesali)
4.
Nước Phất Phiêu Tŕ
5.
Nước Ni Ba La
1) Nước Ba La Nại chu vi bốn ngàn
dặm. Đô Thành phía tây giáp với sông Hằng, chiều
dài 18.9 dặm, chiều ngang 5.6 dặm. Cư dân sống
chen chúc trong thành. Nhà nào cũng có nhiều pḥng và buôn bán hàng
hóa. Tánh người ôn ḥa. Phong tục thuần nhă. Ưa
học hỏi. Phần nhiều tin theo ngoại
đạo, ít tôn kính Phật Pháp. Khí hậu thuần ḥa. Cày
cấy được mùa. Cây trái nhiều và cũng có
nhiều loại rau cải khác nhau. Có hơn 30 ngôi Già Lam, và
hơn 3000 Tăng Sĩ. Họ học theo phái Tiểu
Thừa thuộc Chánh Luợng Bộ. Có hơn 100 ngôi
đền thờ và hơn vạn ngoại đạo. Các
phái Ngoại Đạo đa phần đều thờ
Đấng Tự Tại Thiên, hoặc không để tóc,
hoặc bới tóc, ḿnh trần không mặc quần áo,
lấy than đen thoa lên ḿnh. Họ tinh tấn tu khổ hạnh
để cầu thoát sanh tử.
Ở giữa đại thành có hai mươi
đền thờ và các đền thờ đó đều
làm bằng đá có chữ khắc lên đó. Có rừng bên
cạnh cho nên che được bóng mát. Có tượng Quán
Tự Tại Thiên bằng đá gần 100 thước uy
nghi đẹp đẽ đường đường
phước tướng.
Phía đông bắc của thành lớn xứ Ba La
Nại có một con sông và nơi phía tây con sông nầy có
một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên cao hơn
trăm thước, phía trước có dựng một
trụ đá mà tường của nó phản chiếu lên
ánh sáng rất đẹp đẽ. Nơi đây ảnh
đức Như Lai thường hiện lên.
Phía đông bắc của sông Ba La Nại đi
hơn mười dặm, đến chùa Lộc Dă. Trong khu
vực chia ra làm tám phần liên hệ với nhau, nhà
cửa lầu các tráng lệ quy mô. Tăng sĩ sống
hơn 1500 người, tu theo Chánh Luợng Bộ thuộc
Tiểu Thừa. Trong thành lớn có một Tinh Xá cao hơn
200 thước. Phía bên trên tạo h́nh một trái xoài
được thếp màu vàng. Đá nhiều tầng
chồng chất tạo thành. Đá chất lên bốn bên
như thế cả hàng trăm miếng, mỗi miếng
đều có chạm tượng Phật màu vàng. Ở
trong Tịnh Xá đó, có một tượng Phật
bằng đá gần bằng thân của đức Như
Lai, tạc theo tư thế chuyển Pháp Luân. Phía Tây Nam
Tịnh Xá có một Bảo Tháp bằng thạch do Vua A
Dục dựng nên, đă hư hoại, chiều cao hơn
100 thước. Phía trước đó có dựng một
trụ đá cao hơn 70 thước. Đây là thạch
ngọc cho nên có ánh sáng phản chiếu rất đẹp.
Người nào có tâm đến cầu phước,
ảnh của ḿnh sẽ chiếu lên các tượng và
thấy rơ tướng Thiện Ác. Đây là nơi Như
Lai thuyết pháp lần đầu tiên sau khi thành
đạo.
Cách đây không xa có một Bảo Tháp của A Nhă
Kiều Trần Như gặp Bồ Tát lúc bỏ tu khổ
hạnh, không cần người giúp đỡ, đến
nơi đây tự ḿnh luyện tập. Bên cạnh Bảo
Tháp nầy, cũng có năm trăm vị Phật Độc
Giác nhập Niết Bàn. Lại có ba Bảo Tháp là nơi di
tích của ba vị Phật trong quá khứ kinh hành tọa
thiền.
Phía Bảo Tháp của ba vị Phật kinh hành là
nơi Bồ Tát Di Lặc được thọ kư sẽ
thành Phật. Ngày xưa khi đức Như Lai c̣n ở
tại núi Linh Thứu, thành Vương Xá, đă bảo các
Tỳ Kheo rằng:
- Vào đời vị lai, ở cơi Thiệm
Bộ Châu và ở nơi đây, con người thọ
được tám vạn tuổi. Có con của Bà La Môn tên
là Từ Thị thân cao tốt sắc vàng, ánh sáng quang minh
chiếu rọi sẽ bỏ gia đ́nh đi tu và thành Chánh
Giác. V́ chúng sanh thuyết pháp trong tam hội. Những
người được tế độ là những
người đă trồng căn lành phước
đức nơi ta. Đó là những người có tâm thâm
tín Tam Bảo. Kẻ tại gia người xuất gia,
kẻ giữ giới, người phạm giới tất
cả đều được hóa độ để
chứng quả giải thoát. Trong ba hội thuyết pháp
như thế sẽ độ được những
người mà có duyên với ta bây giờ. Sau đó tất
cả đều kết nhân duyên trở thành thiện
hữu. Khi Bồ Tát Từ Thị nghe Phật nói như
thế, từ ṭa ngồi đứng dậy bạch
Phật rằng:
- Con nguyện sẽ làm vị Từ Thị
Thế Tôn kia.
Như Lai bảo rằng:
- Theo lời nói nầy sẽ chứng
được quả vị như ta đă nói bên trên,
ngươi sẽ giáo hóa họ.
Phía tây Bảo Tháp nơi đức Từ Thị
được thọ kư là nơi mà đức Thích Ca
Bồ Tát thọ kư trong hiền kiếp nầy khi loài
người thọ hai vạn tuổi, có đức
Phật Ca Diếp xuất hiện nơi đời
chuyển bánh xe Pháp khai hóa hàm thức. Nhận lời
thọ kư là Bồ Tát Hộ Minh. Bồ Tát nầy trong
tương lai khi chúng sanh ở đời thọ mạng
100 tuổi, ngài sẽ thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.
Ở phía Nam, nơi đức Thích Ca Bồ Tát
thọ kư không xa là dấu tích ghi lại nơi kinh hành
của bốn vị Phật trong quá khứ. Chiều dài
hơn 50 bộ, chiều cao có thể bảy thước.
Trên tảng đá xanh, có khắc h́nh tượng
đức Như Lai đi kinh hành. tượng nầy
rất uy nghiêm đẹp đẽ. Thịt tóc giống
như thật, linh nghiệm huyền bí vi diệu.
Trong thành nầy, có rất nhiều thánh tích, có
hơn 100 Tịnh Xá và Bảo Tháp, chỉ lược
thuật chứ không nói rơ hết. Phía tây của Già Lam
lớn rộng kia có một hồ nước trong, chu vi
hơn hai trăm bộ. Đây là nơi Như Lai
thường hay tắm gội. Tiếp theo phía tây có
một hồ lớn, chu vi hơn 180 bộ, đây là
nơi Như Lai thường rửa bát. Kế đến,
phía bắc có một hồ chu vi hơn 150 bộ, nơi mà
Như Lai thường hay giặt y. Cả ba hồ nầy
đều có dấu vết của rồng. Nước
sâu, vị ngọt, trong suốt, sạch sẽ
thường không tăng giảm. Ai có tâm khinh ngạo
đối với những hồ này sẽ bị con
Rồng Kim Tỳ La Phú Đa làm hại. Ai tín tâm cung kính
sẽ được những điềm lành. Nơi
giặt y của Như Lai c̣n lại dấu tích Cà Sa và
dấu ấn ấy đă khắc nên thành h́nh và các tín
đồ hay đến đây để cúng dường.
Ngoại Đạo hung dữ đạp lên đá nầy,
vua Rồng trong hồ kia bèn nổi lên mưa gió.
Phía bên hồ chẳng xa có một bảo tháp.
Đây là nơi Như Lai tu khổ hạnh làm thân con voi sáu
ngà. Có một người thợ săn muốn
được ngà voi, cho nên muợn áo Cà Sa mặc vào. Con
voi v́ cung kính chiếc áo Ca Sa mà bị chặt mất ngà.
Cách chỗ mất ngà không xa có một Bảo Tháp. Đây là
nơi Như Lai tu khổ hạnh. V́ thương
đời mà thị hiện làm thân con chim cùng với con
khỉ và con voi trắng thi nhau hỏi rằng:
- Ai là người đến trước
dưới cây Ni Câu Luật?
Những việc như thế c̣n lại di tích
rất nhiều, tùy theo dài ngắn lớn nhỏ mà hóa
hiện xa gần. Người ta chỉ biết
đại khái như vậy. Người tu cũng như
người đời đều nương tựa vào
đó để biết.
Ở phía nầy chẳng xa bao nhiêu, nằm vào
trong rừng sâu lại có một Bảo Tháp. Đây là
nơi Như Lai ngày xưa cùng với Đề Bà
Đạt Đa gặp nhau trong câu chuyện giết con nai
Chúa.
Chuyện kể rằng ngày xưa ở tại
nơi đây trong rừng già nầy có hai nhóm nai. Mỗi bên
có hơn năm trăm con. Lúc bấy giờ ông vua của
nước nầy đi săn bắn gặp được
Con nai Chúa là Bồ Tát. Con nai Chúa ấy yêu cầu Vua
rằng:
- Đại Vương đi săn t́m theo
dấu vết, mà tôi biết rằng số mạng của
chúng tôi cũng đă hết. Nhưng thịt của chúng
tôi cũng chỉ được trong ngày thôi, qua ngày sẽ
hôi thúi không dùng được, cho nên xin Đại
Vương mỗi ngày chỉ giết một con.Vua có
thể giết để dùng. C̣n tôi xin cho qua ngày khác.
Vua vui vẻ nhận lời, xa giá trở về
và hai đàn nai từ từ hiến xác. Trong nhóm nai của
Đề Bà có một con nai đang có chửa, lần
tới đến phiên nó xả mạng, nó thưa với
Vua rằng:
- Thân tôi chết không sao, nhưng số của con
tôi th́ chưa.
Con nai đầu đàn giận dữ nói:
- Kẻ nào dám không tuân mệnh?
Con nai cái than rằng:
- Vua của ta bất nhân không cho chết ngày khác.
Lại bảo Vua Nai Bồ Tát chết thế. Nai
chúa nói rằng:
- Thảm thay ḷng thương của mẹ
đối với con. Ân đức chưa thành h́nh
đối với con ḿnh. Nên nay ta thay ngươi
đến trước cửa nhà Vua, và truyền ra với
những người đi trên đường rằng:
- Vua nai kia hôm nay sẽ vào thành. Mọi
người không nên chạy xem.
Nhà Vua nghe điều ấy rồi không tin. Nha môn
thưa lại Vua mới tin và hỏi rằng:
- Tại sao con nai Chúa đến?
Con nai đáp rằng:
- Có một con nai cái có mang đến ngày hiến
mạng, tâm rất lo lắng v́ chưa sinh con, cho nên tôi thay
thế.
Vua nghe xong rồi liền than:
- Ta thân người nhưng là Nai, ngươi là
Nai nhưng tâm người.
Từ đó nhà Vua ra lệnh thả hết
bầy Nai và không đi săn nữa, tức th́ trong
rừng nầy những con Nai được yên ổn.
Nhân đây khu rừng được gọi là rừng Thí
Nai, và Nai ở đây càng ngày càng nhiều hơn.
Cách Già Lam về phía tây nam hai ba dặm, có một
Bảo Tháp cao hơn 300 mét, dấu vết c̣n để
lại rất to lớn và trân kỳ. Bên trên không có
nhiều tầng mà làm để an trí những b́nh bát và phía
bên sau trụ đá cũng không có chạm h́nh bánh xe. Phía bên
nầy có một Bảo Tháp nhỏ là nơi mà năm anh em
A Nhă Kiều Trần Như bị Phật chế ngự,
phải đứng dậy nghinh tiếp Phật.
Sau khi Thái Tử Tất Đạt vuợt thành,
trải qua núi sông mưa nắng quên thân ḿnh để
cầu Pháp. Vua Tịnh Phạn đă ra lệnh cho ba
người trong gia tộc và hai người cậu:
- Con ta đă bỏ tất cả để tu
học, vào núi một ḿnh ở trong rừng sâu, nếu ai
gặp con ta, nên bảo ngừng đi.
Bên nội có chú, có bác, bên ngoại có Vua nhưng
thiếu quan cho nên hăy xem động tĩnh cho biết mà
ngưng lại.
Cả năm người tuân mệnh và muốn
đi t́m kiếm. Họ ra đi với mục đích
khuyên Thái Tử. Mỗi người tự nghĩ rằng:
- Phàm kẻ tu học khổ để chứng
hay là vui để chứng?
Người thứ hai đáp rằng:
- Đạo là một sự an lạc
Người thứ ba đáp rằng:
- Đạo là sự cần khổ
Hai ba lần tranh luận với nhau chưa xong,
trời đă sáng. Lư tư duy của Thái Tử đă
hết cho nên mới phục những người tu
khổ hạnh bằng cách tiết chế ăn một
ngày một hột mè chỉ để duy tŕ thân thể mà
thôi,
Hai người kia nghe thế mà bảo rằng:
- Thái Tử sở dĩ làm như vậy là không
đúng pháp. Phàm người tu Đạo th́ vui để
chứng chứ. Mà nay chỉ có khổ hạnh, th́ phải
đi thôi. Xả bỏ điều đó xa ĺa nơi
đây để tư duy mới chứng quả
được.
Thái Tử tu khổ hạnh nơi đây sáu
năm mà chưa chứng được Đạo
quả, cho nên biết rằng việc tu khổ hạnh là
không đúng và sau đó dùng cháo sữa, rồi chứng
quả. Ba người khác khi nghe như thế mới than
rằng:
- Đă sắp thành công rồi sao lại bỏ
đi!
Sáu năm tu khổ hạnh ấy chỉ một
ngày mà hao tổn công đức. Sau đó, họ t́m
đến hai người kia để xin ư kiến.
Họ cho rằng:
- Trước đây thấy Thái Tử có
đầy đủ tất cả ư nghĩa khi ra khỏi
cung Vua, ở nơi hoang dă. Bỏ y phục trân quư bằng
da nai, tinh cần quyết chí chỉ một ḷng khổ tâm
cầu được Diệu Pháp thậm thâm đến
Vô thượng quả. C̣n bây giờ nhận bát cháo của
nàng Mục Nữ, nghĩa là đă thua ư chí trong đạo
rồi. Ta biết như vậy nhưng chẳng có cách ǵ
khác để khuyên can được.
Hai người kia đáp rằng:
- Sao anh chỉ thấy lúc hoàng hôn. Người
nầy là kẻ kiệt quệ, ở đây chứ đâu
phải thâm cung mà được an ổn cung phụng.
Không có tâm yên tịnh, làm sao ở nơi sơn lâm
được, chỉ có thể làm Chuyển Luân
Vương thôi. Hăy để cho anh ta đi đi,
đừng có luyến tiếc làm ǵ. Nói ra thêm xót xa
nữa.
Bồ Tát tắm dưới sông Ni Liên ngồi
dưới gốc cây Bồ Đề thành Đẳng
Chánh Giác, hiệu là Thiên Nhơn Sư, thanh tịnh trầm
mặc. Trong sát na đó t́m đến ngài Uất
Đầu Lam Phất, đang ở cơi Phi Tưởng
định với chư Thiên, nghe tiếng báo rằng
Uất Đầu Lam Phất đă mệnh chung bảy ngày
rồi. Như Lai tự than:
- Không biết làm sao gặp được!
Chưa nghe Diệu Pháp mà đă biến hóa, từ
đó ngài quán sát trong thế giới, thấy Ông A Lam Già Lam
chứng được Vô Sở Hữu Xứ
Định, nhưng chư Thiên báo ông ấy cũng đă
mạng chung năm ngày rồi. Như Lai lại than
tiếp:
- Thương cho người bạc
phước.
Như Lai lại quán sát xem ai có thể thọ
giáo, chỉ có năm người ở trong rừng nai có
thể thọ giáo trước được. Cho nên
đức Như Lai lúc bấy giờ liền rời
khỏi cây Bồ Đề đến rừng Nai. Dáng
vẻ uy nghi tịch tịnh thần quang rực rỡ,
sắc thái như ngọc, thân hiện màu vàng an nhiên
đến trước nơi năm người. Khi
năm người nầy mới thấy đức
Như Lai đồng nói rằng:
- Đừng nên đón ông ta. Thời gian năm
tháng trôi qua chắc chẳng chứng Thánh quả ǵ, cho nên
mới thối tâm và t́m lại chúng ta đây. Hăy mặc
nhiên đừng đứng lên kính lễ.
Như Lai càng tiến gần th́ uy thần càng lay
động, năm người nầy quên đi sự
chế ngự, mà bái nghinh, hỏi han đức Như Lai.
Đợi cho xong, đức Như Lai mới
từ tốn khai thị Diệu Lư. Hai bên ngồi yên xong
rồi, mới biết ngài đă chứng quả.
Phía đông của rừng Thí Nai đi
khoảng hai ba dặm đến một Bảo Tháp. Bên
cạnh đó có một cái hồ chu vi tám mươi
bộ, gọi là hồ cứu mệnh, cũng c̣n có
nghĩa là Liệt sĩ mà người xưa cho biết
rằng:
- Cách đây hàng trăm năm trước có
một vị ẩn sĩ.
Nơi phía ao ghi lại dấu tích của việc
nối kết cái b́nh với kỹ thuật cao cuờng
nghiên cứu về thần lư siêu việt có thể sử
dụng đá sỏi làm người thật, hoặc là
h́nh gia súc rất dễ dàng, nhưng chưa có thể đi
mây về gió được, bằng ra công t́m cầu phép
Tiên xưa nay. Nơi đây cũng cho biết rằng: Phàm
là thần tiên, phải có thuật trường sanh,
muốn cầu học phép phía trước, phải
kiến trúc đàn tràng, chu vi một trượng chiêu
mộ các liệt sĩ dũng mănh cầm dao dài,
đứng nơi đàn tràng, đứng yên lặng không
được nói. Ông tiên ngồi ở giữa đàn, tay
cầm một con dao dài, miệng đọc thần chú
để cầu nguyện. Chú ư tập trung vào một
điểm, đoạn cầm dao lên biến thành kiếm
thật. Có lúc ở trên hư không biến thành các vị
tiên cầm kiếm chỉ huy, tất cả các việc mong
muốn được toại nguyện, không suy yếu,
không già, không bịnh, không chết. Người nầy
được tiên phong là kẻ Oanh Liệt (liệt
sĩ). Mọi việc mong muốn đều sẽ
được như tâm nguyện.
Sau nầy ở trong thành có gặp một
người, buồn rầu đi trên đường
gặp ẩn sĩ kia tâm rất vui mừng liền
hỏi thăm an ủi.
- Sao mà lại bi thương như vậy?
Đáp rằng:
- Tôi nghèo khổ tự làm tự nuôi thân. Có ông
chủ thấy và biết được điều
nầy cho nên mới tin dùng, đến khi măn 5 năm th́
mới có trọng thưởng. V́ sự ẩn nhẫn lao
khổ nầy khó quên được. Trong 5 năm đó,
chỉ có một lần làm sai bị đánh đ̣n, không
được ǵ cả. V́ lư do nầy cho nên tâm rất là
buồn, không biết ai mà than khóc. Ẩn sĩ bảo cùng
đi đến nơi am tranh, dùng sức chú nguyện
để biến đồ thành bánh, ra lệnh tắm
rửa và cho mặc đồ mới. Lại cho năm
trăm quan tiền vàng mà nói rằng:
- Cho đến trong tương lai, cầu
được hạnh phúc không ngoài việc nầy. Từ
đó về sau, số tăng lên nhiều gấp
bội.
Thầm cảm ơn ân đức của
người có tâm, rồi kẻ oanh liệt luôn cầu
hiệu quả để báo tin cho biết.
Ẩn sĩ bảo:
- Ta yêu cầu ông trải qua năm tháng sẽ
được hạnh ngộ, nhận được dung
mạo th́ biết chẳng c̣n điều nguyện ǵ
nữa. Chỉ một đêm thôi không c̣n nghe nữa.
Kẻ kia đáp:
- Sự chết thường không rơ, há có thể
chạy trốn được sao. Vậy thiết đàn
tràng cầu thỉnh chư Thiên, y vào phương pháp mà hành
sự, ngồi cả ngày yên lặng và sau đó sai
bảo.
Ẩn sĩ tụng thần chú, kẻ sĩ
cầm đao bỗng nhiên phát ra tiếng. Lúc bấy
giờ trên không trung lửa hạ xuống thiêu đám mây.
Lúc bấy giờ ẩn sĩ dẫn người này vào
trong hồ tị nạn rồi hỏi rằng:
- Này con, con nghe có ǵ kinh không?
Kẻ sĩ đáp:
- Sau khi thọ mệnh đến giữa đêm
bị hôn trầm rồi có mộng ác khác thường
liền trổi dậy. Thấy ông chủ ngày trước
mang thân đến an ủi và cảm tạ.
- Cảm tạ ân sâu khó có thể dùng lời
để báo đáp.
Người kia giận dữ, liền bị sát
hại. Thọ thân trung ấm. Rồi tử thi kia thán
trách:
- Do nguyện đời đời mà chưa báo
được đức dày, liền thác sanh vào nhà của
một người Bà La Môn ở miền nam Ấn
Độ, cho đến việc thọ thai và xuất thai
khổ sở khôn luờng. Nhớ đến ân đức
không thể nói nên lời.
Không biết nghiệp ǵ mà thọ thân để
sanh con như thế. Mỗi sự hoài niệm về ân
trước đều nhẫn nại mà không có lời nào.
Những người trong gia tộc gặp thấy rất
kinh dị. Trải qua sáu mươi lăm năm như
thế vợ tôi mới hỏi:
- Anh nói được chưa? Nếu mà không nói
được, hăy giết con anh đi.
Lúc đó tôi nghĩ rằng cách biệt thế
gian, tự thấy già suy, chỉ có đứa bé nầy mà
thôi. V́ thế dừng lại, Vợ tôi không cho sát hại
rồi bèn la lên tiếng như thế đó.
Ẩn sĩ đáp:
- Ta đă qua rồi. Đây là ma lực. Kẻ
sĩ cảm ơn mà buồn việc không thành cho nên
phẩn nộ mà chết, khỏi bị nạn chết
cháy, nói rằng cảm ơn sự cứu mệnh mà
chết cho nên ở đây c̣n gọi là hồ liệt
sĩ.
Phía tây hồ liệt sĩ có một Bảo Tháp
thờ ba con thú. Lúc Như Lai tu hạnh Bồ Tát. Đây là
nơi thiêu thân. Ở kiếp sơ, lúc bấy giờ trong
rừng nầy có một con cáo, con thỏ và con khỉ. Tuy
khác loại nhưng rất ḥa đồng. Lúc bấy
giờ Thiên Đế Thích mới thử ḷng người
tu Bồ Tát hạnh, xuống trần hoá hiện một
người già và nói với ba con thú đó rằng:
- Hai trong ba chúng bay đă được yên ổn
không c̣n lo sợ ǵ nữa!
Đáp rằng:
- Ở đây cỏ cây tươi tốt, chúng
con tuy khác loài nhưng cùng vui và rất an lạc.
Lăo nhân nói rằng:
- Nghe nói hai trong ba chúng bay có t́nh nồng hậu và
ư chí thân mật, đă quên lăo già nầy cho nên ta từ xa
đến đây để t́m. Bây giờ đói quá, không có
ǵ để ăn hết.
Đáp rằng:
- Xin ngài đợi một chút, chúng con sẽ
đích thân đi t́m.
Nói rồi chúng tỏa ra khác hướng vào
rừng để t́m. Con Cáo bơi xuống nước
bắt một con cá. Con khỉ vào rừng cây để hái
hoa quả. Sau đó cả hai cùng trở lại dâng cho ông
lăo. Chỉ có con thỏ không trở lại, mà đi chơi
đâu đó, nên ông lăo mới hỏi rằng:
- Ta xem thấy chúng bay chưa ḥa hợp
lắm!
Con Khỉ, con Cáo cùng chí hướng, có thể
giống nhau. Duy chỉ có con Thỏ là không trở lại,
chẳng dâng đồ ăn ǵ hết. Việc nầy
phải biết đích xác như vậy.
Con Thỏ vừa nghe sự quở trách, nói
với con Cáo và con Khỉ rằng:
- Tập trung đông cốt để cho tiều
phu làm thịt.
Nghe như vậy, con khỉ và con cáo tranh nhau
chạy trốn trong cỏ mệt đừ. Thấy
lửa cháy dữ con thỏ bảo rằng:
- Thưa Ngài, thân con không đáng là bao, cho nên khó
thoát được. Hăy nhận thân con làm một bữa
ăn.
Nói xong, nhảy vào lửa thiêu thân. Lúc bấy
giờ lăo nhân hiện trở lại h́nh Thiên Đế
Thích, mới thâu hết tất cả những cốt
xương bị chết và than với con Cáo và con Khỉ
rằng:
- Một con đă đến, ta cảm cái tâm
nầy, chẳng những không mất mà c̣n lại di tích
nầy, nên gửi lên mặt trăng mà truyền lại cho
đời sau. Cho nên, cho đến bây giờ trên mặt
trăng vẫn c̣n con Thỏ. Người đời sau
kiến trúc nơi nầy thành Bảo Tháp.
Từ đây xuôi theo sông Hằng đi về
hướng đông cách 300 dặm đến nước
Chiến Chủ.
2) Nước Chiến Chủ chu vi hơn hai ngàn
dặm. Đô thành giáp với sông Hằng, chu vi hơn
mười dặm. Cư dân giàu có ở san sát bên nhau.
Đất đai màu mỡ dùng để cày cấy
trồng trọt. Khí hậu ôn ḥa. Gió mưa phong tục
thuần chất. Tánh t́nh con người thô bạo. Tà chánh
đều tin. Có hơn 10 ngôi Già Lam, có gần 1000 Tăng
Sĩ tu theo giáo lư Tiểu Thừa. Có 20 ngôi đền.
Cuộc sống của Ngoại Đạo hỗn tạp.
Phía tây bắc của Đại Thành, trong vuờn chùa có
một Đại Tháp. Do Vua A Dục xây. Theo người
Ấn Độ xưa nói rằng nơi nầy có Xá
Lợi của Như Lai độ một đấu. Ngày
xưa đức Như Lai ở nơi đây trong bảy
ngày v́ trời người và mọi loài mà thuyết pháp. Bên
cạnh đó cũng có một nơi di tích của ba
vị Phật trong quá khứ ngồi Thiền và kinh hành.
Gần đó lại có tôn tượng của đức
Từ Thị Bồ Tát. Tượng tuy nhỏ nhưng
rất uy nghi và có thần sắc. Những chuyện linh
ứng biến hóa đều khởi đi từ chốn
nầy.
Phía đông Đại Thành đi hơn hai trăm
dặm, đến Chùa A Tỳ Đa Yết Sách Noa, chu vi
rất rộng và điêu khắc rất công phu. Hoa lá trên
mặt hồ và lầu các hai bên giao nhau đă tạo nên
cảnh rất sinh động. Tăng đồ rất
trang nghiêm, mọi người kính nể. Nghe người
xưa thuật lại rằng:
- Ngày xưa, từ núi Tuyết Sơn phía bắc
thuộc nước Đỗ Hóa La có ba vị Sa Môn vui
học. Hai trong ba người cùng một ư, lễ bái
tụng niệm và an nhàn. Mỗi người như vậy
tự nói rằng:
- Diệu Lư thâm sâu khó có thể dùng ngôn từ
để đàm luận và nghiên cứu. Nhưng Thánh Tích
th́ đă sờ sờ ra đó có thể t́m hiểu
được. Nghi hỏi chưa đến đâu mà sao
xem Thánh Tích được. Rồi sau đó hai trong ba
người đấu trượng với nhau rồi ra
đi. Khi đến Ấn Độ, họ ở trong
những ngôi chùa. Có lúc nơi xa xôi, không t́m chỗ ở
được, cho nên phải ở bên ngoài, gió mưa vào
bên trong thấm mệt. Miệng bụng nhan sắc h́nh dung
khô kiệt đói rét. Lúc bấy giờ Vua của
nước nầy xuất du gần đó thấy họ
là những khách tăng cho nên kinh ngạc mà nói rằng:
- Những vị khất sĩ từ đâu
đến vậy? Mà sao h́nh thù quái dị quá?
Các vị Sa Môn đáp:
- Chúng tôi thuộc nước Đỗ Hóa La, theo
lời di giáo cao cả ngày xưa, nên cùng đi lễ Thánh
Tích. Bởi v́ bạc phước cho nên chưa có toại
nguyện. Các vị Sa Môn Ấn Độ chưa quan tâm
việc du hành nầy cho nên muốn trở về bổn
quốc mà đi tham lễ chưa xong, c̣n ở lại th́
khổ tâm biết mấy.
Vua nghe xong, ḷng thêm thương xót, cho nên ra
lệnh kiến tạo Già Lam và ra chiếu chỉ rằng:
- Ta tuy là kẻ được thế nhân tôn
trọng, là bậc cao quư, nhưng so ra Tam Bảo c̣n cao
cả hơn. Cho nên dầu là Vua cũng phải quy y
Phật. Ai đắp y hoại sắc ta phải chiếu
cố. Nay kiến lập đạo tràng nầy để
làm nơi lui tới của người hành hương.
Từ đây trở về sau, khi các vị tăng
đến phải ở trong Già Lam không được
ở trong nhà.
V́ thế mới có tên già lam như vậy. Ở
phía đông nam của Già Lam A Tỳ Đa Yết Sắc
Noa, đi hơn 100 dặm qua sông Hằng, đến làng Ma
Ha Bà La gặp một vị Bà La Môn chẳng tôn trọng
Phật Pháp. Lúc bấy giờ thấy các vị Sa Môn
mới hỏi về chuyện tu học biết
được trí thức của họ rất cao và sâu cho
nên kính lễ.
Phía bắc sông Hằng, có một đền
thờ Na La Diên. Lầu các nhiều tầng, trang hoàng xinh
đẹp. Các tượng chư Thiên đều làm
bằng đá. Người đời nói rằng rất
linh ứng khó có thể nói hết. Phía đông của
đền thờ Na La Diên, đi hơn 30 dặm có một
Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên. Một nữa trụ
đá đă bị ngă xuống đất cao hơn hai
trượng. Phía bên trên có tạo h́nh đầu Sư
Tử và khắc ghi những sự tích chiến đấu
với Quỷ. Ngày xưa ở nơi nầy có một khu
rừng bị Quỷ chiếm, có uy lực lớn chờ
bắt người ăn thịt uống máu, sát hại
rất nhiều sinh linh, vô cùng khốn khổ. Đức
Như Lai, thương chúng sanh không muốn thấy sự
chết nầy, nên dùng thần thông biến hóa để
dụ các loài Quỷ nầy dẫn chúng quy y và thọ
giới không sát sanh. Các loài quỷ vâng theo lời dạy
quay quanh ḥn đá và thỉnh Phật ngồi, nguyện nghe
Chánh Pháp và hết sức giữ ǵn. Từ đó về sau
không c̣n ai sợ nữa. Cả hai bên đến ngồi bên
phiến đá, có đến số ngàn mà đá kia không
thể lay chuyển. Nơi đây có rừng cây và ao
nước bao bọc tả hữu cho nên người
đến đây tâm rất lắng đọng.
Gần nơi hàng phục quỷ có một số
chùa, tuy đa phần bị hư hoại nhưng vẫn
c̣n tu sĩ. Tất cả tu theo giáo lư Đại Thừa.
Từ phía đông nam đi hơn một trăm dặm
nữa, đến một Bảo Tháp. Bảo Tháp đă
nghiêng và cao hơn mấy chục mét. Chuyện xưa
kể lại rằng: Sau khi Như Lai diệt độ.
Khi tám ông vua của tám nước phân chia Xá Lợi của
Phật. Phần Xá Lợi mà ông Bà La Môn nhận không c̣n mà
gửi hết cho các Vua. Ông ta mang bát không trở về, sau
đó được Xá Lợi dính vào bát nên tạo thành tháp
nầy. Sau đó để b́nh bát vào bên trong nên có tên như
vậy. Sau nầy vua A Dục cho mở tháp và lấy Xá
Lợi trong bát ra để kiến tạo một Bảo
Tháp khác. Khi mặt trời lên, phóng quang minh. Từ phía
đông bắc tháp đi qua sông Hằng hơn 145 dặm
đến nước Phệ Xá Phong (Tỳ Xá Ly).
3) Nước Phệ Xá Phong (Tỳ Xá Ly), chu vi
hơn năm ngàn dặm, đất đai màu mở, hoa
quả xanh tươi. Đặc biệt là xoài và mía,
nơi đây có nhiều nông sản quư. Khí hậu phong
tục tập quán thuần chất. Dân thích làm phước
ưa học tập, tà chánh đều tin lẫn lộn.
Có hơn 100 ngôi già lam đa phần bị hư hoại
chỉ c̣n lại 35 ngôi. Tăng tín đồ rất ít.
Đền thờ hơn 10 ngôi. Ngoại đạo
sống hỗn tạp. Những người tu lơa thể
rất nhiều. Thành Tỳ Xá Ly cũng đă bị loang
lỗ hư hại. Dấu tích ngày xưa c̣n lại nơi
đây chu vi khoảng 67 dặm. Cung thành chu vi bốn
dặm ruỡi, ít có người ở. Cung thành phía tây
bắc năm dặm sáu đến một ngôi Già Lam,
tăng sĩ nơi đây cũng ít. Họ học theo phái
Tiểu thừa Chánh Luợng Bộ. Bên cạnh đó có
một Bảo Tháp. Ngày xưa đức Như Lai đă nói
kinh Tỳ Ma La Cật (Duy Ma Cật) tại đây. Đây
là nơi mà Truởng Giả đă hiến Bảo Cái quư.
Ở tại phía đông nầy có một Bảo Tháp, ở
đó ngài Xá Lợi Phất đă chứng được
quả Vô Học (A La Hán). Phía đông nam nơi ngài Xá
Lợi Phất chứng quả có một Bảo Tháp do Vua
Tỳ Xá Ly kiến lập. Sau Phật Nhập Niết Bàn,
Tiên Vương của nước nầy cũng
được Xá Lợi khi phân chia cho nên xây dựng
Bảo Tháp nầy. Có truyền thuyết rằng ở trong
nầy Xá lợi Như Lai một hộc, khoảng
mười đấu. Vua A Dục mở ra lấy chín đấu,
chỉ c̣n lưu lại một đấu.
Sau đó có vị Quốc Vương muốn khai
mở tiếp để t́m th́ đất ở đây
chấn động nên chẳng dám khai mở. Từ phía tây
bắc có một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên, bên
cạnh có một trụ đá, cao 56 thước ta. Bên trên
th́ có tượng đầu Sư Tử. Phía nam trụ
đá có một cái hồ. Nơi đây những con khỉ
đă hầu cận Phật. Tương truyền rằng
đức Như Lai đă ở nơi đó. Cách hồ
phía tây không xa mấy lại có Bảo Tháp, có những con
khỉ chờ đức Như Lai đặt bát chúng
đem mật đến. Cách hồ về phía nam không xa
mấy nơi đây những con khỉ dâng cúng mật cho
Phật. Phía tây bắc của hồ, có xây dựng h́nh
tượng những con khỉ. Cách 3 dặm về phía
đông bắc ngôi Già Lam có một Bảo Tháp, là nơi nhà
cũ của ông Duy Ma Cật. Có nhiều điềm linh
dị. Từ đây chẳng bao xa, có một thần xá c̣n
một bờ gạch. Tương truyền rằng
Truởng giả Duy Ma Cật thị hiện tật
bệnh mà thuyết pháp. Đi cách đây không xa mấy có
một Bảo Tháp là nơi nhà chứa những đồ
quư. Từ đây đi không xa mấy, có một Bảo Tháp,
đó là vuờn xoài nơi ni chúng ở. Nơi mà Di mẫu
của Phật cùng với các vị Tỳ Kheo Ni chứng
nhập Niết Bàn ở nơi nầy.
Cách ngôi Già Lam về phía bắc ba dặm tư có
một Bảo Tháp là nơi Như Lai chuẩn bị đi
về nước Câu Thi Na. Khi đức Phật nhập
Niết Bàn, người cùng phi nhơn đi theo Thế Tôn
đến đây th́ dừng lại. Kế tiếp phía tây
bắc không xa có một Bảo Tháp, đây là nơi
đức Phật nh́n thành Tỳ Xá Ly cuối cùng. Cách không
xa về phía nam có một tinh xá, phía trước có xây
dựng một tinh xá. Đây là nơi vuờn xoài một
nữ thí chủ cúng cho Phật.
Phía bên vuờn xoài, có một Bảo Tháp, đây là
nơi Như Lai bảo rằng Như Lai sẽ vào Niết
Bàn. Ngày xưa tại nơi đây Phật bảo ngài A Nan
rằng:
- Kẻ chứng được tứ thần
túc có thể ở lại đời một kiếp.
Như Lai bây giờ nên thọ bao nhiêu tuổi?
Hỏi đến ba lần nhưng A Nan chẳng
đáp lại, v́ Thiên ma đă mê hoặc, cho nên Ngài A Nan
từ ṭa đứng dậy đi vào trong rừng trầm
ngâm. Lúc bấy giờ ma lại thỉnh Phật rằng:
- Như Lai ở đời giáo hóa xong rồi.
Số người được tế độ
nhiều như trần sa. Tịch diệt là niềm vui,
bây giờ đă đến lúc rồi.
Thế Tôn chống tay xuống đất
đứng lên nói với ma rằng:
- Đất ở bên ngoài nhiều hơn hay
đất trong móng tay nhiều hơn?
Đáp rằng:
- Đất ở dưới đất
nhiều
Phật bảo:
- Những ǵ ta đă độ giống như
đất trong móng tay nầy. Những ǵ ta chưa
độ như đất dưới mặt đất
nầy. Sau ba tháng nữa ta sẽ vào Niết Bàn.
Ma nghe rất hoan hỷ rồi lui. Ngài A Nan ở
trong rừng cảm thấy khó chịu và nằm mơ
đến bạch Phật rằng:
- Con ở trong rừng nằm thấy một cây
đại thọ cành lá sum sê bóng mát che phủ nhưng
bỗng nhiên gió thổi mạnh làm tiêu tán hết không c̣n ǵ
cả, nên nghĩ rằng không lẽ Thế Tôn muốn
nhập diệt sao! Tâm con hoài nghi, cho nên đến đây
để thưa thỉnh.
Phật bảo:
- A Nan, ta nói với ngươi trước
rồi, ngươi th́ bị ma lực không chịu thưa
thỉnh ngay lúc đó cho nên ma vương đă khuyên ta
sớm nhập Niết Bàn. Ta vừa hứa xong.
Điềm mộng đó là vậy.
Không xa cách nơi thông báo thời kỳ nhập
Niết bàn, có một Bảo Tháp là nơi mà một ngàn
người con gặp mẹ. Tích xưa kể lại có
một vị tiên nhơn ẩn cư trong hang động.
Thời tiết giữa mùa xuân khí trời tốt tươi,
có một con nai sắp sanh con, đi uống nước.
Thấy dáng nai đi qua, tiên nhơn bắt giữ
để nuôi. Một hôm bảo nai đi t́m lửa, bỗng
dưng tiên thấy dưới chân nai có một đóa hoa
sen khi nai đến gần vị tiên. Thấy vậy
lấy làm kỳ lạ, bèn ra lệnh đi quanh thảo
lư tự nhiên được lửa. Nai mẹ vâng
lời như vậy, khi được lửa xong th́ lui.
Lúc bấy giờ Phạm vương dạo chơi t́m bông
hoa, sự thấy việc lạ lùng kinh dị nên đem
cả hai cùng về. Có người tiên đoán rằng nai
sẽ sanh một ngàn đứa con.
Nghe như vậy và ngày tháng đầy đủ
th́ sinh ra một hoa sen, mà hoa sen đó có ngàn cánh, mỗi cánh
như vậy có một đứa bé ngồi. Nai cái ấy
không biết, nên đem ném xuống sông Hằng. Có một
con chim tha hoa ấy đến bên vuờn vua hạ
xuống. Mây vàng và Bảo Cái che chở. Hoa sen nở ra
một ngàn đứa bé. Nhà Vua lấy sữa để
nuôi lớn lên, chúng rất mạnh khỏe.
Lúc bấy giờ thành một ngàn chàng trai mang binh
hùng mạnh đi chinh phạt bốn phương. Tại
nước nầy, Phạm vương nghe được
rất lo toan. Binh lực không địch được,
không thể xuất quân. Lúc bấy giờ con nai mẹ
biết con ḿnh cho nên nói với vua rằng:
- Nếu mà đánh th́ trên dưới sẽ không
ḥa. Dù là giặc hay trung, khôn hay dại sẽ thất
bại trước sức mạnh không thể địch
nổi. Vua chưa tin điều đó nên lo lắng vô
cùng.
Con nai cái lên thành chờ, một ngàn người
con và binh lính đến vây thành, con nai cái bảo:
- Đừng có phản nghịch. Ta là mẹ các
ngươi, các ngươi là con ta.
Một ngàn người con nói:
- Sao nói bậy vậy?
Con nai cái lấy tay chỉ vào hai vú, liền
chảy ra một ngàn giọt. Nhờ thiên tánh chiêu cảm
nên sữa vào thẳng trong miệng của họ. V́
vậy họ giải giáp trở lại với ḍng Thích,
sau đó hai nước giao hảo với nhau và bá tánh
được an lạc.
Không xa, cách nơi một ngàn đứa con quy
thuận có một Bảo Tháp ghi lại dấu tích nơi
đây ngày xưa đức Như Lai đă đi kinh hành,
và Ngài lấy tay để chỉ đại chúng rằng:
- Ngày xưa ta ở đây quy thuận trở
về thân tộc một ngàn đứa con đó, tức là
một ngàn vị Phật trong hiền kiếp nầy.
Đó là sự tuờng thuật có trong kinh
Bổn Sanh, và ở phía đông nơi nầy lại có
một Bảo Tháp được dựng lên. Nơi đó
ánh sáng chói lọi, ai kỳ nguyện sẽ được
toại ư, mà Như Lai nói trong kinh Phổ Môn Đà La Ni.
Nhà cửa giảng đường đều c̣n
dấu vết nơi đây.
Không xa mấy, cách giảng đường có
một Bảo Tháp. Ở giữa đó có nửa thân Xá
Lợi của Ngài A Nan. Từ đây chẳng xa mấy
lại có hàng trăm Bảo Tháp khác. Muốn biết rơ
số bao nhiêu cũng không thể biết được.
Đây là nơi nhập diệt của một ngàn vị
Độc Giác Phật. Chu vi trong ngoài của thành Tỳ Xá
Ly rất rộng. Thánh tích có rất nhiều nhưng mà khó
có thể biết hết được. Có nơi h́nh
thức vẫn c̣n nhưng đă hư hoại, thời gian
năm tháng gió mưa làm thay đổi. Bên rừng lại
c̣n một hồ nước mà nay th́ nước đă khô.
Những dấu tích của cây quư vẫn c̣n nơi đây.
Phía Tây bắc của đại thành, đi hơn 56
dặm, đến một Bảo Tháp lớn. Nơi đây
ghi lại chỗ ông Phiêu Chiêm Bà Tử từ biệt
đức Thích Ca. Như Lai từ thành Tỳ Xá Ly
hướng về nước Câu Thi Na. Vị Phiêu Chiêm Bà
Tử nghe Phật sẽ nhập diệt rất buồn
rầu khổ sở đến để đưa
đi. Đức Thế Tôn thấy ông buồn như
thế th́ không có lời nào để khuyên được
tức thời dùng thần lực để hóa ra một
con sông lớn. Bờ sông đó rất sâu, sóng mạnh,
nước chảy xiết, ông Phiêu Chiêm Bà sầu bi
dừng lại và đức Như Lai để b́nh bát
lại làm kỷ niệm.
Ít hơn 200 dặm về phía Tây bắc thành
Tỳ Xá Ly, lại có một cổ thành hoang phế từ
lâu không có người cư trú, trong đó có một Bảo
Tháp, đây là nơi Phật ngày xưa đă v́ chư
vị Bồ Tát, Trời, người đại chúng
diễn thuyết kinh Bổn Sanh khi tu hạnh Bồ Tát.
Từng ở nơi thành này làm Chuyển Luân Thánh
Vương hiệu là Ma Ha Đề Bà (Đại Thiên).
Vua có đầy đủ thất bảo và bốn
phương trời đất. Khi hiểu lư vô
thường làm cho thân thể thay đổi, nhớ
lời nguyện uớc cao xa, bỗng quên hẳn
địa vị lớn của ḿnh, bỏ nước
xuất gia, mặc y hoại sắc để tu học.
Phía đông nam thành, đi hơn 14.5 dặm đến
một Bảo Tháp lớn. Đây là nơi mà bảy trăm
vị Hiền Thánh kết tập sau Phật nhập
Niết Bàn 110 năm. Có các vị Tỳ kheo của thành
Tỳ Xá Ly xa rời Pháp Phật, thực hành sai giới
luật. Lúc bấy giờ Truởng Lăo Da Giá ở
nước Kiều Tất La. Truởng Lăo Tam Bồ Da
ở nước Châu Thố La, Truởng Lăo Phấn Ba
Đa ở nước Hàng Nhược; Truởng Lăo A Nha
ở nước Tỳ Xá Ly; Truởng Lăo Phú Phiệt Tô Di
La ở tại nước Bà La Lị Phất, Các Truởng
Lăo Đại A La Hán tâm được tự tại tŕ
giữ Tam Tạng chứng được tam minh,
được đại danh xưng là những bậc tri
thức, tất cả đều là đệ tử
của Tôn Giả A Nan. Lúc bấy giờ ngài Da Xá bảo các
vị Hiền Thánh rằng:
- Tất cả đều tập họp ở
thành Tỳ Xá Ly, chỉ thiếu một người
nữa là đủ 700 vị.
Khi ấy ngài Phú Phiệt Tô Di La dùng thiên nhăn
để thấy các bậc Đại Hiền Thánh vân
tập hội nghị, rồi vận thần túc đi
đến Pháp Hội. Khi ấy ngài Tam Bồ Da ở trong
đại chúng sửa y bày vai phải ra và quỳ xuống
bạch rằng:
- Mọi người đừng có rầu rĩ
mà hăy nhớ lại rằng ngày xưa khi đấng
Đại Thánh Pháp Vương quyền biến thị
tịch. Thời gian dầu trôi qua nhưng lời dạy
của Ngài c̣n đó. Các thầy Tỳ Kheo giải đăi
tại thành Tỳ Xá Ly hủy báng giới luật
đưa ra mười sự việc sai với mười
luật đă dạy. Bây giờ các vị Hiền giả
ấy đă rơ ràng biết phạm mà nhờ ngài A Nan
chỉ giáo sám hối, nhớ lại ân Phật mà trùng tuyên
Thánh Chỉ. Lúc đó các bậc Thánh mới khỏi lo
lắng, liền triệu tập các vị Tỳ Kheo y theo
Tỳ Nại Da (Luật tạng) quở trách và ngăn
cấm. Để trừ sự hủy báng Pháp và tuyên
dương Thánh Giáo.
Phía nam của nơi 700 Hiền Thánh kiết
tập đi hơn 89 dặm, đến chùa Thất
Phệ Đa Bổ La. Chùa Viện đổ nát. Nhà cửa
hư hoại. Tuy nhiên, tăng chúng thanh tịnh và tu theo
Đại Thừa. Bên cạnh đó là nơi ghi lại di
tích của bốn vị Phật trong quá khứ đi kinh
hành và ngồi thiền. Tháp nầy do Vua A Dục xây
dựng. Tại nơi đây ngày xưa Như Lai về
phương nam đi đến nước Ma Kiệt
Đà, về phía bắc ngoái nh́n thành Tỳ Xá Ly, giữa
đường ngài dừng lại di tích nầy.
Ở phía đông nam chùa Thất Phệ Đa
Bổ La hơn 30 dặm, đến sông Hằng, nam
bắc của bờ sông nầy mỗi nơi có một
Bảo Tháp. Đó là nơi Tôn Giả A Nan đă phân thân cho
hai nước. Ngài A Nan là anh em chú bác với Như Lai,
đa văn hiểu rộng biết nhiều kiến
thức dồi dào. Sau khi Phật nhập diệt, kế
đến ngài Ca Diếp giữ ǵn Chánh Pháp lănh đạo
mọi người. Khi đi trong rừng của
nước Ma Kiệt Đà, thấy một Sa Di phúng
tụng kinh Phật. Chương cú sai, văn tự
lẫn lộn, Ngài A Nan nghe xong liền cảm hoài lo
lắng mới hỏi và chỉ bày. Sa Di cười và
bảo rằng:
- Sư Ông già rồi, Sư Ông lầm. Thầy
của con cao minh c̣n sáng suốt lắm.
Chính Ngài chỉ giáo nhưng Sa Di không sửa
đổi. Ngài A Nan bèn thôi và than rằng:
- Ta tuy tuổi đă cao nhưng v́ các chúng sanh
muốn ở lại đời lâu hơn để
giữ ǵn Chánh Pháp, mà thấy chúng sanh nghiệp nặng khó
dùng lời để chỉ giáo, nên dẫu có ở lại
lâu hơn cũng chẳng lợi ích ǵ, thôi sớm diệt
độ.
Rồi Ngài đi đến nước Ma
Kiệt Đà, từ thành Tỳ Xá Ly, Ngài đi qua sông
Hằng bằng thuyền. Khi đó Vua nước Ma
Kiệt Đà nghe ngài A Nan đến nhớ lại
Đức xưa liền đem xa giá đến để
nghinh thỉnh. Số luợng có hơn 100 ngàn quân lính
tập trung ở bờ sông phía nam. Vua Tỳ Xá Ly nghe ngài A
Nan đi rồi, tâm sầu muộn, liền sai quân lính
hơn 100 ngàn người nghinh tiễn tập trung ở
bờ sông phía bắc. Hai bên quân trận đối nhau dàn
cờ, Ngài A Nan sợ chiến đấu, binh lính sát
hại lẫn nhau cho nên từ trong thuyền, Ngài bay lên
hư không thị hiện thần biến, tức nhập
tịch diệt. Ngài dùng lửa tam muội thiêu thân và xá
lợi bay trong không trung. Một phần rơi về phía
nam, một phần rơi về bờ sông phía bắc.
Mỗi bên hai vua được một phần, liền ra
lệnh cho quân lính lui về xứ của ḿnh, rồi cho
xây dựng Bảo Tháp để tu hành cúng dường.
Từ phía đông bắc nầy đi hơn năm trăm
dặm, đến nước Phất Phiêu Tŕ.
4) Nước Phiêu Tŕ chu vi hơn 4000 dặm,
từ đông qua tây dài, từ nam ra bắc hẹp.
Đất đai màu mỡ, hoa trái xinh tươi. Khí
hậu ấm áp. Nhơn t́nh c̣n thô tháo, đa phần tôn kính
ngoại đạo, thiếu tín tâm đối với
Phật Pháp. Có hơn 10 ngôi Già Lam, và hơn 1000 Tăng sĩ,
tu theo cả hai bộ phái Đại thừa và Tiểu
thừa. Có 10 ngôi đền thờ. Ngoại đạo
sống chen chúc với nhau. Đại Đô Thành tên là Chiêm
Mậu Na Noa, đa phần bị hư hoại. Trong cung
thành xưa có hơn 3000 nóc nhà, chia ra từng thôn
ấp.
Phía đông bắc của sông lớn có một Già
Lam, tu sĩ ít nhưng học nghiệp rất thanh cao.
Từ đây đi về hướng tây, nương theo
bờ sông có một Bảo Tháp cao hơn ba trượng.
Dọc theo phía Nam là nơi mà đức Đại Bi
Thế Tôn độ cho người câu cá.
Lúc Phật c̣n tại thế, có năm trăm
ngư phủ đan luới bắt cá và các loài thủy
tộc. Ở tại sông nầy họ bắt
được một con cá lớn 18 đầu, mỗi
đầu có hai mắt, những ngư phủ muốn sát
hại nó. Lúc đó đức Như Lai đang ở
nước Tỳ Xá Ly dùng Thiên Nhăn để quán chiếu
và dùng ḷng đại bi mà nhân cơ hội nầy
đến đây để hóa đạo làm cho mọi
người được hiểu biết và báo cho chư
vị tu theo Đại thừa biết rằng trong
nước Phất Phiệt Tŕ có một con cá lớn. Ta muốn
hóa đạo làm cho những ngư dân kia được
tỏ ngộ, Ngài dùng thần túc thông đưa đại
chúng đến bờ sông nầy, ngồi kiết già và
bảo những ngư phủ rằng:
- Đừng giết con cá đó, ta sẽ dùng
thần lực để mở cửa phương
tiện cho các ngươi biết về túc mệnh của
con cá nầy. Cá ơi! Có thể nói lời của con
người mà hóa giải nhân t́nh.
Lúc bấy giờ đức Như Lai mới
hỏi rằng:
- Thân trước của con đă tạo
nghiệp ǵ mà phải thọ thân nầy trong ác thú vậy?
Con cá đáp rằng:
- Con nhờ chút phước lực sanh vào gia
đ́nh Bà La Môn giàu có. Người ấy chính là thân con. Con
ỷ vào ḍng dơi cho nên khuynh loát nhân luân, ỷ vào của
cải mà khinh khi kinh Pháp, đem tâm khinh mạn chư
Phật, dùng lời cực ác để nhục mạ chúng
tăng, ví chúng tăng như các loài lạc đà, voi,
ngựa. Do ác nghiệp nầy mà thọ thân cá, nhưng nhờ
một chút thiện duyên con sanh gặp thời Phật c̣n
tại thế, c̣n thấy được sự giáo hóa
của Phật, c̣n được nghe lời dạy
của ngài, do đó mà xin sám hối tội nghiệp
đời trước đă làm.
Như Lai tùy theo căn cơ nhiếp hóa, từ
đó khai đạo. Nhờ nghe Pháp, con cá liền thác.
Với phước lực đó sanh lên Thiên cung và tự
biết thân nầy do duyên ǵ mà sanh ra. Liền biết túc
mệnh của ḿnh và niệm báo ân của Phật đă
cùng với chư Thiên nguyện dứt những việc ác.
Lễ Phật xong, đi nhiễu bên tay phải rồi
đem hương hoa cùng với vật quư cơi trời dùng
để cúng dường.
Nhân cơ hội nầy, đức Phật
thuyết Diệu Pháp cho ngư dân, họ nghe xong liền
tỏ ngộ, chân thành lễ sám, đốt luới và
thuyền, quy y thọ Pháp. Nghe Phật chỉ dạy,
họ phát tâm mặc áo hoại sắc xa rời trần
cấu, tu hành chứng được quả Thánh.
Phía đông bắc, nơi độ cho những
ngư dân đi hơn 100 dặm đến cổ thành phía
tây. Tại đây có một Bảo Tháp do Vua A Dục xây cao
hơn 100 mét. Đây là nơi ngày xưa đức Phật
thuyết pháp sáu tháng để độ cho trời
người. Từ phía bắc đi hơn 145 bước,
có một Bảo Tháp nhỏ. Chính nơi đây ngày xưa
đức Như Lai v́ các vị Tỳ Kheo mà chế
giới. Tiếp đến phía tây chẳng xa bao nhiêu
lại có Bảo Tháp thờ tóc và móng tay của Như Lai.
Như Lai ngày xưa ở nơi đây, những
người trong ấp đem hương hoa đèn quả
đến cúng dường không diệt. Từ phía tây
bắc nầy đi hơn 1450 dặm, vào động
của núi thuộc nước Ni Ba La.
5) Nước Ni Ba La chu vi hơn 4000 dặm,
nằm trong núi Tuyết. Đô thành chu vi hơn 20 dặm.
Núi sông giao nhau, nên lúa thóc và hoa quả rất nhiều.
Nơi đây sản xuất đồng đỏ, trâu đuôi
dài, và chim chóc. Tiền dùng trao đổi bằng
đồng đỏ. Khí hậu lạnh có gió nhiều và
phong tục bí hiểm. Tánh người cang cường.
Niềm tin hời hợt. Không học tập mà cũng
chẳng có nghề nghiệp ǵ, h́nh tướng khó coi, tà
chánh đều tin. Chùa Viện và đền thờ liên
tục gần nhau, hơn 2000 tăng sĩ tu theo cả
Đại Thừa lẫn Tiểu thừa. Số
người theo ngoại đạo bao nhiêu th́ không
biết. Vua thuộc ḍng Sát Đế Lợi, ḍng dơi Phiêu
Chiêm Ba. Chí học thanh cao thuần tín Phật Pháp. Gần
đây có Vua tên là Ô Luân Phạp Ma là bậc thạc học
thông minh, tự soạn ra Thanh Minh Luận. Vua là
người trọng học vấn, cung kính đạo
đức và những ǵ mới lạ.
Đô thành phía đông nam có một cái hồ
rất nhỏ. Người ta dùng nước nầy
để dập lửa cháy. Từ đây lại đi
về nước Tỳ Xá Ly, phía nam đi qua sông Hằng,
đến nước Ma Kiệt Đà.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển bảy
Quyển thứ
tám
(1 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
Nước Ma Kiệt Đà - Phần
một.
Nước Ma Kiệt Đà chu vi năm ngàn
dặm. Trong thành nhỏ có nhiều người ở.
Đất đai màu mỡ dễ dàng trồng trọt, có
nhiều loại lúa hạt rất to, mùi thơm đặc
biệt và màu sắc lóng lánh. Tục lệ hay dùng lúa
gạo để cúng dường. Đất trồng
trọt nằm dưới thấp. Cư dân ở miền
cao. Sau mùa hạ và trước mùa thu, dân chúng bơi
thuyền trên sông. Phong tục thuần chất. Khí hậu
ôn ḥa. Rất ưa học hỏi và tôn kính Phật Pháp. Có
hơn 50 ngôi Già Lam, và 10.000 tăng sĩ. Có nhiều phái tu
tập theo Đại thừa giáo, có 10 ngôi đền
thờ. Ngoại đạo sống hỗn tạp.
Phía nam sông Hằng có một thành cổ, chu vi
hơn 70 dặm, đă hoang phế chỉ c̣n lại
dấu tích ngày xưa. Chuyện xưa kể lại
rằng nơi đây có người tuổi thọ không
lường được. Thành nầy có tên là Câu Tô Ma
Bổ La (Hương Hoa Cung Thành) Vương cung có
nhiều hoa nên gọi như vậy. Đa phần người
ta sống thọ đến 1000 tuổi. Cho nên có tên
gọi là Ba Tháp Phóng Tử Thành (Ba Liên Phất). Đầu
tiên có người Bà La Môn học rộng tài cao, có hơn
1000 người học tṛ đến học. Những
người học tṛ đó từ xa đến tham
học. Có một thư sinh bồi hồi thất
vọng. Người đồng liêu hỏi:
- Sao mà buồn thế?
- Có nhiều việc ràng buộc và ám ảnh.
Thời gian năm tháng chất chồng mà không thành công
học nghiệp, nhớ lại việc nầy mà lo
buồn vậy thôi.
Người bạn đồng học vui
miệng nói rằng:
- Anh nên đi t́m vợ đi.
Kế đó giả lập ba người bên nhà
trai và hai người bên nhà gái cùng ngồi nói chuyện
với nhau dưới gốc cây, th́ người con gái
trong cây nghe được. Lúc ấy cây đang ra trái
tốt đẹp bày ra đám cuới mong muốn
được kết duyên. Cha cô gái nhận
được cành hoa của người thư sinh và nói
rằng:
- Thật là tốt thay không có lời nào nói
hết được
Tâm hồn của thư sinh rất là vui vẻ.
Mặt trời lặn xuống trở về lưu
luyến không cùng.
Người bạn đồng học nói
rằng:
- Trước chỉ nói vui vậy mà bây giờ
thành tốt thật.
Trong rừng lúc ấy, những con thú dữ
đang tàn sát với nhau mà thư sinh kia th́ hay tới lui
gốc cây nầy. Khi màn đêm buông xuống ánh sáng khác trong
rừng nổi lên, tiệc cuới bày ra la liệt. Trong
chốc lát thấy lăo ông đến an ủi, dẫn theo
một người thiếu nữ. Tân lang từ trong
bước ra với y phục đẹp đẽ và âm
nhạc tấu lên. Ông già chỉ thiếu nữ và bảo:
- Đây là pḥng của vợ chồng con.
Thế rồi họ ca hát yến tiệc trong
bảy ngày. Người bạn học nghĩ rằng
bạn ḿnh bị thú dữ hại nên mới đi t́m.
Liền thấy ngồi một ḿnh dưới tàng cây mà đối
đáp với người khách ở bên trên, người
bạn bảo cùng đi về mà hắn chẳng chịu
theo. Sau đó tự vào trong thành để gặp
người thân, nói lại đầu đuôi câu chuyện.
Nghe xong người ta kinh ngạc, những người
bạn cùng đi vào trong rừng và thấy cây hoa là một
con người đi qua đi lại được. Lăo
ông là người tiếp ruớc nói chuyện, bày bánh
tấu âm nhạc cho khách nghe. Khi các người bạn
trở lại thành th́ báo tin cho xa gần biết rằng
cuối năm th́ sanh được một đứa con
trai. Đồng thời người vợ nói:
- Em bây giờ phải trở về nhưng
chưa muốn xa ĺa, mà thích ở lại cho qua mùa lạnh.
Người vợ nghe đầy đủ và
thưa với Lăo ông, đoạn thư sinh nói:
- Ńềm vui của con người há phải có
quê hương. Nay ta sẽ làm pḥng ốc không khác
điều mong uớc của con và cho người làm
việc nầy thành công không tới một ngày. Thành
Hương Hoa cũ dời sang ấp nầy v́
người con cũ của vị thần xây nên thành
nầy. Từ đó về sau, thành nầy có tên là Ba Tháp
Phấn Tử.
Phía bắc của cố cung có một trụ
đá cao hơn mười thước là nơi mà Vua A
Dục cho làm một cái địa ngục. Sau khi
đức Thích Ca Nhập Niết Bàn một trăm năm,
Vua A Thâu Giá (A Dục Vương) là cháu của Vua Tần
Tỳ Ba La (Tần Bà Sa La). Từ thành Vương Xá đă
dời đô về Ba Thát Phấn, kiến trúc phía bên ngoài
ṿng thành cổ. Năm tháng trôi qua chẳng c̣n dấu tích;
bây giờ chỉ lưu lại nền móng mà thôi.
Ở đây Già Lam, Đền Thờ cùng Bảo Tháp
dấu tích c̣n lại hơn cả trăm. Nhưng loại
tốt chỉ c̣n hai ba cái.
Phía bắc của cố cung, giáp với sông
Hằng, bên trong thành nhỏ có độ ngàn nóc nhà. Sau khi
Vua A Dục tức vị liền cho xây dựng nên một
địa ngục để tác hại sanh linh. Chu vi
rất rộng răi có nhiều chỗ ở, có hầm
lửa, có nước dâng, có đao kiếm cùng các cực
h́nh và các chỗ thọ khổ bắt những kẻ hung
ác làm ngục chủ. Đa phần là những người
phạm tội trong nước, chẳng kể tội nặng,
tội nhẹ đều bị bôi than, sau đó đem
nhốt vào ngục, sau đó mới giết. Mọi
người chết rồi bịt được
miệng hết.
Lúc bấy giờ có một vị Sa Môn mới
nhập chúng, khi đi khất thực th́ gặp cửa
ngục nầy. Thấy kẻ hung nhân bị sát hại. Sa
Môn hoảng kinh mong được sám hối, đoạn
thấy người khác bị trói cho vào ngục, chặt
hết chân tay và phá hủy h́nh hài, thân thể gập
xuống. Sa Môn thấy vậy tăng thêm phần bi ai,
liền quán về vô thường chứng quả Vô
Học. Ngục tốt nói:
- Có thể chết được!
Sa Môn liền chứng Thánh quả, ḷng
thương sanh tử, tuy vào nước đồng sôi,
nhưng ở hồ nước thanh tịnh, có hoa sen
lớn rồi ngồi trên đó. Lúc ấy ngục chủ
mới kinh hăi liền thưa lên với Vua. Vua liền thân
chinh đến quan sát và tán thán sự linh nghiệm đó.
Ngục chủ nói:
- Đại Vương cũng sẽ
chết.
Vương hỏi:
- Thế nào?
Đáp rằng:
- Nhà Vua không bị mệnh lệnh mà thọ
ngục h́nh. Phàm đến ngục kia, tất cả
đều bị sát hại. Dẫu là Vua, cũng không
thể khỏi chết.
Vua nói:
- Luật Pháp định chế như vậy
rồi, không thể sửa đổi được. Ta
trước chưa chết, há rằng ngươi khỏi
sao? ngươi liệu có sống lâu để đáp
được lời của ta chăng?
Liền ra lệnh cho ngục tốt xô vào hầm
lửa. Ngục chủ chết, Nhà Vua thoát khỏi. Ngày nay,
tường đă đổ, hào đă lấp không c̣n hành
h́nh nữa.
Phía nam của địa ngục không xa, có
một Bảo Tháp bị xiêu vẹo, chỉ c̣n lại
trục chính. Trục đá chính nầy trang sức như
những lan can, tức là một trong tám mươi bốn
ngàn Bảo Tháp do Vua A Dục cho nhân công kiến tạo
nơi cung điện nầy. Trong đó có một
đấu Xá Lợi của Như Lai rất linh hiển và
thường phóng quang rực rỡ. Sau khi Vua A Dục
bỏ địa ngục kia, gặp gỡ thân cận
với sự hộ tŕ của các bậc A La Hán. Dùng
phương tiện thiện xảo tùy cơ nghi mà hóa
đạo. Nhà Vua thưa với A La Hán rằng:
- Hạnh phúc thay! Nhờ những phước báo
của đời trước mà ngồi vào ngôi vị
được mọi người tôn kính, nhưng có
chướng lụy nên không được gặp Phật
giáo hóa. Bây giờ chỉ có di thân Xá Lợi của
Đức Như Lai cho nên muốn xây dựng những
Bảo Tháp.
Vị A La Hán nói:
- Đại Vương đă có phước
đức lớn, giúp cho bá tánh và có tâm rộng răi
để hộ tŕ Tam Bảo. Tâm nguyện nầy
đến lúc phát rộng ra, cũng như hiến
đất đai tạo công đức như đức
Như Lai huyền kư. Vua A Dục nghe xong tâm rất hoan
hỷ, triệu tập các thần mà ra lệnh rằng:
- Giáo Pháp của đức Phật làm lợi
lạc tất cả các loài hàm linh nên phải vui mừng.
Ta nay có túc duyên đời trước làm được
bậc tôn quư trong loài người, nên phải cúng
dường sửa sang di thân của đức Như Lai.
Nay ra lệnh cho chư Thần hăy cùng ta hợp ư xây
dựng tháp miếu để thờ Xá Lợi Phật
tại cơi Diêm Phù nầy. Phát tâm là việc của ta c̣n công
đức ấy có thành tựu hay không là việc của
các ngươi, v́ phước ấy có lợi lạc hay
không ,không phải chỉ riêng một ḿnh ta mà
được. Khi tuyên bố việc đă xong, sau đó
tiếp tục công việc. Chư Thần lănh thọ Thánh
chỉ rồi bắt đầu hưng công. Sau đó lại
đến thỉnh cầu Vua A Dục để liên
hệ với tám nước xây dựng các Bảo Tháp,
rồi cho các vị Thần đem Xá Lợi vào thờ. Sau
đó Vua nói với vị A La Hán rằng:
- Ta muốn tất cả các nơi đều
cùng lưu Xá Lợi. Tâm tuy là vậy nhưng sự việc
khó thành.
Vị A La Hán đáp:
- Vua ra lệnh cho các thần đến kỳ
hạn mà chưa ổn th́ mới ra tay. Đến lúc
đó mới đưa Xá Lợi vào.
Vua y lời ra lệnh cho chư Thần như
thế, phải làm trong một ngày. Sau đó Vua A Dục
quan sát phong cảnh ngay giữa giờ Ngọ. A La Hán
liền vận thần thông lấy tay che mặt trời và
những nơi xây dựng đều được hoàn
tất. Cùng lúc đó mọi việc xong xuôi, bên cạnh
Bảo Tháp nầy không xa có một Tịnh Xá, trong đó có
một viên đá lớn c̣n lại dấu chân của
Như Lai, chiều dài tám tấc, chiều ngang sáu tấc.
Cả hai bên đều có h́nh luân xa và cả mười
ngón chân đều có hoa văn. Có lúc có h́nh con cá chiếu ra
ánh sáng. Ngày xưa khi đức Như Lai thâu thần tịch
diệt, nh́n về nước Câu Thi Na ở phương
bắc và hướng về nước Ma Kiệt Đà
ở phương nam. Ngài đứng trên tảng đá
nầy nói với ngài A Nan rằng:
Đây là nơi cuối cùng ta lưu dấu bàn
chân lại rồi sẽ nhập Niết Bàn. C̣n
nước Ma Kiệt Đà. Trong một trăm năm sau
có Vua A Dục là vị mệnh thế quân vương
sẽ đến đây đóng đô, hộ tŕ Tam Bảo,
ra lệnh cho hàng trăm vị Thần và sau khi Vua A Dục
tức vị sẽ thiên đô đến đây. Chung quanh
di tích tảng đá nầy và sau đó xây dựng cung thành
để thân cận cúng dường.
Sau đó Vua các nước muốn đem tảng
đá nầy đi, nhưng mọi người không ai có
thể di chuyển nổi. Gần đây có Vua Thiết
Thường Ca phá hoại Phật Pháp, muốn làm cho di tích
tảng đá tiêu diệt, bèn đục bỏ đi
những bài văn khắc lên đó, rồi cho người
khiên vức xuống sông Hằng, nhưng sau đó tự
nhiên trở về chỗ cũ. Bên cạnh Bảo Tháp có di
tích của bốn vị Phật trong quá khứ đi kinh
hành và ngồi thiền.
Phía bên Tịnh Xá Phật tích không xa, có một
trụ đá lớn, cao hơn ba mươi thước có
ghi lại đại luợc như sau:
- Ḷng tin của Vua A Dục rất kiên cố, ba
lần phát nguyện cúng dường Phật Pháp Tăng
ở cơi Thiệm Bộ Châu nầy, và đă ba lần các
đồ trân bảo tự động bay đến.
Lời nói như thế vẫn c̣n tồn tại.
Phía bắc của cố cung có một pḥng
bằng đá lớn. Bên ngoài, đồi núi cao. Bên trong
rộng răi. Đây là nơi em của Vua A Dục xuất
gia và bảo các thần xây dựng lên nơi nầy.
Người nầy cùng mẹ với Vua A Dục tên là Ma Ê
Nhân Đà La sanh từ ḍng dơi quư tộc, được
phong làm Vua, dân chúng xứ Xà Đa Ṭng Bộ rất phẩn
nộ, cho nên các lăo thần trong nước thưa với
Vua rằng:
- Kiêu đệ tác oai tác quái quá lắm rồi.
Phàm để kỷ cương được tốt
đẹp phải lấy Luật nước để
trị. Khi dân chúng ḥa b́nh th́ Vua chúa mới yên ổn. Đây
là nguyên tắc tự ngàn xưa được dạy
dỗ đến ngày nay. Mong cho tục lệ của
nước c̣n tồn tại th́ phải giữ lấy
quốc pháp.
Vua A Dục v́ em ḿnh khóc, nói rằng:
- Ta thừa tự công việc nầy mà làm
việc cho sanh linh. Làm sao đồng bào há có thể quên
được cái ḷng chiếu cố của ta. Không có
khuông pḥ phép nước đừng nên đạp
đổ pháp luật. Trên ta xấu hổ với tiên linh,
dưới th́ mọi người bức bách.
Ma Ê Nhân Đa La cúi đầu tạ tội và nói
rằng:
- Chẳng tự ḿnh cẩn trọng làm cho trái
hiến, dám lụy vào hiến, xin cho tái sanh trong ṿng bảy
ngày. Hăy cho vào trong pḥng tối giữ ǵn cẩn thận.
Đem đồ ăn để bên trên để cung cấp.
Kẻ giữ pḥng nói rằng:
- Đă qua một ngày rồi c̣n sáu ngày nữa,
đến ngày thứ sáu rất lấy làm lo lắng. Thân
tâm thay đổi chuẩn bị chứng quả. Bay lên
hư không dùng thần lực t́m ra khỏi trần tục.
Xa rời pḥng ở. Vua Asoka đích thân đến nói
rằng:
- Ngày xưa quốc lục của nước Câu
rất nghiêm khắc. Há tự ư đi khỏi nơi đây
để chứng Thánh Quả, xong rồi chẳng có
hệ lụy nào trở lại nước sao?
Người em đáp:
- Xưa nay bị luới ái ràng buộc tâm
nầy vào âm thanh, sắc đẹp. Bây giờ ra khỏi
chỗ nguy hiểm có ư đi khỏi sơn cốc nầy.
Nguyện bỏ nhân gian vào trong hang động.
Vua nói:
- Muốn tâm được thanh tịnh hà
tất phải ở chỗ núi non! Ta v́ ư chí của
ngươi sẽ làm cây đại thọ.
Rồi ra lịnh chư thần rằng:
- Ngày hôm sau ta chuẩn bị những đồ
trân quư, ngươi cũng nên đến đó cùng ta.
Mỗi người mang theo một tảng đá
lớn để tự làm chỗ ngồi cho ḿnh. Các quan
quân vâng mệnh đến vào nơi hội họp xong, vua
bảo các quan rằng:
- Hăy xếp những viên đá ngồi thành
một cái pḥng trống.
Trong ṿng một ngày các quan làm xong. Vua A Dục thân
chinh đến bảo em ở pḥng ấy.
Phía bắc cố cung, có địa ngục, có
một cái nồi đá, do Vua A Dục ra lệnh các vị
thần tạo nên đồ đựng thức ăn cho
Tăng.
Phía tây nam của cố cung, có một núi đá
nhỏ. Trong núi, có hơn mười động đá, Vua
A Dục đă v́ các vị A La Hán mà ra lệnh các quan
tạo ra. Bên cạnh đó có một đài cao, cũng
được dựng bằng đá. Phía dưới
mặt hồ yên lặng trong suốt, mà người
của nước láng giềng đến đây nói
rằng đây là nước Thánh, nếu mà uống
được nước nầy tội sẽ
được tiêu diệt.
Phía tây nam của núi có năm Bảo Tháp, chỉ
c̣n nền móng xiêu vẹo, không biết cao bao nhiêu. Từ xa
nh́n đến, thấy cao như núi và lớn cả hàng
trăm bước. Người đời sau đă cho
kiến thiết tu bổ lại trên đó những Bảo
Tháp. Theo truyền kư của Ấn Độ nói rằng:
- Ngày xưa khi Vua A Dục xây dựng xong 84.000
Tháp rồi, có dư năm đấu Xá Lợi cho nên
đặc biệt đă tôn trí vào trong năm Bảo Tháp
nầy để chế ngự nơi đây. Rất linh
hiển kỳ dị. Có khi ngũ phần pháp thân của
Như Lai biểu hiện ở nơi đây. Người
nhẹ ḷng tin th́ bàn tán rằng:
- Ngày xưa, Vua Nan Đà xây dựng Tháp ở
nơi đây để chứa những trân bảo. Sau
đó, vua chẳng có tín tâm sâu dày khi nghe lời dị
nghị trước, bèn khởi tâm tham cùng với quân
sư đến đây để khai quật lên,
đất liền chấn động núi nghiêng mây che
khuất mặt trời. Trong Bảo Tháp ấy có tiếng
vang lên:
- Đồ sĩ tốt voi ngựa!
Nghe vậy, hoảng sợ bỏ chạy và nói
rằng:
- Sự dị nghị tuy nhiều nhưng mà
chưa có điều ǵ xác nhận được. Bây
giờ trông thấy điều nầy mới tin là sự
thật.
Phía đông nam của cổ thành có một ngôi chùa
trong hang đá tên là Thát A Lam Ma, do vua A Dục kiến
tạo nên. Đây là lúc Vua A Dục mới phát tín tâm
đối với Phật Pháp, biết tôn trọng nên
kiến thiết chùa để trồng thiện căn.
Triệu tập cả ngàn vị Tăng hai chúng Thánh và Phàm
và mang đồ tứ sự cúng dường chu cấp
tất cả.
Thời gian qua đi nơi nầy hoang phế
chỉ c̣n lại dấu tích. Bên chùa có một Bảo Tháp
lớn, tên là A Ma Lạt Già. Đó cũng là tên thuốc
của trái cây Ấn Độ nầy. Khi Vua A Dục
bị bịnh biết rằng không c̣n sống bao lâu
nữa, muốn xả bỏ những đồ trân quư, muốn
trồng ruộng phước, quyền thần chấp
chính khuyên răn mọi người chớ có ham muốn.
Từ đó về sau, khi người ta ăn th́ c̣n
giữ lại trái A Ma Lặt. Cuộc vui nửa chừng
như trái cây vừa bị bỏng lửa. Liền hỏi
các thần rằng:
- Ai là chủ cơi Thiệm Bộ Châu nầy?
Chư quan đáp rằng:
- Chỉ có Đại Vương thôi.
Vua đáp:
- Chưa hẳn thế. Ta nay không c̣n là chủ
nữa. Ta chỉ có nửa trái cây nầy là c̣n nguyên đúng
không?
Giàu có trong thế gian nầy rất nguy hiểm
cũng giống như là đèn trước gió.
Tước vị càng lớn, danh càng cao, khi lâm chung cũng
thiếu thốn thôi, thấy bị oai quyền đè
bẹp. Thiên hạ cũng chẳng bằng nửa trái cây
nầy, rồi ra lệnh cho các quan và nói rằng:
- Đem nửa trái cây nầy vào trong vuờn Gà
cúng thí cho chúng Tăng. Hăy nói như thế nầy:
- Ngày xưa có một ông chủ ở Thiệm
Bộ Châu, bây giờ là Vua của nửa trái A Ma Lặt.
Cúi đầu trước đại chúng tăng nguyện
thọ cho bữa thí tối hậu nầy. Phàm ai có
những ǵ sở hữu đều bị hoại
diệt. Duy chỉ có nửa trái cây nầy c̣n tồn
tại. Hăy thương những kẻ nghèo khó. Hăy trồng
những phước đức lâu dài. Lúc bấy giờ
trong chúng có một bậc Thuợng Tọa nói như
thế này:
- Đại Vương A Dục kiếp
trước làm phước rất nhiều, bây giờ thân
đă tật bịnh, gian thần nhiếp chánh, chứa
của phi pháp mà cúng chỉ có nửa trái cây. Tuy nhiên
họ thay vua đến cúng thí cho chúng Tăng.
Liền bảo ông Tri sự đổ
nước vào nấu canh cho chúng rồi thâu hạt
lại, bắt đầu xây Bảo Tháp. Với ân
đức đó Vua được khỏe mạnh trở
lại.
Phía bên tây bắc của Bảo Tháp A Ma Lặt Già
có một chùa cổ, trong đó có một Bảo Tháp, thường
nghe tiếng chuông. Nội chúng trong Già Lam, hơn 100 vị
đều là những người đặc biệt
học cao biết rộng đă bịt miệng
được những kẻ ngọai đạo. Sau
đó chúng tăng bị suy yếu. Nhưng mà những
kẻ sau nầy chưa có ai kế tục giống như
người đi trước được. Ngọai
đạo lấy chuyện nầy để răn
dạy. Các Ngọai đạo huấn luyện thành
nghề nghiệp rồi phát thẻ triệu tập hàng
ngày tăng lữ đến tại tăng pḥng lớn
tiếng bảo rằng:
- Phàm đánh kiền chùy để triệu
tập người học lại, th́ kẻ ngu kia xin
dừng đi đừng đánh
nữa. Rồi thưa với vua
để xem ai thắng bại. V́ ngoại đạo là
những kẻ cao tài thật học c̣n tăng đồ
nói về những vấn đề luận nghị rất
thô thiển và cạn cợt, cho nên ngoại đạo
bảo rằng họ đă thắng và từ nay về sau,
chư Tăng ở chùa không được đánh kiền
chùy để vân tập chúng nữa.
Nhà Vua theo lời ước lệ như đă
thảo luận đó. Tăng đồ nhận sự
sỉ nhục rồi thối lui, suốt trong 12 năm
trường không đánh một tiếng chuông nào cả.
Lúc bấy giờ ở miền nam Ấn
Độ có Bồ Tát Na Già U Sách Thụ Na (Long Mănh) Từ
thưở ấu thời đă nổi tiếng nhưng
cắt bỏ ái ân để xuất gia tu học, nghiên
cứu Diệu Lư và chứng được sơ
địa. Có người đệ tử tên là Đề
Bà, trí huệ minh mẫn, việc ǵ cũng biết bạch
với sư phụ rằng:
- Những vị ở tại thành Ba Thác Phấn
đă chịu thua ngoại đạo không đánh kiền
chùy. Ngày tháng như thế phải đến 12 năm. Bây
giờ muốn phá tà thắp ánh đèn Chánh Pháp như núi cao
cho mọi người thấy. Bồ Tát Long Mănh đáp
rằng:
- Ngoại đạo ở thành Ba Thác Phấn là
những kẻ bác học. Ngươi không thể đi
một ḿnh mà ta cùng đi với.
Đề Bà thưa:
- Muốn phá cái đám cỏ mục kia, hà tất
phải động đến núi. Con xin sự chỉ giáo
và sám hối để đến điểm mặt
bọn dị học kia. Thầy đă vững về giáo
nghĩa của ngoại đạo rồi. Con sẽ tùy
theo văn mạch bẻ găy và giành ưu thế về sau
nầy.
Long Mănh rơ nghĩa bên ngoài, c̣n Đề Bà phá cái lư
bên trong. Bảy ngày sau th́ Long Mănh thua và tự thán rằng,
thật là sai lầm khi dùng lời nói dễ để phá
tà nghĩa kia. C̣n có thể làm điều đó và chắc
chắn được.
Lúc bấy giờ Bồ Tát Đề Bà ở trên
đài cao tiếng nói rằng:
- Hỡi những người ngoại
đạo của thành Ba Thác Phấn hăy nghe đây, nên
triệu tập lại rồi thưa với Vua rằng:
- Đă nghe ngài ra lệnh cho các Sa Môn không
được đánh kiền chùy. Nguyện thừa
mệnh lệnh ấy cho nên chư tăng lân cận
chưa có thể vào thành, sợ rằng làm thế tức
khinh xuất lời phán trước.
Vua nghe điều nầy rồi, và y như
trước cho nên khi Đề Bà đến th́ không
được vô thành. Khi nghe lệnh đó bèn mặc y khác
bằng cỏ, thay v́ mặc tăng già lê và giả làm
người bịnh mới vào bên trong. Lúc đến thành,
ngài bỏ đồ cỏ, mặc y vào như cũ.
Đến tại Già Lam nầy, muốn dừng lại
nghỉ ngơi, người ta biết ḿnh, không có chỗ
ở, nên ở trên lầu chuông. Buổi sáng tinh
sương đánh chuông lớn lên, chúng tăng xem ra
thấy là một du khách Tỳ Kheo, chư Tăng trong Già
Lam truyền nhau hưởng ứng. Vua nghe hỏi việc
nầy chưa biết thế nào cho nên đến chùa
gặp hỏi Đề Bà, Đề Bà đáp rằng:
- Phàm đánh kiền chùy là để tập trung
chúng tăng, nếu như không dùng th́ để làm ǵ?
Người hầu Vua đáp rằng:
- Trước đây Tăng chúng luận nghị
bị thua cho nên không được đánh kiền chùy
trong ṿng 12 năm.
Đề Bà nói:
- Có việc ấy sao? Ta hôm nay đến đây
muốn nghe Pháp Cổ.
Sứ của Vua nói rằng:
- Vị Sa Môn lạ thường kia, có muốn
xấu hổ ở trước chân lư không?
Vua triệu tập các học nhân mà ra
quyết định rằng:
- Nếu mà luận thua không chỉ mất tông môn
mà c̣n phải tự sát để tạ lỗi.
Nhân đây mà ngoại đạo dương
cờ trống lên và đàm đạo những điều
khác nữa. Bồ Tát Đề Bà liền thăng ṭa
đàm luận. Nghe điều hỏi trước,
giảng ư nghĩa sau để bẻ găy, chưa từng
bị bại. Quốc Vương và đại thần
chưa có hoan hỷ lắm, nhưng phải kiến
tạo nên linh địa nầy để nhớ
đến cái đức ấy.
Phía bắc của Tháp đánh kiền chùy có
một nền cũ, nơi ở của Bà La Môn Ngụy
Biện. Tương truyền rằng phía bắc thành
nầy có một Bà La Môn, sống một ḿnh chẳng giao
thiệp với thế nhân, là nơi nương tựa
cầu phước của những con quỷ khác. Chúng
thường đến hưởng ứng những khi
nghị luận cao đàm. Chẳng ai có thể hơn
được. Ngay cả những bậc học thức
tài năng không ai địch nổi. Người dân
mặc nhiên cung kính như một vị Thánh. Lúc bấy
giờ có vị Bồ Tát tên là A Thấp Phược Lư
Sa (Asavaghosa Mă Minh) biết khắp vạn vật, và thông
suốt tam thừa. Một ngày nọ có người
đến nói rằng:
- Ông Bà La Môn nầy tuy không có thầy, nhưng
sự học xưa nay ông chua cúi đầu trước ai
cả, tuy là ở chỗ vắng vẻ nhưng tên
tuổi của ông cao chất ngất. Các loài quỷ
thần nương tựa nơi ông. Theo ngài, người
đó là người như thế nào? Khi lời ngụy
biện của ông phát ra không ai có thể đối
lại. Nghe lời ông nói không ai có thể tường
thuật lại được.
- Để ta đến đó xem thử ông ta thi
thố như thế nào!
Nói xong liền đi đến thảo lư mà
nói rằng:
- Khâm nguỡng đức lớn mà ngày tháng trôi
qua, hạnh phúc thay với ư chí độc cư đó mà
một Bà La Môn an nhiên ở ẩn, chưa vén màn đối
diện cùng ai.
Ngài Mă Minh tâm trí cao vời rất là tự phụ
nói lời ấy xong, liền thối lui mà bảo với
mọi người rằng:
- Ta biết kẻ đó rồi! Thôi! Ông ấy rơ
ràng rồi.
Ngài tâu lên Vua rằng:
- Mong Vua hứa khả cho một cuộc tranh
luận với vị cư sĩ kia.
Nghe như vậy, Vua sợ hăi nói rằng:
- Thầy là ai? Nếu thầy chưa chứng tam
minh và đủ lục thông, làm sao có thể luận
được với ông ta?
Vua ra lệnh đem xa giá thân chinh đến
nơi biện luận. Lúc bấy giờ ngài Mă Minh luận
Tam Tạng rơ từng lời. Tường thuật lại
ư nghĩa lớn của Ngũ Minh, nói lên Diệu Lư ngang
dọc cao thấp gần xa rơ ràng, bảo ông Bà La Môn
thuật lại. Bồ Tát Mă Minh nói:
- Thua rồi, Ông đọc lại đi.
Lúc đó Bà La Môn ngậm miệng. Bồ Tát Mă Minh
quát lên:
- Sao mà khó giải thích vậy? Sự việc rơ
ràng như thế mà không lănh thọ được. Bộ
có bệnh ǵ mà che đậy kinh dị vậy?
Bà La Môn kinh hoàng đáp rằng:
- Hăy dừng, hăy dừng.
Mă Minh thối lui mà c̣n nói rằng:
- Ông kia hôm nay nghe cái hư danh nầy mất
rồi, chẳng c̣n tiếng tăm ǵ nữa phải
thế không?
Vua đáp rằng:
- Chẳng phải là kẻ có đức lớn,
ai là người có thể biết được tà
đạo. Biết được người có triết
thuyết tuyệt vời như vậy, trước sau
chưa có ai hơn được. Đất nước
mà có những vị lịch lăm như vậy quả
thật đáng quư thay.
Phía tây nam của thành có hơn 200 ngôi Già Lam, bên
cạnh đó có Bảo Tháp, phát ra ánh sáng quang minh linh
diệu. Mọi người ở xa gần, không ai không
đến cầu nguyện. Nơi đây cũng là nơi
di tích về việc kinh hành tọa thiền của bốn
vị Phật trong quá khứ.
Phía tây nam của ngôi Già lam cũ đi hơn
trăm dặm, đến Già Lam Thi La Thích Ca Già. Trong
vuờn chùa có bốn chùa khác, mỗi chùa có ba tầng. Trên
những tầng cao cửa thường mở, do cháu
của Vua Tần Bà Sa La kiến tạo. Nơi đây
đă tập hợp những bậc cao tăng thạc
đức. Ở nơi thành khác, có rất nhiều
người có học và thông minh đến từ nơi xa
khác. Những người cùng chí hướng cùng sánh vai
dừng lại nơi đây. Có hơn một ngàn Tăng
Sĩ tu theo Đại Thừa. Ở ngay cửa giữa có
xây ngôi tháp, bên trên có h́nh bánh xe Pháp Luân bằng đồng,
phía dưới được điêu khắc rất
đẹp. Trên trần và đ̣n dông đều chạm
trỗ. Tất cả đều làm bằng đồng
hoặc bằng vàng bao bọc những cây cột
đều trang nghiêm. Giữa tháp thờ tượng
Phật đứng cao ba thước. Phía bên trái có
tượng Bồ Tát Đa La. Phía bên phải có thờ
tượng Quán Tự Tại Bồ Tát. Cả ba
tượng nầy tạc bằng đá quư rất uy linh
mầu nhiệm, xa gần đều biết. Trong mỗi
tháp như vậy có thờ một đấu Xá Lợi, ánh
sáng linh diệu chiếu tỏa khắp gian pḥng.
Phía tây nam của Già Lam Thi La Ca Già, hơn 90
dặm, th́ đến một ngọn núi cao. Đây là
nơi u tịch linh thiêng. Có nhiều rắn độc và
hang rồng quy tụ. Mănh thú, chim lạ cũng đều
ở trong rừng nầy. Ở trên đỉnh núi có
một tảng đá lớn, trên đó có xây dựng
Bảo Tháp cao hơn 10 thước là nơi Phật nhập
định.
Ngày xưa đức Như Lai đă giáng thần
xuống nơi nầy. Ngài ngồi nơi tảng đá
nhập vào Diệt Tận Định. Khi xả
định, chư Thiên và chư Thần đem thiên
nhạc và hoa đến cúng dường đức Như
Lai. Lúc Như Lai xuất định chư Thiên rất
cảm mộ và dùng vàng bạc xây Bảo Tháp nầy. Khi
chư Thánh rời khỏi th́ Bảo Vật biến thành
ḥn đá. Từ xưa đến nay chưa có ai
đến đây. Người ta nguớc nh́n lên núi cao,
thấy có nhiều loại ánh sáng khác biệt, cũng
như rắn lớn và mănh thú quay quanh tảng đá
nầy. Chư Thiên, chư Tiên và chư Thần cũng
thường đến lễ bái.
Phía đông của núi, có một Bảo Tháp,
nơi đây ngày xưa đức Như Lai đă dừng
lại để trông về nước Ma Kiệt Đà.
Phía tây bắc của núi đi hơn 30 dặm. Lại có
một Già Lam được kiến tạo trên
đảnh núi.Có hơn 50 vị Tăng sĩ tu theo
Đại Thừa giáo. Đây là nơi mà Bồ Tát Cù Na
Mạc Đệ (Đức Huệ) hàng phục ngoại
đạo.
Đầu tiên ở trong núi nầy có một
người ngoại đạo tên là Ma Đát Bà, tổ
của Học Pháp Ngoại đaọ Tăng Khư
(Samkhya). Ông ta học thông cả nội và ngoại
điển, được xem là một bậc tài
đức đương thời, tiếng tăm
chẳng ai bằng. Quân vương quư trọng giống
như là quốc bảo, thần dân kính nguỡng như
một bậc gia sư, các nước láng giềng xa
gần đều cung kính đức độ của ngài.
Do đó ngài trở thành người thông thái. Trong ấp
đó xây thành hai làng. Lúc bấy giờ ở Nam Ấn Độ
có Bồ Tát Đức Huệ, từ nhỏ là
người mẫn tiệp, sớm thông lăm tinh tuờng,
học thông Tam Tạng, lư giải thâm sâu Tứ Đế.
Khi nghe Ma Đạp Bà Luận thật thâm huyền và
muốn đến tham cứu. Liền cho người mang
thư đến rằng:
- Kính vấn an ngài Ma Đạp Bà được
an lạc. Ngài quên đi sự lao nhọc mà tinh cần tu
tập học thuật người xưa. Ba năm như
thế nghe được tiếng tăm của ngài.
Cả năm thứ hai và năm thứ ba, mỗi năm
đều có người báo cho biết như vậy.
Trong thư lại viết thêm rằng:
- Năm nầy học nghiệp tối cao là
như thế nào, tôi có thể đến được
không xin cho biết?
Ông Ma Đạt Bà cảm thấy lo lắng, bèn
bảo các môn nhân trong thành ấp rằng. Từ nay về
sau không được cho Sa Môn của đạo khác
ở. Hăy theo tuyên cáo nầy đừng có vi phạm. Lúc
bấy giờ ngài Đức Huệ Bồ Tát chống tích
trượng đến. Người trong ấp theo
lời dạy, không cho ở, và những người Bà La
Môn nói rằng:
- Người cạo tóc và ăn mặc cái ǵ mà
khác người thế! Nói xong đi nơi khác,
đừng ở lại nơi nầy.
Bồ Tát Đức Huệ muốn cùng với
Bồ Tát ở lại nơi ấp ấy, bởi thế
cho nên lấy tâm từ bi để từ tạ và nói:
V́ cuộc đời mà ta tu hành tịnh hạnh,
v́ ư nghĩa cao cả mà ta tu tịnh hạnh. Tịnh
hạnh không phải là việc thấy biết
được. Khi Bà La Môn nghe như vậy mới
đuổi ra khỏi làng. Ngài đi vào trong rừng sâu, mà
nơi đó có mănh thú rất hung bạo. Lại có một
người tịnh tín sợ mănh thú hại ngài, đưa
cây đèn cho ngài và thưa với Bồ Tát rằng:
- Nam Ấn Độ có Bồ Tát Đức
Huệ, nghe nói muốn đến đây để luận
nghị, cho nên người chủ của làng nầy
sợ hăi mà nghiêm cấm không cho phép Sa Môn ấy dừng
ở đây. Lại cũng sợ thú dữ, cho nên đi
đến thảo lư kia để được an
ổn.
Đức Huệ nói:
- Thật là khổ công cho ngươi quá. Ta là
Đức Huệ đây
Khi Thiện Tín nghe rồi, thân tâm cung kính thưa
với Đức Huệ rằng:
- Như vậy, ngài nên đi xa chỗ đây
đi.
Sau đó ngài rời khỏi rừng và dừng
lại nơi một đồng trống. Người
Tịnh Tín cầm đuốc đi theo hầu hai bên,
rồi thưa với Đức Huệ rằng:
- Có thể đi được rồi
đấy. Sợ người nghe tiếng nói đến
làm hại được.
Đức Huệ cảm tạ không bao giờ
quên đức đó, đi đến Vương cung nói
với người gác cổng rằng:
- Có một Bà La Môn từ xa đến, kính mong nhà
vua hứa khả cho nghị luận cùng Ma Đạt Bà
Vua nghe xong kinh ngạc, tự hỏi người
nầy là ai thế, dám to gan vậy. Liền ra lệnh cho
người đến chỗ Ma Đặt Bà và tuyên thánh
chỉ:
- Có một vị Sa Môn của đạo khác
muốn đến đây để đàm luận. Ta ra
thông báo cho gần xa biết ở nơi luận
trường. Hăy đến nơi đó và nên tuân chỉ.
Ma Đặt Bà nghe lệnh của Sứ Vua
liền nói: Há chẳng phải là luận sư Đức
Huệ đến từ Nam Ấn sao?
- Đúng
Ma Đáp Bà nghe xong chẳng vui, nhưng sự
việc khó từ chối, nên phải đến nơi
luận trường. Quốc Vương, Bá quan, sĩ
thứ trăm họ, đều tập trung muốn nghe
sự đàm luận cao siêu nầy.
Đức Huệ đầu tiên, tuyên lập ư
nghĩa của tông ḿnh và tŕnh bày tất cả diệu
nghĩa. Ma Đạt Bà từ chối v́ tuổi cao,
huệ kém, nhờ ông Quy Tinh Tư phương Thù
đến để vấn nạn. Nói xong rồi bỏ
đi. Hôm sau lại lên ṭa để đàm luận cũng
chẳng có điều ǵ khác, cho đến ngày thứ sáu
thổ huyết mà chết. Với việc ra đi nầy,
người vợ nói rằng:
- Ngài là bậc cao tài, thật không có ǵ xấu
hổ.
Ma Đáp Bà chết nhưng không phát tang, cứ
để như thế mà đến luận nghị
tiếp. Trong chúng có người nghi ngờ, mới nói:
- Ma Đáp Bà tự phụ tài cao rất hổ
thẹn đối với Đức Huệ, cho nên
người vợ đến phân bua tốt xấu.
Đức Huệ Bồ Tát nói với y rằng:
- Ngươi nên tự chế phục ḿnh, ta
tự chế ta rồi.
Vợ của Ma Đáp Bà biết khó khăn nên
thối lui, đoạn Vua hỏi:
- Với lời lẽ bí mật nào mà làm cho yên
lặng như thế?
Đức Huệ thưa:
-Tiếc rằng khi Ma Đạp Bà chết
rồi, vợ hắn đến muốn luận nghị.
Vua hỏi:
- Làm sao biết được nói cho ta rơ với.
Đức Huệ thưa:
- Vợ ông ta đến với sắc diện
tang thương. Nghe lời nói đầy ai oán mà tôi
biết vậy! Ma Đạp Bà đă chết, có thể cô
ấy nên tự chế để lo cho chồng.
Lúc bấy giờ Vua cho người đi xem
hư thật, th́ đúng như vậy. Vua bèn cảm
tạ rằng:
- Phật pháp huyền diệu linh thiêng vô kể.
Đạo Vô Vi làm cho tất cả hàm linh được
nhuận hoá. Nương vào quốc pháp mà tuyên dương
cái đức nầy vậy.
Đức Huệ thưa:
- Chớ có ngu muội v́ đạo mà tồn
tại. Việc nghị luận sẽ mang đến
sự hấp dẫn. Trước tiên là để chế
ngự sự ngă mạn của ngoại đạo rồi
nhiếp hóa là việc làm hợp thời. Mong rằng
Đại Vương hăy cho tất cả con cháu ngàn
đời ở trong thành của Ma Đạp Bà, sung vào
người phụ việc cho chùa, được như
thế cho đến đời sau lưu lại
điều tốt đẹp vô cùng. Những người
tịnh tín khuông pḥ kia, nhờ vào phước đức mà
có ăn, giống như chư tăng vậy, nên siêng
năng tinh tấn để có được cái
đức dày. Từ đó kiến tạo Già Lam nầy
trở thành một thánh tích.
Sau khi Ma Đạp Bà nghị luận thưa, có
khoảng mười Tịnh Hạnh nhơn bỏ sang
nước lân cận, thông báo cho các ngoại đạo
về việc sỉ nhục nầy chiêu mộ anh tài, vào
trong núi tuyết nhớ lại việc tranh luận
trước. Vua bây giờ trân kính Đức Huệ cho nên
cùng nhau đến thưa rằng:
- Bây giờ các ngoại đạo không tự
luợng sức ḿnh nên đă liên kết lại cùng luận
nghị. Mong rằng Đại Sư có thể luận
nghị với ngoại đạo chăng?
Đức Huệ tiếp:
- Cùng nghị luận, những người
ngoại đạo học nhân, họ đă an ủi
với nhau, c̣n ta chắc rằng hôm nay sẽ là ngày tất
thắng. Lúc bấy giờ ngoại đạo dương
cao nghĩa lư và Bồ Tát Đức Huệ nói:
- Ngoại đạo các ngươi khó mà đào
thoát đi xa được. Như điều lệ
trước Vua đặt ra, các ngươi là bọn
giặc. Ta như thế nầy mà cùng các ngươi
luận nghị sao!
Đức Huệ ngồi yên để nghe
những luận nghị bàn tán nhỏ to, chờ cho họ
đứng lên rồi và nghe có nhiều tiếng nói lớn,
Đức Huệ vẫn ngồi đó và nói rằng:
- Cái giường đây, các anh có thể luận
được không?
Ngoại đạo ngơ ngác không hiểu khi nghe
mệnh lệnh nầy, bèn dựng đứng chỗ
ngồi lên nhưng không được. Mọi
người hô to đồng làm nhưng cả ba lần
đều thất bại. Chỗ ngồi kia càng nặng
thêm. Từ sự hàng phục nầy mà nơi đây đă
dựng làm ngôi Già Lam
Từ phía tây nam của Già Lam Đức Huệ
đi đến Cô Sơn. Lại có một Già Lam, Ngài Thi La
Phạt Đa La (Silabhadra) luận sư đă thắng trong
một cuộc tranh luận tại nơi đây và xây
dựng thành một ngôi tháp và an trí Xá Lợi Phật.
Luận sư là người Vương tộc
nước Tam Ma Đản Tháp, thuộc ḍng dơi Bà Là Môn. Lúc
nhỏ ham học và có phong cách, hay đi khắp Ấn
Độ để t́m cầu Minh Triết. Đến
nước nầy thuộc chùa Na Lan Đà, gặp ngài
Hộ Pháp Bồ Tát. Nghe Pháp tín ngộ rồi mong muốn
mặc áo hoại sắc, để nghiên cứu tầm
cầu cho thấu đáo, hay hỏi về con
đường giải thoát, cho đến rơ lư mới
thôi. Tiếng tăm lúc bấy giờ lan xa ra nhiều
nơi.
Lúc bấy giờ ở nam Ấn có một
ngoại đạo rất giỏi nghe tiếng tăm
của ngài Hộ Pháp liền khởi lên ngă mạn khinh
thường, chẳng ngại núi sông cách trở,
đến đánh trống để tranh luận, nói
rằng:
- Tôi là người Nam Ấn, là một
đại luận sư trong nước đó. Tôi tuy
chưa hài ḷng và muốn rơ ràng ư nghĩa, rồi Vua nói:
- Có như vậy sao thật sự mốn
phải biết ư nghĩa thật sự sao?
Rồi ra lệnh Sứ Thần thỉnh ngài
Hộ Pháp rằng:
- Có một ngoại đạo từ Nam Ấn xa
xôi đi hơn ngàn dặm đến cầu tranh luận.
Muốn Ngài đến đạo tràng để cùng tranh
luận.
Khi ngài Hộ Pháp nghe xong liền mang y áo
đến cùng môn nhân là ngài Giới Hiền cùng đi theo.
Kẻ đến trước bảo rằng:
- Đi đâu mà vội vàng vậy?
Ngài Hộ Pháp đáp:
- Kể từ khi mặt trời trí huệ
lặn xuống, ánh sáng được truyền qua
những ngọn đèn tịch chiếu. Những ngoại
đạo hợp lại với nhau như kiến,
với những học Thuyết khác tỏa ra như ong
đi hút mật. Hôm nay, ta cùng với họ tranh luận.
Ngài Giới Hiền thưa:
- Bạch Ngài, con có nghe luận của ngoại
đạo rơ ràng rồi.
Ngài Hộ Pháp biết vậy rất vui mừng.
Lúc bấy giờ ngài Giới Hiền tuổi khoảng 30.
Ở trong chúng thường bị chê là nhỏ, sợ khó
mà đảm nhận một ḿnh được. Ngài Hộ
Pháp biết được tâm của chúng nên tâm rất
bất b́nh, liền giải thích rằng:
- Là bậc cao minh đâu có cần tuổi tác. Nay
ta quán thấy có thể chắc chắn phá được
kẻ kia. Đến ngày tập trung để nghị
luận, xa gần đều náo nức, ngoại
đạo th́ tự nghi rằng ḿnh sẽ thấu
triệt hết lẽ u huyền. Nhưng trong khi đó
Giới Hiền nương chân lư chân thật, biết
được cực sâu của lẽ u huyền. Do
đó ngoại đạo cuối cùng đă xấu hổ
mà thối lui.
Nhà Vua muốn báo đức nầy nên phong ấp
nhưng luận sư từ chối nói:
- Kẻ đắp y hoại sắc luôn luôn tri
túc, sống thanh bần thủ đạo, cần thành
ấp làm ǵ?
Nhà Vua đáp:
- Ngày xưa đấng Pháp Vương dong
thuyền đó đây, không riêng biệt cho ai, và cho
người đời sau nào hết. Nay, v́ hoằng
dương Chánh Pháp xin ngài hứa khả nạp thọ.
Thế rồi luận sư chẳng từ
chối được cho nên thọ nhận ấp nầy
tạo thành Già Lam cùng các quy cũ. Sau đó ngài cúng
dường lại và ra đi.
Phía tây nam chùa của ngài Giới Hiền đi
hơn 45 dặm qua sông Ni Liên Thiền, đến thành Dà Gia
(Gaya) nơi nầy rất hiểm yếu cho nên ít
người ở, chỉ có độ hơn 1000
người Bà La Môn. Có đại tiên nhơn nối dơi
ở đây. Vua cùng đại thần đều tôn kính.
Ở phía bắc cách 30 dặm có một hồ nước
trong, mà người Ấn Độ tương truyền
rằng là hồ nước Thánh, nếu uống vào
tội cấu sẽ tiêu trừ. Phía tây nam của thành
hơn 5.6 dặm đến núi Gaya. Nơi đó có
động đá rất nguy hiểm. Người Ấn
Độ gọi là núi linh thiêng. Từ xưa đến
nay, Vua chúa cũng đều nhận như thế.
Người ở xa đến đây tắm gội th́
nhuần được ân đức của đời
trước chưa nói ǵ đến việc thành công. Trên
đỉnh núi có một bảo tháp cao hơn trăm
thước do Vua A Dục dựng nên. Nhiều khi phát ra ánh
sáng rất linh thiêng, chuyện xưa kể rằng:
- Đức Như Lai khi diễn thuyết kinh
nơi đây có mây lành bao phủ.
Phía đông nam núi Gaya có một Bảo Tháp. Đây
là làng của Ngài Ca Diếp Ba sanh ra. Phía Nam lại có hai Bảo
Tháp. Đây là nơi hỏa thiêu ngài Dà Gia Ca Diếp Ba, và Na
Đề Ca Diếp Ba. Từ phía đông nơi hỏa
thiêu của ngài Dà Gia Ca Diếp Ba, qua con sông lớn
đến Bát La Hấp Bồ Đề Sơn (Chánh Giác
Sơn). Nơi đây Như Lai tu sáu năm khổ hạnh
mà chưa thành Chánh Giác, và sau khi xả khổ hạnh
rồi liền thọ bát cháo sữa. Tự đi về
hướng đông bắc để đến núi nầy
và mong được chứng thành Chánh Giác. Từ phía
đồi đông bắc lên đến đảnh,
đất tự nhiên rúng động nghiêng ngữa. Sơn
thần kinh hoảng mới thưa với Bồ Tát
rằng:
- Núi nầy không phải là nơi thành Chánh Giác,
chẳng phải là phước địa, nên dừng
việc nhập kim cang định nơi đây.
Đất hết rung chuyển và núi trở
lại b́nh thường. Bồ Tát đi xuống phía tây nam
đến lưng chừng núi, ngoảnh mặt thấy
một hang đá lớn, ngài liền ngồi kiết già phu
tọa. Đất đai liền chấn động
một lần nữa núi lại nghiêng thêm. Lúc bấy
giờ Tịnh Cư Thiên từ không trung xướng lên
rằng:
- Đây không phải là nơi đức Như
Lai thành Chánh Giác.
Từ phía tây nam đi hơn 14.5 dặm ruỡi
cách nơi Khổ hạnh chẳng xa, có một cây Tất
Bát La dưới đó có Kim Cang Ṭa, mà chư Phật trong ba
đời từ quá khứ đến vị lai
đều thành Chánh Giác ở đây, và nguyện sẽ
được thành tựu.
Khi Bồ Tát đứng dậy ở trong không
trung con rồng lên tiếng. Đây là nơi thù thắng có
thể thành Chánh Quả ngưỡng mong đấng từ
bi đừng bỏ qua. Bồ Tát liền biết rằng:
- Không thể chối bỏ nơi đây, v́
vậy cho nên Rồng biết ư rồi lưu ảnh
lại mà đi. chư Thiên dẫn đường đi
trước đến cây Bồ Đề. Về sau Vua A
Dục hưng thịnh lên nơi chứng Bồ Đề
trên dưới vẫn c̣n dấu tích. Tất cả chung
quanh cây ấy đều được xây dựng
những Bảo Tháp mà qua đó vô số đặc thù linh
ứng khó tả, như mưa hoa từ trên trời rơi
xuống và hào quang chiếu sáng u nhàn. Mỗi năm nhân mùa
an cư, nhiều nơi tăng tục đến đây tu
phước cúng dường, ḷng tin bất hoại.
- Phía trước núi Chánh Giác hướng tây nam
đi hơn 14 dặm ruỡi, đến gốc cây Bồ
Đề. Chung quanh nơi đây được bao bọc
bởi gạch đá kiên cố, phía đông tây dài phía nam
bắc hẹp. Chu vi hơn 500 bộ. Cây nầy soi bóng
xuống hồ nước có hoa sen, nhiều cây cỏ hoa
lá xanh tươi màu biếc. Cổng chánh phía đông
đối diện với sông Ni Liên Thiền, cổng phía
nam nối tiếp với hồ lớn đầy hoa. Phía
tây th́ nguy hiểm. Phía bắc thông qua đại Già Lam. Trong
vuờn đất đai rất rộng. Bên cạnh Thánh
tích hoặc có Bảo Tháp hoặc làm tịnh xá do các Vua và
đại thần ở các nước tại Thiệm
Bộ Châu thừa sự Di Giáo của đức Phật
mà kiến tạo để kỷ niệm. Ngay dưới
gốc cây Bồ Đề là Kim Cang Ṭa mà ngày xưa lúc
hiền kiếp, đất nơi đây từ phía
dưới tự nhiên nổi lên như vậy. Trong tam
thiên đại thiên thế giới, phía dưới cùng là
bánh xe vàng, phía trên cùng là phủ bằng đất
để trở thành Kim Cang, chu vi hơn 100 bước.
Trong hiền kiếp có một ngàn vị Phật đă
ngồi nơi đây mà nhập Kim Cang định cho nên
gọi là Kim Cang Ṭa, để chứng thánh quả. Lại
có tên là đạo tràng. Khi đại địa chấn
động, không bao giờ lay chuyển. Cho nên Như Lai
thành Chánh Giác. Đất bốn phía nầy có giao
động nhưng sau khi đến rồi trở nên an
tịnh không giao động nữa. Đến thời
Mạt Pháp cuối cùng, Chánh Pháp không c̣n ǵ nữa, nơi
nầy sẽ bị đất cát phủ lên không thấy
được nữa. Sau khi Phật nhập Niết Bàn,
Vua chúa các nước cùng đến nghe Phật Pháp tại
Kim Cang Ṭa rất nhiều. Có hai tượng toàn thân của
đức Quán Tự Tại Bồ Tát ngồi ở phía Tây
Bắc, mặt xây về hướng đông. Nghe các
bậc kỳ cựu nói rằng:
- Tượng Bồ Tát nầy mà ch́m hết th́
Phật Pháp sẽ diệt tận, và bây giờ đă
thấy tượng Bồ Tát ở đó đă ch́m
đến ngực rồi.
Trên Kim Cang ṭa là gốc cây Bồ Đề,
tức là cây Tất Bát La. Khi Phật c̣n tại thế cao
hơn trăm thước, trải qua nhiều lần
bị đốn chặt chỉ c̣n 45 thước.
Phật ngồi dưới cây nầy thành bậc Chánh
Đẳng Chánh Giác cho nên gọi đây là cây Bồ
Đề.
Gốc cây màu vàng, cành màu trắng, lá màu xanh. Mùa
đông cũng như mùa hạ, màu sắc ấy không thay
đổi. Mỗi năm đến ngày Như Lai nhập
Niết Bàn, tất cả lá đều rụng hết,
rồi được mọc trở lại. Ngày đó là
ngày mà Vua các nước cũng như Tăng Tục số
đến hàng vạn người, chả mời thỉnh
mà ai cũng về. Dùng nước hoa, nước
hương, sữa để gội rửa rồi
phụng tấu âm nhạc cùng cúng dường hương
hoa đèn nến luôn ngày không dứt.
Sau khi đức Như Lai tịch diệt và lúc
Vua A Dục (Asoka) mới lên ngôi đầu tiên theo tà
đạo hủy báng Phật tích, khởi binh và thân chinh
đến triệt hạ và chặt bỏ gốc cành lá thành
từng khúc, rồi đem qua phía tây cách đó 10
bước chất đống lên, rồi ra lệnh Bà La
Môn đốt lửa tế trời. Nhưng khói bay chưa
hết bỗng nhiên sanh ra hai gốc khác, kỳ lạ trong
ánh lửa mạnh đó lá vẫn c̣n xanh. Nhân việc
nầy gọi là than của cây Bồ Đề. Vua A Dục
thấy điều linh dị như thế liền
hối quá, mang hương hoa và sữa để tuới
vào gốc, liền sau đó tự nhiên gốc cây trở
lại như cũ. Vua thấy điều linh dị
như vậy càng thêm vui mừng, đích thân tu phước
cúng dường và khi ra về rất vui vẻ.
Vương phi là người tin theo ngoại đạo
mật cho người đến lúc đêm tối chặt
cây Bồ Đề một lần nữa. Nơi mà Vua A
Dục thường hay kính lễ. Thấy như vậy,
Vua vô cùng sầu năo nên đến thành tâm kỳ nguyện
hương hoa sữa nước tuới tẫm, qua
một ngày cây mọc lại như cũ. Vua thâm kính lạ
thường rồi cho lấy đá xây chung quanh cao hơn
10 thước mà bây giờ vẫn c̣n nh́n thấy
đó.
Gần đó có một ông Vương Giả
Thường Già tin theo ngoại đạo, phỉ báng
Phật Pháp và phá hoại Già Lam, chặt cây Bồ
Đề, đào thành suối cho nước chảy
đến tận gốc rễ, rồi lấy lửa
đốt, lấy nước mía đổ xuống
muốn cho tiêu tiệt vết tích đi. Mấy tháng sau, làm
vua nước Ma Kiệt Đà tức là Bổ Sách Noa
Phạt Ma. Cháu của Vua A Dục nghe vậy than rằng:
- Ánh sáng trí huệ mất rồi, chỉ c̣n có
gốc cây dấu tích nơi Phật, mà nay cũng mất,
làm sao người đời sau có thể thấy
được.
Liền cúi sát đất khóc thương thảm
thiết, lấy sữa của ngàn con ḅ, đem đến
tuới lên, chỉ trong một đêm thôi cây mọc trở
lại cao hơn một trượng. Sợ sau nầy
bị chặt phá nữa, cho nên cho xây đá chung quanh cao hai
thước bốn tấc. Bây giờ cây Bồ Đề
được yên ổn bao bọc bởi bức
tường đá bên ngoài hơn một trượng.
Phía đông cây Bồ Đề, có tinh xá cao 167
thước. Nền tảng rộng hơn 20 bộ, là
loại đá xanh tẫm màu than. Bên trên tinh xá có
tượng bằng vàng, bốn bức tường
đều có tạo những h́nh lạ. Hoặc h́nh hoa sen,
h́nh chư Thiên. Trên đó có những trái xoài bằng
đồng. Phía đông giáp với những nhà cao xây
cất cả ba tầng. Đ̣n dông của những nhà
nầy nằm san sát bên nhau được điêu khắc
chạm trỗ bằng vàng bạc ngọc ngà bao chung quanh.
Bên trong pḥng ốc cũng có ba tầng. Phía ng̣ai cửa
tả hữu mỗi nơi đều có pḥng riêng. Phía bên
tả thờ tượng đức Quán Tự Tại
Bồ Tát. Phía bên hữu thờ tượng đức
Từ Thị Bồ Tát làm bằng bạc trắng cao
hơn 10 trượng. Nơi tinh xá cũ nầy, Vua A
Dục đă kiến tạo một tịnh xá nhỏ và sau
đó có Bà La Môn xây rộng thêm.
Đầu tiên, vị Bà La Môn nầy không tin
Phật Pháp mà tin theo Đại Tự Tại Thiên hay nghe
theo những thiên thần trong núi Tuyết và cùng
người em đến đây cầu nguyện.
Chư Thiên nói:
- Phàm các nguyện cầu được
phước quả. Điều được chẳng
phải của anh, cũng chẳng phải tôi làm
được điều đó.
Bà La Môn hỏi rằng:
- Tu phước ǵ có thể toại tâm toại ư?
Vị trời đáp:
- Muốn trồng giống lành, cầu
phước điền tốt, nơi gốc cây Bồ
Đề có thể thành Phật quả.
Sau khi nghe xong liền trở lại cây Bồ
Đề kiến lập đại tinh xá và tạo nên
hồ nước lớn để cúng dường mong
rằng uớc nguyện sẽ thành tựu.
Bà La Môn ấy theo lời dạy của chư
Thiên nên phát đại tín tâm hồi đầu,
người anh xây dựng tinh xá, người em đào ao
cho có nước, và rộng tu cúng dường cần
cầu tâm nguyện để mai sau được
hưởng quả làm Vua, Đại Thần.
thường được nhân duyên vào trong nơi nầy.
Sau khi tinh xá hoàn thành liền chiêu mộ công nhân muốn làm
tượng của Như Lai lúc thành Phật. Qua năm
tháng chẳng có người nào có thể đáp ứng. Lâu
sau, có Bà La Môn đến và bảo họ rằng:
Chính ta đây có thể họa vẽ h́nh
tượng Diệu tướng của Như Lai. Hai
người bảo:
- Nay muốn tạo tượng th́ nhan sắc
phải như thế nào?
Đáp rằng:
- Màu của khói hương. Nên để trong tinh
xá một ngọn đèn thôi. Tôi sẽ vào đây, đóng
cửa lại, sáu tháng sau mới mở ra.
Lúc bấy giờ tăng chúng cứ như
thế mà làm. C̣n bốn ngày nữa đủ sáu tháng,
tăng chúng liền mở xem thử, thấy trong tinh xá
tượng Phật ngồi nghiễm nhiên kiết già phu
tọa chân phải để lên trên, tay trái để lên
trên tay mặt, mặt xây về hướng đông, h́nh
dáng tự tại, ngồi cao bốn thước hai
tấc, ngang hai thước năm tấc. Bệ thờ
cao một thước năm tấc. Hai bên hông tám
thước tám tấc. Hai vai sáu thước hai tấc,
tướng hảo cụ túc, h́nh dáng từ bi thật
đẹp. Tuy phía trên ngực bên phải chưa làm xong, mà
đă thấy người vào cho nên thần biến
mất. Chúng tăng buồn khổ than trách và bảo cho
mọi người biết. Lại có một vị Sa Môn
tâm tánh thuần hậu, nằm mộng thấy một Bà La
Môn đến bảo rằng:
- Ta chính là Từ Thị Bồ Tát, sợ công nhân
không thể đo luờng được dung nhan của
bậc Thánh, cho nên chính ta đă đến để vẽ
và làm tượng Phật, tay bên phải giống như
đức Như Lai hàng phục ma binh khí ma chúng quây chung
quanh, có một vị hiện ra giúp Phật hàng ma. Như
Lai bảo rằng:
- Ngươi đừng sợ hăi. Ta dùng nhẫn
lực mà hàng phục cho xong.
Ma Vương đáp:
- Ai là người có thể chứng
được?
Như Lai liền chỉ tay xuống đất
mà nói rằng:
- Sẽ chứng ở đây.
Lúc bấy giờ vị địa thần
thứ hai từ dưới đất liền chứng.
Cho nên tượng bây giờ tay thả xuống như ngày
xưa. Chúng tăng biết sự linh nghiệm đó nên
hết buồn tiếc. Liền sơn lên phía bên trên
chỗ chưa xong những đồ quư báu và trang trí
những anh lạc quư giá trân bảo.
Sau khi Vua Thiết Thường Ca chặt cây
Bồ Đề rồi, liền muốn phá hoại
tượng Phật nầy, nhưng khi thấy từ dung,
tâm chẳng an, nên hồi giá trở về và ra lệnh
đại thần rằng:
- Đập tượng Phật đi chỉ
để lại tượng Đại Tự Tại
Thiên.
Quan quân y lời và than rằng:
- Phá hủy Phật th́ đời kiếp sẽ
chẳng an, mà sai trái Vương mệnh th́ mạng
sống không c̣n mà gia tộc cũng bị diệt.
Tiến lui đều khổ không biết làm sao!
Đem ḷng tín tâm mà tự sát. Bỗng nhiên trước
tượng gạch ngói đổ xuống, thấy ánh
đèn phía trước bay về cơi Tự Tại Thiên. Vua
nghe như vậy ḷng rất lo sợ sai người
đến xem thử, thấy tượng vẫn không
hề ǵ. Các thần sau khi phá trở lại, đập
bức tượng nầy. Lúc ấy trải qua nhiều
ngày ánh đèn vẫn không tắt. Tượng vẫn c̣n
tự tại. Thần sắc vô cùng. Ở bên trong căn
pḥng ngọn đèn vẫn cháy liên tục. Muốn thấy
từ nhan nhưng chưa rơ được. Vào một
buổi sáng mang một tấm kính lớn để
chiếu lại th́ thấy linh dị vô cùng. Phàm kẻ nào
thấy được tự tăng ḷng cảm
thương. Như Lai đă thành Chánh Giác theo lịch
Ấn Độ vào nửa đêm ngày mồng tám tháng
Phệ Xá Khư, nhằm ngày mồng tám tháng ba bây giờ.
Trong khi đó theo Thuợng Tọa Bộ nói rằng Như
Lai thành Chánh Đẳng Chánh Giác vào nửa đêm ngày 15 tháng
Phệ Xá Khư tức là ngày 15 tháng 3. Lúc ấy Như Lai
30 tuổi, hoặc có nơi nói Như Lai 35 tuổi.
Phía bắc nơi cây Bồ Đề là nơi
kinh hành của đức Phật. Sau khi Như Lai thành Chánh
Giác, Ngài không rời khỏi ṭa ngồi, có bảy ngày
nhập định. Sau đó đứng lên và đi về
phía bắc của cây Bồ Đề, rồi bảy ngày
sau nữa đi qua lại hướng đông và
hướng tây. Đi hơn mười bước có bông
hoa quư hiện lên dưới chân ngài. Người
đời sau nhân đây mà khắc thành dấu tích, cao
hơn ba thước. Tương truyền rằng Thánh
tích nầy là nơi tu hành đoản kỳ của con
người, đầu tiên thành tâm phát lời nguyện sau
đó sẽ được độ, tùy theo sự tu
học dài ngắn và sự thành tâm sẽ được
tăng giảm. Đường đi phía bắc nơi
kinh hành có một tảng đá lớn, trên đó có một
tịnh xá, trong đó có tượng Phật mắt
ngước lên. Ngày xưa, đức Như Lai ở
nơi nầy bảy ngày để hướng về cây
Bồ Đề mắt đăm chiêu không nháy v́
để cảm ơn cây Bồ Đề cho nên ở
đây gọi là nơi chiêm vọng. Phía tây cây Bồ
đề không xa, trong đại tinh xá có một
tượng bằng ngọc sáng, trang sức rất là tân
kỳ. Ngồi xây mặt về hướng đông. Phía
trước có một tảng đá xanh có chạm nhiều
chữ lạ. Đây là nơi đức Như Lai sau khi
thành Chánh Giác, Phạm vương tạo nhà Thất
Bảo, Đế Thích xây chỗ ngồi Thất Bảo và
Phật đă ở nơi đó bảy ngày để
tư duy. Ngài phóng quang minh chiếu xuống cây Bồ
Đề. Các vị Thánh ra đi, lưu lại dấu tích
trên đá.
Phía nam cây Bồ Đề chẳng xa mấy
lại có một Bảo Tháp cao hơn 100 thước, do Vua
A Dục dựng nên. Sau khi tắm dưới sông Ni Liên,
Bồ Tát đi đến cây Bồ Đề, phải
tự ḿnh suy nghĩ lấy ǵ để làm chỗ ngồi
và tự nghĩ ra phải lấy cỏ Cát Tuờng (Kusa).
Thiên Đế Thích hóa thân làm người cắt cỏ mang
đi trên đường. Bồ Tát hỏi:
- Ta có thể dùng cỏ ngươi đang mang
đó chăng?
Người biến hóa đó nghe như vậy
phát tâm cung kính dâng cỏ cho Bồ Tát. Nhận xong, Bồ
Tát đi đến phía trước.
Phía đông bắc chỗ nhận cỏ không xa
mấy có một Bảo Tháp. Đây là nơi Bồ Tát
sẽ chứng Phật quả. Những con công xanh và con nai
quây quần quanh đây. Ấn Độ là nơi có
nhiều linh ứng, cho nên trời Tịnh Cư tùy
thuận thế gian nầy để hóa hiện ra
những loài bay nhảy linh hiển như thế.
Con đường phía đông nơi cây Bồ
Đề hai bên đều có Bảo Tháp. Đây là nơi Ma
Vương quấy nhiễu Bồ Tát. Khi Bồ Tát sắp
chứng Phật quả, Ma Vương khuyên nên trở thành
Luân Vương. Đề nghị ấy được
nêu lên nhưng không được thực hành, mà c̣n làm
nguợc lại. Ma Vương biến thành người
nữ để dụ dỗ Bồ Tát. Oai thần của
Bồ Tát linh động biến hiện để
trừng trị sắc đẹp kia. Khi dụ dỗ không
được liền bỏ mà đi.
Phía tây bắc cây Bồ Đề có một
Tịnh Xá, trong Tịnh Xá ấy có thờ tượng
Phật Ca Diếp. Tượng nầy thường hay
phóng hào quang và người xưa nói rằng nếu có ai chí
thành đảnh lễ và đi nhiễu bảy tuần, th́
tại nơi đây sẽ được túc mạng
trí.
Phía tây bắc của Tinh Xá Ca Diếp có hai pḥng
bằng gạch nung. Mỗi nơi đều có
tượng địa thần. Ngày xưa, nơi đây
đức Như Lai sắp thành Chánh Giác, một vị báo
Ma Vương đến, một vị cảm niệm ân
đức của Phật thành đạo mà vẽ
đồ h́nh.
Phía tây cây Bồ Đề chẳng xa mấy có
một Bảo Tháp, đây là nơi có cây Nghệ (Uất Kim
Hương). Tháp cao hơn 40 thước, do những
thương nhân của người nước Tào Cự
Thác lập nên. Tích xưa kể lại rằng: Có một
đại thương chủ người nước Tào
Cự Thác, có việc muốn t́m đến Thiên Thần
để cầu phước lợi, khinh miệt Phật
Pháp chẳng tin Nhân Quả. Sau đó, việc buôn bán với
những người bạn không được ǵ hết.
Lúc ấy, thuyền gặp gió lớn, trôi dạt trên
biển Nam Hải. Gió trôi đánh bạt cả ba năm
như thế, đồ ăn thức uống không c̣n
một thứ ǵ. Những người cùng thuyền
sớm tối không biết làm sao. Họ hiệp lực ra
sức chí thành hướng về chư Thiên, khổ công
khó nhọc nhưng chưa được việc ǵ,
họ thấy được một đỉnh núi cao và
hai ngày sau thấy được ánh sáng huyền diệu.
Lúc bấy giờ thương nhân mới an ủi với
nhau rằng:
- Chúng ta có phước cho nên mới thấy
được núi nầy. Nếu ở lại đó
được th́ chắc là an lạc.
Thương chủ nói:
- Chắc không phải núi đâu mà là con cá Ma
Kiệt đó. Không thấy đỉnh cao chót vót sao?
Hai ngày sau lại thấy ánh sáng chiếu rọi
tiếp. Đang bàn căi và nói chuyện chưa xong gió lại
thổi. Thương chủ v́ các thương nhân mà
bạch rằng:
- Con nghe đức Quán Tự Tại Bồ Tát
thường cứu giúp chúng sanh gặp nguy hiểm.
Bạch như thế xong, mỗi người
thành tâm niệm danh hiệu ngài và chí thành. Hai ngày sau
đỉnh núi kia biến mất. Họ thấy một Sa
Môn uy nghi tịch tinh tay cầm tích trượng từ
hư không mà đến giúp họ đến nước
nầy. Do vậy tín tâm của họ kiên cố luôn luôn
cầu phước chẳng thôi, rồi họ kiến
thiết Bảo Tháp tu phước cúng dường và
lấy màu Uất Kim Hương sơn chung quanh Tháp,
rồi phát tín tâm cùng ḷng tu học, mọi người
đều đến lễ Thánh tích cùng quan sát cây Bồ
Đề. Ai chưa phát được lời quy
thuận, th́ chờ đến ngày sám hối mà quy y.
Những người thương nhân đồng đi
đến và nói rằng:
- Núi sông là nơi lo lắng mà quê hương
cố quốc lại xa vời, cho nên kiến lập
Bảo Tháp nơi đây, nhưng khi tôi ở tại đây
ai là người quét dọn chăm sóc. Nói xong liền
đi nhiễu, đến nơi nầy th́ gặp Bảo
Tháp, sợ hăi với lư do nầy cho nên đến đây
chiêm ngưỡng đảnh lễ và nơi quê
hương cũng sẽ kiến tạo Bảo Tháp. Cho nên
ngày nay ở Ấn Độ gọi là Tháp Uất Kim
Hương.
Phía đông nam cây Bồ Đề nhằm nơi
cây Ni Câu Luật, lại có một Bảo Tháp bên cạnh có Tịnh
xá, bên trong có tạo một tượng Phật ngồi.
Đây là nơi Như Lai ngày xưa mới chứng
Phật Quả. Đại Phạm Thiên Vương
khiến thỉnh ngài chuyển Diệu Pháp Luân. Chung quanh
bốn bên cây Bồ Đề đều có những
Bảo Tháp lớn. Tại nơi đây ngày xưa
đức Như Lai nhận cỏ kiết tường
rồi đi đến nơi cây Bồ Đề trải
qua bốn lần đại địa chấn
động mới đến Kim Cang Ṭa, sau đó mới an
tịnh. Bên trong thánh tích đẹp đẽ là Cây Bồ
Đề biến đổi khổ tai ách nạn. Phía bên
ngoài cây Bồ Đề hướng tây nam có một
Bảo Tháp là nơi nhà cũ của hai nàng mục nữ
dâng bát cháo sữa (Cháo Nhũ Mi). Ở phía Bảo Tháp
nầy, một cô nấu cháo đoạn dâng cháo cho
đức Như Lai và ngài thọ nhận.
Bên ngoài cửa phía Nam cây Bồ Đề có
một hồ lớn, chu vi 700 bộ. Nơi đây rất
nhiều cá và rồng. Hai anh em Bà La Môn theo y lệnh của
Đại Tự Tại Thiên mà làm hồ nầy. Tiếp
đó ở phía nam có một cái hồ nữa. Ngày xưa khi
Như Lai mới thành Chánh Giác, ngài muốn tắm gội,
Thiên Đế Thích hóa ra hồ ấy cho Phật. Phía Tây có
một tảng đá lớn. Nơi đây đức
Phật giặt y và muốn cho mau khô. Thiên Đế Thích
từ trong núi Tuyết mang nắng đến. Phía bên
Bảo Tháp, Như Lai nhận lại y nầy. Tiếp
đến, trong rừng phía Nam có một Bảo Tháp, nơi
đây Như Lai thọ nhận y áo của một Bà Lăo
nghèo. Đế Thích hóa ra một cái ao ở phía rừng,
đó là cái hồ của Mục Chi Lân Đà Long
Vương. Nước của hồ nầy xanh biếc
vị trong ngọt. Phía tây của hồ nầy có một
tinh xá nhỏ, bên trong có tạo một tượng
Phật. Ngày xưa khi Như Lai mới thành Chánh Giác ở
nơi đây nhập thiền định suốt bảy
ngày. Lúc ấy Long Vương hầu hạ đức
Như Lai rồi dùng thân ḿnh quấn Phật bảy ṿng, hóa
thành nhiều đầu để làm cái lọng che
Phật. Bên bờ hồ phía đông có một căn pḥng và
phía đông hồ Mục Chi Lân Đà Long Vương, ở
giữa rừng có một tinh xá và trong tinh xá ấy có
một tượng Phật. Đây là nơi kinh hành của
Phật, chiều dài 70 bộ. Nam Bắc mỗi bên
đều có cây Tất Bát La. Xưa nay những
người bị tật bịnh hay dùng hương và
dầu đến cúng dường nơi tượng
nầy đa phần được khỏi bệnh.
Đó là nơi Bồ Tát tu khổ hạnh. Như Lai hàng
phục ngoại đạo, nhận lời thỉnh
cầu của Ma Vương, tu khổ hạnh sáu năm,
mỗi ngày ăn một hạt gạo và hạt lúa
mạch, h́nh dung tiều tụy da bọc lấy
xương. Ngài đi qua lại cây nầy và sau đó đứng
lên. Nơi cây Tất Bát La mà Bồ Tát tu khổ hạnh có
một Bảo Tháp. Đây là nơi mà năm anh em A Nhă
Kiều Trần Như ở. Nơi đầu tiên Thái
Tử rời khỏi hoàng cung, bàng hoàng trước núi sông
cây cỏ. Lúc bấy giờ Vua Tịnh Phạn cho năm
người đi t́m, biết rằng Thái Tử đang tu
khổ hạnh với anh em Kiều Trần Như rất
tinh cần.
Phía nơi ở của anh em Kiều Trần
Như đi về hướng đông nam có một tháp .
Đây là nơi Bồ Tát vào sông Ni Liên tắm gội. Phía
bên sông chẳng xa là nơi Bồ Tát thọ nhận bát cháo
Nhũ Mi và phía hai tháp nầy có một truởng giả
hiến lúa mật. Đức Phật ngồi kiết già
phu tọa dưới gốc cây điềm nhiên an
tịnh, nhận được sự giải thoát an
lạc, qua bảy ngày sau ngài từ định mà dậy.
Lúc ấy có hai thương chủ đi từ rừng
ngoài vào và bị thần rừng bảo các thương
chủ rằng:
- Thái tử ḍng họ Thích đang ở tại
nơi đây, sơ chứng Phật quả tâm
thường nhập định đến 49 ngày rồi
mà chưa thấy ăn. Tùy theo đó mà cúng dường
tạo phước đức.
Lúc ấy hai vị thương chủ mỗi
người đều mang lúa mạch lên phụng cúng và
Thế Tôn nạp thọ.
Phía Truởng giả hiến lúa mật lại có
một Bảo Tháp, nơi mà Tứ Thiên Vương
phụng cúng B́nh Bát, để thương chủ cúng lúa
mật. Khi đó đức Thế Tôn đang nghĩ
lấy đồ ǵ để đựng th́ bốn vị
Tứ Thiên Vương từ bốn nơi lại, mỗi
vị đều mang bát vàng đến phụng cúng.
Thế Tôn mặc nhiên không nạp thọ, v́ người
xuất gia không dùng bát quư nầy, đoạn Tứ Thiên
Vương bỏ b́nh bát vàng dâng b́nh bát bạc, rồi pha lê,
lưu ly, mă năo, xa cừ, trân châu v..v... nhưng đức
Thế Tôn không nhận tất cả những lọai
nầy. Tứ Thiên Vương phải lấy lại và
cúng dường bát đá. Bát màu xanh lóng lánh rất nặng
mang đến để hiến cúng. Lúc ấy đức
Thế Tôn nhận tất cả bát nầy, rồi chọn
một bát bên ngoài có chạm trỗ chung quanh.
Phía bên Tứ Thiên Vương cúng bát có một
Bảo Tháp, nơi mà Như Lai Thuyết Pháp cho mẹ. Sau
khi thành Chánh Giác, được tôn xưng là Thiên Nhơn
Sư. Mẫu Hậu Ma Gia nghe tin từ thiên cung xuống
nơi nầy. Đức Thế Tôn theo căn cơ giáo hóa
làm lợi lạc an vui. Nơi đây có một cái hồ,
bên bờ hồ có một Bảo Tháp là nơi mà ngày xưa
Như Lai thấy và có nhân duyên gặp gỡ các chư
thần biến hoá. Ở phía bên nơi hiện thần
biến hóa lại có một Bảo Tháp là nơi mà
đức Như Lai độ cho ba anh em Ưu Lâu Tần
Loa Ca Diếp cùng với hơn 1000 người đệ
tử. Như Lai v́ con đường thiện mỹ mà tùy
cơ nghi ứng phó để hàng phục. Thế rồi, Ưu
Lâu Tần Loa Ca Diếp cùng năm trăm người phát
tâm hành tŕ theo lời Phật dạy. Ngài Ca Diếp nói :
- Ta cùng với các ngươi hăy bỏ
đường mê, đến đây theo Phật.
Đức Như Lai bảo:
- Hăy cởi tất cả y áo bằng da nai
đốt đi.
Lúc ấy các vị Phạm Chí cung thừa Thánh
Giáo, cởi y phục bỏ xuống sông Ni Liên, nhận ch́m
xuống nước. Ngài Ca Diếp thấy y trôi lềnh
bềnh để xem huynh đệ động tĩnh, th́
thấy một số đă đổi y hoại sắc. Dà
Gia Ca Diếp và hai trăm đệ tử nghe sư huynh
ḿnh đă bỏ pháp lại cũng đến nơi
Phật cũng phát nguyện tu Phạm Hạnh.
Nơi độ cho huynh đệ Ca Diếp, phía
bắc lại có một Bảo Tháp, nơi đây là nơi
mà Như Lai đă hàng phục con rồng lửa của Ca
Diếp. Như Lai hóa thành người để chế
phục con rồng lửa của Phạm Chí. Nửa
đêm con rồng phun khói. Phật bèn nhập định liền
nổi ánh sáng lên và động ấy tự nhiên phát ra ánh
sáng dữ dội. Lúc ấy các vị Phạm Chí sợ
Phật bị thiêu, không ai không chạy khỏi trong bi
lụy thương tiếc. Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp
vừa chạy vừa nói:
- Nay thấy việc lửa cháy chưa xong đó
là việc Sa Môn hàng phục rồng lửa. Như Lai
bắt nhốt con rồng lửa trong b́nh bát, ngày hôm sau mang
đến cho các ngoại đạo môn nhân xem.
Bên cạnh Bảo Tháp là nơi mà năm trăm
vị Độc Giác cùng vào Niết Bàn một luợt.
Phía nam của hồ rồng Mục Chi Lân Đà
có một Bảo Tháp, đó là nơi mà ngài Ca Diếp
cứu đức Như Lai bị ngập nước. Lúc
bấy giờ huynh đệ ngài Ca Diếp vận dụng
thần thông làm cho xa gần đều ngưỡng mộ
mọi người đều quy y. Thế Tôn trên
đường đi hóa đạo để nhiếp hóa
mọi loài. Lúc ấy mây che và mưa lớn, nhưng chung
quanh chỗ Phật ở không có một chút nước nào.
Lúc ấy ngài Ca Diếp thấy mây mưa vần vũ
như thế liền nói với môn nhân rằng:
- Chỗ ở của Sa môn chắc chắn
sẽ không thể không ch́m xuống nước, phải
dùng thuyền đến cứu.
Lúc ấy đức Thế Tôn đi trên mặt
nước như đi trên đất, đạp trên sóng
rẻ nước ra. Khi nước rẻ ra cát liền
hiện lên. Ca Diếp thấy như vậy cho nên tâm
phục mà thối lui.
Cửa ngoài bên phía đông nơi gốc cây Bồ
Đề cách hai ba dặm có một cái pḥng của con
rồng mù. Con rồng nầy bị tai ương, v́ túc
nghiệp quả báo nhiều đời nên sanh ra đă
bị mù. Trước khi đức Như Lai từ núi
Chánh Giác muốn đi thẳng đến cây Bồ
Đề, giữa đường gặp một hang
rồng. Con mắt rồng tự nhiên sáng lên, lại
thấy Bồ Tát sẽ thành Phật dưới cây đó
nên thưa với Bồ Tát rằng:
- Nhân thấy không c̣n bao lâu nữa, ngài sẽ thành
Phật, mắt của con đă mù từ lâu rồi mà có
Phật ra đời cho nên mắt của con sáng lại.
Trong hiền kiếp nầy khi ba vị Phật quá khứ
qua đời th́ lúc đó mắt con được sáng cho
đến bây giờ mắt con mới mở
được cho nên con biết rằng ngài sẽ thành
Phật.
Phía bên cửa đông của cây Bồ Đề
lại có một Bảo Tháp, Đây là nơi mà Ma
Vương khủng bố Bồ Tát. Đầu tiên Ma
Vương biết Bồ Tát sắp thành Chánh Giác liền
dụ dỗ dấy loạn làm cho mọi người lo
lắng không yên tập trung các chúng quỷ thần lại
để chỉnh trang binh ma, sửa soạn binh lính
để mang đến uy hiếp Bồ Tát làm gió mưa
sấm sét nổi lên, rồi lửa gió khói cát đá hỗn
tạp với nhau. Rồi chuẩn bị những cung tên
để bắn. Lúc ấy Bồ Tát đang nhập
định đại từ cho nên những binh khí gậy
gộc biến thành liên hoa, Ma quân khiếp đăm bèn tan ră
thối lui. Nơi nầy chẳng xa lại có hai Bảo
Tháp nữa do Đế Thích Phạm Vương kiến
tạo nên.
Bên ngoài cổng phía bắc của cây Bồ
Đề có ngôi chùa tên là MahaBodhi. Đầu tiên do Vua
nước Tăng Già La kiến tạo. Trong vuờn có sáu
chùa viện đều có ba tầng, chu vi rất rộng
răi và cao ba bốn thước. Những nhân công tài nghệ
dùng những nét đan thanh để trang sức cho
đến tượng Phật cũng bằng vàng,
bằng bạc và tất cả những đồ trang
sức bằng trân bảo treo lên trên các Bảo Tháp rất
đẹp. Ở giữa có thờ Xá lợi của
đức Như Lai. Những cốt xá lợi nầy
lớn như lóng tay, ánh sáng trắng trong chiếu từ
trong ra ngoài và nhục Xá Lợi của Phật như châu
bảo quư, ánh sắc hồng hồng. Mỗi năm,
đức Như Lai biến đại thần thông vào
những ngày của tháng trăng tṛn (15 tháng giêng),
để thị hiện phóng quang hoặc mưa hoa.
Tăng đồ ít hơn 1000 người, học tập
theo giáo lư Đại Thừa nhưng hành tŕ theo Thuợng
Tọa bộ. Giới luật oai nghi trang nghiêm thanh thoát.
Ngày xưa, Vua nước Nam Hải Tăng Già La thâm tín
Phật Pháp phát tâm tự nhiên trong gia tộc có người
em xuất gia muốn đến Thánh tích của Phật.
Từ xa xôi đến Ấn Độ ngụ ở chùa
nầy, nhưng bị khinh chê liền trở về
bổn quốc. Vua thân chinh đi đón. Sa Môn buồn
thảm giống như chẳng nói được lời
nào. Vua hỏi:
- Hiền đệ sao có vẻ buồn vậy?
Sa môn trả lời:
- Nương tựa vào uy của quốc gia mà ra
đi học đạo. Qua nước khác lạ, gặp
bao chuyện nắng mưa gió lạnh lại c̣n bị
nhục mạ, thấy rất là nguy cơ, cho nên âu lo
xấu hổ. Ai có thể hoan hỷ được.
Vua hỏi:
- Như thế nghĩa là sao?
Đáp rằng:
- Đó là ư chơn thành của Đại
Vương về việc phước điền nơi
mà các ông vua Ấn Độ xây dựng chùa chiền làm cho
các Thánh Tích đó được rạng rỡ mà nhờ ân
của tiên vương để lại cho đời sau.
Hỏi rằng:
- Việc đẹp như thế nghe qua th́
đâu có ǵ?
Mang đồ quư sang hiến cho Ấn Độ,
Vua nhận lễ cống rồi vẫn c̣n nhớ
đến ngày xưa cho nên sai sứ thần đến
bảo:
- Nay ta muốn đến để báo
đáp.
Sứ thần thưa:
- Vua Tăng Già La cúi đầu trước Vua
Ấn Độ. Ngài có uy đức chấn động xa
gần, mà đất nước của tôi có vị Sa Môn
nhờ gió đưa đến để chiêm lễ
liền đến nước ngài để chiêm bái Thánh
tích, chỉ ở chùa mà không thấy những nhà trọ, cho
nên rất khổ tâm xấu hổ mà quay về. Cho nên
từ xa đến đây mong muốn được
kiến tạo Già Lam tại Ấn Độ. Sau khi sứ
giả đến đây rồi, liền có cơ sở.
Sau đó hai nước giao lưu vui vẻ mọi việc
tốt đẹp. Vua nói:
- Như Lai hoằng hóa những phong vị
vẫn c̣n đây. Thánh tích là nơi đó, nếu sứ
giả muốn báo ân báo đức cùng với quần
thần đến chiêm bái, đồng thời tập
họp để hỏi ư kiến các vị Sa Môn kiến
lập. Sa Môn đáp:
- Nơi gốc cây Bồ Đề, trước
sau chư Phật đều từ ở nơi nầy mà
thành Chánh Giác. Khảo sát những điều xưa nay th́ không
có đâu bằng, mang của quư của nước chúng tôi
đem đến đây để kiến tạo Già Lam, v́
chư tăng nước nầy mà tu phúc cúng dường.
Tạo một bảng đồng để
lại như sau:
- Phàm việc chu cấp là phải vô tư theo
lời dạy của chư Phật, để cho
những người hữu duyên tu học trí tuệ,
nhằm làm sáng tỏ lời dạy của bậc Thánh. Nay
tôi là em của Vua muốn xây dựng Già Lam nơi Thánh Tích.
Phước ấy là do tổ tiên. Huệ ấy là do dân
chúng. Không phải chỉ có tăng ở nước chúng
tôi được tự tại mà tăng của
nước nào khác cũng đồng là tăng vậy.
Họ là những người truyền thừa đời
đời miên viễn về sau. Cho nên tại Già Lam
nầy có nhiều chư tăng từ nước Chấp
Sư Tử (Tích Lan). Phía nam cây Bồ Đề hơn 10
dặm, gần bên Thánh Tích khó mà có chỗ đầy
đủ v́ mỗi năm sau khi các vị Tỳ kheo
giải chế an cư, bốn phương chư Tăng
và Phật tử về đây cả trăm ngàn vạn
người. Trong bảy ngày bảy đêm luôn luôn có
hương hoa trống nhạc tuần du trong rừng
để lễ bái cúng dường. Tăng Tín Đồ
của Ấn Độ cũng y theo lời Phật
dạy. Tất cả đều nhập hạ an cư,
trước ngày mồng một tháng Thất La Phạt Nơa,
nhằm ngày 16 tháng 5 và xả an cư vào ngày 15 tháng 8.
Lịch tháng của Ấn Độ căn cứ theo các v́
sao mà thành. Xưa nay giữa các bộ phái đều có
sự sai khác nhau. Có thể tốt với địa
phương nhưng khi di chuyển đến nơi khác
chưa chắc đúng và sự phân chia thời gian năm
tháng có sai biệt. Do vậy có nơi an cư vào ngày 16 tháng
4 và giải hạ vào ngày 15 tháng 7.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển tám
Quyển thứ
chín
(1 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
Nước Ma Kiệt Đà - Phần hai
Phía đông cây Bồ Đề qua sông Ni Liên vào
trong rừng lớn có một Bảo Tháp. Phía bắc
Bảo Tháp có một cái hồ, nơi đây một con voi
con chờ con voi mẹ. Ngày xưa, khi đức Như Lai
c̣n tu khổ hạnh, hai con voi từ núi phía bắc
đến ở hồ nầy. Trong khi con voi mẹ th́ mù
t́m nước để uống, v́ hiếu dưỡng
cho nên con voi con đă đến đây gặp một
người bị lạc trong rừng, ông ta đang lo
sợ khóc lóc khổ sở. Thấy và nghe như vậy,
con voi con thương cảm dẫn đường
đưa ông ta trở về lại chỗ cũ.
Người nầy sau khi về thưa với Vua rằng:
- Hạ thần có gặp một con voi con trong
rừng là một con voi quư có thể bắt được
Nghe như vậy, vua cùng binh lính vào rừng
để săn voi. Người nầy đi trước
dẫn đường chỉ voi cho Vua. Tức thời nó
quỳ hai chân xuống, nhà vua tuy kinh ngạc điều
kỳ lạ, nhưng cho bắt voi con đem về. Khi voi
về đó, không chịu ăn cỏ, không chịu
uống nước. Người nài thấy vậy thưa
Vua, Vua liền đến hỏi. Con voi con trả lời:
- Mẹ tôi bị mù già yếu đói khát, mà tôi nay
trong sự nguy nàn nầy nào có thể ăn ngon
được. Vua cảm động liền cho thả
đi. Phía bên bảo tháp nầy có dựng một trụ
đá. Đây là nơi ngày xưa Phật Ca Diếp đă
ngồi và ở phía nầy có di tích của bốn vị
Phật trong quá khứ đi kinh hành cùng ngồi
thiền.
Phía đông nơi bốn vị Phật ngồi
thiền qua chưa hết khỏi sông, đến rừng
lớn nơi đó có một trụ đá. Đây là nơi
mà ngoại đạo nhập định và phát ra lời
thề ác. Ngày xưa, ông Uất Đầu Lam Phất ư chí
như mây khói, thân trụ đám cỏ và ẩn dật trong
rừng nầy, chứng được ngũ thông
đệ nhứt định, làm cho Vua nước Ma
Kiệt Đà rất tôn kính và cũng thỉnh vào cung dùng
ngọ mỗi ngày. Ông Uất Đầu Lam Phất
đến đi qua lại trong hư không cho nên Vua nước
Ma Kiệt Đà rất là ngưỡng vọng và tiếp
đón đến hoàng cung. Khi vua ra đi ủy thác lại
cho ông được phép ra vào trong cung không cần mệnh
lệnh.
Có một thiếu nữ hiền lành, lănh
nhiệm vụ vua giao để đón tiếp. Vua
nước Ma Kiệt Đà triệu đến và nói
rằng:
- Nay ta phải đi xa nên uỷ thác cho
ngươi, ngươi đừng quên lo cho tṛn công
việc, khi ông Tiên Uất Đầu Lam tới phải tôn
kính giống như khi đến dùng cơm mà ta cung
phụng vậy.
Liền ra lệnh xong lại đi tuần du.
Thiếu nữ thừa Thánh chỉ mà làm theo như thế.
Khi đại tiên đến th́ mời ngồi.
Uất Đầu Lam Phất đụng vào thân
người nữ, tâm dục ô nhiễm khởi lên, bị
mất thần thông. Ăn cơm xong rồi, nói lời
từ tạ nhưng không bay lên hư không được.
Trong tâm rất xấu hổ quỳ xuống nói với
người nữ rằng:
- Ta đă tu đạo vào thiền định và
được thần thông, qua lại trong hư không không
có ǵ chướng ngại. Mọi người đă nghe
thấy lâu nay rồi. Dĩ nhiên trước đây tôi
đạt được những điều như
thế là muốn làm lợi lạc cho muôn loài há muốn
giữ riêng việc lợi cho ḿnh quên đi những kẻ
khác. Tôi sẽ đi bộ ra cửa để mọi
người thấy mà được phước.
Sau khi vương nữ nghe xong liền bảo
cho mọi người xa gần biết. Lúc ấy sai
người quét dọn đường sá có cả trăm
ngàn vạn người ra bái vọng nghinh tiếp. Ông
Uất Đầu Lam Phất đi bộ từ
vương cung đến nơi rừng ông ta ngồi
nhập định, tâm rơi vào ngoại cảnh. Trong
rừng quạ chim kêu vang trời. Dưới hồ
gần bên, cá rùa lên tiếng. Tâm ông tán loạn mất
thần thông dẹp thiền định, sanh tâm sân hận
và phát lời thề ác.
- Ta sẽ làm con chồn dữ, nhưng thân có cánh
như chim, bắt hết các loài khác. Thân to ba ngàn dặm.
Hai cánh mỗi bên rộng một ngàn năm trăm dặm.
Khi vào rừng th́ bắt hết tất cả các loài trong
rừng. Lặn vào nước bắt hết các loài ở
dưới nước.
Thề xong tâm sân hận giảm xuống mà chuyên
cần cầu để trở lại định cũ,
chẳng bao lâu sau mệnh chung sanh lên cơi trời thứ
nhất thọ tám vạn kiếp và đức Như Lai
cho biết rằng khi thọ mạng ở thiên giới
hết, quả báo đời xưa với lời thề
cũ, làm cho thân xấu và lưu chuyển vào trong ác
đạo, chưa biết bao giờ ra khỏi.
Phía đông sông Mạt Ha vào trong rừng lớn
đi hơn 100 dặm đến động núi Thất
Phát Đa (Kê Túc Sơn) cũng c̣n gọi là núi Lầu Lô Phát
Đa. Núi cao nhọn nguy hiểm và có những động
sâu. Triền núi có cỏ cây cùng hang đá. Trên đảnh
sầm uất cây cỏ và đá. Bên trên có ba đỉnh
liền nhau tiếp giáp với trời cao, thỉnh
thoảng mây phủ. Sau nầy tôn giả Đại Ca
Diếp ở trong nầy mà tịch diệt chả nói
lời nào cho nên gọi là Tôn Túc. Ngài Ma Ha Ca Diếp là
đệ tử của đức Phật chứng
được lục thần thông và tám giải thoát. Lúc
ấy biết Như Lai hóa duyên đă măn, sắp vào
Niết Bàn, Ngài bảo với ngài Ca Diếp rằng:
- Ta đă nhiều kiếp siêng tu khổ hạnh
v́ các chúng sanh mà cầu Vô Thượng Pháp. Sở nguyện
ngày xưa ấy bây giờ đă hoàn măn, bây giờ muốn
vào đại Niết Bàn và các Chánh Pháp Tạng phó chúc cho
ngươi giữ ǵn truyền rộng đừng cho suy
giảm. Di mẫu th́ hiến Cà Sa bằng chỉ vàng
chờ ngày đức Di Lặc thành Phật đến mà
trao lại. Cùng với những pháp tu hành của ta đă
dạy. Nếu có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc,
Ưu Bà Di, tất cả đă được tế độ
làm cho ĺa khỏi sự lưu chuyển.
Ngài Ca Diếp y giáo thừa nhận Chánh Pháp, sau
khi kiết tập xong đến năm thứ 20, ngài
thấy cuộc đời vô thường cho nên đă
nhập diệt, bèn đến Kê túc sơn, bóng núi che lên
trên.
Hang đá có đường đi đến phía
đỉnh của núi Tây Nam. Trên đỉnh, rất nguy
hiểm trải qua nhiều khúc khuỷu có thể làm
hại người được. Khi vào trong núi rồi,
lúc trở ra đường đi khúc chiết khó thông.
Đến phía đỉnh núi bên đông bắc th́ ra
khỏi. Khi vào trong ba đỉnh núi th́ thấy Ca Sa của
Phật ở đó. V́ nguyện lực nầy mà ba đỉnh
kia cao vút, cho nên bây giờ ba đỉnh núi ấy rất
linh thiêng. Trong tương lai khi đức Từ Thị ra
đời sau ba hội thuyết pháp có không biết bao nhiêu
là chúng sanh kiêu mạn muốn lên núi nầy, đến
thăm Ngài Ca Diếp. Đức Di Lặc khảy móng tay
đỉnh núi tự mở và những chúng sanh thấy
được ngài Ca Diếp liền tăng thêm kiêu
mạn. Lúc đó ngài Đại Ca Diếp trao y và từ
tạ lễ bái rồi thân bay lên hư không thị hiện
các thần biến tự hóa lửa tam muội đốt
thân và nhập diệt. Thời những chúng sanh ấy khi
chiêm ngưỡng tâm kiêu mạn mất đi. Nhân đây
chiêu mộ tất cả được chứng quả.
Cho nên bây giờ trên đỉnh núi có xây một Bảo Tháp.
Những đêm thanh vắng từ xa người ta
thấy được ánh sáng từ Bảo Tháp phát ra,
nhưng khi lên núi rồi không c̣n thấy nữa.
Phía đông bắc núi Kê Túc đi hơn 100
dặm, đến núi Phật Đà Phạt Na. Đỉnh
núi rất cao và nguy hiểm. Trên đó có một pḥng
bằng đá có ghi lại dấu chân của Phật. Bên
cạnh đó có một tảng đá. Đế Thích,
Phạm Vương, Ma Ngưu Đầu dùng hương
thom của gỗ chiên đàn cúng dường Như Lai.
Ở trên tảng đá nầy c̣n phảng phất mùi
hương. Năm trăm A La Hán đă hiển linh nơi
đây. Người có duyên được gặp hoặc
được thấy. Có lúc là h́nh Sa Di đi vào trong làng
để khất thực. Đây là di tích rất linh thiêng
khó có thể tường thuật hết. Phía giữa núi
Phật Đà Phạt Na đi qua hướng đông
hơn 30 dặm đi đến nơi Tiết Sắc, th́
biết được là Rừng Trúc (Trúc Lâm), vườn
nầy cũng đă biến thể từ hang núi mà thành.
Đầu tiên các vị Bà La Môn nghe Đức Phật Thích
Ca thân dài 6 trượng cho nên thường hoài nghi chưa
tin tưởng, bèn lấy sáu cây trúc để đo thân
Phật, nhưng khi đó mới biết c̣n hơn 6
trượng nữa. Lúc đó chiều cao cứ cao dần
không cùng tận, họ bỏ trúc mà đi, rồi bốn
phía trồng trúc, chính giữa có một Đại Tháp do Vua
A Dục dựng nên. Ngày xưa đức Như Lai ở
đây bảy ngày đă v́ chư Thiên và loài người
hiện đại thần thông thuyết các Diệu Pháp.
Ở giữa rừng Trúc gần đó có một
người thuộc ḍng dơi Sát Đế Lợi tên là
Ưu Ba Tát Già Phiệt Gia Tê Na (Thắng Quân). Có ư muốn
dọ thăm t́nh huống của Sơn Lâm. Từ
thưở nhỏ đă ở riêng biệt nên tâm thật
trong sáng, nghiên cứu Nội ngọai điển vô cùng thâm
u và hiểu rơ những luận cứ cao siêu trong sáng mô
phạm. Các vị Sa Môn, Bà La Môn, Ngoại Đạo,
Quốc Vương, Đại Thần, Bậc
Trưởng Giả, những người giàu có
thường biết đến sự thông suốt đó
lấy làm phục và luôn luôn thỉnh cầu để
được lợi ích. Những người đến
thọ học hơn sáu phần mười trong thiên
hạ. Đến năm gần 70 tuổi, sức yếu
chẳng đọc được nên đă phế bỏ
tất cả duy chỉ học tập kinh Phật mà thôi.
Sách tấn thân tâm, ngày đêm chẳng nghĩ. Pháp của
Dị Giáo giống như mùi bùn. Sau đó dựng nên
một Bảo Tháp nhỏ cao 5.6 thước và những
bản kinh văn được để vào bên trong,
gọi là Tháp Xá Lợi. Những năm sau nầy,
người ta xây dựng nên Đại Bảo Tháp. Mọi
người đều đến đây để tu
phước cúng dường. Đây là sự nghiệp
của Vua Thắng Quân. Ở phía trước cửa dùng
để nói Diệu Pháp dụ những người
học tṛ đến để làm tháp, làm h́nh thức để
tôn sùng Phước Đức. Ban đêm lại đi kinh
hành lễ bái đọc tụng ngồi thiền tư duy
ăn uống chẳng cần ngày đêm không mơi mệt.
Đến năm 100 tuổi ư chí vẫn chưa suy. Ṛng ră
ba mươi năm trường làm bảy ức Bảo
Tháp thờ Pháp Xá Lợi. Đủ một ức th́ xây
một Bảo Tháp lớn rồi để Pháp Xá Lợi
vào trong đó để cúng dường. Thỉnh chư
tăng đến làm Pháp Hội xưng dương tán thán.
Lúc ấy ánh sáng chiếu rọi khác thường. Từ
đó về sau, thường hay phóng đại quang minh.
Phía tây nam của rừng trúc, đi hơn 10
dặm ở phía núi cao có hai suối nước nóng.
Nước rất là nóng. Tại đây ngày xưa
đức Như Lai đă biến nước nầy
chảy ra rồi tắm ở đó, cho đến bây
giờ vẫn c̣n. Nước trong vắt chảy liên
tục không hết. Người người xa gần
đều đến đây để tắm gội.
Trầm ḿnh ở dưới bao lâu chẳng sao cả. Bên cạnh
đó có một Bảo Tháp là nơi mà Như Lai
thường đi kinh hành.
Bên phía đông nam của rừng trúc cách 6.7
dặm đến một đỉnh núi lớn. Phía bên
phải có một Bảo Tháp. Đây là nơi ngày xưa
đức Như Lai đă v́ trời người
đến đây thuyết pháp mỗi ba tháng hai lần. Lúc
ấy vua Tần Bà Sa La cũng muốn đến nghe Pháp,
nên đă băng núi xẻ đá mà đến. Nơi
nầy rộng hơn 20 bộ chiều dài 3.4 dặm. Phía
bắc của núi cao hơn 3.4 dặm là núi Cô Sơn. Nơi
đây ngày xưa, có một vị tiên nhơn học
rộng ẩn cư và tại nơi nầy dấu tích
pḥng ốc vẫn c̣n tồn tại. Những người
học tṛ vẫn c̣n lui tới nơi đó. Phía đông
bắc của núi Cô Sơn hơn 4.5 dặm, có một núi Cô
Sơn nhỏ, tường pḥng bằng đá rộng răi có
thể ngồi hơn cả ngàn người. Nơi đây
ngày xưa đức Như Lai thuyết pháp ba tháng. Trên
pḥng bằng đá có tảng đá lớn là nơi mà Đế
Thích, Phạm Vương, Ma Ngưu Đầu lấy
gỗ chiên đàn cúng dường trang sức thân Phật
và trên đá vẫn c̣n phảng phất mùi hương.
Phía tây nam của pḥng bằng đá có một
ngọn núi tṛn. Ấn Độ ngày xưa gọi là cung
của A Tố Lạc (A Tu La). Người có những
việc cần đến đây để luyện chú
thuật và lo cho vận mệnh đó th́ tăng lữ có
hơn 14 người. Đă nguyện cùng chí hướng
vào trong núi tṛn nầy. Đi hơn ba bốn chục
dặm th́ bỗng nhiên trời sáng. Lại thấy thành
ấp nhà cửa tất cả đều bằng vàng
bạc lưu ly. Những người nầy đến
rồi lại có những thiếu nữ chờ ở phía
cửa ra vào hoan hỷ nghinh tiếp để đón
mừng người đến, rồi đưa dần
vào bên trong. Cửa bên ngoài có hai cô tỳ nữ, mỗi
tỳ nữ đều cầm một cái mâm bằng vàng,
trên mâm ấy toàn những hương hoa để nghinh
đón, v́ những người ấy nói rằng:
- Xin hăy vào Hồ để tắm bằng
hương hoa sau đó mới được vào trong.
Nơi đó rất là đẹp có một người có
chú thuật tiến đến nhanh trong khi mười ba
người kia tắm gội. Khi vào trong hồ rồi th́
quên hết tất cả. Họ ngồi như là mạ
cấy xuống ruộng.
Đi khỏi nơi nầy đến phía
bắc, có sông rộng hơn ba bốn dặm.
Phía bên pḥng bằng đá lại có con
đường cầu treo rộng hơn mười
bộ dài bốn năm dặm. Ngày xưa Vua Tần Bà Sa La
muốn đến thăm Phật tạm lấy đá
bắt ngang qua suối, hoặc lấy những ḥn đá
trên núi làm thành những bậc thang để đi
đến nơi Phật. Từ đây đi lên núi cao,
hướng đông hơn 60 dặm đến Kỳ Xà
Quật thuộc thành La Bổ Sa, (thành Vương Xá)
nằm giữa nước Ma Kiệt Đà. Đây cũng
là cố đô của quân vương đời
trước. Đa phần các bậc quân vương dùng
hương thơm của cỏ Kiết tường cho
nên trong thành có rất nhiều cỏ. Chung quanh bốn phía
núi là làng mạc. Phía tây thông với đèo hẹp. Phía
bắc có cửa vào núi. Phía đông tây dài và phía nam bắc
hẹp chu vi độ 150 dặm. Nội thành c̣n dấu
tích hơn 30 dặm. Cây Yết Ni Già thường có
nhiều ở đây. Hoa và màu sắc của hoa là vàng kim,
đến giữa mùa xuân nở cả một rừng hoa
màu vàng.
Ngoài cửa cung thành phía bắc, lại có một
Bảo Tháp nơi mà Đề Bà Đạt Đa cùng
với A Xà Thế làm bạn, rồi thả voi say muốn
hại Phật. Như Lai lấy tay chỉ, biến thành
năm con Sư Tử, con voi say quỳ xuống phục
mạng.
Phía đông bắc nơi voi say có một Bảo
Tháp là nơi mà ngài Xá Lợi Phất nghe Tỳ Kheo A
Thấp Ba Tỳ (Mă Thắng Assajit) thuyết pháp liền
chứng quả. Đầu tiên khi ngài Xá Lợi Phất c̣n
tại gia được tôn xưng là tài cao phong nhă, có
nhiều học tṛ đến thọ giáo. Khi ấy ngài vào
thành Vương Xá gặp ngài Mă Thắng Tỳ Kheo đang
đi khất thực. Ngài Xá Lợi Phất đưa
mắt nh́n ngài Mă Thắng bảo với môn nhân rằng:
- Ông nào kia sao trông đặc biệt quá. Nếu
không phải là bậc chứng quả làm sao có
được phong cách tịch tĩnh như vậy.
Khi nói như vậy th́ đi tới một chút
rồi dừng lại xem rồi tiến tới. Lúc ấy
Ngài Mă Thắng Tỳ Kheo đă chứng quả A La Hán
rồi. Tâm được tự tại dung mạo đoan
nghiêm, đường đường oai nghi. Ngài Xá Lợi
Phất thưa:
- Trưởng Lăo là bậc quá an lạc. Thầy
của ngài là ai? Ngài chứng pháp ǵ mà có được
sự an vui như vậy.
Ngài Mă Thắng đáp rằng:
- Nhà ngươi không biết sao. Thái Tử con Vua
Tịnh Phạn đă từ bỏ ngôi vị chuyển Luân
Thánh Vương, có ḷng từ bi thương cảm
đến sáu đường, tu khổ hạnh sáu năm,
chứng thành Chánh Giác, đầy đủ tất cả
trí tuệ. Ngài là thầy của ta. Pháp th́ chẳng có mà
cũng chẳng phải không, thật là khó thực hành
như quay tơ vậy. Chỉ có Phật với Phật
mới có thể tường lăm. Những kẻ ngu
muội làm sao hiểu rơ nghĩa lư. V́ vậy cho nên
được xưng tụng tán dương là Giáo Pháp
của chư Phật.
Khi ngài Xá Lợi Phất nghe như vậy
liền chứng quả. Nơi chứng quả về phía
bắc không xa mấy có một cái hầm rất sâu. Bên
cạnh đó có xây dựng một Bảo Tháp. Đây là
pḥng của Lợi Cúc Đa (Thắng Mật) đào
hầm lửa và tạo thức ăn độc
để hại Phật. Thắng Mật là người
tôn sùng Ngoại Đạo, nhiễm nặng tà kiến của
các Phạm Chí nên nói rằng:
Sa Môn Cồ Đàm người được
cả nước tôn kính, liền ra lệnh cho học tṛ
đừng có tin tưởng nữa, bèn mời ông ta
đến nhà để dùng cơm, rồi cho Nha Môn đào
một cái hầm trong đó chất toàn là lửa, dùng cây
mục bắt ngang qua. Tất cả những thức
ăn trộn toàn là độc dược vào. Khi mà hầm
lửa nổi lên. Nếu qua khỏi hầm lửa sẽ
bị đồ độc. Đoạn Thắng Mật
cho lệnh thiết soạn toàn là thức ăn
độc.
Trong thành mọi người đều biết
Thắng Mật khởi tâm ác độc muốn hại
Thế Tôn. Mọi người đă mong rằng Phật
đừng đến đó; nhưng Thế Tôn bảo
rằng:
- Chẳng có ǵ để lo lắng cả. Thân
thể của Như Lai không có vật nào có thể hại
được. Cho nên ngài đă nhận lời thỉnh mà
đến. Khi chân vừa đến cửa ngơ th́ hầm
lửa kia biến thành ao nước trong ngần và hoa sen
toả ra mùi thơm ngát. Thắng Mật thấy như
vậy liền lo lắng không nguôi, và cho môn đồ
biết rằng:
- Không gặp lửa chắc chắn sẽ
gặp độc.
Thế Tôn ăn xong rồi, liền thuyết
Diệu Pháp. Thắng Mật nghe xong cảm tạ rồi
xin phép quy y.
Phía bên hầm lửa của Thắng Mật,
từ núi đông bắc đi quanh có một Bảo Tháp.
Đây là Pháp Đường của Bác Sĩ Phược
Già (Kỳ Bà) nghe Phật thuyết pháp, kiến tạo nên,
chung quanh rất là rộng răi và trồng nhiều hoa
quả. Bây giờ dấu tích vẫn c̣n nơi đó. Ngày
xưa Như Lai nhiều lần dừng lại nơi
đây và bên cạnh đó lại có nhà của ông Kỳ Bà.
Nơi đó ngày xưa vẫn c̣n một cái giếng.
Từ cung thành đi về phía đông bắc hơn 14
dặm rưỡi đến núi Kiết Phiêu Đa La
Cự Thác (Kỳ Xà Quật) có đỉnh núi Thứu,
nằm ở phía bắc, có h́nh dáng rất đặc thù
giống như mỏ con chim Thứu. Nơi đỉnh cao
đó thoáng mát, khí hậu dễ chịu. Trong 50 năm
hoằng pháp trong cuộc đời, gần như hầu
hết Đức Như Lai ở tại đây. Vua Tần
Bà Sa La muốn nghe Pháp đă cùng với mọi
người, phát tâm từ chân núi đi lên đến
đỉnh núi, dọc đường những hang
động đă biến đá ấy làm thang cấp
rộng hơn 10 bộ, dài hơn 5.6 dặm. Giữa
đường có hai Bảo Tháp nhỏ. Một nơi là
nơi xuống Xa Giá để Vua từ đây bắt
đầu đi bộ lên. Một nơi khác là đuổi
hết đoàn tùy tùng chỉ một ḿnh đi lên.
Đỉnh núi phía đông tây dài, nam bắc hẹp. Tiếp
giáp phía đông tây có một tinh xá bằng gạch, rất
cao thoáng và pḥng nào cũng có lan can hướng ra phía
đông. Đức Như Lai phần nhiều thuyết pháp
ở nơi đây. Nên ngày nay có dựng một
tượng Phật thuyết pháp tại đó, cao bằng
thân của Như Lai. Tịnh xá phía đông có một
tảng đá dài là nơi đức Như Lai kinh hành qua
lại. Bên cạnh đó lại có một tảng đá
lớn. Cao một trượng tư. Chu vi hơn 30 bộ
là nơi Đề Bà Đạt Đa xô đá hại
Phật. Dưới phía nam nầy có một Bảo Tháp.
Tại nơi đây ngày xưa đức Như Lai đă
giảng kinh Pháp Hoa. Tinh xá phía nam có một pḥng bằng đá.
Nơi đó Như Lai ngày xưa đă nhập định.
Phía tây bắc của pḥng bằng đá lại có
một pḥng đá khác. Phía trước có một tảng
đá lớn, là nơi A Nan bị Ma dọa. Tôn Giả
nhập định nơi nầy và Ma Vương hóa thành
con chim Thứu nhằm tháng không có trăng ở trên tảng
đá lớn, kêu tiếng con chim Thứu mà nhác Tôn Giả.
Tôn Giả lúc bấy giờ rất là kinh hăi không yên. Như
Lai xem thấy an ủi và đưa tay qua khỏi
tường đá chạm vào đầu A Nan. Rồi
lấy ḷng từ bi mà nói rằng:
- Đó là do ma biến hóa đấy đừng
sợ hăi ǵ cả.
Ngài A Nan nghe lời an ủi như thế thân tâm
an lạc cho nên trên miếng đá có dấu tích của chim
ấy và có một lỗ thông qua.Thời gian trải qua lâu
rồi nhưng bây giờ vẫn c̣n tồn tại.
Phía bên Tịnh xá có rất nhiều pḥng bằng
đá mà ngài Xá Lợi Phất và các bậc A La Hán đă
ở nơi nầy nhập định. Trước pḥng
đá của ngài Xá Lợi Phất có một cái giếng
lớn. Bây giờ nước đă khô nhưng giếng vẫn
c̣n. Phía đông bắc của Tịnh Xá có một tảng
đá ướt. Trên đó có một tảng đá nữa.
Đó là nơi phơi áo Cà Sa của Như Lai và h́nh ảnh
của chiếc y ấy vẫn c̣n tồn tại in lên
đó. Bên cạnh tảng đá có dấu tích bàn chân của
Phật và những đường chỉ bánh xe
dưới bàn chân vẫn c̣n ghi đậm nơi
đây.
Phía bắc đỉnh núi có một Bảo Tháp.
Đây là nơi đức Như Lai vọng hướng
về thành Ma Kiệt Đà, nơi đây đức
Phật đă thuyết pháp bảy ngày. Phía cửa bắc
của thành có núi Tỳ Bổ La. Nghe qua truyền thuyết
th́ biết rằng:
- Phía tây nam của núi nầy, ngày xưa có năm
trăm suối nước nóng mà bây giờ chỉ c̣n
lại hơn 10 cái do khí hậu lúc nóng lúc lạnh, không có
nóng lắm. Những suối nước nóng phát xuất
từ phía nam núi Tuyết của hồ Vô Nhiệt Năo,
chảy đến nơi nầy. Nước rất xanh và
vị rất ngọt giống như trên nguồn vậy.
Chảy qua hơn 500 nhánh của những tầng
địa ngục tiểu nhiệt. Lửa đó
đốt làm cho nước nóng. Nước từ trong
miệng đá chảy ra tạo thành những h́nh Sư
Tử hoặc là đầu rồng, hoặc tạo thành
những máng nước dài. Phía dưới biến thành
đá và thành ao. Người ở những nơi khác
đến đây để tắm. Những kẻ bị
bịnh tắm xong liền khỏi. Hai bên tả hữu
của suối nước nóng đều có Bảo Tháp và
Tinh Xá. Nơi đây cũng c̣n dấu tích của bốn
vị Phật trong quá khứ đi kinh hành và ngồi
thiền. Nơi đây là nơi mà sơn thủy giao nhau.
Cho nên người ở đây phát sinh trí tuệ,
đất đai tạo nên sự an ổn để che
chở mọi người.
Phía tây của suối nước nóng, có một
pḥng đá gọi là Bi Bát La. Nơi mà Thế Tôn ngày xưa
đă ở lại trong nầy và nằm sâu trong
động là nơi ở của các vị A La Hán. Đa
phần những vị Tỳ kheo thiền định
ở đây bị những h́nh ảnh kinh dị của
rắn hoặc Sư Tử hiện ra làm cho tâm họ
sợ hăi phát cuồng khi thấy như vậy. Cho nên
đây cũng là nơi các thánh hiện ra làm gió thổi
để giúp họ xua tan những tai nạn kia. Những
Tỳ Kheo giới hạnh tinh nghiêm muốn tâm
được thanh tịnh liền dùng pḥng nầy
để tu tập thiền định. Nhưng cũng có
người bảo đừng nên đến đó. V́
nơi đó có những tai nạn kinh dị làm cho không ít
kẻ bị hại, khó có thể tu định mà c̣n có
thể mang họa vào thân. Hăy lo trước vẫn hơn
là hối hận về sau.
Vị Tỳ kheo ấy đáp rằng:
- Chẳng sao cả tôi chỉ có chí nguyện
cầu Phật quả sẽ hàng phục được
thiên ma. Nếu mà hại được, lấy ǵ bảo
chứng.
Rồi liền chống gậy đi đến
pḥng đó. Sau đó lập đàn tràng tŕ Chú. Một
tuần sau có một người đàn bà xuất hiện
bảo Tỳ Kheo rằng:
- Tôn Giả mặc áo hoại sắc giữ
giới làm chỗ nương tựa của mọi loài, tu
định huệ hướng dẫn sinh linh trở vào
đường thiện mà bây giờ ở nơi đây
lại sợ hăi ta như vậy. Lời dạy của
Như Lai há là như vậy sao?
Tỳ Kheo đáp:
- Tôi là người giữ tịnh giới tôn
trọng Thánh Giáo muốn vào trong núi sâu để xa ĺa
những tạp nhiễm. Thấy đây là nơi an
tịnh có thể ở được.
Đáp rằng:
- Tôn Giả tŕ Chú nghe phát ra lửa từ ngoài bay
vào, thiêu pḥng tôi ở, làm cho tôi khổ sở mong rằng
lấy ḷng từ bi đừng tụng chú nữa.
Tỳ Kheo đáp rằng tụng chú là để
hộ thân chứ đâu có muốn hại ai. Đến
đây chỉ muốn ngồi thiền để chứng
Thánh Quả và cứu khổ hàm linh. Thấy điều
kinh dị không muốn thân mạng bị hại. Có làm ǵ
hại cô đâu mà nói như vậy.
Đáp rằng:
- Tội chướng quá dày, trí huệ thô
thiển, cho nên từ nay về sau chỉ giữ phận
ở đây và mong rằng tôn giả đừng tụng
thần chú nữa.
Kể từ đó vị Tỳ kheo kia, khi
Thiền định được an tịnh không bị
hại nữa.
Trên núi Tỳ Bổ La, có một Bảo Tháp, ngày
xưa đức Như Lai đă thuyết pháp nơi
đây. C̣n bây giờ th́ ngoại đạo lơa thể
đang ở nơi nầy. Họ tu tập khổ
hạnh ngày đêm siêng năng, từ sáng đến
tối tinh chuyên quán sát. Cửa phía bắc của thành
nầy đi về phía đông hơn hai ba dặm gặp
một pḥng đá lớn là nơi mà ngày xưa Đề Bà
Đạt Đa đă nhập định.
Phía đông của pḥng đá nầy không xa
mấy, có một tảng đá trên đó c̣n lưu lại
vết máu. Bên cạnh Bảo Tháp đó là nơi thiền
định của vị Tỳ kheo, vị nầy tự
hại ḿnh để chứng Thánh Quả. Chuyện ngày
xưa có kể lại rằng:
Có vị Tỳ kheo chuyên cần thân tâm tu tập
thiền định, ngày tháng trôi qua nhưng chẳng
chứng Thánh quả, có ư thối lui liền than rằng:
- Nếu quả vị A La Hán mà không chứng
được th́ để cho thân dơ nhớp nầy
c̣n tồn tại có hữu ích ǵ, lấy đá tự
đập vào đầu. Lúc ấy liền chứng A La
Hán. Bay lên hư không thị hiện thần biến, hóa
lửa để thiêu thân vào nơi tịch diệt. Đây
là câu chuyện ly kỳ vẫn c̣n ghi lại.
Phía đông nơi Tỳ kheo chứng quả, có
một tảng đá. Trên tảng đá có một Bảo
Tháp. Đây là nơi tập định của Tỳ Kheo
muốn chứng Thánh Quả. Câu chuyện được
kể rằng ngày xưa khi Phật c̣n tại thế, có
một vị Tỳ Kheo, ngồi thiền lâu năm trong núi
rừng và muốn chứng quả thiền định.
Rất siêng năng cần mẫn lâu năm, nhưng
chưa chứng được đạo quả. Ngày
đêm luôn luôn nhớ nghĩ chẳng quên thiền
định. Đức Phật biết rằng
người nầy căn cơ đă đến cho nên ngài
đă từ vườn Trúc Lâm đến dưới chân
núi nầy khảy móng tay để triệu hồi vị
Tỳ Kheo ấy. Vị Tỳ Kheo liền thấy Thánh
Chúng thân ư hoan hỷ cúi xuống đảnh lễ.Thân tâm
tự nhiên thanh tịnh kính vâng lời Phật đến
tại nơi đây liền chứng Thánh Quả.
Đức Thế Tôn bảo rằng:
- Hăy biết đă đến lúc rồi.
Vị ấy liền bay lên hư không thị
hiện thần biến. Dùng h́nh ảnh ấy để
tạo nên tín tâm, cho nên được ghi lại như
vậy.
Cửa phía bắc của thành đi hơn
một dặm, đến vườn trúc Ca Lan Đà, bây
giờ vẫn c̣n tịnh xá, pḥng ốc được xây
bằng gạch và đá lan can hướng về
hướng đông. Ngày xưa đức Như Lai c̣n tại
thế đa phần ngài ở nơi nầy thuyết pháp
để giáo hóa chúng sanh. Bây giờ c̣n một tượng
giống như thân h́nh của Như Lai.
Sơ khởi ở tại thành nầy, có một
vị Trưởng Giả tên là Ca Lan Đà (Caranda) Lúc
ấy là một bậc hào phú của rừng Trúc đă cúng
cho ngọai đạo, nhưng khi nghe Như Lai thuyết
pháp liền phát tín tâm, đ̣i lại vườn Trúc xưa
nơi họ cư ngụ bảo rằng:
- Bây giờ đấng Thiên Nhơn Sư không có
chỗ ở.
Cho nên quỷ thần cảm động sự
thành tâm liền bảo với ngoại đạo rằng:
- Trưởng Giả Ca Lan Đà sẽ xây
dựng tịnh xá nơi vườn Trúc nầy, các
ngươi nên đi xa đi để khỏi bị nguy
hiểm. Lúc ấy ngoại đạo phẫn nộ sân si
rồi đi.
Trưởng giả kiến lập tinh xá nơi
nầy. Sự việc xong xuôi đích thân đến
thỉnh Phật. Đức Như Lai lúc bấy giờ
đă nhận sự cúng dường nầy.
Phía đông của rừng Trúc Ca Lan Đa có
một Bảo Tháp, nơi đây vua A Xà Thế làm con
đường đi ra. Sau khi đức Như Lai
nhập Niết Bàn, các vua chúa cùng phân chia Xá Lợi. A Xà
Thế cũng được và mang về đây rồi
xây Tháp cung kính để cúng dường. Nơi đây
cũng là nơi Vua A Dục phát sinh tín tâm cho mở Xá
Lợi ra kiến tạo Bảo Tháp khác để thờ.
Nơi đây cũng thường phóng ra ánh sáng vi diệu.
Bảo Tháp của Vua A Xà Thế có thờ nửa
thân Xá Lợi của Tôn Giả A Nan. Ngày xưa khi Tôn
Giả sắp tịch diệt đi đến
nước Ma Kiệt Đà hướng đến thành
Tỳ Xá Ly. Cả hai nước đều muốn dùng
binh để giao tranh với nhau. Tôn giả đă ai
mẫn và thương cảm nên đă phân thân. Vua
nước Ma Kiệt Đà đem Xá Lợi về
để cúng dường. Tức ở nơi đây
kiến tạo nên Bảo Tháp để tu Phước. Bên
cạnh đó là nơi kinh hành của đức Như Lai.
Tiếp theo chẳng bao xa lại có một Bảo Tháp.
Đây chính là nơi ở của Ngài Xá Lợi Phất và
ngài Mục Kiền Liên.
Phía tây nam của vườn trúc đi hơn
năm sáu dặm đến núi phía nam. Ở trong
vườn trúc có một pḥng bằng đá rất lớn.
Đây là nơi Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp cùng với 999
vị A La Hán sau khi đức Như Lai nhập Niết Bàn
kiết tập Tam Tạng. Trước đó c̣n di tích
cũ. Vua A Xà Thế đă v́ sự kiết tập Pháp
Tạng, mà dựng nên nơi nầy cho các vị
Đại A La Hán. Đầu tiên ngài Đại Ca Diếp
tĩnh tọa nơi sơn lâm, rồi phóng đại quang
minh lại thấy đất đai chấn động và
nghĩ rằng điềm lành ǵ mà có sự dị biến
nầy. Đoạn dùng thiên nhăn để quán sát, thấy
Thế Tôn đang ở giữa hai cây Sa La sắp nhập
Bát Niết Bàn, có ư gọi Ngài đến rừng thành Câu Thi
Na. Đi dọc đường gặp Phạm Chí tay
cầm hoa trời và hỏi Ngài Phạm Chí:
- Ngài từ đâu đến? Có biết thầy
của ta bây giờ ở đâu không?
Phạm Chí đáp rằng:
- Tôi mới từ thành Câu Thi Na đến,
thấy Thầy của ngài đă nhập Niết Bàn.
Trời người đại chúng đang vây quanh cúng
dường. Tôi đă được hoa nầy từ nơi
đó.
Ngài Ca Diếp nghe xong nói với môn đồ
rằng:
- Ánh sáng trí tuệ đă ch́m. Thế giới
nầy không c̣n mặt trời nữa. Kẻ dẫn
đường cho chúng sanh đă bị đảo lộn.
Trong khi đó, giải đăi Tỳ Kheo vui mừng nói
rằng:
- Như Lai tịch diệt rồi tôi rất là an
lạc. Nếu có phạm điều ǵ đâu có ai mà
qưở trách.
Ngài Ca Diếp nghe xong liền bi cảm
thương tâm. Suy nghĩ rằng phải tập họp
để tuyên dương Pháp tạng giáo hóa những
người phạm lỗi. Thế rồi đến
nơi Sa La đảnh lễ dưới chân Phật.
Biết rằng Đấng Pháp Vương ra đi th́ không
có ai hướng dẫn trời người, cả các
bậc Đại A La Hán cũng đều muốn
diệt độ. Lúc ấy Ngài Đại Ca Diếp liền
suy nghĩ rằng nên thuận theo lời Phật dạy
để triệu tập ǵn giữ Pháp Tạng, cho nên
đă lên trên núi Tô Mê Lô, đánh đại kiền chùy
xướng lên như thế này:
- Nay tại thành Vương Xá sẽ có Pháp Sự
các bậc đă chứng quả nên vân tập.
Khi nghe tiếng kiền chùy của Ngài Ca Diếp
báo hiệu rung động đến 3000 đại thiên
thế giới. Những bậc đă chứng
được thần thông nghe xong liền vân tập. Lúc
bấy giờ Ngài Ca Diếp bảo với đại chúng
rằng:
- Như Lai đă tịch diệt thế giới
chẳng c̣n ǵ. Nay ta tập trung những Pháp Tạng
nhằm để báo ân Phật. Nay tập họp Pháp
Tạng là nhiệm vụ đến không phải
để tranh tụng. Há chẳng phải là dịp
hội họp để chẳng thành ǵ cả th́ không nên.
Chỉ những bậc đầy đủ tam minh lục
thông nghe điều ấy rồi chẳng dùng đến
biện tài vô ngại như lời Thượng Nhơn
đă truyền đạt mà đến để kiết
tập. Trừ những bậc đă chứng đắc
ra th́ ở lại c̣n kẻ khác trở về. Tại
đây có 999 người, c̣n sót lại ngài A Nan là bậc hữu
học, ngài Đại Ca Diếp mời vào và bảo
rằng:
- Ngươi là người chưa dứt
lậu tận mà ở trong hàng thánh chúng, theo làm thị
giả Như Lai trong nhiều năm, mà trong Pháp Hội
nầy chưa đạt được quả vị
sự kiết tập nầy khó thành. Đấng Pháp
Vương đă tịch diệt rồi mất đi
chỗ nương tựa cho nên ngài Ca Diếp bảo
tiếp:
- Hăy đừng có lo rầu khổ năo.
Ngươi là người thân cận gần gũi làm
thị giả Phật, thành bậc đa văn. Tuy nhiên
việc ái cảm chưa dứt trừ và những kiết
sử chưa đoạn hết.
A Nan liền đứng dậy ra đi
đến một nơi yên tịnh muốn chứng
quả Vô Học, hết ḷng cần cầu mà chẳng
chứng càng bị giải đăi nên muốn thối lui.
Thế rồi, chưa gục đầu đă chứng A
La Hán, đoạn đi đến nơi kiết tập,
cúi đầu trước cửa để gọi. Ngài Ca
Diếp hỏi rằng:
- Ngươi đă hết lậu hoặc
chưa? Nếu đă hết rồi th́ vận thần thông
mà vào.
Ngài A Nan thừa mệnh ngang qua lỗ cửa mà
vào. Sau đó đảnh lễ chư tăng rồi
đến chỗ ngồi.
Lúc đó đúng vào ngày 15 của mùa an cư
kiết hạ.
Ngài Ca Diếp cao tiếng nói rằng:
- Hăy lắng nghe đây! A Nan đă nghe nhớ
giữ được lời dạy của Như Lai
về Kinh Tạng. Ưu Ba Ly tŕ giữ Luật Tạng,
bậc thông suốt, hiểu biết về Luật
Tạng nên trùng đọc kiết tập Tỳ Nại Da.
Ta là Ca Diếp sẽ kết tập A Tỳ Đạt Ma
tạng.
Sau ba tháng mùa mưa nầy, việc kiết
tập Tam Tạng đă xong. Thế rồi ngài Ca Diếp
từ trong chúng lên ngồi ở ngôi vị Thượng
Tọa. Nhân đây mà gọi là Thượng Tọa
Bộ.
Phía tây bắc nơi ngài Đại Ca Diếp
kiết tập lại có một Bảo Tháp ngài A Nan bị
Tăng khiển trách không được dự phần
kiết tập đến để ngồi thiền và
chứng quả A La Hán và sau khi chứng quả rồi
mới đến tham dự. Phía tây nơi chứng quả
A La Hán đi hơn 20 dặm, lại có một Bảo Tháp
do Vua A Dục dựng nên. Đây là nơi mà Đại chúng
bộ đă kiết tập. Những bậc có học vô
học số hơn trăm ngàn người không tham dự
việc kiết tập của ngài Đại Ca Diếp
đến nơi này bàn với nhau rằng:
- Khi Như Lai c̣n tại thế, chúng ta cùng
học một Thầy. Khi đấng Pháp Vương
tịch diệt rồi, chúng ta khó gặp nên muốn báo ân
Phật th́ phải ǵn giữ Pháp Tạng. Cho nên phàm thánh
hiền ngu đều được vân tập để
kiết tập gồm Tu Đa La tạng (Kinh Tạng),
Tỳ Nại Da tạng (Luật Tạng) và A Tỳ
Đạt Ma tạng (Luận tạng) rồi Tạp
Tập Tạng và Cấm chú tạng gồm tất cả
năm tạng mà kiết tập thành. Lần nầy có
cả Phàm Thánh đồng câu hội cho nên gọi là
Đại Chúng Bộ.
Phía bắc của Trúc Lâm Tịnh Xá đi hơn
200 bước đến Hồ Ca Lan Đà, nơi đây
ngày xưa đức Như Lai đă thuyết pháp nhiều
lần. Nước trong veo đầy đủ tám công
đức. Sau khi Phật nhập Niết Bàn nước
không c̣n nữa. Phía tây bắc hồ Ca Lan Đà đi hai ba
dặm có một Bảo Tháp do vua A Dục dựng nên cao
hơn 60 thước. Bên cạnh đó có trụ đá
khắc ghi việc lập Bảo Tháp nầy. Bảo Tháp
cao hơn 50 thước trên đó có làm h́nh con voi.
Phía đông bắc thạch trụ chẳng bao xa,
đến thành Yết La Xà Kiết Lỵ Tu (Vương
Xá). Bên ngoài khó có thể đột nhập vào, bên trong thành
đă hư hoại chỉ c̣n lại dấu tích mà thôi, chu
vi hơn 20 dặm, chỉ có một cửa. Đây là kinh
đô đầu tiên của Vua Tần Bà Sa La. Phía trên cung thành
có nhiều nhà cửa đă gặp hỏa hoạn làm
hại. Thân tộc của Vua Tần bốn bên đều
bị nguy nàn, pḥng lửa không kỹ cho nên bị hư
hoại hết sản nghiệp, chúng dân oán hận v́ ở
nơi nầy không yên. Vua bảo:
- Ta chẳng có đức cho nên làm cho dân chúng không
yên. Vậy phải tu phước ǵ để
được?
Quần thần tâu rằng:
- Đại Vương là bậc có đủ tài
uy đức nhuận hóa quần sanh, chỉ v́ tệ dân
bất cẩn mới sanh việc hỏa tai. Nên chế ra
luật nghiêm khắc để trừ hậu hoạn.
Nếu mà lửa c̣n bốc cháy nữa, th́ phải đày
người bị tội vào nơi rừng sâu và sẽ
chết trong đó để chẳng ai biết đến
được và những kẻ a ṭng cũng phải
bị vào đó mà chết theo. Họ sẽ xấu hổ
mà ở yên và phải tự cẩn trọng lo lắng cho
ḿnh.
Vua bảo:
- Đúng là lấy độc trị độc.
Lúc ấy hướng về Vương cung thấy
lửa tắt mới bảo với các thần rằng:
- Ta sẽ ra đi rồi ra lệnh cho Thái Tử
nhiếp chính và ǵn giữ kỷ cương của
đất nước.
Lúc ấy Vua Tỳ Xá Ly nghe vua Tần Bà Sa La vào
nơi rừng lạnh đoạn chỉnh trang binh lính
muốn đánh úp. Những người hầu cận nghe
tin nầy liền xây thành ấp. Thành xây cho tiên vương
nên gọi là Vương Xá Thành. Các quan chức và thứ dân
hoặc ở lại, hoặc chuyển nhà cửa
đến thành mới của Vua A Xà Thế kiến trúc.
Sau khi Vua lên ngôi dời đô đến đây. Măi cho
đến thời Vua A Dục mới dời đô về
thành Ba Thác Ly, c̣n Vương Xá thành dành cho người Bà La
Môn. Cho nên trong thành nầy bây giờ không có phàm dân mà toàn là
người Bà La Môn chưa tới 1000 gia đ́nh.
Phía tây nam cung thành có hai Già Lam nhỏ, chư
tăng các nước đến ở lại đây.
Đây là nơi đức Phật ngày xưa thuyết pháp
hằng ngày, tiếp đó phía tây bắc có một Bảo
Tháp. Đó là nơi sinh trưởng của Trưởng
giả Châu Đệ Sắc Già, Thụ Đề Già.
Bên ngoài cửa phía nam của thành, phía bên trái
của đường đi có một Bảo Tháp. Đây
là nơi Như Lai thuyết pháp để độ cho La
Hầu La. Từ phía bắc nầy đi hơn 30 dặm,
đến Na Lan Đà Tăng Già Lam. (Thí Vô Yểm). Nghe các
bậc kỳ lăo nói lại rằng:
Ở phía nam của Già Lam nầy, có một cái ao
nằm giữa vườn xoài. Trong đó có con rồng có
tên là Na Lan Đà, bên cạnh đó có xây một ngôi chùa,
lấy tên của rồng mà đặt tên chùa. Khi
đức Như Lai c̣n tu Bồ Tát hạnh làm một
đại quốc vương đă thành lập thủ
đô ở đây. V́ thương chúng sanh mà cho họ
niềm vui. Với cái đức tốt đẹp đó
người ta gọi là Thí Vô Yểm, (cho mà không ngại).
Do lư do nầy mà tên chùa được gọi như
vậy. Nguyên đây là một vườn Xoài có năm
trăm người thương nhân, dùng mười ức
tiền vàng để mua cúng Phật. Phật ở xứ
nầy thuyết pháp ba tháng. Các thương nhân đều
chứng Thánh quả. Phật nhập Niết Bàn chẳng
bao lâu, tiên vương của nước nầy là Lạc
Ca La A Dật Đa (Đế Nhựt) kính trọng
Phật thừa tôn sùng Tam Bảo, nên cúng đất nầy
để xây Già Lam. Việc nầy làm cho con rồng bị
thương, lủng thân. Lúc ấy ngoại đạo Ni
Kiền Tử thấy vậy nói rằng:
- Đây là một thắng địa muốn
kiến lập Già Lam tất nhiên là hưng thạnh. V́
năm nước Ấn Độ mà làm tiêu b́ểu cho ngàn
năm hưng thạnh và những kẻ đến sau
dễ thành đạt. Nhưng sẽ có nhiều máu
huyết làm tổn thương thân con rồng. Kẻ
học ở đó dễ đạt được
học nghiệp nhưng sau nầy bị mửa máu. Sau
đó Vua Phật Đà Cúc Đa, (Giác Hộ) kế tục
truyền thống ấy để tôn thừa Phật
Nghiệp. Tiếp theo nơi nầy ở phía Nam kiến
tạo một Già Lam. Sau đó Vua Đản Tha Yết
Đà Cúc Đa ( Như Lai) tu bổ lại. Tiếp
đến phía đông lại kiến lập một Già Lam
sau khi Vua Bà La A Dật Đa (Ấu Nhựt) tức vị.
Kế tiếp đó ở phía đông bắc lại
kiến lập một Già Lam. Sau khi làm xong liền tổ
chức Pháp Hội và tổ chức lễ nghi cũng
thỉnh các bậc hiền thánh, đến tham dự
lễ có chư tăng của năm xứ Ấn
Độ. Họ đến từ ngàn dặm xa xôi. Chư
tăng đă ngồi hết xuống, có hai vị mới
đến sau được đưa lên tầng thứ
ba, hỏi rằng:
- Nay Vua thiết lễ trước để
thỉnh các vị Phàm Thánh. Đại Đức từ
phương nào sao đến muộn vậy?
Đáp rằng:
- Ta đến nước nầy. Ḥa
thượng của tôi bị bịnh, chờ ngài ăn
xong mới đi. Nhận được thiếp thỉnh
của Vua nên đến đây.
Người hỏi đó kinh ngạc tâu lên Vua.
Khi Vua biết đó là vị Thánh, đích thân đến
vấn an rồi từ từ lên lầu nhưng mà chưa
biết đi đâu. Được biết rằng
vị đó là một vị có thâm tín Tam Bảo, bỏ
nước xuất gia. Khi mới xuất gia th́ phải
ngồi sau cùng trong tăng, cho nên tâm thường không vui
bảo rằng:
Ngày xưa ḿnh làm Vua là đấng tối cao
ở trên đời. Bây giờ xuất gia mà ngồi sau
cùng trong chúng. Sau đó, bạch lên chư tăng thuật
lại sự t́nh và chúng Tăng được ḥa hợp.
Rồi ra lệnh cho những người chưa thọ
giới ngồi theo thứ đệ tuổi tác của
ḿnh. Cho nên đây là ngôi Già Lam riêng có chế độ
nầy.
Sau khi con của Vua Phạt Xà La (Kim Cang) tức
vị, với tín tâm kiên cố Vua cho xây dựng phía tây
nầy một ngôi Già Lam khác. Sau nầy các Vua khác kiến
tạo một Đại Già Lam nữa ở phía bắc.
Vườn chùa rất rộng răi nhưng chỉ một
cửa ra vào. Những vua kế tiếp luôn luôn trùng tu
kiến tạo cùng với những sự sửa chửa
để trở thành trang nghiêm. Vua nói:
- Ngôi Già Lam nầy bây giờ an trí tượng
Phật và mỗi ngày thỉnh trong chúng ra 40 vị tăng
đến đây để dùng trai. Đó là ân đức
của thí chủ. Có hơn 1000 vị tăng ở đây
đều là những người thật tu, thật
học, đạo đức cao vời, đương
thời đâu đâu cũng nghe tiếng, số ấy
hơn 100 người. Họ là những người
giới hạnh thanh bạch, luật nghi trang nghiêm.
Những ǵ mà tăng đă chế th́ họ đều vâng
giữ tốt đẹp. Khắp xứ Ấn Độ
bây giờ ai ai cũng đều kính ngưỡng, cầu
thỉnh họ đến để đàm luận
huyền nghĩa suốt ngày không đủ. Đêm
đến tọa thiền tỉnh thức để
tiến tu. Những người không đàm luận về
lẽ u huyền của Tam Tạng tự ḿnh thấy
xấu hổ cho nên t́m đến những người khác
mà vấn đạo hoặc đến cúi đầu vâng
mệnh để hỏi những điều nghi.
Những ai mạo danh để đi khỏi hoặc
được trọng vọng ở nơi khác, muốn
vào đàm luận nghĩa lư hỏi han, th́ bị hỏi khó
cho nên đa phần đều thối lui. Chỉ những
kẻ học sâu biết thông kim cổ th́ mới
được vào. Đây là nơi mà các vị du tăng sau
nầy đến đó có thể luận bàn rơ ràng. Trong
mười người đă có hết bảy, tám
người cao bay xa chạy, hai ba người c̣n lại
toàn là những bác học bác vật ở trong chúng tiếp
tục cật vấn. Những ai chưa bị bẽ găy
cũng bị tà đi rồi mới nêu danh.
Phàm là kẻ cao tài bác vật, hiểu biết sâu
xa th́ có nhiều tài. Làm sáng tỏ cái đức của
triết nhân biện hộ quang huy tiếp tục cho
điều mô phạm, cho đến việc ǵn giữ
Phật pháp như ǵn giữ mặt trăng làm chấn
động nơi nơi để giữ lại lời
giáo huấn. Đạo đức sáng ngời ấy
chảy thông suốt cho đến bây giờ là nhờ vào
ánh sáng lư luận minh bạch. Kẻ được
thắng th́ được vinh danh cao, trí tuệ như
mặt trăng như gió thổi sáng suốt vô cùng. Ngài
Giới Hiền ở đâu là có cái đức cao vời
như thế. Đó là bậc Thượng Nhơn trong
chúng đầy đủ đức độ đă làm
hưng long, cho cái học ở trước cũng như
kinh điển ngày xưa. Ngài đă thuật lại
cũng như trước tác cả hơn mười
bộ luận mà cho đến ngày nay vẫn c̣n lưu thông
và được trân quư như lúc đương thời.
Bốn phía Già Lam đều có thắng tích hơn 100
nơi. Đây chỉ lược nói hai ba cái mà thôi.
Phía tây của Già Lam không xa có một tinh xá.
Tại nơi đây ngày xưa đức Như Lai đă
dừng lại ba tháng, v́ trời người mà diễn nói
Diệu Pháp. Phía nam hơn 100 bộ có một Bảo Tháp
nhỏ là nơi các Tỳ Kheo ở xa đến gặp
Phật. Tương truyền rằng: Ngày xưa có
những Tỳ Kheo đến từ phương xa. Tại
đây họ gặp đức Như Lai và Thánh Chúng
liền phát tâm ngũ thể đầu địa. Sau
đó phát nguyện cầu được địa
vị của chuyển Luân Vương. Như Lai nghe xong
liền bảo Đại Chúng rằng:
- Ông Tỳ Kheo kia thật là đáng thương,
phước đức thâm sâu tín tâm kiên cố, như
cầu quả vị Phật, không bao lâu sẽ chứng mà
nay phát nguyện làm chuyển Luân Vương, trong
đời vị lai chắc chắn sẽ thọ báo
nầy. Thân thể khi gieo xuống đất th́ thành ṿng
vàng, ở giữa đó có rất nhiều vi trần và
mỗi mỗi vi trần như vậy là một Báo Thân
của Luân Vương. Cứ thế với niềm vui
như vậy sẽ làm xa ĺa Thánh Quả.
Phía nam nầy có một bức tượng
Bồ Tát Quán Tự Tại đứng, với h́nh dáng tay bưng
lư hương đi nhiễu bên phải của
Phật.
Phía nam của tượng Bồ Tát Quan Tự
Tại có một Bảo Tháp, nơi đây thờ tóc và móng
tay của Như Lai sau ba tháng mới cắt, v́ Ngài đi
nhiều và bịnh yếu. Ở phía tây có một cái hồ
lớn, nơi đó có một Bảo Tháp, nơi đây
ngoại đạo đă cầm con chim sẻ và hỏi
đức Phật rằng con chim nầy sống hay
chết. Tiếp theo phía đông nam, đi hơn 50
bước, có một cây đặc biệt cao tám chín
thước. Thân cây có hai cành. Tại nơi đây ngày
xưa đức Như Lai đă ngồi đây để
xỉa răng. Nhơn đây trồng cây ấy xuống
ngày tháng trôi qua, nhưng chẳng tăng giảm.
Tiếp đến phía đông, có một Tinh Xá
lớn cao hơn 200 thước. Nơi đây ngày xưa
đức Như Lai đă ở lại bốn tháng và
thuyết Diệu Pháp. Tiếp theo phía bắc hơn 100
bước, có một Tinh Xá trong đó có thờ
tượng đức Quán Tự Tại Bồ Tát,
những thiện nam tín nữ thường đến
đây để cúng dường. Có nhiều người
thấy biết khác nhau hoặc ngài đứng nơi
cửa, hoặc đi ra phía trước. Chư tăng và
Phật tử các nước đến đây cúng
dường rất nhiều.
Phía bắc của Tinh Xá Quán Tự Tại Bồ
Tát, có một Tịnh Xá lớn cao hơn 300 thước do
Vua Bà La A Dật đă kiến thiết, rất trang nghiêm
tốt đẹp và bên trong có một tượng Phật
giống như tượng ở Chùa nơi có gốc cây
Bồ Đề. Phía đông bắc có một Bảo Tháp,
tại đây đức Như Lai ngày xưa đă ở
lại bảy ngày để diễn thuyết Diệu Pháp.
Phía tây bắc là nơi tọa thiền của
bốn vị Phật trong quá khứ. Phía nam lại có
một Tinh Xá bằng đá, do Vua Giới Nhật kiến
lập. Tuy chưa xong nhưng to lớn hơn mười
trượng và sau nầy tiếp tục xây dựng.
Tiếp theo phía đông hơn 200 bước, ở bên ngoài
có một tượng Phật đứng bằng
đồng cao đến 80 thước. Chùa Viện cao
năm sáu tầng, do vua Măn Tào dựng lên ngày xưa. Phía
bắc tượng đồng của Vua Măn Tào đi hai ba
dặm gặp một tịnh xá bằng gạch, trong
đó có nhiều tượng Bồ Tát. Nhiều
tượng rất cao và linh ứng vô cùng. Mỗi năm
vào ngày mồng một, Phật tử đến chiêm
lễ và cúng dường rất nhiều.
Các vua và đại thần của các nước
lân bang thường hay mang hương hoa, tràng phan, bảo
cái, vàng bạc, đá quư, tơ lụa, trúc v.v... dâng lên.
Kiến lập Pháp Hội suốt bảy ngày bảy
đêm như thế. Cửa phía nam có một cái giếng
lớn. Ngày xưa nơi đây đức Thế Tôn đă
gặp một đại thương nhân bị sốt
nóng hành hạ, đức Phật lấy tay chỉ
xuống đất nơi có nước. Thương
chủ cho xe đến để đào đất lên.
Nước tự nhiên phun lên thành ṿi. Ông ta uống rồi
nghe Phật thuyết pháp liền chứng ngộ quả
Thánh.
Phía tây nam của Già Lam đi tám chín dặm,
đến ấp Câu Lư Ca. Giữa đó có một Bảo
Tháp do Vua A Dục dựng nên. Đây là quê hương
của Tôn Giả Mục Kiền Liên. Bên cạnh đó có
một Bảo Tháp là nơi mà Tôn Giả đă nhập Vô
Dư Niết Bàn. Ở trong nầy vẫn c̣n thờ di thân
xá lợi của Tôn Giả. Tôn Giả là ḍng dơi của
Đại Bà La Môn cùng với Xá Lợi Phất thưở
thiếu thời là bạn thân. Xá Lợi Phất là bậc
tài trí thông minh hiếm có. C̣n Tôn Giả tinh thông tài trí không ai
bằng được. Nguyện là trước sau cùng nhau
đồng sống chết và cả hai đều chối
bỏ cuộc sống thế tục mà muốn xuất
gia, liền bỏ Thầy ḿnh là Sách Xà Da Phiệt.
Sau đó ngài Xá Lợi Phất gặp ngài Mă
Thắng là bậc A La Hán, sau khi nghe Pháp chứng thánh
quả, bèn trở lại t́m Tôn Giả để
tường thuật lại. Khi Tôn Giả nghe xong liền
ngộ và chứng sơ quả. Liền cùng với 250
đồ đệ đến nơi đức Phật.
Đức Phật thấy liền bảo đại chúng
rằng:
- Người mà đến kia trong đệ
tử của ta sẽ là người có thần túc
đệ nhất.
Đoạn Phật mời vào trong Pháp Hội.
Thế Tôn nói tiếp:
- Thiện Lai Tỳ Kheo! khéo tu phạm hạnh xa
ĺa trần cấu.
Sau khi nghe lời ấy xong, tóc trên đầu
rụng xuống, biến hóa khỏi h́nh người
tục. Giới phẩm thanh tịnh uy nghi điều
phục, qua khỏi bảy ngày chứng quả A La Hán
được lục thần thông.
Ở phía đông nơi quê hương của ngài
Mục Kiền Liên đi ba bốn dặm có một Bảo
Tháp. Đây là nơi Vua Tần Bà Sa La nghinh đón
đức Phật. Sau khi Như Lai vừa chứng
Phật quả được biết rằng
Người ở nước Ma Kiệt Đà có tâm khát
ngưỡng, nên đă nhận lời thỉnh cầu
của Vua Tần Bà Sa La. Vào một buổi sáng tinh
sương, ngài đắp y mang b́nh bát cùng với một
ngàn vị Tỳ kheo hai bên tả hữu quây quanh cùng
với những vị Phạm Chí kỳ cựu, tóc
xoắn ốc cùng một đoàn chư Tăng mặc áo
hoại sắc theo sau vào thành Vương Xá. Lúc bấy
giờ Đế Thích Thiên Vương biến thành Ma Na Bà.
Đầu cũng bới tóc, tay trái cầm ṿng vàng tay
phải cầm tích trượng quư. Chân đi trên không cách
mặt đất khoảng bốn lóng tay làm kẻ dẫn
đường cho Phật và Đại chúng. Lúc bấy
giờ Vua Tần Bà Sa La của nước Ma Kiệt
Đà cùng với Bà La Môn Trưởng Giả Cư Sĩ
ở trong nước số người lên đến
trăm ngàn vạn, trước sau ra khỏi Vương Xá
Thành để cung nghinh Thánh Chúng.
Phía đông nam nơi Vua Tần Bà Sa La nghinh
Phật đi hơn 20 dặm liền đến nơi Ca
La Tỵ Noa Ca. Nơi đó có một Bảo Tháp do Vua A
Dục dựng nên. Đây là nơi cố hương
của Tôn Giả Xá Lợi Phất. Có một cái giếng
bây giờ vẫn c̣n tồn tại. Bên cạnh đó có
một Bảo Tháp là nơi Tôn Giả tịch diệt, trong
nầy có toàn thân Xá Lợi của Tôn Giả. Tôn Giả
xuất thân từ gịng Bà La Môn. Thân phụ của Ngài tài cao
học rộng, thông đạt những lẽ huyền vi.
Chưa có một điển tịch nào mà chưa nghiên
tầm đến. Thân mẫu ngài nằm mộng và kể
lại cho thân phụ ngài rằng:
- Đêm qua, tôi mộng thấy một
người lạ thân h́nh to lớn trên tay cầm chày kim
cang phá vỡ các ḥn núi lớn, đập bể ngọn núi
xuống.
Thân phụ bảo:
- Giấc mộng thật là lành. Bà chắc
chắn sẽ sanh một đứa con trai, là người
học hết việc thế gian và trên tất cả các
luận sư, phá hết tất cả các tông phái, chỉ
trừ có một người mà phải làm đệ
tử.
Sau khi có thai, mẹ của Ngài bỗng nhiên
rất thông mẫn, luận bàn với những bậc cao
kiến, không ai có thể khuất phục nổi. Tôn
giả năm lên tám tuổi thanh danh rạng rỡ bốn
phương, tánh t́nh thuần hậu, giàu ḷng từ bi,
xả bỏ những xưa cũ, thành tựu trí huệ.
Đă cùng với Mục Kiền Liên, người bạn
thân tthưở thiếu thời chán ngán trần tục,
chưa có chỗ nương tựa. Đă cùng với
Mục Kiền Liên đến nơi Ngọai Đạo
Sách Xà Gia để tu tập và cùng nói với nhau rằng:
- Lư chưa đạt được cứu cánh,
th́ chưa thoát khỏi khổ đau, mỗi chúng ta nên t́m
con đường sáng, ai được cam lồ th́ san
sẽ cùng hưởng một lúc. Lúc bấy giờ có ngài
Đại A La Hán Mă Thắng cầm b́nh đi vào thành
khất thực. Ngài Xá Lợi Phất thấy uy nghi
tịch tịnh liền hỏi rằng:
- Thầy của ngài là ai?
Đáp rằng:
- Thái Tử ḍng họ Thích, đă thấy cuộc
đời vô thường nên xuất gia thành Đẳng
Chánh Giác. Ngài là Thầy của ta.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi:
- Có thể nói cho tôi nghe Pháp đó được
không?
Đáp rằng:
- Tôi mới thọ Pháp chưa đạt hết
cái nghĩa thâm hậu.
Ngài Xá Lợi Phất bảo:
- Nguyện được nghe những
điều như thế
Ngài Mă Thắng tùy nghi theo đó mà diễn
thuyết. Nghe xong Ngài Xá Lợi Phất liền chứng
sơ quả. Sau đó, liền cùng với 250 người
đến gặp Phật. Đức Thế Tôn trông
thấy bảo đại chúng rằng:
- Trong đệ tử của ta, đây là
người có trí tuệ bậc nhất.
Khi đến rồi ngài liền đảnh
lễ và nguyện theo học Pháp.
Đức Thế Tôn liền bảo:
- Thiện Lai Tỷ Kheo!
Nghe xong rồi, liền đầy đủ
giới phẩm. Sau đó nửa tháng nghe Phật thuyết
pháp cho Phạm Chí có móng tay dài. Nghe sự đàm luận
xong, th́ giác ngộ chứng đắc A La Hán.
Sau khi A Nan nghe Phật cho biết sắp
đến thời kỳ tịch diệt liền hồi
tưởng những lời nói đó buồn khổ thê
thảm. Ngài Xá Lợi Phật càng tăng thêm sự
luyến nhớ và ngưỡng vọng. Không thể
nhẫn tâm để thấy Phật vào Niết Bàn,
liền xin phép Đức Thế Tôn được
nhập diệt trước. Lúc bấy giờ đức
Thế Tôn bảo:
Đă đến lúc nên thông báo và cảm tạ
với mẫu thân. Hăy đi về nơi sanh quán và thị
giả Sa Di sẽ thông báo trong thành ấp biết cùng Vua A
Xà Thế và quốc dân, chỉ trong chốc lác mọi
người đều vân tập. Ngài Xá Lợi Phất v́
mọi người mà nói rộng. Tất cả nghe xong
rồi lui. Rồi giữa đêm sau trong Chánh Định
tâm sáng suốt vào Diệt tận định rồi từ
Định nầy mà vào tịch diệt.
Phía đông nam của làng Ca Na Tỳ Noa Ca đi
bốn năm dặm có một Bảo Tháp là nơi Tôn
Giả Xá Lợi Phất cùng với môn nhân nhập Niết
Bàn. Lại cũng có Thuyết cho rằng:
Đây là nơi mà Phật Ca Diếp khi c̣n tại
thế đă cùng với ba ức Đại A La Hán nhập
Vô Dư Niết Bàn ở đây.
Phía đông của Bảo Tháp nơi ngài Xá Lợi
Phất cùng môn nhân nhập diệt, đi hơn 30 dặm,
đến núi Đà La Thế La Tốt Ha (Đế Thích
Động) Núi nầy có nhiều hang đá rừng cây u
tịch, núi tự nhiên có hai đỉnh đột khởi
cao lên. Giữa đỉnh phía tây và đỉnh phía nam có
một ḥn đá lớn. Tuy rất rộng mà chẳng cao.
Đây là nơi mà Như Lai ngày xưa thường hay
dừng lại. Thường thường Thiên Đế
Thích đă hỏi 42 điều nghi ở nơi tảng
đá nầy để thỉnh vấn và Phật đă thuyết
pháp cho Đế Thích ở đây. Nơi đây vẫn c̣n
tượng ghi lại câu chuyện ngày xưa. Người
vào bên trong lễ bái không thể không ngạc nhiên
trước vẻ đẹp. Phía bên trên núi là di tích
của bốn vị Phật trong quá khứ đi kinh hành
và ngồi Thiền. Trên đỉnh phía đông có một Già
Lam. Người xưa bảo rằng:
- Tăng chúng thường hay thấy ban đêm
nơi đây chia ra làm bốn ngọn núi và trước
pḥng đá có thờ tượng Phật mỗi bên
đều có ánh đèn chiếu sáng rực rỡ.
Ngọn núi phía đông của núi Nhơn Đà La
Thế La Tốt Ha có một Già Lam và phía trước đó
có một Bảo Tháp, gọi tên là Đan Ba. Ngày xưa
đă ở nơi Già Lam nầy để tu tập theo
Tiểu Thừa thuộc về Tiểu Thừa Tiệm
Giáo. Cho nên khai mở việc dùng Tam Tịnh Nhục,
để Già Lam nầy khỏi rơi vào chỗ phạm
giới. Nhưng về sau việc dùng Tam Tịnh Nhục
không c̣n tiếp tục nữa. Có một Tỳ Kheo đi
kinh hành ngang qua, thấy có bầy chim nhạn bay ngang nghe nói
rằng:
- Hôm nay trong phần ăn của chúng tăng không
đủ. Sau khi ngài Ma Ha Tát Đỏa thông báo như
vậy rồi.
Lời nói chưa dứt liền nghe tiếng
vỗ cánh đập mạnh tự sát trước chư
tăng. Vị Tỳ Kheo thấy thế liền bạch
chúng Tăng. Nghe thấy như vậy rất động
ḷng cho nên xin thưa:
- Như Lai thuyết pháp tùy theo căn cơ chúng
sanh, nhưng chúng sanh ngu muội chỉ giữ tiệm giáo,
c̣n Giáo Lư Đại Thừa th́ chính đáng hơn, cho nên
bỏ việc nầy đi để cải đổi
theo Thánh Chỉ, con nhạn nầy là một giới răn
cho chúng ta thấy rồi đó. Đó là một cái
đức rất dày, không làm sao tả hết
được. Nơi đây có một Bảo Tháp
để khuyên răn và làm kỷ niệm nơi con chim
nhạn đă chết.
Phía đông bắc của núi Nhân Đà La Thế
Ha Tốt Ha đi hơn 156 dặm đến chùa Ca Bố
Đức Ca. Nơi đây tăng đồ hơn hai
trăm người. Họ theo học Thuyết Nhứt
Thiết Hữu Bộ. Phía đông của chùa lại có
một Bảo Tháp do Vua A Dục xây dựng nên. Ngày xưa,
Phật đă ở nơi nầy v́ Đại chúng có
một đêm thuyết pháp, có một người thợ
săn vào rừng đặt lưới bắt những
loài có cánh. Một ngày nọ chẳng bắt
được con nào cả cho nên nói rằng:
- Tôi là người bạc phước chẳng
làm nên sự t́nh ǵ
Cho nên đến nơi Phật mà nói lớn
rằng:
- Hôm nay, Đức Như Lai nói Pháp ở tại
đây, làm cho con không bắt được con chim nào
cả, vợ con của con sẽ giận dữ v́ đói
khát và sẽ bỏ con ra đi.
Như Lai bảo:
- Nhà người hăy mang lửa lại đây
sẽ có ăn.
Đức Như Lai hóa thành con chim Đại Bàng
lao vào trong lửa rồi chết. Người thợ
săn mang về vợ chồng gia đ́nh cùng ăn. Sau
đó đến nơi đức Phật, Như Lai v́
phương tiện đă nhiếp hóa. Kẻ bắt chim
nghe Pháp xong liền hối quá tự sửa mới lại
đời ḿnh, liền bỏ tục xuất gia tu học
chứng Thánh qủa. V́ vậy có tên là Chùa Đại Bàng.
Chùa Ca Bố Đức Ca về phía nam hơn hai
ba dặm đến núi Cô Sơn, núi nầy có nhiều cây
cỏ tốt tươi. Có nhiều hoa đẹp lẫn
trong rừng cây xanh mướt một màu. Bên trên có
nhiều Tịnh Xá và Miếu Thờ điêu khắc
rất là công phu. Chính giữa tịnh xá có tượng
đức Quán Tự Tại Bồ Tát. Thân ḿnh cao lớn
đẹp đẽ giống như một vị thần
tay cầm hoa sen. Trên đảnh đầu có tượng
Phật. Thường có nhiều người nhịn
ăn để tâm cầu thấy được Bồ
Tát. Sau bảy ngày, mười bốn ngày cho đến
một tháng th́ có sự linh cảm. Thấy được
đức Quán Tự Tại Bồ Tát diệu tướng
trang nghiêm uy quang rực rỡ từ trong tượng
nầy bước ra an ủi mọi người. Ngày
xưa Vua Tăng Già La từ biển Nam, một ngày
đẹp trời soi kiếng chỉ thấy mặt mà
không thấy được thân, nghe biết rằng ở
nước Ma Kiệt Đà thuộc Thiệm Bộ Châu,
nơi rừng Đa La trong đó có một núi nhỏ, trên
cao có tượng Bồ Tát nầy. Do đó nhà Vua, một
ḷng mong cầu được đến và quả thật
như vậy, khi đến đây đă gặp. Nhân đây
mà kiến thiết tịnh xá để tu phước cúng
dường. Từ đó về sau, các Vua chúa thường
theo phong tục nầy đến đây để lập
tinh xá, chùa, viện rồi đem hương hoa kỷ
nhạc cúng dường không dứt.
Phía đông nam của núi Cô Sơn, nơi có
tượng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát
đi hơn 40 dặm đến một Già Lam tăng
đồ hơn 50 người. Họ học theo Tiểu
Thừa. Phía trước chùa có một Bảo Tháp lớn
rất là linh dị. Đây là nơi mà Phật ngày xưa,
đă v́ Phạm Thiên Vương thuyết pháp trong ṿng
bảy ngày. Nơi đây cũng là di tích của ba vị
Phật trong quá khứ ngồi thiền và kinh hành.
Phía đông bắc của Già Lam đi hơn 70
dặm, gặp sông Hằng. Phía nam của sông Hằng có
một làng rất lớn. Nhân dân giàu có và có rất
nhiều đền thờ cùng những h́nh tượng
điêu khắc. Phía đông nam chẳng bao xa lại có
một Bảo Tháp mà Phật ngày xưa đă ở lại
nơi đây để thuyết pháp. Từ đây đi
đến phía đông vào trong rừng núi đi bộ
hơn 100 dặm, đến làng Lạc Bát Nị La. Phía
trước chùa có một Bảo Tháp lớn do Vua A Dục
xây dựng. Nơi đây ngày xưa đức Phật
đă ở lại ba tháng để thuyết pháp. Từ
đây đến phía bắc hơn hai ba dặm có một
ao lớn chu vi hơn 30 dặm, trong hồ nầy có hoa sen
bốn màu nở quanh năm suốt tháng. Từ đây
đi về phía đông vào trong rừng cây, đi bộ
hơn 200 dặm nữa, đến nước Y Lan Nơa Bát
Phạt Dă.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển chín
Quyển thứ
mười
(17 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Y Lan Nơa Bát Phạt Dà
2. Nước
Chiêm Ba
3. Nước
Yết Châu Ôn Đệ La
4. Nước Bôn
Na Phạt Đản Na
5. Nước Ca
Ma Lầu Ba
6. Nước Tam
Ma Đản Thát
7. Nước
Trầm Ma Phiêu Đệ
8. Nước
Yết La Noa Tô Phạt Sắc Na
9. Nước Ô
Trà
10. Nước
Cung Ngự Đà
11. Nước
Yết Lăng Già
12. Nước
Kiều Tát La
13. Nước Án
Đạt La
14. Nước
Đà Na Yết Lân Ca
15. Nước
Châu Lợi Da
16. Nước
Đạt La Tỳ Trà
17. Nước
Chư La Cự Thác
1) Nước Y Lan Nơa Bát Phạt Dà chu vi hơn
3000 dặm, kinh đô phía bắc giáp sông Hằng, chu vi
hơn 20 dặm. Nơi đây trồng lúa hoa quả
rất tốt tươi, khí hậu điều ḥa phong
tục thưần chất. Có hơn 10 ngôi Già Lam và hơn
4000 tăng tín đồ, đa phần tu theo Tiểu
thừa phái Chánh Lượng Bộ. Có hơn 20 đền
thờ, ngoại đạo sống hỗn hợp với
nhau. Có ông Vua bên cạnh lật đổ Vua nước
nầy mang kinh đô nước nầy cúng thí cho chúng
Tăng. Tại thành nầy có xây dựng hai ngôi Già Lam,
mỗi nơi gần 1000 người. Họ tu học theo
Tiểu thừa Giáo thuộc Thuyết Nhứt Thiết
Hữu Bộ.
Phía bên thành lớn tiếp giáp với sông Hằng
là núi Y Lan Nơa, sương khói luôn luôn che phủ ngày đêm.
Xưa nay các vị tiên thánh, tiếp tục hiển thánh
nơi đây. Bây giờ có đền thờ ở phía
nầy. Tại đây đức Như Lai cũng
thường hay trú ngụ, đă v́ trời người mà
diễn thuyết Diệu Pháp. Thành lớn phía Nam có một
Bảo Tháp, Như Lai đă ở đây ba tháng để
thuyết pháp. Bên cạnh là nơi ghi lại dấu tích
của ba vị Phật trong quá khứ đi kinh hành và
ngồi thiền.
Phía tây nơi ba vị Phật kinh hành chẳng xa
mấy, có một Bảo Tháp. Đây là nơi sanh
trưởng của hai trăm ức Tỳ Kheo Lâu Đà
Tần. Ngày xưa nơi thành nầy có một vị
Trưởng Giả giàu có cự phú, nhưng chưa có
người thừa kế. Cho nên đem hai trăm ức
tiền vàng làm phước cầu con. V́ thế đứa
con có tên là Cậu bé nghe hai trăm ngàn ức tiền vàng,
liền đến chỗ chưa từng đặt chân
đến. Với một bàn chân dài có cái lông chân hơn
một thước, phát ra ánh sáng vi diệu màu hoàng kim.
Cậu bé rất là xinh tươi đẹp đẽ, nhà
ở tận trên núi Tuyết Sơn, được bảo
đến ở bên nhà, để chế tạo thuốc
nhưng không ai học được.
Người giàu có như thế, đức
Thế Tôn biết rằng sẽ có một thiện căn
phát triển cho nên mới bảo ngài Mục Kiền Liên
đến để hóa độ. Ngài đến
trước cửa nhà ông Trưởng giả chưa thông
báo cho Trưởng giả và gia đ́nh biết. Sáng đó
ông đang hướng về hướng đông
để lễ bái, lúc đó Tôn Giả dùng thần thông
lực từ mặt trời mà hạ xuống phía
trước. Trưởng giả nghi rằng đó là ông
thần mặt trời do vậy cúng thí hương hoa
đồ ăn rồi về. Đồ ăn và hương
hoa nầy xông đến thành Vương Xá. Lúc ấy Vua
Tần Bà Sa La nghe mùi hương khác lạ nên mới ra
lệnh t́m xem, bèn đến Tinh Xá Trúc Lâm để gặp
Ngài Mục Kiền Liên và Ngài lại mới từ nhà
của Trưởng Giả trở về, do vậy
biết con ông Trưởng Giả có một điều
rất kỳ dị cho nên mới triệu vào.
Trưởng Giả thừa mệnh Vua và vui vẻ chèo
thuyền đánh trống vượt sóng gió lớn rất
nguy hiểm, rồi lên xe cỡi voi đến. Người
xem đông đảo chen lấn đạp lên nhau, như
thế từ nhà ông cho đến Vương Xá Thành,
họ dẫm lên đè bẹp cây cỏ. Thuyền rồng
phía trước hướng dẫn đến Vương
Xá thành, trước đảnh lễ đức Thế
Tôn, đoạn Thế Tôn bảo rằng:
- Vua Tần Bà Sa La ra lệnh mời ông
đến muốn xem lông chân của ông. Vua muốn xem cho
nên ông ngồi kiết già và đưa chân về phía Vua. Theo
quốc pháp th́ chết, nên Trưởng giả xin sám
hối trước rồi vào bên trong. Vua muốn thấy
cái lông chân bèn bảo ngồi kiết già. Vua rất vui
vẻ khi thấy được điều đặt
biệt trân quư nầy rồi cho trở về nơi
Phật.
Lúc ấy Như Lai đă nói về pháp sám hối.
Nghe xong tỉnh ngộ liền xin xuất gia. Ông rất
siêng năng tu tập muốn cầu chứng thánh quả,
đi kinh hành không ngừng nghỉ nên chân ra máu. Đức
Thế Tôn kêu lại bảo rằng:
- Nầy gă thiện nam! Lúc c̣n tại gia
ngươi biết đàn phải không?
Đáp rằng:
- Dạ biết.
- Nếu biết rồi th́ lấy đó làm thí
dụ. Nếu dây căng quá th́ chẳng hợp âm. Nếu
dây dùn quá nghe chẳng ḥa nhă, cho nên chẳng nhanh mà cũng
chẳng chậm th́ nghe mới được. Phàm kẻ
tu hành cũng giống như vậy. Khi quá siêng năng thân
sinh tật bịnh và tâm sinh giải đăi. C̣n quá chậm
chạp th́ ư chí hao ṃn.
Ông ta nghe Phật chỉ giáo rồi liền
phụng hành không bao lâu được chứng quả.
Biên giới phía tây của nước là sông
Hằng và phía nam đến núi Cô Sơn, nơi có nhiều
núi non hiểm trở. Ngày xưa đức Phật đă
an cư ở đây ba tháng, hàng phục Dạ Xoa Bạt
Câu La. Phía đông nam của núi ở dưới chân núi có
một tảng đá lớn nơi đó có dấu chân
Phật c̣n lưu lại trên đá hơn cả
thước. Chiều dài năm tấc hai và chiều ngang
là hai tấc mốt. Trên đây có kiến tạo một
Bảo Tháp. Tiếp đến phía nam gần tảng đá
đó dấu tích nơi Phật để b́nh bát lún sâu
hơn một tấc và có tám cái hoa sen mọc lên.
Không xa về phía nam cách chỗ Phật ngồi là
dấu tích vết chân của Dạ Xoa Bạt Câu La,
chiều dài năm sáu tấc, chiều rộng bảy tám
tấc, ấn sâu xuống đá hai tấc. Phía sau dấu
chân của Dạ Xoa, có một tượng Phật
ngồi bằng đá rất lớn cao đến sáu
bảy thước. Tiếp đến phía tây không xa
mấy là nơi của Phật đi kinh hành. Ở trên
đảnh núi nầy có chỗ của Dạ Xoa ở.
Tiếp theo phía bắc có dấu chân của Phật dài
hơn tám tấc và ngang hơn sáu tấc, ấn sâu
xuống nửa tấc. Trên dấu tích nầy lại có
một Bảo Tháp. Nơi đây ngày xưa đức
Như Lai hàng phục Dạ Xoa làm cho chúng chẳng giết
người để ăn thịt, cung kính lănh thọ
giới của Phật sau đó rồi sanh Thiên. Phía tây có
đến sáu bảy suối nước nóng. Nước
ở đây rất nóng, biên giới phía nam giáp với
rừng già. Trong đó có nhiều voi thân h́nh vĩ
đại. Từ đây thuận theo sông Hằng về
phía nam cách phía đông ba trăm dặm là nước Chiêm
Ba.
2) Nước Chiêm Ba, chu vi hơn 4000 dặm.
Đô Thành nằm ở phía bắc giáp với sông Hằng,
chu vi hơn 40 dặm. Ruộng sâu nên cấy
được nhiều lúa tốt. Khí hậu ôn ḥa phong
tục thuần chất. Có hơn 10 ngôi Già Lam, hầu
hết bị hư. Tăng đồ hơn 200
người, họ tu theo Tiểu Thừa. Có hơn 20
đền thờ. Ngoại đạo sống lộn
xộn. Tường của Đô Thành xây bằng gạch
cao hơn một trượng. Bước được
qua nơi nầy cũng rất nguy hiểm.
Ngày xưa ở kiếp sơ, con người
cùng muôn vật sống nơi hoang dă lấy hang núi làm nhà
chưa có pḥng ốc. Có một Thiên Nữ xuống trần
dạo chơi. Đến sông Hằng tắm rửa
uống nước, sau đó thọ thai, sinh ra bốn
người con, chia đi hùng cứ mỗi phương
ở Thiệm Bộ Châu, kiến thiết thủ đô
thành ấp phân chia ranh giới và mỗi người cai
trị một nước. Thành Thiệm Bộ Châu là thành
đầu tiên. Phía đông của thành có hơn 150 dặm
là sông Hằng Hà. Phía nam nước chảy xiết, trên
đó có một đền thờ linh ứng. Người
ta lấy đá làm pḥng, lấy nước dẫn vào
hồ. Hoa rừng có nhiều loại quư báu. Đỉnh núi
nầy có nhiều đá cheo leo. Kẻ hiền nhơn và
người có trí đều cư ngụ nơi đó. Khi
xem nơi này th́ quên trở về cố quốc. Biên
giới phía nam của nước nầy là rừng hoang,
trong đó có nhiều voi, mănh thú số có hơn ngàn. Từ
đây đi về phía đông hơn bốn trăm dặm
đến nước Yết Châu Ôn Đệ La.
3) Nước Yết Châu Ôn Đệ La chu vi
hơn 2000 dặm, đất đai nước non ẩm
thấp cho nên trồng lúa rất tốt. Khí hậu ôn ḥa,
phong tục tốt đẹp.Thường kính trọng
những bậc học cao và quư trọng nghề nghiệp.
Có sáu bảy ngôi Già Lam, và hơn 300 Tăng Sĩ. Có hơn
10 ngôi đền thờ, ngoại đạo tạp cư.
Từ hàng trăm năm nay, Vương tộc đă
tuyệt tự cho nên phụ thuộc nước bên
cạnh. V́ vậy nơi thành có nhiều thôn xóm lập ra
lộn xộn. Ngày xưa Vua Giới Nhựt đi về
phía đông Ấn Độ liền cho xây dựng cung
nầy và đặt chỗ cai trị. Đến ngày nay chỉ
c̣n lại dấu tích v́ lửa đă hỏa thiêu hết
rồi.
Biên giới phía nam của nước ấy có
nhiều voi rừng. Biên giới phía bắc giáp với sông
Hằng. Không xa mấy, có một đài rất cao
được xây bằng đá gạch. Đài nầy
được chạm trỗ rất tinh vi. Chung quanh
đài bốn mặt đều có chạm h́nh các vị
Thánh. H́nh Phật và h́nh chư Thiên được khắc
riêng. Từ đây đi qua phía đông gặp sông Hằng.
Đi hơn 600 dặm nữa, gặp nước Bôn Na
Phạt Đản Na.
4) Nước Bôn Na Phạt Đản Na chu vi
hơn 4000 dặm. Đô thành chu vi hơn 30 dặm. Cư
dân sống rất đông đúc. Có ao hồ có nhà cửa,
có hoa lá rừng cây. Người người qua lại
rất vui vẻ, đất đai nằm dưới
thấp nên cày cấy rất thưận lợi. Có
nhiều trái cây rất trân quư. Quả nầy lớn như
trái bí đỏ và chuyển màu vàng đỏ sau khi chín.
Cắt ra trong ruột có nhiều hạt nhỏ. Lớn
như trứng chim hạc, khi đập ra trong đó có
nước vàng đỏ. Mùi vị rất ngọt ngào.
Hoặc tại nơi cành cây có nhiều trái kết lại
với nhau, hoặc tại nơi gốc cây trái cũng
như thế. Khí hậu điều ḥa, phong tục
tốt đẹp ưa chưộng sự học
hỏi. Có hơn 20 ngôi Già Lam và hơn 3000 Tăng Sĩ.
Họ tu tập theo cả Đại Thừa lẫn
Tiểu Thừa. Đền thờ của ngoại
đạo có hơn 100 ngôi. Họ sống tạp nhạp tu
theo đạo lơa thể.
Phía tây của thành hơn 20 dặm có một chùa
tên là Bạt Thỉ. Vườn Chùa rất rộng có xây
đài cao. Tăng đồ hơn 700 người, tu
học theo Giáo Pháp Đại Thừa.
Biên giới phía đông Ấn Độ đa
phần những bậc thạc học danh tăng
đều sinh ra ở nơi nầy. Cách đây không xa, có
một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên. Ngày xưa
đức Như Lai đă ở lại nơi đây ba
tháng v́ chư Thiên và loài người mà thuyết pháp. Đến
giờ ngọ thường phát ra ánh sáng. Phía nầy c̣n có
di tích của bốn vị Phật ngồi thiền và
đi kinh hành. Nơi đây chẳng xa lại có một tinh
xá trong đó có dựng tượng Bồ Tát Quán Tự
Tại rất linh thiêng và thường hay ứng hiện,
xa gần mọi người đều đến đây
để cầu khẩn. Từ đây sang phía đông
đi hơn 900 dặm, qua sông đến nước Ca Ma
Lầu Ba ở phía đông xứ Ấn Độ
5) Nước Ca Ma Lầu Ba, chu vi hơn vạn
dặm. Đô Thành hơn 30 dặm, đất đai màu
mỡ trồng trọt, thu hoạch tốt. Có nhiều trái
cây quư. Trên rừng có nhiều danh mộc. Ngoài ra, sông ng̣i và
ao hồ giao nhau bên cạnh thành ấp. Khí hậu ôn ḥa,
phong tục thuần chất. Người ở đây
tướng tốt nhưng da ngăm đen. Ngôn ngữ
không khác mấy với người miền trung Ấn
Độ. Tánh t́nh rộng răi phóng khoáng. Ư chí cao cả
ưa học tập. Người ở đây thờ
thần là chính, không tin tưởng Phật Pháp. Cho nên
từ thời đức Phật cho đến bây giờ,
vẫn chưa thành lập được Già Lam nào
để mời chư Tăng về. Tuy có một số
ít tín đồ; nhưng chưa làm được ǵ
cả. Có cả hàng trăm đền thờ và hàng vạn
người theo ngoại đạo.
Vua bây giờ thuộc ḍng dơi của Bổn Na La
Diên Thiên, giai cấp Bà La Môn tên là Bà Tắc Kệ La Phạt
Ma, hiệu là Câu Ma La, chiếm cứ lănh thổ gần Vua
Dịch Diệp. Nối tiếp cho đến bây giờ là
đời Vua thứ 1000. Quốc Vương ham học.
Cho nên dân chúng cũng noi theo. Những người học
cao biết rộng đến đây rất đông. Tuy
họ không thuần tín Phật Pháp, nhưng rất cung kính
bậc Sa Môn, học cao, biết rộng. Đầu tiên
họ nghe có vị Sa Môn đến nước nầy
từ chùa Na Lan Đà của nước Ma Kiệt Đà,
vị nầy là người từ xa đến học,
nhưng Phật Pháp rất thâm hậu, khuyên răn mọi
người đến ba lần. Nếu kẻ nào chưa
đến th́ ngài Thi La Phạt Đa La (Giới Hiền)
luận sư nói rằng:
- Muốn báo ân Phật phải nên hoằng
truyền Chánh Pháp. Con hăy đi đi, đừng nản
ḷng ǵ cả. Vua Câu Ma La tin theo ngoại đạo. Nhưng
nay thỉnh Sa Môn đến là điều rất quư hóa. Nay
nhân cơ hội nầy có thể biến đổi
để được phước lợi về sau. Con
ngày xưa với tâm từ quảng đại đă
khởi lên tâm niệm và phát thệ hoằng thâm. Nguyện
đi một ḿnh đến các nơi khác. Bỏ thân
để cầu Pháp, nhằm phổ tế hàm linh. Há
điều đó từ nơi quê hương đă quên
rồi sao? Chớ nệ hà vinh nhục hăy tuyên dương
Thánh Giáo và khai đạo quần mê. Trước v́ sự
hoằng pháp mà hăy quên đi danh phận của ḿnh. Đây
là điều không được giải đăi mà nên
tiến hành để hội kiến gặp gỡ.
Vua Câu Na La nói:
- Tuy là kẻ bất tài nhưng thường hay
ái mộ những bậc học rộng tài cao, đă nghe
danh từ lâu và muốn cung thỉnh.
Trả lời rằng:
- Kẻ nầy tài trí thô thiển thấp kém, không
biết rằng có lưu được cái ǵ lại
chăng?
Vua Câu Ma La đáp:
- Lành thay, lành thay! V́ ham học Phật pháp mà làm
cho ngài phải khổ thân. Vượt qua những khó
khăn nguy hiểm, từ xa đến nước
nầy, để theo những phong tục mà học
hỏi. Bây giờ ở Ấn Độ nầy, các
nước đều ca tụng ngài là bậc Đại
Tỳ Kheo đă đến đây mang lại niềm vui cho
bao người, cũng giống như quê hương
của Đại Đức vậy.
Đáp rằng:
- Thật là một lời ca ngợi quá tốt
đẹp. Đó là nhờ cái đức của quân
vương.
Vua Câu Ma La nói:
- Bạch Đại Đức, đừng lo
lắng. Người nước nầy ái mộ phong
tục phía đông từ lâu. Không v́ sơn xuyên cách trở,
đường sá xa xôi, mà đă đến đây
được là điều rất quư.
Đáp rằng:
- Với tôi, Vua là một bậc Thánh có cái
đức rất cao cả, xa gần đều gội
nhuần, đă làm cho mọi người cung kính trọng
vọng.
Vua Câu Ma La đáp:
- Nhờ được che chở, ḷng nầy
muốn được triều cống cho Vua Giới
Nhựt ở nước Yết Chư Ôn Đệ La
sẽ làm đại Pháp Thí để trồng cây
Phước Đức. Các vị Sa Môn, Bà La Môn có học
của năm nước Ấn Độ, chưa
được triệu tập, nay lại thỉnh mời
mong ngài cùng đi, đến nơi đó. Nước
nầy ở phía đông dăy núi gần đây và không có đô
thành lớn. Phía Tây Nam, tiếp giáp với biên giới, cho
nên người ở đây như mọi rợ. Muốn
biết vấn đề rơ ràng của nơi ấy th́
cứ hai tháng đi về phía biên giới tây nam một
lần. Tuy nhiên núi sông hiểm trở, khí hậu khắc
nghiệt. Rắn độc, cây độc sẽ làm
hại đến người và phía đông nam của
nước ấy lại có nhiều bầy voi dữ. Cho
nên trong xứ, có nhiều chiến trận sử dụng
bằng voi. Từ đây đi về phía Nam hơn 1230
dặm, đến nước Tam Ma Đản Thát.
6) Nước Tam Ma Đản Thát chu vi hơn 3000
dặm, nằm gần bờ biển, đất đai
ẩm thấp. Đô thành rộng hơn 20 dặm. Cày
cấy trồng trọt hoa quả tốt tươi. Khí
hậu ôn ḥa, phong tục thuần nhă, người tánh t́nh
cương trực, da ngăm màu nắng. Siêng năng
học tập, tà chánh đều tin. Có 30 ngôi Già Lam. Có
hơn 2000 tăng đồ. Họ đều tu tập
theo phái Thượng Tọa Bộ. Có 100 ngôi đền
thờ. Ngoại đạo sống hỗn tạp. Nơi
đây họ tu theo phái Ni Kiền Tử (Lơa Thể). Cách
thành không xa mấy, có một Bảo Tháp do Vua A Dục
dựng nên. Ngày xưa đức Như Lai đă v́ chư
Thiên và loài người thuyết pháp ở nơi đây
bảy ngày. Bên cạnh đó là dấu tích của bốn
vị Phật trong quá khứ đi kinh hành và ngồi
thiền. Cách nơi nầy không xa có một Già Lam, trong
đó có một tượng Phật ngọc xanh, chiều
cao tám thước, tướng hảo trang nghiêm viên măn, vô
cùng linh diệu. Từ đây đi đến phía đông
bắc gặp bờ biển. Cách núi phía bên kia là
nước Thất Lợi Sai Đản La. Tiếp
đến phía tây nam của biển lớn là nước
Ca Ma Lăng Ca. Tiếp đến phía đông là nước Tri
La Bát Đệ. Tiếp đến phía đông có
nước Y Thưởng Na Bổ La.
Tiếp theo phía đông có nước Ma Ha Chiêm Ba,
là nước Lâm Ấp. Đến phía Tây Nam là nước
Chiêm Ma Na Châu. Phàm sáu nước nầy núi sông cách trở
cho nên không nhập cảnh được. Tuy nhiên những
phong tục tập quán của các nước nầy
đều được nghe biết. Từ nước
Tam Ma Đản Thác đi qua phía tây hơn 900 dặm,
đến nước Trầm Ma Phiêu Đệ.
7) Nước Trầm Ma Phiêu Đệ chu vi 1450
dặm. Đô Thành hơn 10 dặm. Nằm gần bờ
biển nên đất đai ẩm thấp, cày cấy
được mùa, hoa quả tốt tươi, khí hậu
nóng nực, phong tục hùng tráng. Tánh người háo
động, tà chánh đều tin. Có hơn 10 ngôi Già Lam,
hơn 1000 Tăng Sĩ, có hơn 50 ngôi đền thờ.
Ngoại đạo sống hỗn tạp. Nước
nầy có bờ biển và sông ng̣i giao nhau, cho nên có nhiều
vật quư báu tụ tập nơi đây. Phải nói
rằng người của nước nầy rất giàu
có. Phía trong thành có một Bảo Tháp do Vua A Dục xây
dựng. Bên cạnh đó là nơi dấu tích của
bốn vị Phật trong quá khứ đi kinh hành và
ngồi thiền. Từ đây đi đến
hướng tây bắc hơn 700 dặm, đến
nước Yết La Noa Tô Phạt Sắc Na.
8) Nước Yết La Noa Tô Phạt Sắc Noa có
chu vi hơn 4450 dặm, có đô thành với chu vi hơn 20
dặm. Dân chúng nơi đây rất giàu có sung túc. Ruộng
nương nằm dưới thấp nên rất
được mùa. Hoa trái cây cỏ tốt tươi. Khí
hậu điều ḥa, phong tục thuần hậu. Học
vấn và nghề nghiệp cao. Tin theo cả tà lẫn chánh.
Có hơn 10 ngôi Già Lam và hơn 2000 Tăng Sĩ, tu theo phái
Tiểu Thừa Chánh Lượng Bộ, có 50 đền
thờ, theo ngoại đạo tạp cư. Đặc
biệt có ba ngôi chùa không ăn sữa đặc, v́ tôn sùng
lời dạy của Tôn Giả Đề Bà Đạt
Đa.
Phía bên Đại Thành có một chùa tên là Lạt
Đà Vị Tri, có vườn rất rộng, cũng
như có các cốc nhỏ chung quanh. Trong nước có
những bậc tài cao, thông minh, mẫn tiệp, hoặc
tập trung ở đây là những vị giới
đức trang nghiêm mô phạm. Đầu tiên ở
nước nầy, dân chúng chưa tin tưởng Phật
Pháp. Khi ấy ở phía nam Ấn Độ có một
người ngoại đạo, bụng mang lá
đồng, đầu đội đèn sáng, tay chống
tích trượng từ xa đi vào thành, liền đánh
chuông trống muốn cầu luận nghị. Có
người hỏi rằng:
- Đầu và bụng mang cái ǵ lạ lùng như
vậy?
Đáp rằng:
- Ta có nhiều khả năng về học
thuật, nhưng sợ cái bụng nó bể và buồn cho
những kẻ ngu ám nên mới mang đèn đến
để chiếu sáng.
Nhiều ngày sau người kỳ dị đó
đi trên đường mà chẳng có ai hỏi
đến. Vua bảo rằng:
- Trong nước của ḿnh không có bậc minh
triết nào sao? Đối với vị khách kia khó mà thù
đáp, nhưng v́ thể diện quốc gia, phải làm sao
cầu thỉnh cho được người hiền
đức.
Lại có kẻ thưa:
- Trong rừng sâu, cũng có một kẻ khác
đời, khác người, tự xưng là Nhật Sa Môn.
Có sở học rất cao cường và đă ở lâu
nơi sơn lâm tịch tinh. V́ thể diện quốc gia
cũng như đức độ của Vua, chẳng
lẽ không thể mời được người
nầy sao?
Vua nghe như vậy đích thân đi đến
thỉnh mời. Sa Môn đáp rằng:
- Tôi là người phía nam xứ Ấn
Độ, đến đây ở lại học nghiệp
rất nông cạn, sợ chẳng giống như
điều nghe. Có thể đến được
chẳng dám chối từ, nhưng xin thưa nếu
luận nghị không thua phải kiến lập Già Lam
để triệu tập tăng đồ đến
chấn hưng Phật pháp.
Vua đáp:
- Xin cung kính ghi nhận và không quên công đức
đó. Sau đó Sa Môn nhận lời thỉnh cầu
đến đạo tràng để luận nghị. Lúc
ấy ngoại đạo đọc tụng hơn ba
vạn lời. Ư nghĩa sâu xa văn chương bác
học bao hàm danh tướng thấy nghe trùng trùng như
lỗ lưới. Sa Môn nghe qua một lần th́ đă
hiểu rơ từng câu từng chữ chẳng sai lầm,
dùng lời để biện bạch cả trăm lần
và giải thích cũng như để hỏi lại
Ngoại Đạo. Ngoại Đạo ư hết lư
đuối, câm miệng chẳng thể trả lời.
đă thua xấu hổ rồi lui. Vua thâm kỉnh cái đức
ấy cho nên cho kiến tạo Già Lam nầy và từ đó
về sau dùng nơi nầy để hoằng pháp.
Cách Già Lam chẳng bao xa, có một Bảo Tháp do
Vua A Dục dựng nên. Tại đây ngày xưa đức
Như Lai đă khai đạo thuyết pháp bảy ngày. Bên
cạnh đó có một tinh xá là nơi ghi lại dấu
vết của bốn vị Phật trong quá khứ đă
kinh hành và ngồi thiền. Lại có Bảo Tháp là nơi
Như Lai đă ngồi thuyết pháp do Vua A Dục dựng
nên. Từ đây đi qua phía tây nam, hơn 700 dặm,
đến nước Ô Trà.
9) Nước Ô Trà có chu vi hơn 7000 dặm, có
đô thành chu vi 20 dặm. Đất đai màu mỡ, lúa
thóc được mùa. Hoa trái thật là sum sê và nhiều hoa
thơm cỏ lạ, khó mà tường thuật hết. Khí
hậu ôn ḥa, phong tục thuần hậu. Người dung
mạo đẹp đẽ. Ngôn từ dịu dàng, khác
với miền trung Ấn Độ. Thích học hỏi
nhưng chẳng thâm tín Phật Pháp, có hơn 100 ngôi Già Lam
và hơn 10 ngàn Tăng Sĩ, tất cả đều tu
theo Đại Thừa. Có hơn 50 đền thờ,
ngoại đạo sống tạp nhạp. Có hơn 10 Bảo
Tháp, đều là những nơi đức Như Lai
thuyết pháp và do Vua A Dục dựng nên.
Phía tây nam biên giới là núi cao, lại có một Già
Lam nơi đó cũng có một Bảo Tháp bằng đá
rất linh dị, đến trưa hào quang chiếu sáng
rực rỡ. Cho nên có nhiều tịnh tín xa gần
đến đây để lễ bái, hoặc mang
hương hoa tràng phan bảo cái để tu phước
cúng dường. Số nhiều vô kể và những
Bảo Cái được dựng ở bên ngoài rất
đẹp đẽ. Từ phía tây bắc của Già Lam
lại có một Bảo Tháp cũng giống như phía
trước. Đây là hai Bảo Tháp mà do chư Thần
kiến tạo nên. Cho nên rất linh dị. Phía đông nam
biên giới của nước, giáp bờ biển lớn
có thành Chiếc Lợi Đản La với chu vi hơn 20
dặm. Tại xứ nầy có nhiều lữ khách
đến từ vùng biển. Họ qua lại các nơi
khác và dừng ở đây. Thành quách rất kiên cố v́ có
nhiều của quư. Bên ngoài thành có hơn 50 ngôi Già Lam.Trong
chùa có trang trí những tượng rất trang nghiêm. Phía nam
đến nước Tăng Già La hơn hai vạn
dặm. Những đêm thanh tịnh đáo mắt nh́n
về nước kia thấy Bảo Tháp răng của
Phật, trên đó có phóng ra hào quang, giống như đèn
chiếu sáng huyền bí nhiệm mầu. Từ đây
đi về phía tây nam vào trong rừng sâu đi hơn 1200
dặm, đến nước Cung Ngự Đà.
10) Nước Cung Ngự Đà có chu vi hơn 1000
dặm, Đô Thành hơn 20 dặm, nằm cạnh bờ
biển lại có núi cao. đất đai ẩm thấp,
lúa thóc được mùa. Khí hậu ấm áp. Phong tục
náo động. H́nh tướng kỳ dị, nước
da đen bóng. Tuy có lễ nghĩa nhưng ưa dối trá.
Chữ viết giống như miền trung Ấn
Độ, lời nói và phong tục có nhiều khác biệt.
Tôn sùng ngoại đạo chẳng tin Phật Pháp. Có
hơn 100 ngôi đền thờ và hơn vạn
người ngoại đạo. Trong nước có 10 thành
nhỏ. Biển và núi giao nhau cho nên thành rất kiên cố,
binh lính mạnh mẽ oai hùng nằm ở biên giới,
chẳng ai địch nổi. Đất nước
nầy giáp biển cho nên có nhiều vật quư. Dùng ốc
ṣ trân châu là phương tiện trao đổi khi mua bán.
Nơi đây có nhiều voi xanh, chạy rất nhanh. Từ
đây qua phía tây nam vào nơi hoang dă đến rừng sâu,
có cây cối rậm rạp, đi hơn 1450 dặm,
đến nước Yết Lăng Già nằm ở
miền nam Ấn Độ.
11) Nước Yết Lăng Già có chu vi hơn
5000 dặm, đô thành hơn 20 dặm. Lúa thóc hoa quả
được mùa. Rừng rậm cây cối hoang vu, có
cả hàng trăm loại động vật khác nhau. Có
nhiều voi xanh sanh sản ở đây được
xuất khẩu qua các nước bên cạnh. Khí hậu
nóng bức, phong tục thô bạo. Tánh t́nh con người
hung tợn, nhưng ư chí c̣n tin nơi điều nghĩa.
Ngôn ngữ nhẹ nhàng khi phát âm điều tiết.
Tiếng nói phong tục khác với miền trung Ấn
Độ, ít tin tưởng chánh pháp, lại hay tin theo
ngoại đạo. Có hơn 10 ngôi Già Lam và hơn 500
tăng đồ, họ theo cả hai truyền thống
Đại Thừa và Thượng Tọa Bộ. Có hơn
100 ngôi đền thờ, Ngoại đạo sống
hỗn tạp, đa phần là Ni Kiền Tử.
Nước Yết Lăng Già, tại đây ngày
xưa có lúc tập tục của nhân gian rất thịnh
hành. Người xứ nầy xúc phạm đến
vị Tiên Nhơn, đạt đến Ngũ Thông và
vị ấy mất hết thần thông cho nên dùng chú
thuật tàn hại người cả nước. Do đó
người ở đây c̣n lại rất ít. Ngày tháng trôi
qua càng ngày càng giảm. V́ phạm lỗi đó cho nên
người càng ngày càng ít.
Thành phía Nam chẳng xa có một Bảo Tháp cao
hơn 100 thước, do Vua A Dục dựng lên. Bên
cạnh đó có di tích của bốn vị Phật trong quá
khứ ngồi Thiền và kinh hành. Biên giới phía bắc
đến đỉnh núi cao lại có một Bảo Tháp
bằng đá cao hơn 100 thước. Vào một kiếp
sơ nọ khi con người thọ nhiều tuổi, có
một vị Độc Giác Phật nhập Niết Bàn
nơi đây. Từ đây đi về phía tây bắc
chỉ toàn là núi và rừng rậm. Đi hơn 1800 dặm,
đến nước Kiều Tát La, nằm ở miền
trung Ấn Độ.
12) Nước Kiều Tát La có chu vi hơn 6000
dặm. Có núi non rừng rậm bao bọc chung quanh. Đô
thành có chu vi hơn 40 dặm, đất đai trồng
trọt thuận lợi tốt tươi. Làng mạc nhà
cửa san sát, người người giàu có. H́nh dáng
người kỳ dị, nước da ngâm đen, phong
tục hùng tráng. Tánh t́nh thô bạo. Tin theo tà và chánh. Nghề
nghiệp tinh xảo. Vua thuộc ḍng Sát Đế Lợi.
Tôn kính Phật Pháp nhơn từ đức độ. Có
hơn 100 ngôi Già Lam và hơn một vạn Tăng Sĩ, tu
theo Giáo lư Đại Thừa. Có 70 đền thờ.
Ngoại Đạo sống hỗn tạp. Cách thành về
phía nam chẳng xa, có một ngôi chùa cũ, bên cạnh đó
có một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên. Nơi
đây ngày xưa đức Như Lai đă từng
đến và ở, hiện đại thần thông
nhiếp phục ngoại đạo. Nơi nầy,
cũng là nơi dừng chân của Bồ Tát Long Mănh. Lúc
bấy giờ có vị vua tên là Bà Đà Bà Ha (Dẫn Chánh)
rất trân quư và cung kính ngài Long Mănh. Bốn bên đều có
hộ vệ. Lúc bấy giờ có Bồ Tát Đề Bà
từ nước Chấp Sư Tử đến muốn
cầu Luận nghĩa nói với các môn nhân rằng:
- Hân hạnh xin được yết kiến.
Thời môn nhân đến bạch Ngài Long Mănh
biết danh tánh. Ngài Long Mănh đổ nước
đầy b́nh bát và ra lệnh cho đệ tử rằng:
- Ông mang nước nầy đưa cho
Đề Bà.
Đề Bà chờ nước đứng yên
rồi bỏ cây kim vào. Đệ tử mang bát trở
lại với vẻ hoài nghi. Long Mănh hỏi:
- Ông ấy nói ǵ?
Đáp rằng:
- Yên lặng, không nói ǵ hết, rồi bỏ cây
kim vào bát.
Long Mănh nói:
- Thật là kẻ tài trí! Kẻ đó biết
việc như thần. Phải là bậc Á Thánh. Đạo
đức cao vời. Hăy mời vào.
Hỏi rằng:
- Nghĩa là sao? Không lời nói vi diệu biện
tài nào hơn.
Đáp rằng:
- Phàm là nước th́ tùy theo đồ
đựng mà có h́nh dáng tṛn hay vuông, theo đó mà hiện
sạch hay dơ, không có ǵ có thể ngăn cản và
đong lường hết được. Đem sự to
lớn đó mà so sánh với sự học của ta
thật là tài trí. Việc bỏ cây kim vào trong nước,
phải nói rằng một điều hy hữu. Đây là
kẻ rất phi thường hăy cho vào.
Long Mănh thấy phong thái tư cách an nhiên
đẹp đẽ, lời nói ôn tồn sanh ra cảm
phục. Đề Bà có đầy đủ phong cách
như thế mà từ xa c̣n đến đây muốn
học hỏi. Dáng dấp oai thần đi đến
rất oai nghiêm, rồi lên ṭa ngồi và đàm luận
suốt ngày không hết. Câu nghĩa chương cú thanh tao.
Cho nên Long Mănh nói:
- Kẻ hậu học nh́n đời vi diệu.
Sự biện bác sáng sủa hơn trước. Tôi nay
gặp người tuấn kiệt và thành thật nói
rằng đây là điều hy hữu và ngọn đèn
Chánh Pháp không thể tắt. Giáo Pháp ấy có thể
hoằng dương cho người đời sau thật
là hân hạnh. Có thể đến cái ghế trước
mặt để đàm luận huyền nghĩa.
Đề Bà nghe nói như vậy, tâm liền
tự phụ đến trước phát lời biện
luận nghĩa lư. Đề Bà dùng từ thật mạnh
hướng về đối chất nghĩa lư. Nhưng
thấy uy nghi dung mạo rồi quên đi lời và
ngậm miệng. Đoạn từ chỗ ngồi
bước xuống rồi xin theo học. Long Mănh nói:
- Hăy ngồi xuống lại đi. Bây giờ
ngươi là học tṛ, ta sẽ dạy cho Chân Diêụ Lư
Pháp Vương. Lúc ấy Đề Bà ngũ thể
đầu địa một ḷng nghe lời và thưa:
- Từ nay về sau con xin vâng mệnh. Long Mănh
Bồ Tát sống nhàn nhă nhờ thuốc dưỡng sinh,
thọ mạng hơn 100 tuổi mà dung mạo không suy.
Cũng giúp nhà Vua thuốc men như thế để
thọ hơn 100 tuổi.
Nhà vua có một Vương tử, hỏi mẹ
rằng:
- Con bao giờ được làm Vua?
Mẹ đáp:
- Ta thấy chưa có cơ hội nào cả. Ta
nghe vua sống đến hàng trăm tuổi cho nên con cháu
già hết, và cũng sống lâu. Lại được Long
Mănh cho thêm phước lực bằng thuốc
trường sanh. Nếu Bồ Tát tịch diệt, nhà vua
mất ngôi.
- Long Mănh Bồ Tát là bậc trí huệ cao vời,
từ bi thâm hậu, ban cho tất cả quần sanh
một đời sống như thế. Nên con có thể
đến đó, xin cái đầu của Ngài. Nếu
được th́ kết quả sẽ như ư.
Vương tử theo lời dạy của
mẹ, đến Già Lam và xin người gác cổng
được vào bên trong. Lúc ấy ngài Long Mănh Bồ Tát
đang tụng kinh và nhiễu Phật, liền thấy
Vương Tử nên hỏi rằng:
- V́ lư do ǵ mà đến tăng pḥng vào ban đêm
vậy? Có ǵ nguy hại tật bịnh mà đến
phải không?
Đáp rằng:
- Từ mẫu của con dạy con rằng
kẻ sĩ xả thân, sự xả thân ấy cũng mang
lại lợi lạc cho quần sanh. Qua lời dạy
đó con chưa có thể bỏ được báo thân
nầy để cầu được điều như
ư muốn. Mẹ con bảo không sao, Chư Thiện Thệ
Như Lai của ba đời trong mười phương
xưa nay để được chứng quả
phải cần cầu Phật Đạo, tu tập
Giới Nhẫn. Hoặc hiến thân cho thú, hoặc cắt
thịt cho chim. Vua Nguyệt Quang đă thí đầu cho Bà
La Môn. Vua Từ Lực đă hiến máu cho Dạ Xoa.
Những việc như thế khó mà nói hết,
trước cầu cho ḿnh giác ngộ chứ không phải
cho người khác. Nay, Bồ Tát Long Mănh có ư chí cao vời
cho nên con cũng cầu xin được cái đầu
của ngài để có việc. Nếu ngài xả th́ có
thể vào cuối năm nầy. Như ngài xả liền
th́ tội con rất nhiều, việc đó sẽ hại
đến cái đức. Nguyện cho sự tu tập
của Bồ Tát sẽ thành Phật quả, đem ḷng
từ đến cho chúng sanh và trí tuệ ấy th́ vô cùng.
Xin xem nhẹ sinh mạng và xem thân nầy trôi nổi như
một loại giặc, Ngài có thể v́ bổn nguyện mà
cho con được toại nguyện không?
Long Mănh Bồ Tát đáp:
- Lời nói hay thật, Ta vốn cầu Thánh
quả, và học Phật nên thường xả bỏ.
Thân nầy như âm hưởng như bọt nước
lưu chuyển trong tứ sanh, qua lại trong lục thú,
chứa chấp nhiều lời nguyện, chẳng
muốn một việc ǵ mà nay Vương Tử chỉ có
một chứ không khác. Nếu Vương Tử vẫn
một ḷng mong muốn ta sẽ tuân mệnh. Nhưng khi thân
ta mạng chung rồi th́ Phụ Vương của
Vương Tử cũng mất. Nhưng rồi ai là
người bảo hộ ngươi. Long Mănh bồi
hồi đáp sự yêu cầu rồi tuyệt mệnh. Bèn
lấy lá khô tự vận, sau đó lấy kiếm
để cắt đầu. Vương Tử thấy
thế rất kinh ngạc rồi lui. Người gác
cổng thưa:
- Việc ấy xong chưa?
Vua nghe bi cảm và kết quả là ngài đă ra
đi.
Phía tây nam của nước đi hơn 300
dặm, đến núi Phạt La Mạt La Kỳ Lư. Nơi
đây có đỉnh cao rất nguy hiểm. Có nhiều hang
động bao bọc toàn là đá. Vua Chánh Vương
đă v́ Long Mănh Bồ Tát mà xây dựng Già Lam trong núi ấy.
Đi khỏi núi khoảng 10 dặm có đường
trống. Từ núi nh́n xuống có rất nhiều đá.
Nơi đó có nhiều hành lang đi bộ, giống
như những ngôi nhà xây nhiều tầng. Có nơi cao
đến năm tầng và có nhiều Viện khác nhau.
Trong mỗi tinh xá như thế đều có những
tượng bằng vàng, lớn bằng thân Phật
điêu khắc kỳ công, tướng hảo trang nghiêm và
tất cả những trang sức đều bằng vàng
quư. Gần nơi đỉnh núi cao ấy, có một thác
nước từ trên chảy xuống, bên ngoài các hang
động có phát ra ánh sáng. Nơi đây Vua Chánh
Vương có kiến thiết Già Lam. Nhân lực hao ṃn, công
khố trống rỗng. Việc ấy chưa xong phân
nửa, mà tâm hay âu lo cho nên Long Mănh thưa rằng:
- Đại Vương v́ sao có sự ưu
sầu như thế?
Vua đáp:
- Ta đă dùng tất cả tấm ḷng để
làm việc phước đức lâu dài đợi Ngài
Từ Thị, công việc chưa xong mà tiền tài hết
sạch. Mỗi lần nghĩ đến buồn lo,
ngồi đây để chờ.
Ngài Long Mănh thưa:
- Xin đừng lo âu. Phàm là phước
đức thắng diên th́ không có cái cuối cùng. Cứ phát
nguyện lớn đừng lo chẳng xong.
Ngày hôm đó, Vua về lại cũng rất
là an lạc. Sau đó Vua xuất du để thăm sông núi
liền đến nơi b́nh nghị nầy mà kiến
thiết Bảo Tháp. Vua đă thọ nhận sự hối
quá và tiếp tục phụng tŕ Chánh Pháp. Long Mănh Bồ Tát
có thần dược vi diệu đă rải lên trên đá
lớn, liền biến thành vàng. Vua đến thấy vàng,
tâm rất sung sướng. Khi hồi giá đến nơi
Long Mănh thưa rằng:
- Hôm nay, du ngoạn đă có sự cảm ứng
của thần linh, nơi đất đai núi rừng kia,
đă thấy được vàng bạc tụ
lại.
Long Mănh nói:
- Chẳng phải quỷ thần cảm
động đâu. Đó là do ḷng chí thành mà cảm ứng
nên vàng bạc vậy.
Sau khi nói như vậy liền cho lấy về
để xây dựng chùa Tháp. Sau khi xây dựng xong, chùa
năm tầng, mỗi tầng như thế đều có
bốn tượng Phật lớn bằng vàng. Những
vàng c̣n dư đem cho vào kho, rồi triệu tập
một ngàn vị tăng đến để lễ
tụng và Long Mănh Bồ Tát v́ Giáo Pháp của đức
Thích Ca mà tuyên dương và v́ các vị Bồ Tát khác
diễn thuật và bàn luận, soạn ra biệt tạng
ở nơi nầy. Nơi tầng lầu một chỉ
để tượng Phật và các kinh luận. Tầng
năm phía dưới cùng để cho tịnh nhân ở và
những đồ vật riêng tư. Ở giữa ba
tầng th́ làm pḥng ốc. Nghe người xưa bảo
lại rằng:
- Khi Vua Chánh Vương xây dựng xong, kể
cả công nhân ăn uống và chư Tăng dùng hết chín
ức tiền vàng.
Cho nên sau nầy tăng tín đồ phẫn
nộ tranh đấu và phê phán Vua. Lúc ấy các tịnh nhơn
liền nói rằng:
- Tăng đồ tranh tụng nói lời hủy
báng nhau. Kẻ ác sẽ nhân đây mà hủy hoại Già Lam.
Cho nên những lầu nầy không cho tăng đồ
ở. Từ đây về sau chư Tăng không
được qua lại, tới lui nơi cửa của
nước nầy.
Lúc bấy giờ, liền cho những y sư giỏi
vào bên trong để trị bệnh, nhiều cửa ra vào
chẳng biết làm sao kiểm soát. Từ đây vào trong
rừng sâu phía Nam đi hơn 900 dặm, đến
nước An Đạt La ở phía Nam Ấn
Độ.
13) Nước An Đạt La có chu vi hơn 3000
dặm. Đô thành hơn 20 dặm. Tên thành là B́nh Kỳ La,
đất đai tốt tươi. Cày cấy trồng
trọt được mùa. Khí hậu ôn ḥa, phong tục
phức tạp. Ngôn ngữ nhẹ nhàng khác với miền
trung Ấn Độ. Chữ nghĩa quy tắc giống
nhau. Có hơn 20 ngôi Già Lam và hơn 3000 Tăng Sĩ.
Đền thờ có hơn 30 ngôi. Ngoại đạo
sống tạp nhạp. Cách thành B́nh Kỳ La chẳng bao xa
có một ngôi Già Lam lớn. Ngôi chùa nầy có nhiều
tầng lầu vô cùng đẹp đẽ. Tượng
Phật và các tượng Bồ Tát h́nh tướng trang
nghiêm chạm trổ rất công phu. Phía trước Già Lam
có một ngôi Bảo Tháp cao hơn 100 thước. Đây là
do vị Chiết La A La Hán kiến tạo.
Sau chùa A La Hán, về hướng tây nam chẳng
bao xa lại có một Bảo Tháp, do Vua A Dục dựng
nên. Nơi đây ngày xưa đức Như Lai đă
thuyết pháp, hiện đại thần thông độ vô
lượng chúng.
Rồi cũng từ phía tây nam của chùa A La Hán
đi hơn 20 dặm, đến núi Cô Sơn. Trên
đảnh núi có một Bảo Tháp bằng đá, nơi
đây Ngài Trần Na Bồ Tát tạo nên Nhân Minh Luận
(Dinnagà-Đồng Thụ). Bồ Tát Trần Na là
người sau Phật Nhập Diệt mặc Pháp Y, chí
nguyện rộng lớn, huệ lực thăm thẳm,
thương đời chẳng nơi nương tựa,
nên muốn hoằng dương Thánh Giáo, mà tạo ra Nhân
Minh Luận. Lời sâu lư rộng. Nếu bậc học
giả không cố gắng th́ khó thành sự nghiệp, bèn
vào thâm sơn tham thiền nhập định quán sát
nội tâm, xem xét lợi hại mới tạo nên văn
nghĩa. Lúc bấy giờ trong động đá gây nên
tiếng vang, khói mây biến thái, cho nên sơn thần
đến gặp Bồ Tát thân cao trăm thước và
xướng lên lời rằng:
- Ngày xưa, đức Phật Thế Tôn v́
quyền biến hướng dẫn hàm linh và v́ tâm từ
bi mà Thuyết Nhơn Minh Luận, diệu lư bao quát ngôn
từ sâu sắc. Như Lai tịch diệt nghĩa ấy
đă bị chôn vùi. Bây giờ có ngài Trần Na Bồ Tát,
phước trí cao vời, sâu hiểu Thánh Giáo về Nhân
Minh Luận cho nên trùng tuyên lại.
Lúc đó Bồ Tát phóng đại quang minh
chiếu đến những nơi u ám và Vua của
nước nầy sanh tín tâm sâu xa và tôn kính Tam Bảo.
Thấy tướng quang minh nầy, nghi rằng đă vào
Kim Cang Định, nhân đây mà thỉnh Bồ Tát chứng
quả Vô Sanh. Bồ Tát Trần Na đáp:
- Ta đă nhập định và quán sát. Nếu
muốn dịch nghĩa chú thích kinh nầy sâu sắc, th́
tâm phải hiểu rộng biết nhiều chẳng
nguyện chứng quả Vô Sanh.
Vua đáp:
- Quả Vô Sanh là nơi Thánh chúng ngưỡng
mộ, xa ĺa tam giới, chứng được tam minh là
điều rất cao cả. Nguyện nên chứng lấy.
Bồ Tát Trần Na lúc ấy rất hoan hỷ
lời thỉnh cầu của Vua nên liền chứng
quả Vô Học. Bồ Tát Văn Thù (Diệu Cát
Tường) thương tiếc, muốn cảnh giới
khảy móng tay liền ngộ và nói rằng:
- Tiếc thay! Làm sao mà bỏ cái tâm rộng
lớn chỉ v́ ư chí hẹp ḥi. Từ việc nhớ
nghĩ cho riêng ḿnh kể cả luôn cái chí nguyện. Nếu
muốn có lợi lạc, hăy nói rộng cái Thuyết Du Già
Sư Địa Luận của Bồ Tát Từ Thị
hướng dẫn cho kẻ hậu học
được lợi ích biết là bao.
Bồ Tát Trần Na kỉnh thọ ư chỉ
phụng tŕ sám hối. Rồi từ đây nổi trôi
nghiên cứu rộng thêm Nhân Minh Luận. Nếu những
học giả sợ giải bày luận có tính chất
từ chương th́ hăy đưa nghĩa lớn của
tông phong mà bày ra lời nói vi diệu làm nên Nhân Minh Luận
để hướng dẫn cho kẻ hậu học
về sau.
Từ nay về sau nên tuyên dương Du Già.
Từ đó có rất nhiều môn nhân và những kẻ
hiểu biết trong đời. Từ đây đi vào
giữa rừng qua hướng nam hơn ngàn dặm,
đến nước Đà Na Yết Lân Ca (Nước An
Đạt La), thuộc miền nam xứ Ấn
Độ.
14) Nước Đà Na Yết Lân Ca có chu vi hơn
6000 dặm. Đô thành có chu vi hơn 60 dặm, đất
đai màu mỡ, lúa thóc được mùa. Có nhiều làng
ấp hoang dă ít người sanh sống. Khí hậu ôn ḥa,
người da màu đen sậm. Tánh t́nh hung bạo, ham
học nghề nghiệp. Có nhiều ngôi Già Lam bị hoang
vu, c̣n lại chừng hai chục ngôi. Tăng đồ hơn
1000 người. Đa phần học theo Đại Chúng
Bộ. Đền thờ có hơn 100 ngôi, ngoại
đạo sống tạp nhạp.
Phía đông của thành là núi, nơi đó có
một Tăng Già Lam tên là Phất Bà Thế La (Đông
Sơn). Phía tây của thành cũng là núi. Nơi đó có ngôi
chùa A Phạt La Thế La (Thế Sơn). Xứ nầy
đầu tiên, Vua v́ Phật Pháp mà kiến tạo nên Già
Lam. Có sông chảy qua phía trước chùa, những hành lang
đi bộ dọc theo núi. Có những vị thần linh
xuất hiện và các bậc Thánh Hiền tới lui. Kể
từ khi Phật Nhập Diệt sau 1000 năm, mỗi
năm như vậy có khoảng 1000 chư Tăng cùng
đến đây an cư. Khi giải chế mọi
người chứng A La Hán, dùng thần lực bay lên
hư không mà đi. Một ngàn năm sau, phàm thánh
đồng cư. Nhưng kể từ 100 năm nay không có
Tăng Lữ văng lai. Cũng có những Sơn Thần
dị h́nh, hoặc làm h́nh con chó, hoặc làm h́nh khỉ
vượn, để dọa nạt người đi qua
nơi chỗ hoang vắng, chẳng có tăng nào cả.
Cách về phía nam của thành không xa, có một
ngọn núi cao. Nơi đó là nơi mà Luận Sư Bà
Tỳ Phệ Dà (Thanh Biện) ở trong động A Tu La
để chờ gặp Bồ Tát Di Lặc thành Phật.
Luận sư có đức sâu dày khó tả. Bên ngoài mặc
áo ngoại đạo, nhưng bên trong hoằng dương
tư tưởng học thuật của Long Mănh. Khi nghe
Ngài Hộ Pháp Bồ Tát ở nước Ma Kiệt Đà
muốn hoằng dương giáo lư của đức
Phật có cả ngàn người theo và muốn luận
nghị cho nên chống tích trượng mà đến thành
Ba Thác Ly. Biết rằng Bồ Tát Hộ Pháp đang ở
dưới cây Bồ Đề cho nên luận sư đă
nói với môn nhân rằng:
- Quư vị hăy đến cây Bồ Đề
để gặp Bồ Tát Hộ Pháp v́ tôi mà thưa
rằng: "Bồ Tát đă tuyên dương Giáo Pháp
hướng dẫn nhiều người bỏ tà quy chánh,
ngưỡng đức cao dày từ lâu mà nguyện chưa
xong, nay muốn đến yết kiến và lễ bái
dưới gốc cây Bồ Đề, thệ nguyện
nếu không gặp được, th́ sẽ gặp khi
chứng được quả trời người" .
Bồ Tát Hộ Pháp bảo với người
sứ rằng:
- Cuộc đời con người giống
như huyễn, thân mệnh lại nổi trôi, khát khao ngày
tháng chưa đến để được đàm
luận, mà người tin tưởng chưa gặp
được.
Luận sư nghe vậy liền trở về
quê hương, ngồi thiền chờ đợi và
nghĩ rằng nếu không phải ngài Từ Thị thành
Phật, ai có thể giải được cái nghi của
ḿnh, cho nên đă ở trước tượng Quán Tự
Tại Bồ Tát, thành tâm tụng chú Đà La Ni. Không ăn
chỉ uống nước trong ṿng ba năm. Đức
Quán Tự Tại Bồ Tát liền hiện ra sắc thân vi
diệu v́ luận sư mà bảo rằng ư mong muốn ǵ vậy?
Đáp rằng:
- Nguyện lưu giữ thân nầy để
chờ được gặp đức Từ Thị.
Bồ Tát Quán Tự Tại bảo:
- Đời sống con người ở thế
gian nầy rất nguy hiểm, nổi trôi phù phiếm. Cho
nên muốn như ước nguyện th́ nên sanh về cơi
trời Đẩu Suất để lễ bái và chờ
đợi gặp đức Di Lặc.
Luận sư đáp rằng:
- Ư chí không thể đạt được và tâm
nầy không có hai.
Bồ Tát đáp:
- Nếu quả như vậy th́ nên đến
nước Đà Na Yết Lân; nơi thành phía nam có một
ngọn núi cao, nơi đó có thần Chấp Kim Cang và hăy
thành tâm tụng chú Kim Cang Đà La Ni, ông sẽ được
toại nguyện.
Luận sư đến đó để tụng
và ba năm sau th́ thần nhân mách bảo rằng:
- Nhà ngươi mong muốn ǵ mà siêng năng
như vậy?
Luận sư đáp:
- Nguyện lưu giữ thân nầy lại
để chờ gặp đức Từ Thị. Bồ
Tát Quán Tự Tại đă chỉ điểm đến
đây để thỉnh cầu và nguyện của tôi có
thành được th́ ở tại nơi nầy. Mong
thần mật hiểu cho.
Rồi chỉ trong ngày ấy trong ngọn núi
nầy có một cung của A Tu La. Theo sự thỉnh
cầu tường đá kia lại mở ra. Khi mở ra,
đi vào bên trong chờ gặp và luận sư nói:
- Chỗ ở tối tăm không thấy, làm sao
biết được Phật?
Chấp Kim Cang đáp rằng:
- Khi Bồ Tát Từ Thị xuất thế tôi
sẽ báo cho ông.
Luận sư y lời rồi chuyên tâm tŕ
tụng. Cả ba năm như thế chẳng có suy
nghĩ ǵ khác.
Tŕ chú xong rồi, có người gơ cửa
động, động liền mở ra. Lúc ấy có
trăm ngàn vạn người thấy rồi quên trở
về. Luận sư khóa cửa lại mà bảo với
họ rằng:
- Ta có lời nguyện ở lâu để chờ
gặp đức Di Lặc. Thánh chúng đă khuyên như
thế th́ đại nguyện mới thành cho nên bảo
rằng vào nơi nầy th́ sẽ gặp Phật. Họ
nghe như vậy rất kinh ngạc mới đóng cửa
lại, trở thành một hang rắn độc. Họ
sợ hại đến thân mệnh. Ba lần nói như
vậy tuy chỉ có được sáu người vào.
Luận sư lại cảm tạ và những người
ấy đi vào. Khi vào rồi tường đá trở
lại như cũ và mọi người mới hối
hận giận ḿnh đă nói ra lời nói ấy.
Từ đây đi qua phía tây nam hơn 1000
dặm, đến nước Châu Lợi Da nằm ở
phía nam xứ Ấn Độ.
15) Nước Châu Lợi Da, chu vi hơn 2450
dặm. Đô thành chu vi hơn 10 dặm, đất đai
trống trải trở nên hoang phế. Cư dân sống
rải rác, cho nên đạo tặc hoành hành. Khí hậu ôn
ḥa, phong tục gian ác. Tánh người cuồng bạo. Sùng
tín ngoại đạo. Nhiều ngôi Già Lam bị hủy hoại
nhưng cũng c̣n tu sĩ. Có hơn 10 ngôi đền đa
phần theo đạo lơa thể.
Cách về phía đông nam của thành không xa
mấy, có một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên.
Như Lai ngày xưa đă từng ở nơi nầy,
hiện đại thần thông thuyết Vi Diệu Pháp
để hàng phục ngoại đạo và độ cho
trời người.
Phía tây thành chẳng bao xa, lại có một ngôi Già
Lam cũ. Đây là nơi luận nghị của Đề
Bà Bồ Tát và A La Hán. Đầu tiên Bồ Tát Đề Bà
nghe nơi Già Lam nầy có vị A La Hán Ôn Đản La
chứng được thần thông và đầy
đủ tám giải thoát, liền từ xa đến
để t́m hiểu xem xét về phong cách mô phạm ra sao,
cho nên đă đến đó, đảnh lễ A La Hán. A La
Hán là bậc thiểu dục tri túc chỉ có một cái
giường. Khi Bồ Tát Đề Bà đến không có
chỗ ngồi, nên gom lá cây lại làm ṭa để mời
ngồi. A La Hán nhập định nửa đêm th́
xuất. Bồ Tát Đề Bà thỉnh cầu giải
quyết chỗ nghi của ḿnh. A La Hán tùy theo chỗ khó mà
giải thích. Bồ Tát Đề Bà nghe và hỏi
đến lần thứ bảy th́ im lặng không trả
lời. Rồi vận thần thông lực bay lên cơi
Đẩu Suất để hỏi ngài Di Lặc. Ngài
Từ Thị v́ đó mà giải thích, nhân đây bảo
rằng:
- Ông Đề Bà ấy, nhiều kiếp đă tu
hành và trong hiền kiếp nầy sẽ được
quả vị Phật, nên biết như vậy.
Đoạn thi lễ rồi như trong khoảng
khảy móng tay th́ trở lại chỗ ngồi cũ, dùng
diệu nghĩa tuyên dương và bẻ găy những điều
nghi. Bồ Tát Đề Bà thưa:
- Điều nầy đức Bồ Tát Từ
Thị đă dùng Thánh trí mà giải thích, há có phải là ngài
có thể tường tận?
A La Hán đáp:
- Đúng vậy!
Đó là sự chỉ bày của Như Lai. Từ
chỗ ngồi tán thán thâm kính lễ bái. Từ đây
đến phía Nam vào trong rừng sâu đi hơn 1560
dặm, đến nước Đạt La Tỳ Trà.
16) Nước Đạt La Tỳ Trà có chu vi
hơn 6000 dặm. Đô thành tên là Khang Chí Bổ La có chu vi
hơn 30 dặm, đất đai màu mỡ lúa thóc giàu có.
Lại có nhiều hoa quả và sản xuất vật quư.
Khí hậu ôn ḥa, phong tục thô bạo. Người tin sâu
nghĩa lư, biết nhiều học rộng. Nhưng ngôn
ngữ, chữ viết th́ sai khác miền trung Ấn
Độ một ít. Có 100 ngôi Già Lam, tăng đồ
hơn vạn người, học theo Thượng Tọa
Bộ. Có 80 ngôi đền thờ đa phần theo
đạo lơa thể.
Như Lai khi c̣n tại thế đă đến
đây nhiều lần, thuyết pháp độ
người, cho nên Vua A Dục đă đến Thánh Tích
nầy mà cho xây dựng nên các Bảo Tháp.
Thành Kham Chí Bổ La là nơi mà Bồ Tát
Đạt Ma Ba La (Hộ Pháp) sanh trưởng. Bồ Tát là
con đầu của vị Đại Thần của
nước nầy. Lúc nhỏ thiên tư đặc
biệt, lớn lên thấy xa biết rộng. Hồi
ấy, rất lâu nhưng Vương Thần chưa sinh.
Hằng đem lo lắng suy nghĩ, đối
trước tượng Phật thiết tha kỳ
nguyện một cách chí thành cho nên cảm ứng
đến thần linh, từ xa mà đến.
Sau khi sanh ra lớn lên một hôm đi hơn 100
dặm, đến ngôi chùa trên núi. Đến giữa
giảng đường có vị tăng mở cửa.
Thấy thiếu niên nầy, vị tăng nghi là kẻ
trộm bèn cật vấn, Bồ Tát liền đưa tay
ra hiệu ư bảo người xuất gia không nên kinh
dị và ư ngài đă toại nguyện. Nhà Vua đă biết
sự mong muốn của ngài và biết Bồ Tát có ư
xuất trần cho nên Vua lại càng thâm kính hơn nữa.
Bồ Tát đă tự mặc áo hoại sắc tinh cần
học tập, t́m đến nơi vị A La Hán
để biết phong cách mô phạm như trên đă
thuật.
Cách về phía nam thành không xa có một Đại
Già Lam mà trong nước khắp nơi đều giống
vậy. Lại có một Bảo Tháp cao hơn 100
thước do Vua A Dục dựng nên. Đức Như Lai
ngày xưa ở nơi đây thuyết pháp để hàng
phục ngoại đạo và rộng độ trời
người. Gần đó cũng có một di tích là nơi
của bốn vị Phật quá khứ, ngồi thiền
và kinh hành. Từ đây đến phía nam đi hơn 3000
dặm đến nước Chu La Cự Thác.
17) Nước Chu La Cự Thác có chu vi hơn 5000
dặm, đô thành có chu vi hơn 40 dặm, đất
đai khô cằn không trồng trọt được
mấy; nhưng những hải sản trân quư đều
tập họp nơi nước nầy. Khí hậu ấm áp,
người da ngăm đen. Tánh t́nh cương nghị,
tà chánh đều tin, ít thích nghề nghiệp, ưa làm
điều thiện. Đa phần Chùa Viện nơi
đây đều bị hoang phế, chỉ c̣n lại
một số ít chư Tăng. Có hơn 100 ngôi đền
thờ, tin theo ngoại đạo, đa phần theo
đạo lơa thể. Thành phía đông chẳng xa, có một
Già Lam cũ, vườn Chùa trở nên hoang phế. Do em
của Vua A Dục kiến thiết nên. Phía đông nầy
lại có một Bảo Tháp, chỉ c̣n nền móng. Bảo
Tháp nầy do Vua A Dục xây. Nơi đây ngày xưa
đức Như Lai đă thuyết pháp hiện đại
thần thông độ vô lượng chúng. V́ h́nh ảnh
của Thánh tích nầy, Vua đă xây dựng nên, thời gian
năm tháng trôi qua, người ta đến cầu
nguyện và xem ở đây như là chỗ ở của
thần linh.
Phía nam của nước nầy là bờ
biển lại có núi Châu Sắc Gia. Đỉnh cao và
hẹp lại có những động đá ăn sâu vào
trong. Trong núi, có cây Bạch Đàn, cây Chu Đàn và nhiều
loại cây khác, khó có thể phân biệt hết, duy chỉ
có mùa hạ lên núi chiêm ngưỡng thấy nơi đây có
nhiều rắn lớn. Được biết rằng v́
chất của gỗ mục ẩm ướt cho nên
rắn thích ở, cũng có nhiều người thấy
thế liền lấy tên bắn. Mùa đông như ẩn
nấp vào trong thân cây. Tại đây cũng có cây Yết
Bố La Hương (Cây Long Năo), cây tùng, cây bách và có nhiều
cây khác. Những cây ở dưới ẩm thấp không có
mùi hương. Khi cây khô người ta chặt đi, trong
đó có mùi hương và từ trong lơi cây có những
đường vân màu sắc giống như nước và
như tuyết. Đây chính là mùi hương của Long Năo.
Núi Chư Sắc Gia về phía đông có núi Bố
Đản Lạt Ca. Núi nầy rất nguy hiểm, có
nhiều hang động. Trên đảnh núi có Hồ,
nước trong như mặt gương, chảy thành
sông, chảy quanh núi đến hai mươi ṿng rồi
đi vào biển Nam Hải. Bên cạnh cái hồ đó, có
động đá rất đẹp là nơi mà Bồ Tát
Quan Tự Tại qua lại dạo chơi. Nếu ai có
lời nguyện muốn gặp Bồ Tát chẳng quản
thân mệnh, lội nước trèo non, quên đi nguy
hiểm th́ có thể đạt được lời
nguyện ấy. Dưới chân núi có người ở,
đến đây kỳ nguyện thỉnh cầu
để được thấy, hoặc tạo nên h́nh
Tự Tại Thiên, hoặc bôi than lên ḿnh như ngoại
đạo, để an ủi dụ dỗ những
người có lời nguyện. Từ núi nầy đi qua
phía đông bắc th́ đến bờ biển. Từ
bờ biển phía nam, có đường đi qua
nước Tăng Già La. Người xưa nói rằng
từ đây đi vào biển phía đông nam đi hơn
3000 dặm đến nước Tăng Già La (Nước
Chấp Sư Tử) không thuộc nước Ấn
Độ.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển mười
Quyển thứ
mười một
(23 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Tăng Già La (Tích Lan)
2. Nước Trà
Kiến Na Bổ La
3. Nước Ma
Ha Sách Trạch
4. Nước
Phạt Lục Yết Chiêm Ba
5. Nước Ma
Lạp Ba
6. Nước A Thác
Lư
7. Nước
Khiết Thác
8. Nước
Phạt Lạp Tỳ
9. Nước A
Nan Đà Bổ La
10. Nước Tô
Sắc Đà
11. Nước Cù
Chiết La
12. Nước Ô
Phiệt Diễn Na
13. Nước
Trinh Chỉ Đà
14. Nước Ma
Ê Thấp Phạt La Bổ Đa
15. Nước
Tín Độ
16. Nước
Mậu La Tam Bộ Lô
17. Nước Bát
Phạt Đa
18. Nước A
Điểm Ba Sí La
19. Nước
Lang Yết La
20. Nước Ba
Sắc Tư (Ba Tư)
21. Nước
Kiên Đa Thế La
22. Nước A
Quân Trà
23. Nước
Phạt Sắc Noa
1) Nước Tăng Già La (Tích Lan) có chu vi 7000
dặm. Đô Thành có chu vi 40 dặm. Đất đai màu
mỡ khí hậu ôn ḥa. Cày cấy trồng trọt hoa
quả tốt tươi. Cửa nhà to lớn, gia sản
giàu có. Người nước da ngăm đen, tánh t́nh hung
bạo, ham học hỏi, ưa phước đức,
thích làm thiện. Nước nầy là một ḥn
đảo nhỏ có nhiều trân bảo đồ quư giá,
là nơi dừng chân của chư Thần, nằm phía nam
của xứ Ấn Độ, có một Quốc
Vương, nguyên là một nữ tỳ bị tống
đi giữa đường gặp Sư Tử kẻ thị
vệ bỏ chạy. V́ không chạy được, nên
người nữ ấy phải ở lại cam chịu
số phận. Không ngờ chúa Sư Tử đến giúp
người nữ mang về hang động trên núi cao.
Những con nai mang rau quả đến. Thời gian sau có
thai sinh ra một trai một gái, h́nh mạo giống con
người nhưng bản tánh c̣n súc sanh. Con trai dùng
thương giáo đâm chết mănh thú. Thời gian sau
biết được, người mẹ than rằng
không biết nói sao. Cha là dă thú mẹ là người, không
cùng chủng loại làm sao trở nên chồng vợ
được. Bà mẹ thuật lại chuyện xưa
mà bảo với đứa con rằng:
- Người Vật xa xôi chẳng có thệ
nguyền.
Rồi người mẹ nói tiếp:
- Ngày ấy ta cố chạy nhưng không chạy
nổi. Con là đứa con sau khi Sư Tử cha bắt
mẹ vào núi mà mẹ không thể thoát khỏi để mà
đi, cho nên phải chịu cảnh mẹ con ở nơi
đó.
Người mẹ tiếp:
- Những chuyện sâu kín như thế rất ân
hận nhưng chẳng biết nói nguồn gốc như
thế nào. Bởi v́ khi mọi người biết
được chúng ta sẽ bị khinh bỉ.
Rồi đến nước của cha ḿnh.
Nước nầy không có gia tộc, tông môn đă diệt
hết. Gặp người thôn trưởng,
được bảo rằng:
- Quư vị là người nước nào?
Đáp:
- Tôi là người lưu lạc đến
xứ nầy, mẹ con muốn trở lại cố
hương.
Được mọi người thương
chu cấp. Vua Sư Tử lại chẳng thấy nữa.
Do chỗ quấn quưt nam nữ mà vô minh sanh khởi, bây
giờ ra khỏi hang đá đến tại thôn nầy.
Hét lên chấn động tàn độc con người.
Người trong làng trục xuất ra và giết chết.
Rồi đánh trống, thổi tù và, gương nỏ,
cầm xà mâu chạy từng đoàn, nhưng thú không bị
hại. Vua nước đó sợ không thích hợp với
ḷng người cho nên muốn đuổi kẻ mọi
rợ ấy đi. Vua thân chinh suất binh lính kéo vào
rừng, khóa cửa hang động lại. Sư Tử
rống lên làm chấn động núi rừng. Người
Vật đều bỏ chạy. Đă bắt không
được con thú nào, mà c̣n tổn thất nữa.
Nếu bắt được con Sư Tử nầy th́
trừ được hậu hoạn cho đất
nước, sẽ đền đáp trọng thưởng
cho những ai t́m được.
Đứa nhỏ nghe Vua ra lệnh như thế
liền thưa với mẹ rằng:
- Đă đến lúc vô cùng đói khổ rồi,
làm sao có thể ứng phó được. Hoặc có
thể phủ dụ được?
Bà mẹ nói:
- Nói vậy không được. Sư Tử tuy
là loài súc sanh nhưng là cha của con, làm sao con có thể làm
điều nghịch hại như vậy.
Người con nói:
- Người và súc vật là hai loại khác nhau,
lễ nghi đă có sự sai khác th́ sao phải giữ ḷng
như thế.
Cậu bé mang dao nhỏ ra nhận lời
triệu tập. Lúc ấy có ngàn vạn loài cỡi mây bay
đến chỗ Sư Tử ở trong rừng.
Người chưa đến gần, đứa con
đến trước mặt cha nó quỳ xuống, làm ra
vẻ thân ái để cho Sư Tử không nỗi sân
hận. Rồi lấy dao đâm xuyên qua bụng Sư
Tử. V́ ḷng thương yêu cậu bé, Sư Tử không có
chút sân hận nào hết. Bụng vở ra rồi chết.
Vua nói rằng:
- Người ở đâu mà kỳ tài thế! V́
phước lợi mà dụ được Sư Tử,
hơn cả sức mạnh kia. Từ đó về sau
chẳng c̣n lo lắng nữa. Cậu bé thuật lại
sự t́nh của ḿnh cho Vua nghe. Vua nói:
- Đồ phản nghịch! Cha mầy mà c̣n
bị mầy hại huống ǵ là những người
không phải thân thuộc.
Loài súc sanh khó dạy. Tánh t́nh hung bạo dễ náo
động. Dù tạo được công lớn trừ
hại cho dân nhưng giết cha là đồ nghịch
tặc. Cho đồ trọng thưởng rồi bảo
lui. Vua phóng thích vào tận nơi xa xôi để đề
pḥng sự mưu nghịch. Vua sắm sửa hai chiếc
thuyền lớn có nhiều lương thực cho
người mẹ ở lại, chu cấp thưởng
công. Người con gái đi một chiếc thuyền khác
bị sóng gió thổi đi xa biệt tích. Thuyền
người con trai ra biển rồi trôi dạt vào bờ,
gặp đảo nhiều ngọc ngà châu báu. Sau đó có
một người thương nhân t́m trân bảo nên
đến bờ biển nầy. Bèn giết người
thương chủ để lại người con gái.
Như thế sinh ra con cái rất nhiều sau đó lên làm
Vua và có triều thần trên dưới cho xây lại thành
quách biên cương mà tổ tiên của họ là giống
Sư Tử. Nhân đây, lấy tên đó đặt
quốc hiệu, c̣n thuyền của người con gái
bị trôi đến nước Ba Sắc Tu Tây, bị
quỷ thần hiếp sanh ra một bầy con gái.Ở
phía tây nước nầy là nước chỉ có toàn
đàn bà. Cho nên người nước Sư Tử h́nh
dáng đen đúa, có vầng trán và g̣ má rộng. Tánh t́nh
mạnh bạo, an nhẫn, độc ngầm. V́ họ
thuộc ḍng dơi mănh thú cho nên người ở đây
rất mạnh khoẻ.
Lại một thuyết khác, trong Phật Pháp có
nêu ra như sau:
Ngày xưa nơi nầy là một nơi có
nhiều của quư. Nơi đó có năm trăm La Sát
Nữ cu ngụ. Trên thành có hai cây phan cao báo hiệu việc
tốt xấu. Khi có việc tốt cây phan dao dộng bày
phía chữ tốt, ngược lại khi xấu bày
chữ xấu. Có một người thương nhân
đến đảo quư nầy, La sát nữ biến thành
mỹ nữ, mang hương hoa và tấu âm nhạc nghinh
đón và dụ cho đi vào trong thành bằng sắt nầy
hoan lạc trong ngục bằng sắt kia. Dần dần
lấy làm thức ăn. Lúc đó ở Thiệm Bộ Châu
có một thương chủ tên là Tăng Già, cũng c̣n gọi
là Tăng Già La. Cha đă già cho nên thay cha làm việc cùng
với năm trăm thương nhân đi vào trong biển
t́m vật quư. Sóng gió làm thuyền trôi dạt vào đảo
nầy. Lúc ấy cây phướn của La Sát Nữ
hiện lên chữ Tốt. La Sát Nữ dùng hương hoa
tấu âm nhạc để nghinh tiếp dụ dỗ
họ vào thành sắt. Thương chủ đă cùng với
La Sát Nữ Vương vui chơi thỏa thích. C̣n những
thương nhân khác vui đưa với những La Sát
Nữ khác. Thời gian trôi qua sanh được một
người con, kết quả của mối t́nh thâm giao
nầy. Rồi muốn giam những người lái buôn vào
trong ngục sắt. Lúc ấy ông Tăng Già La ngủ
thấy ác mộng biết là không phải việc tốt,
liền muốn trở về đất liền, nhưng
gặp phải ngục sắt và nghe tiếng khóc bi
thương, leo lên cây cao hỏi rằng:
- Ai thốt ra lời bi thương oán hờn
như thế?
Đáp rằng:
- Ông không biết à. Những người nữ
trong thành nầy đều là La Sát cả. Ngày xưa họ
dụ tôi vào trong thành nầy hoan lạc vui chơi. Anh
cũng sẽ đến nơi ngục tối đó và
cũng sẽ bị chúng ăn thịt như tôi đă
bị. Bây giờ ở trong đó đă có nhiều
người rồi, không bao lâu nữa các anh sẽ chịu
họa nầy.
Tăng Già La đáp:
- Có kế ǵ thoát ra không?
Tôi nghe rằng ở bờ biển có một con
ngựa trời. Nếu đến đó cầu thỉnh,
sẽ được cứu giúp. Nghe như vậy,
Tăng Già La liền cáo từ người thương nhân
ấy, chạy ra bờ biển nhất tâm cầu cứu.
Lúc bấy giờ Thiên Mă (Ngựa Trời) đến
bảo với ông ấy rằng:
-Các anh mỗi người bám vào cái lông của
tôi, nhớ đừng nh́n xuống. Tôi sẽ mang các anh bay
qua biển thoát nạn. Khi nào đến Thiệm Bộ
Châu, sẽ báo cho biết đă đến cố
hương.
Các thương nhân y theo lời dặn, hết
sức bám chặt vào lông ngựa. Thiên Mă bay lên mây qua
biển đến bờ.
Các La Sát Nữ biết mọi người ấy
đă đào thoát liền nói rằng:
- Kỳ lạ thay họ đi hết rồi.
Họ đă mang đứa bé bay lên hư không mà đi
rồi.
Biết rằng những người
thương nhân kia đáp xuống bờ biển; cho nên ra
lệnh bay theo để t́m, đang bay gặp các vị
thương nhân trên hư không, La Sát Nữ khóc lóc
nước mắt đầm đ́a. Những người
thương nhân không cho khóc nữa. La Sát Nữ nói rằng:
- Tôi thật cảm động khi gặp
người tốt đă cùng tôi ân ái vui vầy lâu rồi
mà bây giờ lại bỏ đi, bỏ vợ bơ vơ
lo lắng. Ai có thể nhẫn tâm như thế! Hăy v́
hạnh phúc mà lưu lại nơi thành.
Những người thương nhân nhứt
quyết không muốn quay lại. Các La Sát Nữ cố
gắng nài nỉ nhưng không thành, bèn dùng yêu mị
để chiêu dụ. Các vị thương nhân yêu
đắm thật khó nhẫn chịu. Tâm muốn bỏ
đi, nhưng thân muốn trở lại. Lúc ấy các La
Sát Nữ liền bái tạ rồi mang những
thương nhân về trở lại. C̣n Tăng Già La trí
huệ sâu thẳm, tâm lực kiên cố cho nên không mơi
mệt, được vượt qua biển lớn,
khỏi bị hiểm nguy. Lúc ấy, La Sát Nữ
Vương trở về thành sắt một ḿnh. Các La Sát
Nữ khác nói:
- Cô chẳng có mưu lược nên mới
bị mất. Phải dùng những chước thuật
đừng để mất cơ hội nầy.
La Sát Nữ Vương mang đứa con bay
đến trước Tăng Già La dùng những lời
cực kỳ ủy mị phỉnh mời trở lại.
Tăng Già La miệng tụng thần chú tay cầm kiếm
bén đoạn hô lên:
- Ngươi là La Sát. Ta là Người.
Người và Quỷ hai loài khác nhau không thể sống
chung được. Nếu mà làm khổ nữa ta sẽ
giết ngươi ngay.
La Sát Nữ biết dùng t́nh cảm để
dụ dỗ không được, cho nên bay lên hư không
đến tận nhà của Tăng Già La lừa gạt cha
của Tăng Già rằng:
- Con là Nữ Vương của một
nước. Tăng Già La đă sống với con theo
nghĩa vợ chồng và đă sanh hạ một
đứa con. Chúng con mang đồ vật quư về
lại cố hương nhưng thuyền qua biển
gặp gió lớn chỉ c̣n lại mẹ con của con và
Tăng Già La may mắn thoát được. Dầu núi sông
cách trở, hạnh ngộ khó được nhưng
một lời một ư nầy khi gặp được
cũng đă toại nguyện rồi.
Tăng Già La chửi mắng La Sát Nữ thậm
tệ không chút vị nể. La Sát nói:
- Đường về lại quê hương th́
xa xôi, mang tấm thân cô độc tới lui không nơi
nương tựa, chẳng biết trần t́nh cùng ai.
Tăng Già nói:
- Nếu thật như vậy th́ hăy vào pḥng.
Ở chưa được bao lâu th́ Tăng Già
La về, Người cha nói rằng:
- Sao con coi trọng tiền tài mà xem nhẹ t́nh
nghĩa vợ chồng thế?
Tăng Già La đáp:
- Đây là con quỷ La Sát Nữ. Nó đă
đến đây trước thưa cùng cha mẹ, thân
tộc không biết việc ǵ mà xua đuổi.
Lúc ấy La Sát đến tố cáo với Vua. Vua
muốn xử tội Tăng Già La
Tăng Già La nói:
- La Sát Nữ vốn đa t́nh mỵ cảm, Vua
làm sao tin được với cái t́nh huống nói lời
tốt đẹp kia, rồi nói với Tăng Già La
rằng:
- Vậy đem người con gái nầy
để vào hậu cung.
Tăng Già La thưa:
- Sợ rằng sẽ có tai họa. Bởi v́ La
Sát chỉ ăn máu thịt.
Vua không nhận lời nói của Tăng Già La, mà
sung La Sát vào hậu cung. Đêm sau phân thân bay về lại
chỗ cũ triệu tập hơn 500 quỷ La Sát Nữ
cùng đến Vương cung dùng chú thuật độc
hại để tàn hại trong cung, để ăn
thịt và uống máu người và vật. Sau đó mang
những tử thi nầy về lại chỗ của ḿnh.
Ngày hôm sau quần thần triều đinh tụ tập
trước Ngọ Môn, nhưng cửa không mở. Ngay
cả bên trong không có một tiếng người. Cho nên
đập cửa xông vào. Mọi người tiến vào
nơi cung đ́nh, chẳng có người nào cả,
chỉ c̣n hài cốt. Các quan xem xét trước sau thấy
mất mác bi thảm khóc lên và biết đây là nguyên nhân
của hoạn sự. Điều mà Tăng Già La đă nói
trước, nhưng Vua không tin cho nên tự rước
họa vào thân.
Những vị lăo Thần trong nước
nầy cùng các quan lại, đồng hiểu rằng
đức sáng và tài cao mà ngưỡng vọng Tăng Già La
là bậc nhiều phước trí cho nên mới bảo
với nhau rằng:
-Phàm là Vua sao lại cẩu thả vậy!
Phải nghĩ đến phước trí sau mới
thể hiện minh triết. Nếu chẳng có
phước trí, th́ không có đức để bảo
vệ ngôi Vua. Nếu không có minh triết không thể thông
hiểu chơn lư cũng như thời cơ. Tăng Già La
là bậc hiểu biết như vậy.
Nhờ giấc mộng mà đă cảm ứng
được Thiên Mă. Sự tŕnh bày chân thật đó
đúng là một bậc mưu trí có thừa, cho nên mang
đến nơi đây một sự thành công mới, nên
chúng dân xin tôn lên ngôi vị làm Vua. Tăng Già La không từ
chối, hoan hỷ chấp nhận lời cung thỉnh
của quần thần và các quan, sau đó lên ngôi Vua.
Với gương trước mà liền tiêu biểu cho
kẻ hiền lương cho nên ra lệnh rằng:
- Ta trước đây là thương nhân
đến nước La Sát. Sự sống chết khó
lường và việc tốt xấu khó phân. Nay
được cứu ra khỏi nạn dữ nên hăy
chỉnh đốn binh giáp để cứu nguy và giúp
kẻ hoạn nạn làm phước cho quốc gia và
lấy những của quư nầy làm lợi cho quốc gia,
cho nên cử binh đi qua đảo kia. Lúc đó trên thành
sắt lá cờ hiện lên chữ Hung, các La Sát Nữ
thấy vậy bàng hoàng lo sợ liền ủy mị ra
nghinh dụ dỗ. Vương đă biết điều dối
trá ấy, nên ra lệnh các binh sĩ miệng tụng
thần chú, thân hiện uy vũ. Các La Sát Nữ trấn
giữ không được nên thối lui và bại
trận. Khi chạy khỏi rồi, đảo nầy
trở nên an ổn. Nước chảy thành màu hồng là
do phá thành sắt, đập bể ngục sắt
để cứu những thương nhân nhặt
được nhiều của quư. Vua chiêu mộ lê dân
đến ở đảo nầy, kiến lập thành
ấp tạo nên quốc gia. Lấy tên của Vua làm tên
của quốc gia, mà trong Bổn Sanh truyện của
đức Thích Ca có ghi.
Nước Tăng Già La có nguồn gốc
xuất phát từ sự dâm loạn, nhưng sau khi Phật
nhập diệt 100 năm, th́ có em (con) của Vua A Dục
Ma Hê Nhơn Đa La (Mahindha) xả ly ái dục, chí cầu
Thánh Quả, chứng được lục thông và
đầy đủ tám giải thoát. Ngài dùng thần túc bay
qua hư không, để đến nước nầy,
hoằng truyền Chánh Pháp lưu giữ lời dạy
của đức Phật. Từ đó về sau phong
tục thuần tín. Có hơn 100 ngôi Già Lam, và hơn hai
vạn Tăng Sĩ tu theo Đại Thừa và
Thượng Tọa bộ. Sau khi Phật Giáo truyền vào
hơn 200 năm, ở đây chia ra làm hai bộ phái rơ ràng.
Một là Ma Ha Tỳ Ha La Trụ Bộ, bài bác Đại Thừa
tu tập Tiểu thừa. Phái khác, theo A Phạt Già
Đệ Lư Trụ Bộ. Họ học cả hai thừa
và hoằng truyền Tam Tạng. Tăng đồ giới
hạnh thanh tịnh, định huệ sáng trong là
những bậc mô phạm tuyệt vời, nơi
Vương cung là một tinh xá thờ răng Phật, cao
hơn 100 thước, lại trang sức bằng trân châu
và những đồ trân quư. Bên trên tịnh xá có xây một
cây trụ cao. Trên đó có để một cái bát báu
gọi là Đàm Ma La Ca. Từ cái bát báu nầy phát ra ánh sáng
rất vi diệu. Ngày đêm xa gần đều thấy
sáng như ngôi sao. Nhà Vua cứ ba ngày lại đến
nơi thờ răng Phật, để dâng nước,
dâng hương cúng dường. Hoặc đốt
nến, hoặc dùng những đồ trân bảo
để tu phước cúng dường. Phía bên tịnh xá
răng Phật có một tịnh xá nhỏ, nơi đây
cũng được trang sức gồm nhiều kim
loại quư, trong đó có một tượng Phật
bằng vàng, mà tiên vương đă tự thân hiến cúng.
Trên nhục kế của tượng được trang
sức bằng đồ quư. Nhưng sau đó, có kẻ
muốn lấy trộm, nhưng nhờ nhiều lớp
cửa bao bọc mà trấn giữ được. Ăn
trộm đào hầm thông dưới tinh xá để
đi vào bằng hang, muốn trộm tượng quư,
nhưng không được. Bọn trộm rút lui và than
rằng:
- Như Lai ngày xưa tu hành khổ hạnh,
khởi ḷng đại bi phát hoằng thệ nguyện. Trên
từ thân mệnh dưới đến quốc thành, v́
ḷng thương bốn loài mà chu cấp tất cả, mà
bây giờ th́ tượng quư như thế. Lời nói
rất là hay nhưng bây giờ không phải là việc làm
ngày xưa nữa, nên cúi đầu trước
tượng quư và nếu lấy được sẽ
đem đi bán. Có người thấy vậy mới nói
rằng:
- Đồ quư như thế là của tiên
vương đă để trên đầu tượng
Phật bằng vàng, mà nay từ đâu có mà bán?
Sau đó, họ đến thưa với Vua và
Vua hỏi xuất xứ từ đâu, kẻ trộm
đáp rằng:
- Phật tự cho con, con đâu có lấy.
Vua biết là không thành thật cho nên ra lệnh
kiểm tra trên đầu tượng Phật. Vua thấy
linh thiêng tín tâm thuần chất cho nên không bắt tội
người nầy mà lại chưộc gấp đôi
đồ quư đó rồi cho an trí lên trên tượng
trở lại, và tượng ấy gục đầu
xuống cho đến ngày hôm nay. Bên cạnh nhà Vua cũng
kiến thiết một nhà ăn lớn, mỗi ngày có
cả một vạn tám ngàn tăng ăn uống. Lúc ăn
th́ chư tăng mang b́nh bát đến để dùng. Ăn
xong rồi th́ trở về chỗ ở của ḿnh.
Từ khi Phật giáo được truyền sang, họ
đều kiến thiết nơi thừa tự và sự
cúng dường như thế. Con cháu nối tiếp
truyền thống ấy cho đến ngày nay. Cả
mười mấy năm, nước nầy chính sự
bị rối loạn và chưa biết rơ ràng hưng
phế ra sao (thời ngài Huyền Trang).
Hải sản của nước nầy thâu
thập được nhiều sản vật trân quư. Hoàng
tộc của Vua đem cúng thần hoặc là bán đi. Cho
nên đô nhân si tử đến đây rất nhiều,
để mua bán để cầu phước báo. Nhiều
loại như thế không giống nhau. Tùy theo từng
loại vật quư mà được đóng thuế lên
đó.
Phía đông nam của nước có núi Lăng Già,
có nhiều hang động u tịch thần bí nên chư
thần hay tới lui. Tại nơi đây ngày xưa
đức Phật nói kinh Lăng Già. Phía nam của
nước nầy có bờ biển dài cả ngàn dặm,
thuộc về châu Na La Khể La. Người ở Châu
nầy nhỏ thó, cao khoảng ba thước ta, không dùng
lúa gạo mà chỉ ăn dừa thôi.
Phía tây của châu Na Lê Khể La, cũng có bờ
biển dài hơn 1000 dặm. Dọc theo đảo nầy
phía đông có tượng Phật bằng đá cao hơn
100 thước, mặt ngồi xây về hướng
đông, để trái cầu Nguyệt Ái trên nhục
kế, mỗi khi ánh trăng chiếu th́ nước từ
trái cầu chảy ra thấm vào đá, chảy ra suối.
Lúc ấy có một thương nhân gặp gió to băo lớn
thuyền tấp vào đảo nầy. Ở đây không có
ǵ để uống, v́ quá khát nước, người
ấy gặp đúng hôm rằm, nên trên đỉnh
đầu của tượng nước chảy ra tràn
trề, người ấy chí thành nên có sự linh ứng
ấy, cho nên có thể ở lại đây thêm nhiều
ngày. Mỗi tháng sau đó, nước không chảy nữa.
Lúc ấy thương nhân nghĩ rằng:
- Chắc chắn nhờ sự gia hộ mà ḿnh
đă gặp được nước chảy ra. Nghe
đến trái cầu Nguyệt Ái dưới ánh trăng
chiếu, nước liền tuôn ra, chứ không phải
trên đỉnh đầu có đồ vật quư sao?
Liền leo lên để xem th́ nhục kế trên
tượng, thấy có một trái cầu tṛn bằng
đá và kể lại như vậy.
Phía tây của đất nước, một
bờ biển dài hơn 1000 dặm, đến Châu
Đại Bảo. Nơi đây chẳng có người
ở mà nơi của chư Thần, đem thanh vắng
thấy ánh sáng phát ra từ núi và nước. Có nhiều
thương nhân tới lui ở đây cảm nhận
được những điều khó nói. Họ
đến từ nước Đạt La Tỳ Trà,
từ phía bắc xâm nhập vào rừng rậm rồi
băng qua những thành ấp. cũng có những kẻ
hung bạo kết bè với nhau để sát hại
người lữ hành. Đi xa hơn 2000 dặm
đến nước Trà Kiến Na Bố La.
2) Nước Trà Kiến Na Bổ La chu vi hơn
5000 dặm, Đô Thành có chu vi hơn 30 dặm. Đất
đai màu mỡ cày cấy được mùa. Khí hậu
nóng, phong tục mạnh bạo. H́nh dáng đen đúa. Tánh
t́nh dũng mănh. Ưa học nghề nghiệp. Có hơn 100
ngôi Già Lam, và hơn vạn Tăng Sĩ, tu theo Đại
Thừa lẫn Tiểu Thừa. Có hơn 100 ngôi đền
thờ. Ngoại Đạo sống tạp nhạp.
Gần Vương cung, có một ngôi chùa lớn.
Tăng đồ hơn 300 vị là những người
có thật đức trong Già Lam này, có một Đại
Tinh Xá cao hơn 100 thước. Bên trong có thờ một cái
mũ báu của thái tử cao gần hai thước trang
hoàng bằng đồ báu. Đến giờ Ngọ,
người ta đem hương hoa cúng dường th́
nơi thờ tự ấy phóng ra ánh sáng.
Bên thành của Đại Già Lam có một tịnh
xá cao hơn 50 thước. Trong đó có chạm
tượng đức Từ Thị Bồ Tát bằng
gỗ Bạch Đàn cao hơn 10 thước; đến
giờ Ngọ phóng ra hào quang. Được biết
rằng tượng nầy do hai trăm ức A La Hán
tạo nên. Thành phía bắc chẳng xa có một rừng cây
Đa La chu vi hơn 30 dặm. Lá của nó dài và rộng có
màu sắc tươi nhuận. Thư từ của các
nước đều dùng lá cây nầy. Trong rừng có
một Bảo Tháp, đây là di tích của bốn vị
Phật trong quá khứ đă đi kinh hành ngồi
thiền. Ở đây được nghe rằng có cả
hàng hai trăm ức Bảo Tháp như thế để
thờ di thân xá lợi của những vị A La Hán.
Thành phía đông chẳng xa có một Bảo Tháp.
Nơi đây hư hoại hơn 3 thước cao. Nghe
người xưa nói lại rằng trong có thờ Xá
Lợi của Đức Phật, đến giờ
Ngọ phát ra ánh sáng diệu kỳ. Tại đây ngày
xưa đức Như Lai đă thuyết pháp, hiện
thần thông lực để hóa độ chúng sanh.
Phía tây nam của thành không xa có một Bảo Tháp
cao hơn 100 thước do Vua A Dục kiến tạo.
Được nghe rằng nơi đây đă có hai trăm
ức vị A La Hán đă hiện thần thông để
hóa độ chúng sanh. Bên cạnh đó có một Già Lam, bây
giờ chỉ c̣n nền móng. Chùa nầy do các A La Hán
kiến tạo nên. Từ đây đi về hướng
Tây Bắc, vào trong rừng sâu, có rất nhiều mănh thú nguy
hiểm, mạnh bạo hung tàn. Đi hơn 2450 dặm
nữa đến nước Ma Ha Sách Trạch.
3) Nước Ma Ha Sách Trạch có chu vi hơn 6000
dặm. Đô Thành ở phía tây giáp với sông lớn có chu
vi hơn 30 dặm. Đất đai màu mỡ cày cấy
trồng trọt tốt tươi. Khí hậu ôn ḥa, phong
tục thuần chất. H́nh thù to lớn, tánh t́nh buông lung.
Có ân th́ đền, có oán th́ trả. Người bị
lăng nhục có thể chết cũng báo thù. Lúc cùng
quẫn dù bị chặt đầu chặt chân cũng báo
thù. Cả hai bên đều kiên cường nhưng sau
đó th́ lắng dịu. Lâm trận mà thối lui, nếu
không bị giết cũng bị giáng chức. Lính mà
thất trận sẽ bị h́nh phạt cho mặc
đồ đàn bà xấu hổ mà chết. Nhà nước
nuôi những kẻ lực sĩ và dũng sĩ hơn
cả trăm người, mỗi mỗi v́ sự
quyết chiến mà cho uống rượu say, mang hàng
vạn mũi tên nhọn đâm tới. Gặp người
phản quốc, h́nh phạt chẳng kém. Khi ra đi
đánh trống đánh chuông làm tiền đạo, lại
phục rượu cho hàng trăm con voi say để
chiến đấu và chúng dày xéo lên người khác không
tha. Vua nước nầy mang người và voi đến
nước bên cạnh. Vua thuộc ḍng dơi Sát Đế
Lợi, tên gọi là Bổ La Khể Xá, mưu kế sâu xa,
nhân từ rộng răi. Thiên hạ đă v́ chữ trung mà hy
sinh hết ḿnh. Lúc ấy Vua Giới Nhựt đông chinh,
tây phạt từ xa đến đây duy chỉ có
người nước nầy là không thần phục, kêu
gọi năm nước Ấn Độ, và chiêu mộ
các nước lân bang, thân chinh thảo phạt, tức
sẽ thắng. Đúng ra binh lính ở đây như
vậy và tục lệ ở đây cũng như thế.
Người ở đây thích học tập nhưng tin theo
cả tà lẫn chánh. Có hơn 100 ngôi Già Lam và hơn 5000
Tăng Sĩ tu theo Đại Thừa lẫn Tiểu
Thừa. Có hơn 100 ngôi đền thờ, có nhiều
ngoại đạo sinh sống ở đó.
Trong và ngoài thành lớn có 5 Bảo Tháp thờ
bốn vị Phật quá khứ đi kinh hành và ngồi thiền
do Vua A Dục dựng nên. Trừ những Bảo tháp
bằng gạch và đá, đa phần đều bị
hư họai không dùng được.
Phía Nam thành không xa, có một Già Lam cũ. Trong
đó có một tượng Bồ Tát Quán Tự Tại
bằng đá rất linh thiêng khi nguyện cầu có
nhiều kết quả.
Biên giới phía đông nam của nước có
dăy núi lớn làm cương lĩnh trọng yếu.
Tại đây có nhiều Chùa Viện trong hang cốc,
cũng có nhiều chùa xây trên núi, có nhiều tầng và
lưng chùa là vách núi. Do ngài A La Hán A Chiết La xây dựng,
vị A La Hán nầy là người miền tây Ấn Độ,
mẹ của ngài sau khi mạng chung, Ngài muốn quán sát xem
sanh về xứ nào th́ thấy sanh vào nước nầy và
thọ thân người nữ. Vị A La Hán ấy lại đi
đến nơi đây, muốn hóa độ phải tùy
cơ nhiếp thọ vào làng khất thực, rồi
đến nhà của mẹ ngài sanh ra. Người mẹ
mang đồ ăn cúng thí, rồi sữa trong ḿnh tự
nhiên chảy ra, bà cảm nhận vị tu sĩ nầy là
kẻ thân thuộc nhưng chưa có rơ. Vị A La Hán
thuyết pháp Nhân Duyên, bà nghe mà chứng thánh quả. Vị
A La Hán ấy nhớ ơn sanh thành duỡng dục và mong
được đền đáp được nghiệp duyên
đó là sự trả hiếu tạo đức một
cách sâu dày nên xây dựng Già Lam nầy.
Trong Già Lam đó có một tịnh xá lớn, cao
hơn 100 thước, trong đó có một tượng
Phật bằng đá, cao hơn 70 thước. Bên trên
tượng đá có Bảo Cái bảy lớp, dệt thêu
đẹp đẽ. Bảo cái ấy cao cả ba
thước. Nghe người xưa nói rằng đây là do
nguyện lực của A La Hán mà có được,
hoặc cũng có nơi nói đây là nhờ vào thần thông
lực, hoặc cũng có nơi nói do công lao của
nghề làm thuốc..... mà những khảo sát thực
tế chưa có rơ ràng.
Bốn bên tịnh xá tường đá
được điêu khắc chạm trỗ, những
h́nh ảnh của đức Như Lai ngày xưa khi tu
hạnh Bồ Tát và những nguyên nhân trước. Sau khi
chứng Thánh Quả vào nơi nhập diệt rồi có
nhiều linh ứng. Những điều nhỏ nhặt
không có di tích cũng đều cho khắc vào. Bên ngoài
cửa của Già Lam mỗi bên đều có một con voi
đá. Nghe người xưa nói lại rằng: Con voi
nầy có lúc nó rống lên tiếng lớn đất
đai chấn động và ngày xưa đây cũng là chùa
mà Bồ Tát Trần Na dừng chân. Từ đây đi
về phía tây hơn 1000 dặm, qua sông Nại Chư đă
đến nước Phạt Lục Yết Chiêm Ba.
4) Nước Phạt Lục Yết Chiêm Ba có chu
vi 2450 dặm. Đô Thành có chu vi hơn 20 dặm.
Đất đai khô cằn, cây cỏ mọc hoang. Biển
nóng nên nghề nghiệp hướng về biển cả.
Khí hậu rất nóng. Gió mùa thổi đột ngột,
phong tục đơn sơ. Tánh người ngụy trá.
Chẳng biết học tập nghề nghiệp. Tà chánh
đều tin. Có được 10 ngôi Già Lam, và hơn 300
Tăng Sĩ tu tập theo Đại Thừa và
Thượng Tọa bộ. Có 10 đền thờ,
ngoại đạo sống chen chúc với nhau. Từ
đây qua phía tây bắc đi hơn 2000 dặm, đến
nước Ma Lạp Bà.
5) Nước Ma Lạp Bà có chu vi hơn 6000
dặm. Đô thành có chu vi hơn 30 dặm, giáp với sông
Mạc Ê ở phía đông nam. Đất đai màu mỡ,
Cày cấy trồng trọt tốt tươi. Cây cỏ hoa
trái sum sê. Đặc biệt họ dùng nhiều lúa mạch
và bánh trái cũng bằng lúa ḿ. Tâm tánh thuần hậu,
thật là thông minh. Ngôn ngữ hoành tráng. Nghề nghiệp
ưu tú thâm sâu. Nơi biên giới của 5 nước
Ấn Độ có 2 nước ham học hỏi. Ở
phía tây nam có nước Ma Lạp Ba, ở phía đông
bắc có nước Ma Yết Đà. Tại hai
nước nầy có những bậc thạc đức
cao minh, mẫn tiệp thông thái, nhưng mà những
nước nầy cũng đều tin tà chánh không phân
biệt. Có hơn 100 ngôi Già Lam, và có hơn hai vạn
Tăng Sĩ, tu theo Tiểu thừa Chánh Lượng Bộ.
Có hơn 100 ngôi đền ngoại đạo, họ
sống tạp cư rất ư lộn xộn, đa
phần tu theo đạo lơa thể. Theo sử của
nước cho biết rằng:
Sáu mươi năm trước đây, Vua Thi La
A Dật Đa (Giới Nhựt) có trí huệ cao minh, tài cao
học rộng, biết trước, yêu mến bốn
loài, kính sùng Tam Bảo. Vốn sanh ra từ một vị
thần, từ khi chưa mọc răng, mặt chưa
hề sân hận và tay không hại một vật. Khi cho voi
ngựa uống nước, sợ tánh của nước
bị tổn. Ḷng nhân từ như vậy đó, cho nên
ở ngôi Vua đến 50 năm. Loài dă thú cũng như
người ở trong nước nầy lê dân chẳng sát
hại. Trong cung Điện có kiến lập tinh xá, trang
trí rất tinh xảo, thật là trang nghiêm. Bên trong có
tạc bảy tượng Thế Tôn. Mỗi nơi
đều thiết lễ cúng trai đàn Thủy Lục,
triệu tập bốn phương tăng đồ tu phước
bố thí, tứ sự cúng dường, hoặc ba y b́nh
bát, hoặc thất bảo trân kỳ. Trên đời
thật hiếm có khó thấy. Phía tây bắc thành lớn
đi hơn 20 dặm, đến làng của Bà La Môn. Bên
cạnh đó có một cái hố cạn. Mùa thu mùa hạ
th́ đọng lại, rồi ngấm sâu từng ngày. Tuy có
nước chảy vô nhưng chưa bao giờ
đầy. Bên cạnh đó lại xây dựng một
Bảo Tháp nhỏ và nghe người xưa kể lại,
đây là nơi ngày xưa Đại Ngă Mạn Bà La Môn
bị đọa vào địa ngục. Ở ấp
nầy, có một vị Bà La Môn khi sanh ra biết rộng
hiểu nhiều thâm cứu hết thảy nội và ngoại
điển đến chỗ thâm huyền. Ngày tháng văn
tự cái ǵ cũng thông suốt. Phong cách mô phạm thanh cao,
ai nghe cũng đều kính nể. Cho đến Vua
cũng trân quư cung kính và quốc dân đều tôn trọng.
Học tṛ có hơn 1000 người đều là những
bậc nổi danh. Một hôm nói rằng:
- Ta vốn v́ đời mà xuất thế,
thuật lại các việc Thánh để hướng
dẫn cho người Phàm. Trước là những kẻ
hiền nhân, sau là những nhà triết học, chẳng có
ai có thể so sánh với ta. Sánh với Đại Tự
Tại Thiên, Bà Sổ Thiên, Na La Diên Thiên, cùng với
Phật. Người nào cũng có những kỹ thuật
để dạy đạo, nhưng mà chưa thể
cạnh tranh, được tôn kính triệt để. Ta
nay đức độ đă đầy đủ, đă có
tên trên danh đàn một thời với họ, chẳng
khác ǵ những sự vinh hiển. Bèn dùng gỗ chiên đàn
màu đỏ, khắc tượng Đại Tự
Tại Thiên, Bà Sổ Thiên, Na La Diên Thiên, Phật Thế Tôn
v.v...đoạn làm ṭa ngồi có bốn chân. Khi nào có ai
đến, ông ta tự phụ leo lên ngồi, với tâm
đầy ngă mạn như thế. Lúc ấy ở phía tây
Ấn Độ có một vị Tỳ Kheo, tên là Bạt
Đà La Sổ Chi (Hiền Ái). Hiểu rất rơ ràng về
Nhân Minh và nghiên cứu thâm sâu các Luận khác. Đạo
phong thuần hậu, hương giới lan xa, thiểu
dục tri túc, chẳng mong muốn một việc ǵ. Nghe
như thế than rằng :
- Tiếc thay! trên đời chẳng ai có! Ông ta
dại quá, làm việc thất đức.
Từ xa, chống tích trượng mang đăy
đến nước nầy với tâm tha thiết tâu lên
Vua. Vua thấy cách ăn mặc xềnh xoàng nên không có
cảm t́nh, nhưng nghe ư chí cao cả mạnh hơn h́nh
thức lễ nghi, v́ thế bèn sửa soạn nơi
đàm luận và mời Bà La Môn đến.
Bà La Môn nghe cười bảo:
- Ông ấy là ai? Ư muốn ǵ mà đến đây?
Thuộc trường phái nào mà đến luận bàn?
Liền kêu cả trăm ngàn người
đến đứng trước sau chờ nghe.
Ngài Hiền Ái vận y đơn sơ, trải
cỏ làm ṭa ngồi, trong khi Bà La Môn ngồi nguyên như
trước phỉ báng Chánh Pháp, nêu cao ư tà. Thầy Tỳ
Kheo biện luận thanh cao, lưu loát trước sau, cho
nên Bà La Môn cảm tạ khuất phục. Vua mới
bảo rằng:
- Đă lâu ông là kẻ hư danh, lạm dụng
ḷng của mọi người, theo luật lệ xưa
ghi lại, kẻ nào luận thua th́ phải chết, bị
bánh xe sắt nghiền thây ngay chỗ ngồi.
Bà La Môn cùng quẫn bức bách vâng mệnh cầu
cứu. Ngài Hiền Ái xót thương xin Vua rằng:
- Tâu Đại Vương, xin ngài lấy ḷng nhân
từ cho kẻ xa đến, để đời
đời được nghe tiếng tốt truyền
tụng. Hăy ban bố lượng từ bi giáo hóa,
đừng làm cái việc kia nữa. Nếu Vua không thi hành
th́ Bần tăng sẽ bỏ đi.
Vua ra lệnh cỡi lừa đi khắp nơi
trong thành để loan báo. Bà La Môn xấu hổ nhục nhă
sinh phẩn hận thổ huyết. Vị Tỳ Kheo kia
nghe xong liền đến an ủi mà nói rằng:
- Nhà ngươi học hết nội ngoại
điển, nghe hiểu mọi điều mà sự vinh
nhục chỉ là sự tới lui thường t́nh. Phàm cái
danh ấy đâu có phải là thật. Bà La Môn lại c̣n
phẩn nộ vô cùng, mắng vị Tỳ Kheo thê thảm
và phỉ báng Đại Thừa, khinh chê các bậc tiên
Thánh.
Lời nói chưa xong, đất liền nứt
ra, thân sống nầy rơi xuống sâu. Di tích vẫn c̣n
đây. Từ đây qua phía tây nam ra đến biển
gặp phía tây bắc đi hơn 2450 dặm lại
đến nước A Thác Lư.
6) Nước A Thác Lư có chu vi hơn 6000 dặm.
Đô Thành hơn 20 dặm, Cư dân đông đúc, của
quư tích tụ, cày cấy tuy được mùa, nhưng
hưng bại lại khó biết. Đất đai
nhiều cát, hoa quả rất ít, sản xuất hồ tiêu
và lá tiêu non. Sản xuất gỗ trầm hương và
những cây lê. Khí hậu nhiệt đới, có nhiều
gió mùa. Người tánh t́nh thô thiển, trọng tài chê
đức. Ngôn ngữ, văn tự, nghi lễ các việc
giống như nước Ma Lạp Ba. Đa phần không
tin phước đức. Những tín đồ
đều tin theo Thiên Thần, có hơn 10 ngôi đền
thờ. Ngoại đạo sống lẫn lộn. Từ
nước Ma Lạp Ba đi về phía tây bắc hơn 3
ngày, đến nước Khiết Thác.
7) Nước Khiết Thác có chu vi hơn 300
dặm. Đô Thành có chu vi hơn 200 dặm. Dân cư
sống đông đúc, nhà cửa giàu có, không người
cai trị nên trực thuộc nước Ma Lạp Ba. V́
phong tục tập quán, thổ sản cũng giống
với nước nầy. Có hơn 10 ngôi Già Lam, và hơn
10 ngàn Tăng Sĩ, tu theo cả Đại Thừa lẫn
Tiểu Thừa. Có hơn 10 ngôi đền thờ, đa
phần là ngoại đạo. Từ đây đi về
hướng bắc hơn 1000 dặm, đến
nước Phạt Lạp Tỳ.
8) Nước Phạt Lạp Tỳ có chu vi
hơn 6000 dặm. Đô Thành có chu vi hơn 30 dặm.
Đất đai thổ sản khí hậu điều ḥa,
phong tục tánh t́nh giống như người nước
Ma Lạp Ba. Cư dân ở trong những nhà cửa sang
trọng giàu có. Có người giàu có trở thành tỷ phú,
số đó hơn 100 người. Xa gần đồ quư
đều đem đến nước nầy. Có hơn
100 ngôi Già Lam, và hơn 6000 Tăng Sĩ tu theo Tiểu
Thừa Chánh Lượng Bộ. Có 100 ngôi đền
thờ. Ngoại đạo sống tạp cư. Khi
đức Như Lai c̣n tại thế đă nhiều
lần đi đến nước nầy, cho nên Vua A
Dục đă cho kiến thiết những Bảo Tháp và
trồng cây nơi Phật dừng chân. Đây cũng c̣n là
di tích của ba vị Phật trong quá khứ đă kinh hành
ngồi thiền và thuyết pháp. Vua bây giờ thuộc ḍng
Sát Đế Lợi là cháu của Vua nước Ma Lạt
Ba, là con của Vua Thi La A Dật Đa thuộc nước
Yết Nhược Cúc Phiệt bây giờ, hiệu là
Đỗ Ngư Ba Phạt Thác. Tánh t́nh thô tháo, trí mưu
đều thiển cận. Tuy nhiên thuần tín nơi Tam
Bảo. Mỗi năm đều thiết lễ Đại
Hội bảy ngày, dùng món ngon vật lạ để cúng
dường chư Tăng cùng với ba y và thuốc men các
thứ, gồm đủ bảy loại quư báu, rồi thêm
bố thí làm phước để đức lại cho
đời. Tôn trọng đạo lư học thuật, xa
gần cao tăng đều được kính lễ.
Đi ra khỏi thành chẳng xa, có một đại Già
Lam, do vị A La Hán A Chiết La kiến lập. Nơi
đây cũng là nơi dừng chân của ngài Bồ Tát
Đức Huệ, Kiên Huệ. Tại đây ngài đă
chế Luận và truyền đi một cách rộng răi.
Từ phía tây bắc, đi hơn 700 dặm đến núi
A Nan Đà Bổ La nằm phía tây Ấn Độ.
9) Nước A Nan Đà Bổ La có chu vi hơn
2000 dặm. Đô thành chu vi hơn 20 dặm. Dân cư
đông đúc, nhà cửa giàu có, v́ không có người
đứng đầu nên lệ thuộc nước Ma
Lạp Ba. Đất đai, khí hậu, văn tự, pháp
luật đều giống như nhau. Có hơn 10 ngôi Già
Lam, gần 1000 tu sĩ tu tập theo Tiểu thừa Chánh
Lượng Bộ. Có 10 ngôi đền thờ. Ngoại
đạo sống tạp nhạp. Từ nước
Phạt Lạp Tỳ đi qua phía tây hơn 500 dặm,
đến nước Tô Sắc Đà nằm phía tây
của biên giới Ấn Độ.
10) Nước Tô Sắc Đà chu vi hơn 4000
dặm. Đô Thành chu vi hơn 30 dặm. Phía tây giáp với
sông Mạc Ê. Cư dân sống đông đúc, nhà cửa tài
sản phong phú, lệ thuộc nước Phạt Lạp
Tỳ. Đất đai khô cằn, hoa quả rất ít.
Mùa đông có gió thổi mạnh, phong tục thô sơ. Tánh
t́nh nhẹ dạ. Chẳng ham học tập nghề
nghiệp. Dân chúng tà chánh đều tin. Có hơn 50 ngôi Già
Lam và hơn 3000 Tăng Sĩ tu theo Đại Thừa và
Thượng Tọa Bộ. Có hơn 100 ngôi đền
thờ. Ngoại đạo sống chen chúc với nhau.
Đất nước nầy có bờ biển nằm
về phía tây. Ai sống gần biển rất thuận
lợi, để mua bán trao đổi. Đi khỏi thành
không xa mấy, có núi Hữu Thiện Đà. Trên đỉnh
có một ngôi Già Lam, pḥng ốc hành lang đă hư hoại,
cây cối suối chảy giao nhau. Đây cũng là nơi
thánh hiền lui tới dừng chân, cũng như các tiên
thánh qua lại tập hợp. Từ nước Phạt
Lạp Tỳ đi về phía bắc hơn 1800 dặm,
đến nước Cù Chiết La nằm phía tây biên
giới Ấn Độ.
11) Nước Cù Chiết La có chu vi hơn 5000
dặm. Đô Thành hiệu là Tỳ La Ma La có chu vi hơn 30
dặm. Đất đai phong tục giống như
nước Tô Sắc Đà. Cư dân sống phồn
thịnh, nhà cửa giàu sang, v́ có nhiều ngoại đạo
nên ít tin Phật Pháp. Chỉ có một ngôi Già Lam, và hơn
100 Tăng Sĩ tu theo Tiểu Thừa Thuyết Nhứt
Thiết Hữu Bộ. Có 10 ngôi đền thờ.
Ngoại đạo sống hỗn tạp. Vua thuộc ḍng
Sát Đế Lợi. Khi tuổi c̣n nhỏ trí dũng
lại cao mưu, thâm tín Phật Pháp, nhưng đến khi
cao tuổi luôn thay đổi khác thường. Từ
đây qua phía đông nam đi hơn 2800 dặm đến
nước Ô Phiệt Diễn Na thuộc miền nam Ấn
Độ.
12) Nước Ô Phiệt Diễn Na có chu vi hơn
6000 dặm. Đô thành có chu vi hơn 30 dặm. Đất
đai phong tục giống như nước Tô Sắc
Đà. Cư dân phồn thịnh, nhà cửa giàu có. Có hơn
10 ngôi Già Lam, đa phần đă hư hoại, chỉ c̣n
lại năm ba ngôi và có hơn 300 Tăng Sĩ tu theo
cả Đại Thừa và Tiểu Thừa. Có hơn 10
ngôi đền thờ. Ngoại đạo hầu hết
sống tạp nhạp. Vua thuộc giai cấp Bà La Môn,
thông suốt kinh điển ngoại đạo, không tin
Phật Pháp. Đi khỏi thành chẳng bao xa, có một
Bảo Tháp là nơi mà Vua A Dục làm nên một cái địa
ngục. Từ đây đi về hướng đông
bắc hơn 1000 dặm, đến nước Trịnh
Chỉ Đà.
13) Nước Trịnh Chỉ Đà có chu vi
hơn 4000 dặm. Đô Thành có chu vi 15 hay 16 dặm.
Đất thấp nên cày cấy lúa thóc được mùa.
Cũng có trồng được lúa mạch và hoa quả.
Khí hậu điều ḥa, tánh t́nh người ở đây
thuần lương. Đa phần tin theo ngoại
đạo, ít kính tín Phật Pháp. Có 10 ngôi Già Lam, rất ít
chư tăng. Có khoảng 10 ngôi đền thờ, mà
ngoại đạo lên đến số ngàn.
Vua thuộc ḍng dơi Bà La Môn, bài bác Tam Bảo,
nhưng tôn trọng đức cho nên các bậc học
rộng hiểu nhiều đều vân tập nơi
đây. Từ đây đi về hướng bắc
hơn 900 dặm, đến nước Ma Ê Thấp
Phạt La Bổ Đa, nằm ở miền trung Ấn
Độ.
14) Nước Ma Ê Thấp Phạt La Bổ Đa
có chu vi hơn 3000 dặm. Đô Thành chu vi hơn 30 dặm.
Đất đai, phong tục giống như núi Ô Phạt
Diễn Na, tôn kính ngoại đạo chẳng tin Phật
Pháp. Đền Thờ có 10 ngôi, đa phần tu theo
đạo lơa thể. Nhà Vua thuộc ḍng dơi Bà La Môn, cũng
chẳng tin sâu Phật Pháp. Từ đây đi trở
lại th́ đến nước Cù Chiết La. Lại
hướng về phương bắc đi qua những
nơi hoang dă nguy hiểm hơn 1900 dặm, qua sông Tín
Độ (Sông Sin Đu), đến nước Tín
Độ ở phía tây Ấn Độ.
15) Nước Tín Độ chu vi hơn 7000
dặm. Đô Thành hiệu là Tỳ Thiêm Bà Bổ La
(Vichavapura) có chu vi hơn 30 dặm. Cày cấy lúa thóc
được mùa. Đây là nơi sản xuất vàng
bạc, ngọc ngà, đá quư. Lại có thêm trâu, dê, lạc
đà, lừa và những loại gia súc khác. Tuy chỉ có
một ngọn núi sản xuất muối đỏ, có màu
sắc giống như đá đỏ, trắng, đen
v.v...như người ở nơi khác đến đây
lấy để làm thuốc. Con người tánh t́nh
cương nghị, chất trực, hay đấu tranh,
ưa phỉ báng, học hành, không đến đâu,
nhưng lại thâm tín Phật Pháp. Có 100 ngôi Già Lam, hơn
vạn tăng đồ, tất cả đều học
theo Tiểu Thừa phái Chánh Lượng Bộ. Lại thêm
tánh t́nh biếng nhác, tệ hại, nhưng cũng có
người siêng năng. Họ thường thích ở
riêng một ḿnh nơi núi rừng yên tĩnh. Có người
trước kia là ăn trộm nhưng lại chứng
thánh quả. Có hơn 30 ngôi đền. Ngoại đạo
sống tạp cư. Vua thuộc ḍng Thủ Đà La (Sùdra
- Giai cấp nông dân), tánh t́nh thuần hậu, tôn kính
Phật Pháp. Ngày xưa đức Như Lai có lần đi
đến xứ nầy, nên với tâm nguyện xây
dựng Thánh tích, Vua A Dục kiến tạo hơn 10
Bảo Tháp ở đây. Ngài A La Hán Ô Ba Cúc Đa cũng
đă từng đi đến đây, thuyết pháp khai
đạo. Ngày nay vẫn c̣n di tích lối kiến tạo
Già Lam, hoặc kiến tạo Bảo Tháp c̣n nhiều
việc khác nữa nhưng đại lược là như
vậy.
Bên sông Tín Độ, đi hơn 1000 dặm, có
hơn 100 ngàn nhà ở nơi bờ sông. Người dân tánh
t́nh cương nghị, nhưng việc chánh là sát sanh
nhưng không giết ḅ trâu. Nam nữ sống lẫn
lộn nhau không biết xấu hổ. Tóc cắt ngắn, y
phục xùng x́nh, mặc giống như tu sĩ nhưng làm
việc thế tục. Chấp Tiểu thừa, phỉ
báng Đại Thừa. Tương truyền rằng:
- Xưa kia tại đất nầy, cư dân
rất đau khổ trong sự bạo tàn nầy. Có
một vị A La Hán thương cảm sự điên
đảo ấy, muốn hóa độ họ nên từ
hư không mà đến. Hiện đại thần thông
tạo nên những việc hy hữu, làm cho họ tin theo,
rồi từ từ nghe lời dạy. Những kẻ
ấy vui vẻ cung kính, nguyện y theo lời dạy mà sám
hối. Vị A La Hán ấy biết họ tâm đă quy
thuận, liền cho họ thọ tam quy, rồi việc
hung bạo sát hại sanh mạng tất nhiên đoạn
diệt. Cạo tóc mặc áo hoại sắc để
thừa hành Phật sự. Thời gian trôi qua tuy càng thâm
nhập, nhưng thói đời càng xa càng dễ thay
đổi. Dù có giữ việc thiện nhưng không c̣n
hoàn hảo. Tuy mặc pháp y nhưng thường hay
phạm giới. Con cái đời nầy qua đời kia
theo thói quen mà thành tục lệ. Từ phía đông, đi
hơn 900 dặm qua sông Tín Độ đến bờ sông
phía đông gặp nước Mậu La Tam Bộ Lô,
thuộc biên giới phía tây Ấn Độ.
16) Nước Mậu La Tam Bộ Lô có chu vi
hơn 4000 dặm. Đô Thành chu vi hơn 30 dặm. Cư
dân phồn thịnh, nhà cửa giàu có. Họ lệ
thuộc nước Trách Già. Đất đai màu mỡ.
Khí hậu ôn ḥa, phong tục chất trực ham học và
ưa cái Đức, tin nhiều về Thiên Thần và ít tin
tưởng Phật Pháp. Có hơn 10 ngôi Già Lam, đa
phần đă bị hoang phế và có rất ít Tăng
Sĩ, có học nhưng không chịu thực hành. Có 8 ngôi
đền thờ. Ngoại đạo sống tạp
cư. Có một đền thờ rất trang nghiêm tráng
lệ. Một ngày nọ tượng thiên thần phát ra ánh
sáng màu vàng rực rỡ, linh dị u hiển thần thông
kỳ diệu. Đàn bà tấu nhạc suốt đêm
đến sáng. Rồi hương hoa cúng dường
chẳng dứt. Chính các Vua của nước Ấn
Độ giàu có nên đă bỏ của thí ấy dùng
những của trân bảo để kiến lập nhà
Từ Thiện để chu cấp thuốc men, đồ
ăn uống cho những người bệnh nghèo.
Những người của nước khác đến đây
nguyện cầu số thường trên ngàn người.
Chung quanh bốn bên đền thờ đều có ao
hồ hoa trái, tạo nên chỗ thưởng ngoạn
tuyệt mỹ. Từ phía đông nầy đi qua phía
bắc hơn 700 dặm đến nước Bát Phạt
Đa thuộc miền bắc Ấn Độ.
17) Nước Bát Phạt Đa có chu vi hơn 5000
dặm. Đô Thành có chu vi hơn 20 dặm. Cư dân
phồn thịnh, thuộc nước Trách Già, có nhiều
lúa ḿ và lúa mạch. Khí hậu điều ḥa, phong tục
chất trực. Người dân tánh t́nh nóng nảy, hay nói
những lời thô bỉ. Nghề nghiệp chuyên tinh, tin
cả tà lẫn chánh. Có mười ngôi Già Lam, và hơn 1000
Tăng Sĩ tu theo cả Đại Thừa lẫn
Tiểu Thừa. Có bốn Bảo Tháp do Vua A Dục
dựng nên. Có 20 ngôi đền và ngoại đạo
sống lộn xộn. Phía bên thành có một ngôi Già Lam
rất lớn có hơn 100 Tăng Sĩ, tu học theo
Đại Thừa Giáo. Ở đây ngày xưa, ngài Sân Na
Phất Đản La (Tối Thắng Tử) soạn Du Già
Sư Địa thích luận ở đây. Ngài Hiền Ái
luận sư và Ngài Đức Quang luận sư cũng xuất
gia nơi đây. Chùa nầy đă bị hỏa thiêu cho nên
bây giờ rất hoang tàn. Từ nước Tín Độ
phía tây nam đi hơn 1560 dặm, đến nước A
Điểm Bà Sí La nằm phía tây biên giới Ấn
Độ.
18) Nước A Điểm Bà Sí La có chu vi hơn
5000 dặm. Đô Thành hiệu là Yết Tế Thấp
Phạt La có chu vi hơn 30 dặm nằm ở biên giới
phía tây gần sông Tín Độ và bên cạnh bờ
biển. Nhà cửa giàu có và có nhiều của quư. Gần
đây không có người kế tục cho nên trực
thuộc nước Tín Độ, đất đai ẩm
thấp lồi lơm, cỏ lúa mọc đầy. Lúa thóc tuy
có, nhưng đa phần lúa mạch là đặc sản.
Khí hậu lạnh. Gió rét cắt da. Nơi đây có
nhiều ḅ, dê, lạc đà, lừa. Tánh t́nh con
người nóng nảy, chẳng thích học tập. Ngôn
ngữ sổ sàng khác với miền trung Ấn Độ.
Tập tục thuần hậu kính sùng Tam Bảo. Có 80 ngôi
Già Lam, và hơn 5000 Tăng Sĩ đa phần học theo
Tiểu Thừa Chánh Lượng Bộ. Có mười ngôi
đền thờ. Họ theo đạo lơa thể. Trong
thành có một đền thờ Đại Tự Tại
Thiên. Đền thờ và tượng được
điêu khắc rất đẹp và linh thiêng. Những
người ngoại đạo dời nhà cửa vào ở
bên trong. Ngày xưa đức Như Lai cũng đến
đó để độ người, chỉ dẫn cho
những kẻ phàm tục được lợi lạc.
Cho nên Vua A Dục xây dựng những Thánh Tích đến 6
Bảo Tháp tất cả. Từ đây đi về phía tây
hơn 2000 dặm đến nước Lang Yết La,
ở phía tây biên giới Ấn Độ.
19) Nước Lang Yết La từ phía đông sang
phía tây và từ phía bắc xuống phía nam hơn 1000
dặm. Đô Thành hơn 30 dặm. Đô Thành tên là Tốt
Thố Lê Thấp Phạt La. Đất đai màu mỡ.
Lúa thóc được mùa. Khí hậu phong tục giống
như nước A Điểm Bà Sí La. Cư dân giàu có,
chứa nhiều của quư. Nước nằm gần
biển lớn. Đi về phía tây gặp nước toàn
phụ nữ. V́ không có người lănh đạo, cho nên
có nhiều kẻ tự phát không vâng lệnh ai cả. Bây
giờ thuộc nước Ba Sắc Tư. Chữ
viết giống như Ấn Độ nhưng tiếng
nói th́ khác. Tin theo cả tà lẫn chánh. Có hơn 100 ngôi Già
Lam và hơn 6000 Tăng Sĩ tu theo cả Tiểu Thừa
lẫn Đại Thừa. Có hơn 100 đền thờ.
Ngoại đạo đa phần tu theo phái lơa thể. Trong
thành có đền thờ Tự Tại Thiên rất trang
nghiêm tráng lệ. Đây là nơi tập họp của
những người tu lơa thể. Từ phía tây bắc
đến nước Ba Sắc Tư (không phải bên trong
nước Ấn Độ - Nước Ba Tư).
20) Nước Ba Sắc Tư có chu vi hơn
vạn dặm. Đô Thành hiệu là Tô Sách Tát Quân Na có chu vi
hơn 40 dặm. Đất đai sông núi có nhiều. Khí
hậu lại thay đổi thuộc miền nhiệt
đới nên phải dẫn nước vào ruộng. Người
người giàu có. Nơi đây sản xuất vàng, kim
loại quư, đá quư, những loại thủy tinh trân
kỳ. Ở đây có dệt vải và làm những loại
lông thú. Giỏi cỡi ngựa và lạc đà, trao
đổi bằng tiền kẽm, bằng bạc. Tánh
người thô bạo. Tục lệ chẳng có lễ
nghi. Văn tự ngôn ngữ khác với các nước.
Chẳng có nghề nghiệp nhưng có nhiều sản
phẩm công nghệ. Sản phẩm đều do
người ở nước bên cạnh mang qua là chính
yếu. Hôn nhân lộn xộn. Thây chết vứt bừa
băi. H́nh dáng người to lớn, đầu hói trán
rộng. Mặc y phục bằng da và bằng bông. thuế
nhà bốn đồng tiền kẽm. Có rất nhiều
đền thờ, thuộc học tṛ của phái Ngoại
đạo Đề Na Phạt. Chỉ có hai ba ngôi Già Lam và
hơn 100 Tăng Sĩ. Họ học tập theo Tiểu
Thừa, thuộc Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ.
B́nh bát của đức Phật Thích Ca nằm trong
vương cung. Biên giới phía đông có thành Hạt Chu.
Bên trong thành không rộng, nhưng mà thành ngoài chu vi hơn 60
dặm. Người ở đây sinh sống giàu có. Phía tây
bắc giáp với nước Phất Lẫm, v́ ở
gần cho nên phong tục cũng giống như
nước Ba Tư. H́nh mạo và ngôn ngữ cũng khác, có
nhiều tài nguyên thiên nhiên giàu có phong phú. Phía tây nam của
nước Phất Lẫm là biển và đảo. Phía tây
là nước Nữ Quốc, tất cả dân chúng
đều là đàn bà chẳng có đàn ông. Những
đồ trân bảo được bán vào nước
Phất Lẫm cho nên kho Vua của Phất Lẫm
được đem phân phát cho mọi người. Phong
tục của nước nầy, nếu sinh ra con trai,
không được chọn. Từ nước A
Điểm Bà Sí La đi qua phía bắc hơn 700 dặm,
đến nước Kiên Đa Thế La nằm ở biên
giới phía tây của Ấn Độ.
21) Nước Kiên Đa Thế La chu vi hơn 3000
dặm. Đô thành chu vi hơn 30 dặm. Nhân dân giàu có
nhưng không người lănh đạo, nên phải lệ
thuộc nước Tín Độ. Đất đai có
nhiều cát. Gió lạnh thổi mạnh. Đa phần
trồng được lúa mạch nhưng ít hoa quả,
phong tục bạo ác. Ngôn ngữ khác với miền trung
Ấn Độ, họ chẳng muốn học nghề
nghiệp, nhưng biết tin tưởng. Có hơn 50 ngôi
Già Lam và hơn 3000 Tăng Sĩ tu theo Tiểu Thừa Chánh
Lượng Bộ. Có hơn 20 đền thờ đa
phần theo đạo lơa thể. Về phía bắc cách
thành 15 hay 16 dặm là một khu rừng lớn, trong đó
có một Bảo Tháp cao hơn 100 thước do Vua A
Dục dựng nên. Trong đó có thờ Xá Lợi và
thường phóng ra ánh sáng rực rỡ. Đây là nơi mà
ngày xưa đức Như Lai đă làm một vị tiên
nhơn bị Vua nước ấy sát hại. Từ phía
đông đi không xa có một ngôi Già Lam đă cũ, do ngài
Đại A La Hán Đại Ca Na Đa Diên Na kiến
lập ngày xưa. Bây giờ bên cạnh đó c̣n di tích
của bốn vị Phật trong quá khứ ngồi
thiền và đi kinh hành. Cho nên Bảo Tháp được
xây dựng để làm chỗ tiêu biểu. Từ đây
đi về hướng đông bắc hơn 300 dặm,
đến nước A Quân Trà nằm phía tây biên giới
Ấn Độ.
22) Nước A Quân Trà chu vi hơn 2450 dặm.
Đô Thành chu vi hơn 20 dặm. Không người lănh
đạo cho nên lệ thuộc nước Tín Độ.
Đất đai trồng được lúa ḿ và lúa
mạch rất tốt. Hoa quả ít, cây cối thưa. Khí
hậu gió lạnh. Tánh t́nh con người hung bạo, ngôn
ngữ phong phú, chẳng thích học nghề. Tuy nhiên
đối với Tam Bảo giữ tâm thuần tín. Có
hơn 20 ngôi Già Lam, và hơn 2000 Tăng Sĩ. Đa
phần tu theo Tiểu Thừa Chánh Lượng Bộ. Có 5
ngôi đền thờ, tu theo phái ngoại đạo lơa
thể. Phía đông bắc của thành chẳng xa có một
rừng trúc lớn, trong đó có dấu tích của một
ngôi chùa. Nơi ấy ngày xưa Như Lai nghe các vị
Tỳ Kheo về việc mặc y và mang tất. Bên cạnh
đó có Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên, bây giờ
đă nghiêng đổ, cao hơn 100 thước. Gần
đó cũng có một Tịnh Xá, có tượng Phật đứng
bằng đá xanh. Cứ mỗi ngày đến giờ
Ngọ th́ phóng ra ánh sáng.
Đi về phía nam hơn 800 bước vào trong
rừng có một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên.
Nơi đây đức Như Lai đă dừng lại
nhiều ngày. Đêm về lạnh lẽo cho nên Ngài đă
đắp ba y cùng một lúc cho nên sáng ngày hôm sau, khai mở
cho các Tỳ Kheo được mặc nhiều lớp y.
Ở giữa rừng, có nơi Phật đi kinh hành, có
những Bảo Tháp chiếu lên ánh sáng. Cũng là nơi
tọa thiền của bốn vị Phật trong quá
khứ. Trong Bảo Tháp nầy có tóc và móng tay của Như
Lai, mỗi ngày đến giờ Ngọ, ánh sáng phóng ra
rất đẹp. Đi về phía đông bắc hơn
900 dặm đến nước Phạt Sắc Noa
thuộc miền tây Ấn Độ.
23) Nước Phạt Sắc Noa chu vi hơn 4000
dặm. Đô Thành chu vi hơn 20 dặm. Người
người giàu có, nhưng lệ thuộc nước Ca
Tất Thí. Đất đai có nhiều núi rừng, nên lúa
gạo tương đối ít. Khí hậu tương
đối lạnh, phong tục thô bạo. Tánh t́nh nóng
nảy. Ư chí thậm tệ. Ngôn ngữ ít giống với
miền trung Ấn Độ, tin theo cả tà lẫn chánh.
Không thích học hỏi nghề nghiệp. Có hơn 10 ngôi
Già Lam, đa phần đều hoang tàn. Có hơn 300 Tăng
Sĩ tu theo giáo lư Đại Thừa. Có hơn 5 ngôi
đền thờ, hầu hết ngoại đạo
ở đây tu theo đạo lơa thể.
Không xa thành về phía nam có một ngôi Già Lam
cũ, ngày xưa Như Lai thường thuyết pháp ở
đây, đă chỉ dạy sự lợi lạc của
niềm vui và khai mở cho mọi người hiểu
được sự sống của mọi loài. Bên
cạnh đó là nơi di tích của bốn vị Phật
trong quá khứ đi kinh hành và ngồi thiền.
Tương truyền rằng xứ nầy, phía
tây tiếp giáp với nước Khể Lượng Na,
người ở đó cách trở núi sông không có
người cầm đầu, có nhiều dê ngựa và
nhiều ngựa quư. H́nh dáng con người cao lớn. Các
nước khác mang nhiều loại bảo vật quư giá
đến nước nầy trao đổi.
Từ đây đi về phía tây bắc vào trong
núi sâu rồi băng qua sông rộng, qua một thành ấp
nhỏ rồi đi hơn 2000 dặm nữa mới ra
khỏi biên giới nước Ấn Độ,
đến nước Tào Cự Thác.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển thứ mười một
--------------------------------------------------------------------------------
Ghi chú:
Đoạn sau đây gồm có 516 chữ Hán
giải thích rơ ràng về nước Tăng Già La (Tích Lan):
Nước Tăng Già La (Tích Lan) ngày xưa
gọi là nước Sư Tử, cũng gọi là
nước Vô Ưu nằm phía nam xứ Ấn Độ,
đất đai có nhiều của quư, cũng có tên là
Bảo Chữ (Băi Cát Quư). Ngày xưa, đức Phật
Thích Ca Mâu Ni hóa thân với tên là Tăng Già La. Ngài là bậc
đạo đức, quốc dân suy tôn làm Vua, cho nên
nước nầy lấy quốc hiệu là Tăng Già La,
dùng đại thần thông lực phá thành bằng
thiếc, diệt trừ La Sát Nữ, v́ thương xót
cứu giúp sự nguy nàn. Sau đó xây dựng kinh đô,
kiến thiết làng ấp đă giáo hóa mọi
người. Ngài hoằng dương Chánh Pháp và sau khi viên
tịch để lại răng xá lợi. Đất
tại đây cứng như kim cương trải qua bao
nhiêu kiếp vẫn không bị hoại, ánh sáng chiếu
rọi giống như ngôi sao trên hư không, như mặt
trăng sáng tỏa, như mặt trời tỏ rơ ban ngày.
Nếu có cúng kiến th́ kết quả như thần. Trong
nước có nhiều chỗ hoang sơ, nguy hiểm tai
nạn khác nhau, nếu tinh cần cầu nguyện sẽ
được linh ứng rơ ràng. Bây giờ là núi
Dương Lan, ngày xưa thuộc nước Tăng Già
La. Tại vương cung có răng Phật thờ trong
tịnh xá, trang trí nhiều đồ quư giá phát ra ánh sáng.
Đời đời tương thừa kính lễ không
dứt. Quốc Vương bấy giờ tên là A Lạt
Khổ Nại Nhi trấn thủ tại đây. Hay tôn sùng
ngoại đạo chẳng tôn kính Phật Pháp, tàn bạo
hung hăng, chẳng giúp đỡ quốc dân, ngạo
mạn với răng Phật.
Ghi chú:
Đại Minh Vinh Lạc năm thứ ba, Hoàng
Đế sai Thái Giám Trịnh Ḥa mang hương hoa
đến đây để cúng dường. Trịnh Ḥa
muốn gặp Quốc Vương A Liệt Khổ
Nại Nhi để khuyên Quốc Vương nên sùng kính
Phật Pháp xa ĺa ngoại đạo. Vua giận dữ
liền muốn gia h́nh sát hại. Trịnh Ḥa biết
được mưu nầy nên thoát khỏi. Sau đó,
Trịnh Ḥa sang các nước lân bang để báo tin và bái
yết Vua nước Dương Lan Sơn, Vua cũng kiêu
mạn chẳng cung kính lại có ư đồ hại sứ
giả. Dùng năm vạn binh và dùng gỗ để
lấp đường, chia quân lính ra để
cướp thuyền. Mưu chờ thời cơ.
Trịnh Ḥa biết được nên lui thuyền lại.
Đường trở lại rất hiểm nguy. Cho người
ra khỏi thuyền, ông ta cùng ba ngàn binh lính ban đêm xâm
nhập vào Vương Thành cố thủ. Những lính
cướp thuyền cùng với những lính nội công
bốn mặt xáp lại, hợp lực bao vây nhiều
ṿng, công phá chiến đấu trong sáu ngày. Trịnh Ḥa
bắt được Vua, bắt buộc phải mở cửa
và dẹp gỗ chắn đường ngăn chận
lối đi. Cả hơn hai mươi dặm như
thế th́ mới đến thuyền. Rồi thỉnh
răng Phật xuống thuyền, linh dị phi
thường. Hào quang chiếu diệu như trước
đă nói, làm chấn động kinh ngạc những
người xa gần. Rồi trải qua biển cả
hơn 10 vạn dặm. Gió mưa trôi dạt nhưng
chẳng sợ lại như b́nh địa. Rồng
dữ, cá ác chia nhau xuất hiện phía trước,
rồi lặng lẽ ra đi chẳng làm hại. Mọi
người trong thuyền vẫn yên ổn vui tươi.
Đến ngày mồng 9 tháng 7 năm Vinh Lạc thứ 9
triều nhà Minh, về đến kinh sư. Hoàng Đế
ra lệnh trong hoàng thành dùng gỗ Bạch Đàn thật
trang nghiêm để làm Kim Cương Bảo Tọa lưu
giữ răng Phật, rồi dùng nghi thức tế lễ
cúng dường, lợi ích cho loài hữu t́nh, cầu
phước cho thứ dân làm lợi lạc vô lượng
công đức.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển mười một
Quyển thứ
mười hai
(22 nước)
Tam Tạng Pháp
Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa Đại
Tổng Tŕ, Sa Môn Biện Cơ soạn
1. Nước Tào Cự Thác
2. Nước
Phất Phiêu Tŕ Tát Quân Na
3. Nước An
Đản La Phược
4. Nước
Hoạt Tất Đa
5. Nước Hoạt
6. Nước Tào
Kiến
7. Nước A
Lợi Ni
8. Nước
Yết La Hồ
9. Nước
Ngật Phiêu Sắc Ma
10. Nước
Bát Lợi Yết
11. Nước Tu
Ma Đản La
12. Nước
Bát Thích Sán Na
13. Nước
Nhâm Bạ Kiến
14. Nước
Quật Năn Noa
15. Nước
Đạt Ma Tất Thiết Đế
16. Nước
Thi Khí Ni
17. Nước
Thương Di
18. Nước
Yết Bàn Đà
19. Nước Ô
Sát
20. Nước
Khư Sa
21. Nước
Nghiên Cẩu Da
22. Nước Cù
Tác Đản Na
1) Nước Tào Cự Thác chu vi hơn 7000
dặm. Đô Thành hiệu là Hạt Tất Na, chu vi hơn
30 dặm. Lại có thành Hạt Tác La, chu vi cũng 30
dặm, rất kiên cố hiểm trở, sơn xuyên cách
trở, lúa thóc từng thời vụ, có nhiều lúa
mạch, cây cỏ, ít hoa quả nhiều. Nơi đây có
sản xuất Uất Kim Hương (Nghệ) và có
những loại cỏ quư. Cỏ quư phát sanh tại sông La
Ma của Ấn Độ, giữa thành Hạt Tác La có
một suối nước phun lên, mà người trong
xứ lấy đó để tưới tẩm
đất đai. Khí hậu lạnh, sương tuyết
nhiều, tánh người nhẹ dạ thường hay
ngụy trá, ham học nghề nghiệp, có nhiều kỹ
thuật. Nghe nhưng không rơ ràng. V́ được
truyền tụng lời nói nhiều vạn lời, văn
tự, ngôn ngữ khác với các nước khác, hay nói
những chuyện hư cấu rồi trở thành sự
thật. Tuy là thờ cả hàng trăm vị thần,
nhưng cũng tôn sùng Tam Bảo. Có hơn 100 ngôi Già Lam, và
tăng đồ hơn vạn người, đều
học tập theo Đại Thừa Giáo. Vua bây giờ
thuần tín, nhờ truyền thống đời
đời để lại. Có nhiều phước
đức và ưa học hỏi. Vua A Dục kiến
tạo hơn 10 ngôi Bảo Tháp ở nơi đây và hơn
10 đền thờ ngoại đạo, họ sống
rất lộn xộn. Nói chung có rất nhiều ngoại
đạo và hầu như rất thịnh hành ở
đây. Họ tin theo Câu Na Thiên. Vị Thiên Thần ngày
xưa từ nước Ca Tất Thí thuộc núi A Lộ
như đến sinh sống ở nước nầy
thuộc về miền nam của nước Câu La Tứ
La, làm mưa làm gió. V́ sự hung ác cho nên những
người tin tưởng mất đi lời nguyện,
kẻ khinh chê bị đưa về trở lại, cho nên
xa gần những kẻ tín ngưỡng trên dưới
cùng với các nước lân bang thứ dân mỗi năm
đều tham gia những kỳ đại hội.
Hoặc cúng vàng bạc trân bảo, hoặc cúng ḅ ngựa
gia súc, đem cống hiến đầy đủ như
cầu: vàng, bạc, dê, ngựa bày la liệt trong hang
động. Chẳng phải cho ḿnh mà cúng thí tu
phước, cốt yếu của ngoại đạo là
giữ tâm khổ hạnh, thiên thần chỉ thọ
giữ chú thuật. Ngoại đạo trị liệu
được nhiều chứng bịnh nan y. Từ
đây đi về phía bắc hơn 500 dặm đến
nước Phất Phiêu Tŕ Tát Quân Na.
2) Nước Phất Phiêu Tŕ Tát Quân Na từ phía
đông qua tây hơn 2000 dặm, từ phía nam ra bắc
hơn 1000 dặm. Đô Thành hiệu là Hộ Tất Na có
chu vi hơn 20 dặm, đất đai phong tục
giống như nước Tào Cự Thác nhưng ngôn
ngữ th́ khác biệt. Khí hậu lạnh, tánh t́nh
người cuồng bạo. Vua thuộc ḍng Đột
Quyết, thâm tín Tam Bảo, ưa học tập và tôn
trọng đạo đức. Từ đông bắc
xứ nầy vào núi băng sông đến bên thành của
nước Ca Tất Thí. Có hơn 10 ấp nhỏ, dẫn
đến Đại Tuyết Sơn, núi lớn Bà La Tê Na.
Đỉnh núi rất cao, nguy hiểm, có nhiều hang
động nơi đó. Hoặc đi vào trong hang, hoặc
leo lên trên núi. Mùa hè tuyết tan thành nước. Đi
cả ba ngày mới đến trên đỉnh. Mùa đông
gió lạnh mang theo nhiều tuyết vào cốc. Kẻ
lữ hành trải qua không biết bao nhiêu cực nhọc
của chân tay, x̣e cánh bay lượn cũng không thể qua
khỏi. Chân bước đi bộ lại giống
như bay, nh́n xuống dưới các núi khác rất
đẹp. Đây là đỉnh cao đặc biệt
của Thiệm Bộ Châu. Trên đảnh chẳng có cây,
chỉ có nhiều đá, thỉnh thoảng lại có
rừng nhưng cây c̣n nhỏ. Lại đi hai ba ngày
mới xuống được núi, mới đến
nước An Đản La Phược.
3) Nước An Đản La Phược là
đất cũ của nước Đổ Hóa La chu vi
hơn 3000 dặm. Đô Thành chu vi hơn 14 hay 15 dặm. V́
không có người lănh đạo nên thuộc nước
Đột Quyết. Núi và sông liền nhau cho nên đất
đai rất hẹp. Khí hậu lạnh lẽo, gió
tuyết vào đông. Giàu có lúa thóc và khan hiếm hoa quả.
Tánh người hung bạo, chẳng có phong tục kỹ
cương, chẳng biết tội phước. Chẳng
muốn học tập chỉ tu thần bí. Ít tin
tưởng Phật Pháp. Có ba ngôi Già Lam và chỉ có 10
vị Tăng Sĩ. Tất cả đều học theo
Đại chúng Bộ, có một Bảo Tháp do Vua A Dục
dựng. Từ đây đi về phía tây bắc vào trong
động qua khỏi núi đến một thành nhỏ.
Đi hơn 400 dặm đến nước Hoạt Tất
Đa.
4) Nước Hoạt Tất Đa ngày xưa
thuộc nước Đỗ Hóa La có chu vi ít hơn 1000
dặm. Đô Thành có chu vi hơn 10 dặm. Không có người
lănh đạo nên thuộc nước Đột Quyết.
Núi nhiều, sông hẹp, gió lạnh. Ngũ cốc phong phú.
Hoa quả rất nhiều. Tánh t́nh hung bạo. Tục lệ
chẳng có phép tắc ǵ. Có hơn 3 ngôi Già Lam nhưng
rất ít tăng sĩ. Từ đây đi về phía tây
bắc qua núi, qua hang động đến thành ấp,
khoảng 300 dặm đến nước Hoạt.
5) Nước Hoạt, ngày xưa thuộc
nước Đỗ Hóa La, có chu vi hơn 2000 dặm.
Đô Thành có chu vi hơn 20 dặm. Không có người lănh
đạo cho nên thuộc nước Đột Quyết.
Đất đai bằng phẳng. Lúa thóc được
mùa. Cây cỏ xanh tươi. Hoa trái sum sê. Khí hậu ôn ḥa.
Phong tục thuần chất, tánh t́nh con người thô
bạo. Y phục bằng da thú. Đa phần có tín tâm
đối với Tam Bảo, ít tin thần linh. Có 10 ngôi Già
Lam và hơn 100 Tăng Sĩ tu tập cả Đại
Thừa lẫn Tiểu Thừa. Vua thuộc ḍng Đột
Quyết. Qua cổng sắt phía nam có những nước
nhỏ. Thỉnh thoảng có những con chim lạ bay
đến lưu trú tại đây. Từ đây đi
về phía đông, lên một ngọn đồi trống
nằm giữa Thiệm Bộ Châu. Phía nam giáp với núi
tuyết. Phía bắc giáp với nhiệt hải có hàng ngàn
con suối. Phía tây giáp nước Hoạt, phía đông giáp
nước Ô Sát. Từ đông sang tây, từ nam ra bắc
mỗi chiều 1000 dặm. Núi cao hàng trăm dặm.
Động đá cheo leo nguy hiểm băng tuyết
đóng đầy. Mỗi khi gió lạnh về thật là
khủng khiếp. Cho nên ở đây gọi là Đồi
Trống, cũng c̣n một tên khác là núi cao trống gió.
Từ phía đông đi hơn 100 dặm đến
nước Tào Kiến.
6) Nước Tào Kiến ngày xưa cũng
thuộc nước Đổ Hóa La có chu vi hơn 400
dặm. Đô Thành có chu vi khoảng 15 hay 16 dặm.
Đất đai phong tục cũng giống như
nước Hoạt. Không có người lănh đạo cho
nên thuộc nước Đột Quyết. Phía bắc
đến nước A Lợi Ni.
7) Nước A Lợi Ni ngày xưa thuộc
nước Đỗ Hóa La, nằm hai bên bờ sông
Phượt Sô chu vi hơn 300 dặm. Đô Thành chu vi
hơn 14 hay 15 dặm. Đất đai phong tục cũng
giống như nước Hoạt. Phía đông giáp nước
Yết La Hồ.
8) Nước Yết La Hồ, ngày xưa
thuộc nước Đỗ Hóa La, bắc giáp sông
Phượt Sô có chu vi hơn 200 dặm. Đô Thành chu vi 14
hay15 dặm. Đất đai, phong tục cũng giống
như nước Hoạt. Từ nước Tào Kiên đi
về phía đông gặp đỉnh núi qua những hang
động rồi sông ng̣i lại đến thành ấp.
Đi hơn 300 dặm nữa đến nước
Ngật Phiêu Sắc Ma.
9) Nước Ngật Phiêu Sắc Ma ngày xưa
thuộc nước Đỗ Hóa La, từ đông sang tây
hơn 10 dặm và từ nam ra bắc hơn 300 dặm.
Đô Thành chu vi khoảng 15 hay 16 dặm. Đất đai
phong tục giống như xứ Tào Kiến, chỉ riêng
nhân t́nh của nước nầy thô bạo, ngu xuẩn ác
độc khác với các nước kia. Đi lên phía
bắc đến nước Bát Lợi Yết.
10) Nước Bát Lợi Yết, ngày xưa
thuộc nước Đỗ Hóa La, từ đông sang tây
hơn 100 dặm và từ nam ra bắc hơn 300 dặm.
Đô Thành có chu vi hơn 20 dặm. Đất đai, phong
tục giống như nước Ngật Phiêu Sắc Ma.
Từ nước Ngật Phiêu Sắc Ma đi đến
phía đông vào núi vượt sông, đi hơn 300 dặm
nữa, đến nước Tu Ma Đản La
11) Nước Tu Ma Đản La, trước
đây thuộc nước Đỗ Hóa La, có chu vi hơn
3000 dặm, núi sông liền nhau, đất đai cằn
cỗi ít lúa mùa, nhiều lúa mạch, rau cải có hàng
trăm thứ, khí hậu lạnh. Tánh t́nh người thô
bạo, chẳng biết tội phước, h́nh mạo
xấu xí ngay cả đứng đi. Y phục bằng da,
giống như nước Đột Quyết. Đàn bà
trùm khăn trên đầu cao ba tấc. Giữa đầu
rẽ tóc ra làm hai tượng trưng cho cha mẹ. Phía trên
tượng trung cho cha, phía dưới tượng
trưng cho mẹ. Tùy theo sự chết trước hay sau
của cha mẹ mà lấy đi một miếng. Nếu
cha mẹ c̣n th́ để nguyên vẹn. Nhà Vua nước
nầy thuộc ḍng họ Thích. Núi phía tây thấy giống
như là một người đang nằm. Bên kia là biên
giới của nước Đột Quyết, v́ ảnh
hưởng rất nhiều phong tục nơi đây, nên
biên giới bị xâm phạm dễ dàng. Có một thành riêng
biệt gọi là thành Lưu Ly, trong đó có mười
thành kiên cố và mỗi thành có kẻ đứng
đầu riêng. Thành dày như thế nhưng có kẻ
hở có thể qua lại được. Phía tây tiếp
với nước Ngật Phiêu Sắc. Phía đông của
nước Tu Ma Đản La có nhiều hang động.
Đi hơn 200 dặm đến nước Bát Thích Sán Na.
12) Nước Bát Thích Sán Na trước đây
thuộc nước Đỗ Hóa La, có chu vi hơn 2000
dặm. Đô Thành nằm trên núi, có chu vi 6 hay 7 dặm.
Nhiều núi sông cho nên có nhiều cát đá. Đất
trồng được lúa mạch. Có nhiều nho, hồ
tiêu, đào, lê, quả nại v.v....Khí hậu lạnh
lẽo. Tánh người cương nghị, chẳng có
lễ nghĩa, không biết học nghề. H́nh thù xấu
xí. Đa phần mặc đồ bằng lông. Có 3 hay 4 ngôi
Già Lam và ít tu sĩ. Tánh t́nh thuần chất kính tín Tam
Bảo. Đi về phía đông nam của lănh thổ vào
động đá và đi hơn 200 dặm nữa là
nước Nhâm Bạ Kiến.
13) Nước Nhâm Bạ Kiến trước
đây thuộc nước Đỗ Hóa La, có chu vi hơn
1000 dặm. Đô Thành chu vi hơn 10 dặm. Sông núi
nhiều nên ruộng đất hẹp. Đất đai
thổ sản khí hậu ở đây đơn giản và
thuần thục. Tánh t́nh của người khác với
nước Ba Tích Sán Na rất nhiều. Lời nói cũng
có phần khác hẳn. Tánh t́nh thô bạo, không rơ thiện ác.
Đi về phía đông nam là núi cao, vượt qua những
đoạn đường đèo nguy hiểm, đi
hơn 300 dặm đến nước Quật Năn Noa.
14) Nước Quật Năn Noa, trước đây
thuộc nước Đỗ Hóa La, có chu vi hơn 2000
dặm. Đất đai sông núi khí hậu giống như
nước Nhâm Bá Kiến, chẳng có lễ nghi pháp
luật, tánh người thô bạo. Chẳng muốn làm
phước, ít tin tưởng Phật Pháp, dáng h́nh xấu
xí mặc nhiều đồ bằng da. Có nhiều mỏ
ở trong núi, sản xuất vàng bạc và nhiều đá
quư. Chùa Viện chẳng có Tăng Già. Vua xứ đó
thuần hậu, kính sùng Tam Bảo. Từ phía đông
bắc leo qua núi vào hang động, đường đi
nguy hiểm, đến nước Đạt Ma Tất Thiết
Đế.
15) Nước Đạt Ma Tất Thiết
Đế nằm hai bên dăy núi, trước đây thuộc
nước Đỗ Hóa La. Từ đông sang tây hơn 1560
dặm, từ nam ra bắc hơn 4 hay 5 dặm. Đất
hẹp cho nên khó mở mang thêm một dặm nào. Gần
sông Phạt Sô, đất đai khúc khủyu lồi lơm
chỗ cao chỗ thấp có nhiều cát đá, mùa đông
gió lạnh. Chỉ trồng được lúa mạch,
đậu và một ít cây trái hoa quả. Nơi đây có
sản xuất nhiều ngựa tốt. Ngựa tuy nhỏ
con nhưng rất khỏe và dai. Phong tục không hoàn
hảo. Tánh t́nh con người thô bạo. H́nh dạng
xấu xí. Mặc áo da, khác với các nước khác. Có
hơn 10 ngôi Già Lam và rất ít Tăng Sĩ. Đô Thành tên
là Hôn Đà Đa. Bên trong có Già Lam, do tiên vương xây
dựng trong động đá. Cách đây hơn 100 năm
về trước, tại đây Phật Giáo bị tà
thần uy hiếp. Ngày xưa nhà vua thương
người con bị tật, đi t́m những y thuật
để cứu chữa mà bịnh chỉ thêm chứ không
giảm. Nhà Vua đích thân đến đền thờ
để thỉnh cầu cứu mạng. Lúc bấy
giờ bị giáo sĩ giả làm thần mà lên tiếng
rằng bệnh nầy sẽ khỏi không có ǵ lo. Vua nghe
như vậy, rồi cho xa giá trở về, dọc
đường gặp vị Sa Môn đáng kính, thấy
vận y phục kỳ lạ, vua sợ hăi mà hỏi
từ đâu đến vậy. Vị Sa Môn là bậc
chứng Thánh quả muốn hoằng truyền Phật Pháp
nên có h́nh dáng đặc biệt và nói với Vua rằng:
- Tôi là đệ tử của đức Như
Lai, là một vị Tỳ kheo.
Vua nghe xong lo lắng liền hỏi lại:
- Ta có một đứa con bị bệnh chưa
biết sống chết như thế nào?
Sa Môn nói:
- Ngài nên đối trước thần linh
để cầu nguyện và bày tỏ tâm thương con
vô bờ.
Vua nói:
- Thiên thần có thể làm cho đừng chết
được không?
Sa Môn đáp:
- Dĩ nhiên là phải có ngày cuối cùng.
Người mà dối đời nói lời cho người
tin th́ không nên.
Về đến cung Vua, đứa con đă chết.
Vua không cho phát tang, đến hỏi thần một
lần nữa. Tại sao nói rằng không chết nhưng
không cứu được và Vua phát giận vị thần
chủ cả một thời gian rồi nói:
- Ông là người xấu ác, ở đây nói
vọng ngữ, dùng uy quyền để tạo
phước. Nay con ta đă chết th́ nói sao về việc
dối trá nầy. Đối với việc sai trái đó
th́ không thể bỏ qua được. V́ thế cho nên Vua
ra lệnh phá ngôi đền để phạt ông thần.
Sau đó giết ông chủ và đập tượng
thần liện xuống sông Phược Sô về lại
cung Vua. Đoạn gặp vị Sa Môn liền cung kính và vui
vẻ, cúi đầu lễ tạ và nói:
- Bởi v́ vô minh dắt dẫn cho nên niệm tà
lôi kéo vây bủa xấu xa lâu nay, ở nơi đây, nên mong
rằng Sa Môn hăy đến để ở nơi nầy.
Sa Môn nhận lời thỉnh cầu vào trong cung.
Sau khi chôn đứa con của Vua xong Sa Môn nói:
- Cuộc sống của người do sanh
tử lưu chuyển, nếu con của ngài bệnh mà
vẫn c̣n sống, thần cũng chỉ nói dối về
bịnh tật đó. Tưởng là chỉ nói vậy thôi
nhưng mà kết quả thật không như thế.
Vậy th́ làm sao có thể tin được. Chỉ có ḷng
ai mẫn mới hướng dẫn đi khỏi đường
lầm mê.
Sau đó Vua thỉnh Sa Môn đo đất
rồi tạo dựng Già Lam, từ đó về sau
Phật giáo được hưng thịnh. Cho nên, trong Già
Lam có một tinh xá để thờ vị A La Hán đó.
Trong tinh xá, có một tượng Phật bằng
đá lớn. Trên tượng có một cái lọng tṛn
bằng vàng che bên trên đều dùng những đồ quư
báu để trang sức. Khi người ta đi nhiễu,
cái ṿng tṛn xoay theo và khi người ta dừng th́ nó sẽ
dừng lại. Nghe người xưa nói rằng do
nguyện lực, Thánh nhơn hộ tŕ hoặc do những
kỷ thuật bí mật tạo thành. Xem các tường
đá nơi nầy rất là kiên cố. Khảo sát b́nh
luận, vẫn chưa biết hết. Từ nước
nầy đi qua núi lớn đến nước Thi Khí Ni.
16) Nước Thi Khí Ni có chu vi hơn 2000 dặm.
Đô thành chu vi khoảng năm sáu dặm. Núi sông trùng
điệp, đá cát rất nhiều. Có nhiều lúa
mạch nhưng ít lúa mùa, cây cối nhiều hoa quả ít.
Khí hậu lạnh, phong tục thô bạo, họ có thể
giết người hoặc trộm cướp mà
chẳng biết lễ nghi thiện ác ǵ cả. Mê tín
chẳng biết làm phước, hiện đời
gặp nhiều tai ách. H́nh dạng người xấu xí
hay mặc đồ da. Chữ nghĩa như nước Đỗ
Hóa La. Lời nói có khác. Qua khỏi nước Đạt Ma
Tất Thiết Đế là núi cao nằm ở phía nam, và
sau đó đến nước Thương Di.
17) Nước Thương Di có chu vi hơn 2560
dặm. Núi sông liên tục nhau. Ngũ cốc trồng khó
nhưng lúa mạch dễ trồng, có nhiều chim hoàng
hạc mái. Do đất đá đổ xuống mà thành
rẫy. Nhiều trận cháy rừng dữ dội và sau
đó người ta qua lại được b́nh an.
Nếu thiếu cầu nguyện th́ gió mưa sấm sét
bộc phát. Thời tiết lạnh lẽo, phong tục
vội vă, tánh người thuần chất chẳng có
lễ nghi. Trí mưu hẹp ḥi, kỷ năng thô thiển.
Chữ viết giống như nước Đỗ Hóa La,
ngôn ngữ khác biệt. Áo quần bằng da. Ḍng dơi
thuộc họ Thích. Tôn trọng Phật pháp. Tuy thế quốc
dân cũng chưa thuần tín. Có hai ngôi Già Lam, ít tu sĩ.
Từ biên giới phía đông bắc đi vào núi
qua những hang động nguy hiểm hơn 700 dặm
đến sông Ba Mê La. Từ đông sang tây hơn 1000
dặm, từ nam ra bắc hơn 500 dặm. Đất
hẹp, có nơi không quá 10 dặm. Hai bên tuyết đóng
cho nên rất lạnh, ngay cả mùa xuân mùa hạ tuyết
vẫn bay cả ngày lẫn đêm. Đất đai khô
cằn chỉ c̣n sỏi đá. Khó trồng cây, chỉ có
cỏ mọc nhiều những nơi hoang vu như thế
chẳng có người nào dừng chân.
Trong sông Ba Mê La, có một cái hồ rồng
lớn, từ đông sang tây 300 dặm, từ nam ra bắc
50 dặm. Giáp liền với núi cao, nằm giữa
Thiệm Bộ Châu và đất này nằm chỗ cao
nhất, nước rất là trong như gương và
rất sâu, màu sắc xanh đen, vị rất ngọt. Có
nhiều loại cá giao, cá chép, rùa v.v...bơi lội trên
mặt nước, có ba ba, nhạn, hà mă, ngỗng.
Những trứng chim rất lớn, con thú
lấy cỏ che khuất lại, hoặc lấy cát
phủ lên trên. Phía tây có một ḍng nước chảy vào
hồ, rồi chảy đến phía đông của
nước Phạt La Đế Quốc chảy vào sông
Phược Sô tạo ra bốn nhánh khác, cho nên nước
ở đây là nước của bốn con sông hợp
lại. Phía đông của hồ có một nhánh chảy
xuống phía đông bắc đến nước Khư Sa
và cùng với những sông khác, hợp thành nhánh chảy
về phía đông. Ḍng nước bên tả hợp với
ḍng nước bên hữu.
Qua khỏi phía nam của sông Ba Mê La là núi. Nơi
ấy có nước Bát Lộ La, nước nầy có
nhiều vàng bạc, màu vàng hực như lửa. Từ
phía đông nam của sông nầy, đi đến núi
đường đi rất hiểm trở chả có
bộ hành qua lại chỉ toàn là tuyết. Đi hơn 500
dặm, đến nước Yết Bàn Đà.
18) Nước Yết Bàn Đà có chu vi hơn 2000
dặm. Đô Thành toàn là đá núi lớn, lưng dựa vào
núi, dọc theo là sông có chu vi hơn 20 dặm. Núi và sông
nối liền nhau cho nên b́nh nguyên rất hẹp. Lúa mùa ít,
lúa mạch nhiều. Cây cối trong rừng nhiều, hoa
quả ít. Người ta sống trên đồi cho nên thành
ấp bỏ không. Lễ nghi chẳng có ǵ, đặc
biệt người ta ít ưa nghề nghiệp. Tánh t́nh
thô bạo, mạnh mẽ kiêu hùng. Người dung mạo
xấu xí. Y phục toàn bằng lông. Văn tự chữ
nghĩa giống như nước Khứ Sa. Tuy nhiên,
biết tin tưởng cung kính Phật Pháp. Có mười
ngôi Già Lam và hơn 500 tăng đồ, tu theo Tiểu
thừa Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ. Vua
biết tôn kính ngôi Tam Bảo. Những kẻ nhàn nhă
thường không thích những kẻ siêng học. Từ
khi lập quốc cho đến nay, đă trải qua
nhiều năm tháng, vua mới tự xưng vương.
Từ đây đến nước Na Đề Ba Cù
Đản La, có núi cao sông dài tương đối hoang
vắng.
Ngày xưa Vua của nước Ba Lợi Sách Tu
(Thiên Chủng) lấy vợ người Hán, vinh quy
đến đây thời gặp loạn binh đông tây
tuyệt lộ, liền giấu vương nữ trên
đỉnh núi nầy, rất nguy hiểm khó mà lên xuống
được, cho lính canh pḥng ngày đêm. Trải qua ba
tháng như thế th́ yên. Muốn trở về th́
người đàn bà đó có thai. Sứ thần bàng hoàng
chạy báo. Vua ra lệnh đem người đàn bà hoang
loạn đó bỏ vào rừng, sớm tối chẳng
quan tâm. Nhưng v́ vua cảm cái đức và cái đẹp
cho nên ḷng giận nguôi ngoa nghĩ rằng nếu trả
người đàn bà có thai nầy về nước,
chắc là rất lo không biết chết ở đâu,
nếu về đến nước cũng bị chém
đầu hoặc bị tru lục.
Khi biết được sự thật. Sứ
thần nói:
- Đừng có oán trách, sẽ gặp thần
linh. Mỗi ngày vào lúc giữa trưa có một người
đàn ông từ mặt trời lên xe ngựa đến
đây.
Sứ thần nói:
- Nếu là kẻ ấy th́ tội như
tuyết. Trở về tất sẽ bị tru di, cho nên
ở lại là hơn. Việc tới lui thật là khó phân.
Lại nói:
- Việc nầy chẳng rơ ai làm sao giết
được, chờ tội nầy rơ ràng mới
biết trắng đen.
Rồi sau đó cho xây dựng trên đỉnh núi
đá một cung điện có chu vi 300 bộ. Cung thành
nầy người nữ đó làm chủ. Sau khi kiến
thiết xong, sinh ra được một đứa con
trai, dung mạo đẹp đẽ. Bà mẹ nhiếp
chánh, người con xưng tôn hiệu rồi bay vào trong
hư không, cưỡi mây đưa gió uy đức xa
gần đều biết. Các nước bên cạnh
đến thần phục.
Vua của nước đó khi mạng chung, thi
hài được lưu lại trong núi đá, cách thành
về phía đông nam 120 dặm. Thi hài ấy cho đến
nay chưa hư hoại. Nh́n dáng người giống
như đang ngủ. Mặc Y phục và có hương hoa
được bài trí để cho tử tôn đời
đời về sau, thờ đây là tiên tổ của
họ. Mẹ là người nhà Hán, cha là thần mặt
trời, cho nên tự xưng là ḍng dơi Hán Mặt Trời
Vương tộc có h́nh dáng giống như
người Trung Hoa, đầu đội mũ, thân
mặc áo và sau nầy trở thành nước mạnh.
Khi Vua A Dục c̣n ở đời cho xây trong cung
một Bảo Tháp. Vua nầy sau dời đô về phía
bắc và cố cung làm chùa cho Tôn Giả Đồng Thọ
luận sư, có lầu gác cao rộng, có Phật
tượng uy nghiêm. Tôn Giả là người của
nước Đản Xoa ư La, lúc nhỏ đă hiểu
biết và sớm ly trần xuất gia, và sách vở c̣n ghi
lại cho biết, mỗi ngày Tôn Giả tụng ba vạn
hai ngàn lời kinh, và đọc ba vạn hai ngàn chữ
trong trang sách. Cho nên đương thời là một
bậc học rộng nổi tiếng, hiển lập
chánh pháp, bài xích ngọai đạo tà kiến. Lời
giảng cao cả, khó ai có thể đáp lại
được, mà ngay cả năm nước Ấn
Độ thấy cũng không ai bằng. Ngài đă chế
ra cả mười bộ Luận. Lời nói và việc
làm đi đôi với nhau, tức là những lời
dạy của Phật. Thời ấy, có ngài Mă Minh ở
phương đông; Có ngài Đề Bà ở phía nam; Có ngài
Long Mănh ở phía tây và ngài Đồng Thọ ở
phương bắc. Quư Ngài được xem là bốn
mặt trời chiếu thế gian. Vua nước đó
nghe uy đức của Tôn Giả liền cử binh đến
chinh phạt nước Đản Xoa Thủy La uy hiếp
thỉnh tôn giả về, rồi xây dựng ngôi Già Lam
nầy để mà cúng dường và đảnh lễ.
Phía đông nam của thành đi hơn 300 dặm, có một
tảng đá rất lớn và có hai pḥng bằng đá,
mỗi một pḥng như vậy là nơi nhập diệt
tận định của A La Hán. Các ngài vẫn c̣n ngồi
nguyên không giao động. H́nh hài, xương cốt
vẫn không hư mục, mặc dầu đă trải qua
bảy trăm năm. Tóc tai vẫn c̣n ra dài cho nên mỗi
năm chư tăng đều cắt tóc và thay y.
Phía tây bắc của động đá kia vào
nơi núi cao nguy hiểm, đi hơn 200 dặm,
đến đỉnh núi Trà Quyền Xá La. Phía đông
của núi bốn bề cung là núi. Đi hơn 100 dặm
nữa, đến một địa phương, dù mùa
đông hay mùa hạ tuyết và gió vẫn lạnh. Ở
đây chỉ có cây Long Năo, c̣n lúa thóc rất ít. Những cây
lớn không nhiều, chỉ toàn là những cây nhỏ. Tuy
có lúc cũng nóng nhưng bầu trời vẫn đầy
gió tuyết. Chỉ có những người lái buôn và
tăng lữ đi trong sương tuyết, rất là khó
khăn và nguy hiểm. Nghe người xưa nói:
Xưa kia có một khách buôn trên vạn dặm xa,
dùng lạc đà để chở hàng ngàn loại hàng hóa.
Gặp băo tuyết, người và vật chẳng c̣n. Lúc
ấy, tại nước Yết Bàn Đà, có một
vị Đại A La Hán nh́n thấy thương xót cho
sự nguy hiểm nầy, nên muốn vận thần thông
để cứu giúp họ. Khi A La Hán đến th́
thương nhân đă chết. Ngài nhặt những
đồ hàng hóa trân quư đó lập nên một nơi
bảo vệ tài sản. Ngài mua đất của
nước bên cạnh, làm nơi nuôi duỡng những nhà
ở quanh thành và có cơ sở để cho người
tới lui, cho nên ngày nay những người thương
nhân và tu sĩ đi ngang qua đây được chu
cấp. Từ phía đông đi xuống núi gặp một
ngọn đồi, leo lên đồi cũng rất nguy
hiểm v́ phải vượt qua những động
đá, suối khe hiểm trở gió tuyết lại
nhiều. Đi hơn 800 dặm ra khỏi núi đến
nước Ô Sát
19) Nước Ô Sát có chu vi hơn 1000 dặm.
Đô Thành chu vi hơn 10 dặm. Phía nam giáp với sông Ṭng
Đà, đất đai màu mỡ, lúa thóc được
mùa. Trong rừng có nhiều cây cao. Hoa quả phồn
thịnh. Ở đây có sản xuất nhiều loại
ngọc quư, như ngọc trắng, ngọc lam, ngọc
xanh. Khí hậu điều ḥa, mưa gió thuận lợi,
phong tục, lễ nghi, tánh t́nh con người thô bạo,
nhiều dối trá, không biết xấu hổ.Văn
tự ngữ ngôn ít giống nước Khư Sa. Dung
mạo xấu xí. Y phục toàn đồ da. Nhưng
lại sùng tín, tôn kính Phật Pháp. Có hơn 10 ngôi Già Lam và
hơn 1000 Tăng Sĩ tu theo phái Tiểu Thừa, thuộc
Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ. Cả hàng trăm
năm nay, ḍng Vua đă tuyệt tự, không có kẻ
nắm quyền cho nên lệ thuộc nước Yết
Bàn Đà.
Cách thành phía tây hơn 200 dặm có một núi
lớn. Khí hậu miền núi rất lạnh, v́ đá và
tuyết. Khi băng tan tuyết ră, nguy hiểm vô cùng. Trên
đảnh nầy có một Bảo Tháp, tự nhiên mà có.
Nghe người xưa nói lại rằng:
Cả hàng trăm năm về trước, khi
động đá băng hoại, trong đó có một
vị Tỳ Kheo đang ngồi thiền, thân h́nh vĩ
đại và đă khô kiệt. Tóc tai dài xuống
đến vai và mặt. Có một người thợ
săn thấy và tâu với Vua. Vua đích thân đến
quan sát và mọi người không mời mà đến, dùng
hương hoa rải lên đó mà cúng dường. Vua
bảo người nầy là người như thế nào
mà vĩ đại thế. Có một vị Tỳ Kheo
đáp rằng:
Tóc tai đă dài nhưng mà mặc áo cà sa, lại
nhập Diệt Tận Định tức là A La Hán. Kẻ
nhập Diệt Tận Định cho đến kỳ
hạn, hoặc nghe tiếng kiền chùy, hoặc chờ
ánh sáng mặt trời chiếu, tự nhiên từ
Định trở dậy. Nếu không có sự cảnh báo
ấy th́ an nhiên bất động. Nhờ trú trong
Định lực nên thân không bị hoại diệt.
Thời gian không ăn đến khi xuất định,
dùng một ít cháo sữa thân thể khỏe lại, rồi
sau đó đánh trống, để đánh thức ngài
xuất định.
Vua bảo:
- Thế sao?
Vua cho đánh kiền chùy, âm thanh ấy làm
chấn động vị A La Hán tỉnh lại hồi lâu
và Vua hỏi:
- Ngài là ai, mà h́nh dáng khác thường vậy? Y
phục của ông lại là Ca Sa?
Đáp rằng:
- Tôi là Tỳ Kheo và Thầy của tôi là ngài Ca
Diếp Như Lai đang ở tại đây và nhập
Đại Niết Bàn đă lâu. Mỗi khi nhớ lại
tôi buồn vô cùng.
Lại nói thêm rằng:
- Thích Ca Như Lai xuất thế rồi chưa?
Đáp rằng:
- Đă xuất thế và cũng nhập diệt
rồi.
Nghe xong liền cúi đầu và bay lên hư không
hiện thần thông biến hóa rồi dùng lửa tam
muội thiêu thân, di cốt rơi xuống đất. Vua
nhặt cốt để xây tháp.
Đi về phía bắc hướng núi Tích
Quảng Giả hơn 500 dặm đến nước
Khư Sa.
20) Nước Khư Sa có chu vi hơn 5000 dặm,
toàn là cát và đất đai rất ít nhưng ngũ
cốc tốt tươi, hoa trái đa dạng. Xứ
nầy chuyên sản xuất lông cừu và bông vải. Khí
hậu ở đây điều ḥa, nhưng đôi khi
nhiều gió mưa. Tánh t́nh con người cuồng bạo,
thường dối trá. Lễ nghi thô thiển. Nghề
nghiệp hời hợt. Tục lệ khi sinh con, viết
lên bảng để báo tin. Dung mạo khá xấu xí, H́nh
dáng rất xanh nhạt. Ở đây, dùng văn tự
Ấn Độ. Sách vở sửa đổi nhiều.
Ngôn ngữ tiếng nói đều khác với các
nước. Ở đây họ tin tưởng theo Phật
Pháp. Khuyến khích làm việc thiện, có hơn 100 ngôi Già
Lam, và hơn vạn tăng đồ. Họ học
tập theo Tiểu thừa thuộc Thuyết Nhứt
Thiết Hữu Bộ. Không cần t́m hiểu nguồn
gốc sâu xa. Đa phần đều đọc thuộc
những bản kinh, tụng thuộc làu Tam Tạng. Có
nhiều người thuộc Tỳ Bà Sa. Từ phía
đông nam, đi hơn 500 dặm đến sông Tế
Độ Đa. Qua khỏi sông lớn gặp núi
đến nước Nghiên Cẩu Da.
21) Nước Nghiên Cẩu Da chu vi hơn 1000
dặm. Đô thành chu vi hơn 10 dặm. Nơi đây
rất nguy hiểm nhưng nhà cửa xây dựng kiên
cố, có rất nhiều người ở. Núi non trùng trùng
điệp điệp. Đất đầy sỏi
đá, giáp với hai con sông. Cho nên ở đây người
ta trồng nhiều nho, lê và quả tần... Rau cải xanh
tốt. Có gió lạnh. Người ở đây tánh t́nh thô
bạo. Tập tục dối trá, hay làm những việc
trộm cướp. Văn tự giống như nước
Cù Tác Đản Na. Ngôn ngữ lại khác. Xem nhẹ lễ
nghi. Nghề nghiệp thiển cận. Có tín tâm Tam Bảo
ham làm việc phước lợi. Có 10 ngôi Già Lam, đa
phần bị hư hoại và hơn 100 Tăng Sĩ, tu
học theo phái Đại Thừa. Biên giới phía nam
của đất nước nầy, có một núi lớn.
Đỉnh cao chót vót. Núi non quanh co bao bọc. Mùa đông
không c̣n cây cỏ. Mùa xuân tươi tốt. Khe suối có
nhiều nước chảy. Có nhiều động đá
và có nhiều cây cối. Những vị tu sĩ Ấn
Độ chứng quả thường dùng thần túc thông
dạo chơi và thường dừng chân xứ nầy.
Ở đây có nhiều vị A La Hán tịch diệt cho nên
c̣n nhiều Bảo Tháp lưu lại. Cho đến bây
giờ vẫn c̣n ba vị A La Hán tọa thiền trong
động đá đang nhập Diệt Tận
Định. H́nh hài tóc tai ra dài. Các vị Sa Môn đến
đây cắt tóc cho họ. Ở nước nầy kinh
điển Đại Thừa có rất nhiều và
Phật Pháp truyền đến chẳng bao lâu th́ hưng
thạnh. Có người đọc tụng cả
mười vạn bộ. Hiện có 10 người. Từ
đó về sau kinh điển được lưu
truyền rộng răi ra. Đi về phía đông vào núi và qua
khỏi hang động, đi hơn 800 dặm nữa
đến nước Cù Tác Đản Na.
22) Nước Cù Tác Đản Na (Nước Vu
Điền - Custanna) chu vi hơn 4000 dặm, hơn quá
nữa là cát đá, đất đai th́ hẹp, cày cấy
trồng trọt được hoa quả nhiều,
sản xuất nhiều lông trừu và có nhiều bông
vải. Lại cũng có sản xuất bạch ngọc và
lam ngọc. Khí hậu điều ḥa, gió nhiều.
Người dân ở đây biết trọng lễ
nghĩa, tánh t́nh thuần hậu, ham học điển
chương, nghề nghiệp kỹ thuật tốt. Dân
chúng giàu có cho nên an vui với nghề nghiệp. Trong
nước thường thích nghe âm nhạc và nhiều
người thích múa hát. Ít người mặc áo bằng
lông hoặc da. Đa phần mặc vải sợi màu
trắng. H́nh mạo lễ nghi phong tục có kỹ
cương. Văn tự hiến chương đều
tôn sùng Ấn Độ, có sửa đổi lại
một ít, v́ địa lư cách trở. Tiếng nói khác
với các nước khác, sùng kính Phật Pháp. Có hơn 100
ngôi Già Lam, và hơn 5000 tu sĩ đa phần tu theo
Đại Thừa Phật giáo. Nhà Vua rất tôn kính Tam
Bảo. Tự ví ḿnh như một vị Tỳ Sa Môn
Thiên.
Ngày xưa ở nước nầy, chẳng có
người, Tỳ Sa Môn Thiên xuống đây. Thái Tử con
Vua A Dục ở tại nước Đản Xoa Thủy
La bị Vua giận ra lệnh móc mắt và đày xuống
làm thường dân lên ở trong những hang động
hoang phế trên núi tuyết đến ở phía bắc. Vua
chuyển người và vật ở đó về phía tây.
Rồi suy cử người quư phái khác lên làm Vương.
Trong khi đó, con của Vua lưu chuyển đến
đây và tụ họp mọi người lại cũng
xưng vương. Thời gian tuy lâu nhưng phong tục
chẳng thuần.
Những người thợ săn gặp nơi
hoang phế liền hỏi tông tích rồi bèn tranh nhau
chức trưởng. Hai bên tranh qua lại rồi muốn
đánh nhau. Có bên nói:
- Nguyên nhân ǵ mà người thợ săn
quyết chiến cho khổ binh lính. Nên rút binh về.
Nghe vậy liền kéo binh lui về. Những
người trở về lại nước liền
luyện tập binh mă đốc suất sĩ tốt
đem binh đến, cờ trống gióng lên ngày đêm
để hợp chiến. Người chủ phía tây
bất lợi chạy đến phía bắc bị chém đầu,
chủ phía đông thừa thắng phủ dụ kẻ
mất nước dời đô về giữa nước
thành lập nhà cửa làng xóm. Sợ việc không có
đất đai, khủng hoảng khó thành công, cho nên báo
tin cho xa gần biết ai biết về địa lư th́
hăy đến xem.
Lúc bấy giờ có một ngoại đạo
lơa thể, tự phụ khoa trương biết rành phong
thủy cho nên tiến đến nói:
- Tôi biết về địa lư, dưới này
có nước ngầm đang chảy chung quanh đây cho nên
bịnh tật khó có thể qua được. nhưng
căn cứ vào nước ngầm mà xây dựng cơ
đồ. Sau đó sẽ được hưng thịnh,
cứ thế mà tiếp tục trị nước.
Vua bây giờ vẫn ở thành ấy. Thành khó vào
cho nên việc công phá khó thành công. Từ xưa đến
nay chưa ai có thể thắng. Vua dời đô đến
đây để lập ấp xây dựng đất
nước và an dân. Tích công bồi đức mà thành
nhưng sợ tuyệt tự không c̣n kẻ nối dơi cho
nên đến nơi Thiên Thần Tỳ Sa Môn để
kỳ nguyện thỉnh cầu. Tượng thần
ở bên trên ban cho một đứa bé anh tài bồng
về nước ḿnh. Dân chúng hoan ca, nhưng cậu bé không
biết uống sữa. Vua sợ không thọ liền
sắc chỉ cho người giữ đền chăm sóc
duỡng dục. Trước mặt của thần từ
dưới đất vụt lên một gịng nước
như ḍng sữa. Đứa bé đó uống cạn, càng
ngày, càng lớn trí dũng đa mưu thắp sáng lên phong
tục rồi dựng đền thờ trở thành tiên
tổ. Từ đó về sau đời đời kế
thừa mà Vua chúa nước nầy chưa bao giờ
thất bại với nước bên cạnh, nên cho
đến bây giờ miếu thần có nhiều đồ
trân quư được người ta đem đến cúng.
V́ thế nước ấy lấy tên là sữa từ
đất để làm quốc hiệu.
Cách Vương thành về phía nam hơn 10 dặm
có một Đại Già Lam, tiên vương của xứ
nầy v́ vị A La Hán Tỳ Lô Kỳ Na đă kiến
lập nên. Tích xưa kể rằng:
Nước nầy khi Phật Pháp chưa có, có
vị A La Hán từ nước Ca Thấp Di La đến
rừng ở đây tọa thiền định. Có kẻ
thấy người mặc y phục lạ bèn tâu Vua. Vua
đích thân đến xem dung mạo, hỏi ngài là ai mà
ở trong rừng vắng vẻ như vậy. Vị A La
Hán đáp:
- Tôi là đệ tử của Phật thích ở
nơi vắng vẻ để thiền định.
Vua nghe như vậy muốn trồng cây
phước và hoằng truyền Phật Pháp cho nên kiến
tạo Già Lam và mời tăng chúng đến. Vua hỏi:
- Như Lai là vị có đức ǵ, có thần ǵ,
mà ông chuyên cần khổ hạnh phụng thờ như
thế?
Đáp rằng:
- Như Lai là bậc thương xót bốn loài,
muốn đưa họ ra khỏi tam giới hoặc rơ
ràng, hoặc thí dụ để chỉ cho chúng sanh sự
sanh và sự diệt. Ai tôn kính Pháp nầy sẽ xa ĺa sanh
tử. Kẻ nào mê mờ sẽ bị sa đọa nơi
lưới ái.
Vua bảo:
- Thực là một lư Thuyết có ư nghĩa cao siêu
của bậc đại thánh. Nếu là bậc Đại
Thánh v́ ta nên hiện h́nh để ta được chiêm
ngưỡng, ta sẽ kiến lập chùa Viện phát tâm
quy y hoằng dương Chánh Pháp.
A La Hán nói:
- Vua xây dựng Già Lam thành công, sẽ
được cảm ứng.
Sau đó Vua cho xây Già Lam rồi triệu tập
người xa gần đến làm Pháp Hội ăn
mừng. Khi tiếng kiền chùy chưa dứt lúc triệu
tập, Vua hỏi vị A La Hán rằng:
- Ngôi Già Lam đă xây xong, Phật ở đâu?
A La Hán đáp:
- Đang đến. Ở gần bên ngài chớ
không có xa. Vua nên lễ thỉnh.
Đoạn từ trên hư không thấy
tượng Phật hạ xuống nơi chỗ đánh
kiền chùy. Nhờ thế Vua phát tín tâm với Tam Bảo
và nguyện hoằng dương Phật Pháp.
Phía tây nam của Vương thành hơn 20
dặm, có một núi tên là Cù Thất Lăng Già. Trên
đỉnh, núi chẻ ra làm đôi, kiến tạo Già Lam
trên đó, bên trong có tượng Phật chiếu sáng.
Nơi đây ngày xưa Như Lai cũng đă từng đến,
đă v́ trời người mà lược nói những pháp
quan trọng. Và theo huyền kư đất nước
được lập quốc, sùng kính Giáo Pháp tôn trọng
Đại Thừa.
Trên đảnh núi ấy, có một động
đá lớn. Trong đó, một vị A La Hán đang
nhập Diệt Tận Định để chờ
đức Di Lặc ra đời. Cả hàng trăm năm
nay, sự cúng dường liên tục không dừng. Gần
đây núi bị lỡ và cửa động vẫn bị
khóa. Quốc Vương sai binh lính muốn dẹp dọn
đá vỡ. Lúc đó ong đen trên đỉnh bay xuống
chích độc vào người, cho đến bây giờ
cửa động ấy vẫn không mở
được.
Cách Vương thành về phía tây nam hơn 10
dặm, có một thành tên là Địa Già Ba Phượt Na.
Bên trong có một tượng Phật. Tượng ấy
từ nước Nhục Chi mang đến. Ngày xưa
ở đây có Vua, nhưng bị bắt đem qua ở bên
nước Nhục Chi gửi tượng Phật này
về tạ lễ mong rằng được trở về
lại nước. V́ muốn về nước cho nên tâm
luôn luôn cung kính Phật. Sau một đêm cầu nguyện
tượng kia tự đến nước nầy.
Người ở đây, lấy nhà sửa đổi thành
Già Lam.
Cách phía tây Vương thành đi hơn 200 dặm
đến thành Lạc Già Di, trong đó một tượng
Phật ngồi cao hơn 7 thước, tướng
hảo trang nghiêm, uy nghi tịch tịnh. Trên đầu có
bảo cái, ánh sáng chiếu ra. Nghe người xưa
bảo lại rằng chỗ nầy thuộc nước
Ca Thấp Di La, thỉnh đến nơi nầy, có
một vị A La Hán. Vị ấy có một đệ
tử Sa Di lâm bệnh rồi mất. Muốn t́m đồ
ăn, vị A La Hán dùng thiên nhăn để thấy, ở
nước Cù Tát La có hương vị nầy nên vận
thần thông lực đến để t́m. Sa Di ăn
được xong nguyện sanh về nước nầy.
Do quả đó mà được làm Vua rồi tức
vị uy hiếp xa gần, rồi vào trong núi Tuyết chinh
phạt nước Ca Thấp Di La. Vua nước Ca
Thấp Di La chỉnh trang binh mă muốn ngự đến
biên thùy. Lúc ấy vị A La Hán thưa rằng:
- Chớ nên dùng binh, tôi có thể làm cho họ rút
lui.
A La Hán t́m gặp Vua Câu Tác Đản Na thuyết
pháp. Lúc đầu Vua chưa tin, vẫn giữ ư dụng
binh. A La Hán bèn giữ Vua nầy chỉ cho Vua thấy thân
trước là Sa Di. Khi nhà Vua thấy được y áo
của Sa Di liền chứng được túc mạng trí,
bèn cảm tạ Vua Ca Thấp Di La hai bên giao hảo rồi
rút binh, tiếp đón tượng của ông Sa Di và cúng
dường theo lễ nghi của Vua. Tượng ấy
cho đến nay vẫn c̣n ở đây không ai di chuyển
được. Hoặc kiến tạo Già Lam, hoặc
mời Tăng Lữ đến ở. Lấy bảo cái
bên trên tượng ra, mà bảo cái đó Vua trước
cúng thí.
Phía tây Vương thành cách hơn 156 dặm. Ngay
giữa đường đi có một g̣ cát nổi,
chuột làm ổ ở đó. Tương truyền
rằng trong g̣ cát nầy chuột lớn như con nhím. Lông
nó màu vàng bạc. Sống thành nhóm, mỗi lần ra khỏi
hang chúng chạy nối đuôi theo con đầu đàn.
Ngày xưa ở tại đây bọn hung nô có cả trên
mười vạn người tấn công vương
thành. Đến đóng quân tại nơi g̣ chuột
nầy. Vua Cù Tát Đản Na đem vạn binh tới
nhưng sợ địch không nổi. Biết rằng
trong mộ kia có chuột chưa phải là thần,
nhưng chuyện đến gấp không thể cầu
cứu được. V́ sợ và chưa biết kế ǵ
nên ông thiết lễ cầu thỉnh rằng chuột có
linh thiêng gia nhập vào quân lực. Trong đêm đó Vua
mộng thấy con chuột lớn nói rằng sẽ
hổ trợ cho binh lính đến ngày hôm sau hợp
chiến tất nhiên thắng lợi. Vua Cù Tát Đản Na
biết rằng có sự linh hiển cho nên chỉnh trang
binh mă ra lệnh cho tướng sĩ. Trời chưa sáng
đă ra đi. Từ xa hung nô nghe thấy tiếng nhưng
chưa chưẩn bị. Rồi lên xa giá, cưỡi
ngựa mang cung tên v.v....Không ngờ chuột ḅ ra cắn
đứt dây đai khi giáp trận, binh lính bên nầy
thừa thắng tấn công. Binh lính hung nô sợ hăi, v́
biết có thần linh giúp đỡ bên kia nên tan ră. Vua Cù Tát
Đản Na cảm ơn chuột nên dựng đền
nầy để cúng tế. Trải qua đời
đời đều tôn kính đặc biệt khác
thường. Cho nên trên từ quân vương dưới
đến lê thứ, hoặc sửa sang đền
thờ, hoặc đến đây cầu phước. Khi
đi đến hang đó thường xuống xa mă,
tỏ ḷng tôn kính. Thường hay cúng tế cầu
phước bằng y phục và cung tên hoặc hương
hoa đồ ăn v.v.....Lâu ngày thành một tục lệ.
Nếu không cúng tế sẽ có tai biến.
Cách phía tây của thành hơn 5 hay 6 dặm, có
một ngôi Già Lam tên là Ba Ma Nhược, trong đó có
một Bảo Tháp cao hơn 100 thước, thật là linh
diệu, thường phát ra ánh sáng. Tương truyền
rằng có một vị A La Hán từ xa đến dừng
chân ở trong rừng nầy dùng đại thần
lực phóng đại hào quang. Lúc ấy vào ban đêm vua
ở trong cung điện nh́n vào rừng thấy ánh sáng chiếu
diệu, cho nên mới hỏi và được báo lại
rằng:
- Có một Sa Môn từ xa đến, ngồi yên
trong rừng sâu hiện đại thần thông.
Vua bèn ra lệnh xa giá đích thân đến quan
sát, thấy được người hiền, tâm
thầm cung kính. Khâm thừa lời thỉnh, A La Hán cỡi
gió đến cung Vua. Sa Môn nói:
- Muôn vật đều có ư chí và có sự tồn
tại. Rừng sâu, đầm lạnh cũng có t́nh
thức. Nhà cao, lầu đẹp cũng chẳng phải
là điều ta nghe.
Vua thấy thế càng thêm kính ngưỡng hơn
nữa, cho nên Vua kiến tạo Già Lam và xây Bảo Tháp. Sa
Môn thọ sự thỉnh cầu và ở yên trong đó.
Rồi Vua nhận được cả hàng trăm viên xá
lợi rất vui mừng liền tự nghĩ rằng:
Xá Lợi ứng hiện như thế có
điềm ǵ, liền cho an trí vào nơi bảo tháp, há
chẳng phải là một Thánh tích sao? T́m đến Già Lam
bạch cùng Sa Môn và vị A La Hán bảo rằng. Vua
đừng có lo. Bây giờ an trí vào rồi sẽ có vàng
bạc đồng thiếc ở trong động đá
đấy nữa, mà càng ngày càng nhiều.
Vua ra lệnh cho thợ phải hoàn tất trong
ṿng một ngày rồi chở những bảo vật
ấy đem vào cúng dường trong Già Lam. Lúc ấy, cung
Vua quan dẫn hàng vạn thứ dân đến chiêm
ngưỡng và cung nghinh xá lợi. Vị A La Hán nâng Bảo
Tháp đặt vào giữa và nói với Vua:
- Có thể giữ ở đây rồi sẽ
để yên trong hộp nơi đất. Sau đó
để vào tháp chẳng có mất mác. Xem xong liền than
rằng thật là hiếm có rồi tâm thâm tín Phật càng
tăng và ḷng kính trọng Giáo Pháp càng kiên cố. Vua nói
với quần thần:
- Ta thường nghe Phật lực khó biết,
thần thông khó được, hoặc phân thân trăm ngàn
ức lần, hoặc ứng hiện nơi trời
người, ở thế giới nầy cầm giữ
chúng sanh, làm cho không động tịnh rồi diễn nói
pháp tánh với âm thanh b́nh thường, chúng sanh tùy từng
loại một mà giác ngộ. Đây là loại thần
lực chẳng phải binh lính mà trí tuệ không phải
dùng lời. Sự linh thiêng đó đă làm ổn
định lời dạy dỗ truyền đạt.
Thức ăn nước uống theo gió mà đến.
Thấy sự linh diệu nầy càng tin tưởng vào
phước đức hơn. Rồi ai nấy cũng tôn
kính sâu xa. Phật Pháp cao sâu đă làm sáng ra điều
đó.
Phía đông nam vương thành đi năm sáu
dặm, có ngôi Già Lam tên là Ma Xà. Già Lam do Hoàng hậu của
nước nầy lập nên. Ngày xưa nước ấy
chưa biết dệt vải nuôi tằm. Cho nên ra lệnh
cho sứ đi t́m nơi nước phía đông. Lúc ấy,
Vua nước phía đông nghiêm cấm không cho xuất
cảng tơ tằm ra ngoài, cho nên Vua Cù Tát Đản Na
mới cầu hôn với nước phía đông để
mong được giống như chí nguyện. Sự
thỉnh cầu của Vua được như ư. Sau
đó Vua Cù Tác Đản Na ra lệnh đi đón dâu và nói:
- Cô sẽ là quận chúa từ phía đông
thuộc nước của cha nơi đây, chưa có
loại tơ sợi dâu tằm, cho nên cố gắng mang
đến để may y phục.
Công nương nghe lời liền mật t́m
được loại ấy, rồi cho con tằm bỏ
vào trong lá dâu để mang đi và canh pḥng cẩn mật.
Mọi người bị lục soát, nhưng trên mũ
của vương nữ không bị kiểm tra. Dâu tằm
được mang vào nước Cưu Tác Ma Đản
Na. Quận chúa ở tạm chùa Ma Tạ. Rồi từ
đó dùng nghi lễ nghinh vào cung nội. Mùa xuân cây dâu
được trồng xuống đất. Khi con tằm
đến tháng, lá dâu nuôi duỡng. Đây là thức ăn
chính của tằm. Từ đó về sau cây dâu càng ngày càng
nhiều. Vương phi đă cho khắc lên bia đá không
được giết hại tằm, v́ tằm ấy sẽ
nở ra con. Nếu ai vi phạm, sẽ bị thần linh
phạt vạ. V́ con tằm ấy mà kiến tạo nên Già
Lam và dùng rất nhiều cây dâu khô. Đây là cây căn
bản cho tằm. Ra lệnh nước đó không
được giết hại tằm, rồi thâu lấy
những loại tơ sang năm sẽ có tằm trở
lại.
Về phía đông nam của thành đi hơn 100
dặm có một sông lớn chảy qua hướng tây
bắc. Người dân ở đó lợi dụng
để đưa nước vào ruộng và cứ
tiếp tục chảy măi như thế. Nhà Vua thầm kinh
dị liền xa giá đến hỏi vị A La Hán
rằng:
- Nước của sông lớn mà người dân
lấy đi như vậy có làm giảm nguồn
nước và ở có yên không, chánh sự có b́nh
thường không, cái đức có hợp chăng.
Chẳng biết việc ǵ xảy ra nữa?
A La Hán đáp:
- Đại Vương trị nước đă
thuần hóa nhân dân. Nước sông lưu chảy v́ Long
Vương đă từ xa do sự cầu khẩn mà làm lợi
ích.
Do vậy, Vua hồi giá dựng đền
thờ Long Vương. Có một người con gái bị
chết ch́m, đến nói rằng:
- Con bị chết sớm, Vua không có người
nối dơi cho nên nước sông kia c̣n chảy th́ làm cho nông
dân thất lợi. Vua nên tuyển một người trong
quốc nội gă cho con th́ nước sẽ chảy
trở lại như xưa.
Vua đáp
- Ta đồng ư ước muốn của
ngươi.
Con rồng vui vẻ với vị Đại
Thần. Vua liền hồi giá họp quần thần
lại và bảo.
- Đại thần của các nước đă
trấn giữ. Sự ăn uống của con
người là do nông vụ cung cấp. Nước mà không
có sự trấn giữ th́ sẽ nguy nan. Người mà
không ăn sẽ chết. Sự nguy hiểm của
chết chóc đến có thể làm ǵ được.
Đại thần rời khỏi ghế quỳ
xuống mà tâu rằng:
- Đă lâu rồi lănh trọng trách nầy
thường muốn báo đền ơn nước mà
chưa gặp lúc. Nay phần dự tuyển nầy đă
đến, thật là đúng lúc. Há trong bá tánh chỉ có
một ḿnh thần, mà thần là cánh tay phải của
đất nước. Đất nước đối
với người là chánh. Nguyện đại
vương nên xét lại, v́ hạnh phúc của
người dân mà tu phước kiến tạo Già Lam
Vua đă theo sự mong cầu mà làm trong ṿng
một ngày. Vị thần kia được thỉnh vào
Long cung và đă cùng quốc dân đánh trống thổi
nhạc ăn uống. Rồi vị thần đó mặc
áo cỡi ngựa trắng từ tạ Vua, cảm tạ
Quốc Dân, cùng ngựa lặn vào trong nước. Vào trong
nước mà không bị chết đuối, rồi chạy
dọc theo ḍng nước. Nước đă mở ra
rộng dần, rộng dần măi, c̣n con Bạch Mă th́
nổi lên mang lên một trống chiên đàn cùng một
phong thư. Trong thư đại ư viết rằng:
- Đại Vương rất là tử tế
tuyển chọn thần không sai. Nguyện v́ lợi ích
của quốc dân mà làm thần. Cái trống lớn nầy
nên treo phía đông nam của thành. Nếu có kẻ
cướp đến, đánh trống lên sẽ bị
chấn động, nước sông sẽ chảy.
Cho đến bây giờ người ta vẫn c̣n
lợi dụng, nước chảy nhưng thời gian
năm tháng cái trống của rồng không c̣n nữa và
sự linh nghiệm của ngày xưa, bây giờ chỉ c̣n
một cái ao hoang phế nằm bên cạnh Già Lam chẳng
có Tăng đồ.
Cách Vương thành về phía đông hơn 300
dặm, có một đầm lớn hoang sơ. Trong đó
có mười khoảng đất trống không có cây
cỏ. Đất ở đây màu đen màu đỏ. Nghe
các bậc kỳ lăo kể rằng:
Đây là nơi bại quân. Ngày xưa hàng trăm
vạn binh lính từ phía đông kéo qua xâm lăng. Lúc ấy
Vua Cù Tát Đản Na cũng chỉnh trang binh mă, số
hơn vạn người chống lại quân bên đông.
Khi đến đây, hai bên quân lính xáp trận đánh nhau.
Binh phía tây thất lợi nên binh phía đông thừa
thắng tàn sát và Vua cũng bị giết cho nên thù nầy
sĩ tốt chưa phục hận được và máu
huyết ấy nhuộm đất nầy trở thành màu
như vậy.
Cách chiến địa về phía đông hơn
30 dặm đến thành Câu Ma. Nơi đây có khắc
một tượng Phật đứng bằng cây Bạch
Đàn cao hơn 2 thước, rất linh ứng,
thường chiếu ra ánh sáng. Phàm có kẻ tật
bịnh đến cầu nguyện. Họ dùng vàng lá dán lên
tượng và dùng tâm chí thành cầu nguyện bịnh kia
được thuyên giảm. Nghe người xưa nói
lại rằng:
- Tượng Phật ấy ngày xưa khi c̣n
tại thế do Vua Ô Đà Diễn Na của nước
Kiều Thường Di làm nên. Sau khi Phật Nhập
Diệt rồi. Tượng ấy tự bay lên hư không
đến nước nầy và ở thành Yết Lao
Lạt Già nằm phía bắc. Lúc đầu, khi
tượng vừa đến thành th́ nhân dân an lạc giàu
có. Sự thâm tín tà kiến bây giờ không c̣n trân quư nữa.
Họ truyền nhau rằng từ đó thần không
được quư trọng. Sau đó có một vị A La
Hán đến lễ bái tượng và người dân
rất kinh ngạc lạ lùng trước dung mạo và y
phục cho nên mới đến tâu Vua và Vua hạ lệnh
lấy đất cát để phủ lên người
nầy. Thời A La Hán bị đất cát phủ lên thân,
không ăn uống ǵ được. Lúc bấy giờ có
một người chẳng nhẫn được v́ ngày
trước thường cung kính tôn trọng lễ bái
tượng nầy, lại thấy vị A La Hán không
ăn uống được cho nên vị A La Hán
đến bảo người này rằng sau bảy ngày
thường có mưa, cát và đất sẽ chôn lấp
đầy cái thành nầy, không trừ một loại nào.
Ngươi nên biết mà hăy đi sớm đi. Nếu mà
bị bột phủ lên tôi th́ tai ương không thể
lường được. Nói xong rồi đi không ai
thấy nữa. Người ấy vào thành báo cho mọi
người biết. Có người nghe chưa tin mà c̣n
cười. Đến ngày thứ hai gió lớn thổi
đến, mưa nặng hạt, nước dâng lên
đường. Người mà bị chửi bới
đó bây giờ họ mới biết tâm của
người nầy và họ đă mở đường
sống bằng cách đục một cái hang ra khỏi
thành. Đến đêm ngày thứ bảy, mưa cát và
đất đầy trong thành. Mọi người ra
khỏi thành bằng đường hầm. Đi về
phía đông đến nước này dừng lại ở
thành Câu Ma. Người lạ lùng đó đến viếng
tượng nầy cúng dường mà không thể di
chuyển cái tượng được. Nghe người
xưa kể lại rằng:
- Khi Giáo Pháp của đức Như Lai diệt
tận rồi, tượng nầy sẽ vào Long cung và bây
giờ tượng c̣n ở tại nước thành
Yết Lao Lạt Già. Đa phần các vị quân
vương của các nước khác đều muốn
đào lên để lấy Bảo Vật nầy; nhưng
liền bị gió mạnh thổi đến một cách tàn
bạo, khói lửa sấm sét nổi lên bốn bề, không
thấy đường sá. Sông Côn Ma ở phía đông cát
tràn vào đầy. Đi hơn 200 dặm, đến thành
Ni Hoạch. Chu vi thành nầy khoảng ba bốn dặm.
Tại giữa hồ, nước rất nóng, khó có thể
lội được. Cỏ cây hoang tàn chẳng mọc
được, chỉ có một con đường thông
qua thành có thể đi được mà khách văng lai chưa
biết lư do thành nầy. Nguyên do là Vua Cù Tát Đản Na
đă v́ biên giới phía đông mà pḥng ngừa cho nên từ
đây qua đông phải vào trong một băi cát lớn. Băi
cát đó tụ tán tùy theo gió thổi. Người đi khó
để lại dấu vết, nhiều lúc quên
đường. Bốn phía mênh mông chẳng biết nơi
đâu. Có nhiều khách văng lai đă để lại hài cốt
nơi nầy. Hiếm nước, cỏ nhiều, gió nóng.
Khi gió thổi người và vật bị hôn mê, nhân đây
thành bịnh. Lúc ấy nghe tiếng ca hát hoặc nghe
tiếng khóc lóc bi thương. Khi nghe thấy như
vậy th́ bỗng nhiên chẳng c̣n thấy đâu nữa mà
mạng ḿnh cũng bị diệt vong theo. Đây là do
quỷ mị hôn ám che lấp vậy. Đi hơn 400
dặm đến nước Đổ La. Nước
nầy thành không nhà trống tất cả đều hoang
phế. Từ đây đi về phía đông hơn 600
dặm, đến nước Kỳ Ma Đà Na.
Nước Kỳ Ma Đà Na thuộc xứ
Ổn Mạt, thành quách xiêu vẹo. Chẳng thấy
một bóng người. Từ đây đi về phía
đông bắc hơn 1000 dặm, đến nước
Nạp Phạt Ba tức là thuộc đất Lầu Lang.
Nơi đây sông núi hiện hữu nhưng khó
tường. Nước nầy phong tục cương
nhu. Đất nước gió lửa động tĩnh khó
lường.
* * *
Sự thế khó lường chẳng biết nói
sao cho đủ. Sự ra đi đă được tùy
nguyện nên sự trở về chỉ lược nói
như thế thôi. Ai nghe biết được việc
nầy mà cảm hóa, th́ cũng biết rằng ngày tháng
đă trôi qua và tương lai sẽ thấm nhuần ơn
huệ. Gió bụi trên đường dài cùng với ḷng
khát ngưỡng cái đức ở trong thiên hạ mà
giữ lấy bên trong. Cái đức đó đồng
với thiên hạ trong vũ trụ nầy. Há một
kẻ đơn thương độc mă ra đi làm
sứ giả thông qua vạn dặm. Chẳng đúng
sao?
Ghi lại nơi đây rằng thật là vui thay.
Pháp Vương đă ứng thế vận chuyển đă
giáo hóa sinh linh. Dùng thần thông để biến hoá nơi
hư không cho đến h́nh thức con người nơi
sa giới. Tất cả đều khởi lên sự
cảm tạ nơi kiếp trần ai. H́nh hài tuy mai
một nhưng sự ứng hóa th́ chẳng sanh. Thâm tạ
nơi hiển thị tịch diệt nhưng thật ra
không diệt. Há thật nơi ḍng họ Thích Ca mà giáng thế,
nơi Sa La diệt độ, phải nên biết rằng
đó chỉ là ứng vật giao linh. Cảm đến
nhân duyên mà tồn tại, làm cho mọi loài được
lợi lạc. Nơi ḍng họ Thích Ca là bậc trung tôn
kính ngưỡng. Đối với bên ngoài đă từ
bỏ ngôi vị Kim Luân mà ngự phục trong Pháp giới,
bỏ sự giàu sang mà nhiếp hóa hàm sanh trong mười
phương. Biết tất cả vạn vật tuy
rằng khó ra khỏi mà ai nghe được ba lần
chuyển Pháp Luân trong đại thiên. Âm thanh chấn
động đến mọi loài, tám vạn pháp môn riêng
biệt, mười hai bộ kinh làm tông yếu. Đây là
văn giáo làm tươi nhuận quần sanh. Phước
đức giống như rừng, gió mưa như
trống giục. Chở nơi này đến nơi
thọ mạng, mà Thánh Hiền do nghiệp dĩ mà thành.
Trời người cũng nằm trong nghĩa ấy. Sau
nầy quên đi sự động tịch giữ vững
nơi rừng sâu, biết trước sau thế gian
đều là huyễn cảnh, nhưng không thể chờ
đợi, chẳng có ǵ mà không toại nguyện. Tôn
giả Ca Diếp đă chọn ứng chân, muốn báo ân
Phật liền vân tập Pháp bảo, gồm lại
trước sau ba tạng thiết yếu. V́ sự
chấp trước của bộ phái mà giáo pháp có khác nhau
trong sự tồn tại.
Từ khi giáng sanh cho đến khi thác hóa, nơi
Thánh tích cả ngàn sự biến dạng linh hiển vạn
năng. Điều linh hiển ấy khôn cùng. Dạy cái
lẽ vô vi mà mới thêm vào cho đẹp kinh văn.
Rồi biên chép rơ ràng lưu truyền sau đó trở thành
lời nói. Tuy khác nghĩa nhưng hổ tương nhau
đầu đuôi đều là những lời chân chánh. V́
sự thật mà sao lục lại, v́ đại chúng mà
luận nói nghĩa văn. Huống ǵ Chánh Pháp lại thâm
sâu mà lư giải lại nông cạn. Sự nghiên cứu
về áo nghĩa cũng như văn chương có
nhiều sự liên hệ, cho nên trước phải tu cái
đức, kế tiếp mới học cái việc
dịch kinh để cho người sau làm mô phạm v́
thế mà giản lược lời văn, mà ư nghĩa
lớn vẫn không bị che lấp. Lời nói ấy
chưa được nghe, th́ giáo pháp lần lần lưu
chuyển.
Qua nhiều năm tháng bắt đầu từ
nhà Hán đến bây giờ. Vua ra lệnh truyền dịch
để đời đời được lưu danh
sáng ngời nơi hậu thế. Cái lẽ huyền
diệu của Đạo chưa được hả
dạ mà cái chân tông ấy như là mùi ngon. Chẳng phải
bậc Thánh dạy để làm hành trạng mà do Vua
được phong hóa có nên. Ta đă được sinh ra
trong triều đại nhà Đường làm cái việc
nổi trôi nơi Hải ngọai. Khảo sát những hành
tung của Thánh Nhơn v́ tiên vương mà t́m nên
điển cũ. Nhằm thời tượng pháp
khuất đi lời dạy mà đạo chẳng
phải là cái không không. Sự truyền thừa là do cái
đức sáng làm cho ba thừa áo nghĩa che khuất
cả ngh́n năm, mười lực hiển linh xa xôi ngoài
vạn dặm. Thần thông chẳng có nhưng lời
dạy của Thánh ly kỳ cho nên chờ nhân duyên thuận
tiện mới dùng lời nói để làm tin. Phàm Huyền
Trang Pháp Sư nầy việc chú giải rơ ràng lưu
chuyển như sấm như nước cuồn cuộn
chảy như sông kia, đó đều do cái đức bên
trên mà làm tỏ rơ vậy. Thân ngũ uẩn điều ḥa
thuận lợi là do hợp với cái đức của
ḷng người. Sống trong sạch ra đi đơn
độc là do cây phước lấy làm nhơn. Thân
mệnh nầy ngẫu nhiên trôi nổi ở trong kiếp
phù trần ở yên học tập. Thờ thầy
trước với lời giáo huấn, ngưỡng
vọng cái triết lư sâu xa, v́ cái đức mà phụ
tất cả để ra đi học hỏi. Đi
đến nơi xa xôi để học tập rồi
lưu lạc nơi xứ người. Trải qua không
biết bao nhiêu nơi chốn. Bỏ lại sau lưng ba
sông mà vào nước Tần, đi bộ ba phen vào nơi
đất Thục, rồi đến nước Ngô, học
hỏi t́m cầu nhận được bao nhiêu lời
khưyến khích của những bậc mẫn thế anh
hiền. Thông cảm cho ư chí cầu pháp mà v́ những dư
luận xôn xao. Khảo sát ḷng người t́m kẻ chuyên
môn giúp sức. Sự ghen ghét của người ngoại
đạo, do tấm chân t́nh trải rộng bàn sâu mà ư chí
c̣n tồn tại để khảo tra tinh tế. Thuộc
bốn biển, lại có nơi cắt đứt gặp
tám bề chẳng phải không Nghiêu. Vào ngày mồng một
giữa mùa thu năm Trinh Quán thứ ba, đă y áo ra đi,
chống gậy mà thẳng tiến. Nhờ ơn
đức của Vua mà hỏi đường ra đi
chỉ một ḿnh cô độc. Khỏi cửa thiết,
gặp cửa đá hiểm nguy, vào rừng sâu vượt
núi tuyết gian nan muôn phần. Nhiều lần khó khăn
mới đến được Ấn Độ.
Thấy phong tục tập quán của nước
đặc thù như thay đổi vào lănh vực khác.
Tự thân lo học Phạn ngữ t́m cầu triết nhân.
Những điều nghi đă được rơ nhờ
chữ nghĩa phơi bày. Yếu chỉ học vấn
rộng răi tài cao cũng nhờ hồng ân gia hộ mà thâm
sâu diệu lư. Đó là cái đạo của con người
vậy. Nghe cái điều chưa từng nghe,
được những ǵ chưa từng được.
V́ đạo tràng mà làm lợi ích cho mọi người,
đă trở thành Long Tượng trong Pháp Môn tu học.
Biết được cái đạo phong như thế nên
chiêu mộ trước tác. Với đức hạnh cao
minh cùng cái học sâu dày xa xôi nơi vạn dặm, mà
người Ấn Độ ngưỡng vọng cái
đức nầy. Mắt thấy tai nghe và nh́n xem Pháp
tướng là học tṛ của tiểu thừa ngài
Mộc Xoa Đề Bà (Thoát Thiên) là học tṛ của
Đại Thừa hiệu là Ma Ha Già Na Đề Bà
(Đại Thừa Thiên) đều là những bậc
đức cao hạnh cả truyền lại. Cung kính
những bậc Thầy nầy mà tạo thêm danh tiếng.
Cho đến việc ư nghĩa của ba thừa ba lần
thỉnh của lời xưa. Nghiên tầm sâu xa cặn
kẽ nguồn chơn lưu chuyển. Biết rơ cái
Diệu Lư vô cùng như cành lá, rồi hoát nhiên trí huệ khai
thông. Lư nào rồi cũng thuận, việc nghi ngờ nào
rồi cũng rành rẽ phơi bày. Nghĩa là rơ cái
nghĩa và thông cái ư như chuyên chở được gió
mát trăng trong mà học cái điều cao rộng
để cái đức làm hưng thạnh cho đời.
Như thế đó mà trải qua sông núi, bồi hồi
nơi làng ấp. Ra khỏi thành nầy vào nơi Lộc
Uyển rồi đi đến rừng kia gặp
động Kê Túc. Trở lại nước Bào Ca Di, lưu
nước mắt nơi thành Câu Thi cũng như nơi
ngài giáng thế. Rồi băng sông vượt suối t́m
đến dấu tích cũ chốn Linh Sơn. Đối
trước cảnh cũ như mang mang. Thấy di tích ngày
xưa c̣n đọng lại. Ngưỡng mặt lên
chỉ c̣n trách than dài. Chẳng biết ǵ hơn là nỗi
niềm bi thống. Hận ḿnh quá xa di văng và bây giờ
chỉ có cách làm rơ đức của Thích Ca. Vẽ lại
sự thật của Ấn Độ từng phong thái
được ghi ra nhiều Thuyết khác mà năm tháng
đă trải qua. Sự lạnh lẽo của đêm
đông, sự nhớ mong niềm vui cố quốc
nhưng không quên t́m ra dấu tích, và thỉnh được:
- Nhục xá lợi của Như Lai
được 150 viên.
- Một bức tượng Phật vàng cao
độ 6 tấc.
- Lại có thêm ảnh tượng nơi
nước Ma Kiệt Đà của thần rồng
trước khi thành Chánh Giác.
- Lại một tượng bằng vàng khác
chiếu sáng hào quang cao hơn 3 tấc 3.
- Tại nước Bà La Ni Tư, nơi
vườn Lộc Uyển với thân thế sơ
chuyển Pháp Luân. - Rồi một tượng Phật
bằng Bạch Đàn với tư thế hào quang
chiếu rọi cao 5 tấc tại nước Kiều
Thường Di do Vua Xuất Ái cảm thâm ân Như Lai mà cho
điêu khắc trên gỗ Bạch Đàn.
- Lại một tượng gỗ Bạch
Đàn khác cao 2.9 tấc với dáng ngồi phóng quang
thuộc nước Kiếp Tỷ Tha, khi Như Lai từ
Thiên Cung bước xuống.
- Một tượng Phật bằng bạc
với dáng ngồi phóng quang cao 4 tấc từ nước
Ma Kiệt Đà ở Linh Thứu Sơn thuyết pháp.
- Lại một tượng Phật bằng vàng
ngồi phóng hào quang cao 3.5 tấc tại nước Na
Yết La Yết, với h́nh dáng hàng phục Độc
Long.
- Lại một tượng Phật bằng
trầm ngồi phóng hào quang cao hơn 3 tấc tại
nước Tỳ Xá Ly khi đi tuần hành.
- Đại Thừa Kinh gồm có 224 bộ
- Đại Thừa Luận gồm có 190 bộ
- Thượng Tọa Bộ Kinh, Luật,
Luận 14 bộ
- Đại Chúng Bộ Kinh, Luật, Luận 15
bộ
- Tam Di Đề Bộ Kinh, Luật, Luận 15
bộ
- Sa Di Tắc Bộ Kinh, Luật, Luận 22
bộ
- Ca Diếp Tư Da Bộ Kinh, Luật, Luận 17
bộ
- Pháp Mật Bộ Kinh, Luật, Luận 42 bộ
- Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ Kinh,
Luật, Luận 67 bộ
- Nhơn Luận 36 bộ
- Thanh Luận 13 bộ
- Những bộ khác khoảng 520 quyển.
Tổng cộng là 657 bộ để hoằng
truyền Thánh Giáo vượt qua những chặng
đường khó khăn hiểm trở mới chuyên
chở được trở về. Ra khỏi
nước Xá Vệ rồi lần ḍ đến thành Già Da,
Bồ Đề Đạo Tràng. Xuyên qua núi non hiểm
trở; vượt qua sa mạc gay go.
* * *
Vào tháng giêng mùa xuân năm Trinh Quán thứ 19 (645)
về đến kinh thành. Về đến Lạc
Dương, liền được triệu thỉnh phiên
dịch kinh văn. Triệu tập những người có
học để hoàn thành sự nghiệp. Mưa Pháp
lại bao trùm, ánh sáng mặt trời lại rạng
tỏa. V́ mạng mạch lưu thông giáo hóa nơi non Linh Thứu
và cũng v́ huyền nghĩa nơi Long cung mà diễn
dịch cùng với h́nh tượng mang về. Pháp sư là
bậc thâm diệu vô cùng Phạn Ngữ cho nên đă
giải nghĩa kinh văn một cách sâu sắc. Biết
rành mạch văn như thế nào rồi, chuyển âm
ấy ra như tiếng thật.
Cung thừa Thánh chỉ, tuy văn mạch không
hay, phương ngôn chẳng thông. Phạn ngữ không rành
hết, nhưng v́ nhiệm vụ phải chu toàn,
để thu thập phần chánh yếu của kinh
điển, cho nên phải tham khảo v́ sợ sai sự
thật, mà có điều phạm với người
xưa. Nhọc tới h́nh hài liên hệ đến sắc
tướng, rồi nghiễm nhiên như thế mà tiến
hành Tây du.
Phàm Ấn Độ là một quốc gia mà
nơi các bậc Thánh đă giáng sanh, là nơi những
bậc Hiền minh trụ thế. Sách vở
được gọi là Thiên Thơ, tiếng
được gọi là Thiên Ngữ. Văn chương
sâu kín, âm vận khó lường, hoặc một chữ có
nhiều nghĩa, hoặc một nghĩa có nhiều
chữ, nghe thật khó hiểu phải điều ḥa âm
tiết. Tiếng Phạn thật thâm sâu, dịch phải
là người thật giỏi mới diễn tả
hết thật nghĩa mà cái nghĩa đó gồm cả
cái đức nữa. Với ng̣i bút dịch thuật
như thế phải điều ḥa cung điệu như
dây đàn thật không phải dễ. Đúng hay không
đúng không phải là điều luận nghị, mà cái chính
là truyền đạt được cái thâm sâu của kinh
điển, là nhiệm vụ rơ ràng. Cẩu thả sẽ
không giống bản gốc đó là cái Thiện của
người dịch. Văn chương không phải màu mè,
mà cái chất lượng là điều quan trọng không
thể quên được. Khi biện bạch mà không có
chất lượng không thể thắng được,
bắt đầu bằng những điều như
thế mà phiên dịch. Lư Lăo nói rằng:
- Kẻ dùng lời hoa mỹ là kẻ khó tin, mà tin
được kẻ đó phải là người không hoa
mỹ.
Hàn Tử nói;
- Cái lư mà đúng nằm ở nơi lời nói
thẳng. Kẻ nói lời trang sức để làm rơ cái
lư, th́ biết rằng chưa thuận với sư
phạm. Cái thâm thúy của sự vật ư nghĩa vốn
giống nhau. Huống đây là giáo pháp cao siêu phải làm sao
cho tồn tại cái niềm hỷ lạc. Sai bản
gốc, khác lời văn là một sự tai hại
lớn. Mà sự sơ suất đó do lời văn
xưa mà đấng Pháp Vương đă h́nh thành.
Sào Tố Kiểm nói:
- Diệu vợi thay! lời nói thẳng mà ngày
xưa đức Khổng Tử c̣n tại thế đă
nghe nói văn và người là một không thể riêng
biệt mà có, cho đến sách Xuân Thu ng̣i bút liền bút và
lời liền lời như học tṛ tắm vào mùa
hạ. Văn học của cửa Khổng thường
chẳng phải chỉ một từ, c̣n Pháp sư
dịch Kinh lại cũng ví như thế. Nếu
chẳng phải vậy th́ làm sao có thể hiểu nghĩa
được câu văn và trách nhiệm ấy thuộc
về người cầm bút. Huống hồ đây là v́
Đời và v́ Người, mà ghi khắc lại
để cho đời sau. Có thể tăng thêm sự
tổn hại Thánh Chỉ, nếu dịch sai ư Kinh
Văn.
Biện Cơ nối dơi nhớ ít, trong những
điều cao cả mà năm năm đă dùng ư chí
để học hành. Bỏ áo măo từ quan làm đệ
tử của Pháp Sư Đạo Nhạc thuộc Tác Bà
Đà Bộ chùa Đại Tổng Tŕ. Tuy gặp đá
tốt nhưng cây khô khó khắc, để cho lời Pháp
lưu truyền, mỡ thoa không thấm, nhân công ăn
tốn mà ngày tháng cứ qua. Ngồi nh́n tường qua năm
tháng cứ thế mà trôi. Đến kỳ lễ Hội
phụ ḷng kẻ có công đă rộng tay bảo bọc.
Chừng ấy mệnh lệnh mà tài trí lại
thường, chỉ nương vào ư chí mà làm. Học
chưa thông bác cổ, Văn cũng không diễm lệ nhu
ḿ. Mài dũa làm đẹp. Sức lực mơi ṃn chỉ cung
thừa chí nguyện mà ghi lại, để viết thành
Văn. Thượng Thọ dâng bút tạo lễ hoàn thành.
Trí thiển có thể lệch lạc, nhiều điều
thất thoát, hoặc tươi sáng thường chẳng
sai lầm. Ngày xưa Tư Mă là sứ giả của
Trương Lương là bậc tài đức đă viết
tựa công thơ cho Thái Sứ nhưng cha con kế
nghiệp, hoặc có tên mà không có chữ, hoặc có tên
huyện mà không có tên quận. Cho nên nói rằng một
người mà tinh thông suy nghĩ th́ câu văn già dặn, v́
không rơ vậy. Huống ǵ kẻ trí ngu mà có thể lăm
tường được tất cả. Lại phong thổ
tập tục khác nhau, ghi lại những cương
giới vật sản. Tánh trí cũng khác biệt. Thời
tiết lạnh nóng khó lường. Cho nên viết lại
có ưu có nhược, chỉ lấy cái gốc thật và
tánh để gọi xưng tên nước. Về phong hóa
của nước Ấn Độ, xấu tốt phân chia
và trong sách nầy chỉ khái lược mà thôi như ở
phần vào đề đă nói. Nghĩa là làm người
khách th́ vấn đề lễ nghi càng phải cẩn
trọng hơn. Những kẻ chứng đắc
hoặc những người mặc y hoại sắc
cũng chưa ghi rơ ràng. Chỉ nhờ vào thần thông
của Phật mà tiếp nhận sự linh thiêng kỳ
diệu chưa tường. Cho nên nói rằng thần thông
ấy là một đạo thẩm sâu mà con người
không thể dùng lư để giải được. Sự
linh thiêng u hiển là cái sự để ra khỏi bầu
trời. Đây là lănh vực nơi Phật giáng thế,mà
bậc Thánh ngày xưa đă truyền lại cái đẹp
đẽ ấy. Lược tuyển những điều
linh dị để góp nhặt ghi vào đây.
Đường đi diệu vợi, nơi chốn
trở về và cuộc hành tŕnh ấy đă viết nên
thành sách, chẳng phải ghi hết nơi tập sách
nầy. Cho nên ở Ấn Độ không có biên giới
để ngăn chặn sách vở của nước,
khác trong từng khu vực. V́ vậy sách vở đă theo
người trở lại đây. Kẻ viết lời
ấy đă đích thân nghe và ghi lại được mà
giải rơ trong sách nầy, hoặc tạo thành câu văn,
để thấy chỗ tốt hoặc là chỗ yếu
mà thuật lại như trên, v́ nhiệm vụ đă sao
lại như thật. Sau đó kính dâng lên Hoàng Đế
vào tháng 7 mùa thư năm Trinh Quán thứ 20 (năm 646
ND).
Dừng bút, dứt lời tạo thành một
bức tranh chữ nghĩa và mong Thánh Hoàng chiếu giám
để cho tỏ mặt Thiên Nhan, mà bày hết cái chỗ
vô cùng, với ḷng thành thật được triều
đ́nh cảm hóa, hoài mong gửi đến thành thật
tấu bày.
Tiên Vương linh thiêng chiếu giám trong cảnh
hoang sơ chẳng phụ công phụ vương mà biết
được ngàn dặm, nghe và thấy được
công đức kia, từ núi Linh Thứu ở nơi xa xôi;
Vườn Lộc Uyển xứ ấy ngàn dặm xa
vời như hiện ra trước mắt. Tưởng
như đích thân ḿnh đi đến đó mà trong kim
cổ chưa từng nghe biết. Những điều
chưa nghe, chưa biết đó đă ghi lại ở
trước rồi. Đây là do cái đức thọ
mệnh đặc thù của quân vương mà có
được. Thuần phong mỹ tục ở cánh
cửa phương xa, thật khó mà hiểu hết. Là
điều ở bên ngoài mà do địa phương núi
sông cách trở. Ban bố sách nầy ra khắp nơi, v́
sự hiểu biết của người khác mà biên
tập thành.
Đại Đường Tây Vức Kư hết
quyển thứ mười hai
-ooOoo-
Dịch tổng cộng 12
quyển xong vào ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện
Đa Bảo, Úc Đại Lợi Nhằm ngày Vía
Đức Phật A Di Đà 17 tháng 11 năm Quư Mùi, PL 2547
Công đức Phiên dịch
lớn vô cùng
Phước báu vô biên hồi hướng chung
Nguyện cầu chúng sanh trong pháp giới
Tất cả sanh về cơi Tây phương
Nguyện đem công đức
nầy
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật Đạo