ĐẠI HỌC QUỐC TẾ
TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ
(INTERNATIONAL
THERAVĀDA BUDDHIST MISSIONARY UNIVERSITY)
Thích Giác Hoàng
******
Một số bạn đồng học lúc trước
đă vô internet truy cập các thông tin của trường,
có đôi lần trao đổi với người viết.
Những thông tin mà trang web do ban Tôn giáo chính phủ Miến
thiết kế cung cấp về trường lớp
hơi khiêm tốn, không cung ứng đủ cho nhu cầu
của một sinh viên nghiên cứu muốn qua xứ mà ngày
xưa được mệnh danh là “Đất Vàng” (Suvaṇṇa
Bhūmi = Kim Địa) để học thêm. Để bổ
túc những thông tin vắn tắt trên mạng, xin lược
ghi lại những điều cần yếu nơi đây
mà phần lớn bạn bè đă hỏi. C̣n về
giáo tŕnh, trước mắt chưa xin được bản
đánh máy của nhà trường, nếu được sẽ
gởi đăng để độc giả có thể
tham khảo trực tiếp bằng Anh ngữ.
I.
CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ MÔI TRƯỜNG
Đúng như lời giới thiệu trong các tài
liệu về trường. Trường
khá đẹp, trải rộng trên một diện tích khá rộng,
chia thành 2 khu. Khu 1 bao gồm những dăy
lầu nguy nga với đường nét kiến trúc,
điêu khắc hoạ tiết cổ truyền, màu vàng sặc
sỡ. Trong ấy là thư viện,
thiền đường, văn pḥng, pḥng làm việc của
các vị chức sắc lănh đạo, pḥng phát hành, v.v…
Phía sau là những dăy nhà, gồm kư túc xá Nam (dành cho cả
Tăng Sư và nam cư sĩ), kư túc xá nữ (cho cả
chư Ni và nữ cư sĩ), pḥng thọ trai, nhà trù, v.v…
Phía bên tay trái từ những toà nhà khang
trang, tráng lệ từ mặt đường nh́n vào là khu
chung cư dành cho chư tôn túc lănh đạo, giáo thọ
sư và những vị phụ trách các mặt của
trường lưu ngụ.
Khu 2 hoàn
toàn độc lập, nằm hẳn bên kia
đường lộ, là một khu dành cho thế giới
học hành, nghiên cứu, dịch thuật, với khung cảnh
thoáng mát. Diện tích có lẽ chỉ bằng 1/3 hoặc 1/4
khu 1, nhưng cây cối xanh tươi, tĩnh mịch, xen
lẫn là 4 toà nhà 2 tầng dành cho lớp học, văn
pḥng trường; quả thật là lư tưởng cho học
tập, nghiên cứu, giảng dạy của một trường
đại học thiên hướng tâm linh. Nơi đây,
không có bóng dáng của xe cộ ồn ào náo nhiệt, quần
là áo lụa của thị thành, mà thay vào đó là tháp thờ
Xá Lợi Răng Phật sừng sững uy nghiêm bên cạnh
trường, cảnh trí hết sức yên tịnh và tôn
nghiêm.
Ở Kư túc xá nam, mỗi dăy lầu đều có một
pḥng thờ Phật lớn gấp đôi pḥng học dành
riêng cho sinh viên. Chư Tăng có thể lễ
Phật, tụng kinh, toạ thiền vào những giờ riêng
của ḿnh. Nói chung, môi trường
và không khí học tập ở đây quả thật là tuyệt
vời. Cho tới năm 2006, có lẽ đây là môi trường
Đại học Phật giáo tốt nhất trong các nước
theo truyền thống Theravāda, có chế
độ học bổng toàn phần, ngoại trừ tiền
vé khứ hồi và các chi phí cá nhân. Ở Thái,
trường Đại học Mahachulalongkornrajavidyalaya dầu
có cấp học bổng từng học kỳ cho những
sinh viên xuất sắc, nhưng môi trường học
tập và lưu trú vẫn không thể nào so sánh với Miến
được. Mỗi sinh viên được
một pḥng độc lập, không rộng lắm nhưng
có lẽ quá đủ cho một sinh viên hay một nghiên cứu
sinh học hành, ngủ nghỉ. Những dăy hành lang thoáng mát ở các dăy lầu cũng thật
là lư tưởng để sinh viên không bị g̣ bó tù túng sau
những giờ học căng thẳng. V́ là
cơ sở mới, nên việc bảo tŕ khá tốt, sạch
sẽ, khang trang.
Mặc dầu vậy, không phải tất cả
sinh viên đều được ưu đăi, có pḥng ốc
ổn định. Các Sư và Ni Cô Miến
chỉ được thọ thực vào buổi ngọ
trưa tại trường mà thôi. Ăn rồi, chẳng
có chỗ nào nghỉ trưa, cứ chen
chút vô pḥng thờ Phật mà nghỉ tạm, chờ tới
1 giờ kém lại đi học. Có lẽ nhà trường
không đủ kinh phí để trang trải mọi thứ,
nên sinh viên Miến đành chịu hy sinh như vậy !
Các Sư
từ các tỉnh khác về học cũng giống như
quư Thầy Cô ở Việt Nam từ các tỉnh về
Saigon học, phải đi xin các tự viện gần
trường tạm trú. Năm nay chỗ này,
sang năm chỗ khác, quả thật gian nan! Môi
trường tự viện có nơi phù hợp với việc
học, có nơi không, cũng không khác ǵ hiện trạng ở
Việt Nam. Các cư sĩ th́ hoàn toàn tự túc lấy,
không được hưởng chế độ đặc
ân nào, ngoài những sách giáo khoa, tài liệu
học tập. Vào những ngày nghỉ cuối tuần hoặc
chuẩn bị thi cử, chư Tăng Ni Miến Điện
cũng về trường để thọ trai, quả thật
là vất vả, v́ ở tại tu viện hầu hết
chư Tăng, kể các các tiểu Sa di tại bản viện
mỗi ngày đều phải khất thực.
Thời
tiết ở Yangon khá ổn định, không đến nỗi
khắc nghiệt như ở Ấn Độ. Mùa an cư mưa nhiều. Một
năm mưa gần như cả 6 tháng. Mưa rào,
mưa ngâu… đủ loại mưa, làm cho một vài vị
có tâm hồn “nghệ sĩ” lần đầu tiên xa quê
hương, xa chùa, xa Thầy tổ, xa thân hữu, nhất
là những ngày đầu mới qua, cứ muốn oà ra mà
khóc, may là thời gian quá ít không đủ để học
bài, không đủ chữ nghĩa để trả bài ngày
mai, không đủ chữ để viết cho kỳ thi sắp
tới, nên rồi mọi chuyện cũng qua mau !
II.
ĐỜI SỐNG SINH VIÊN
V́ là được học bổng nên nhà trường
sắp xếp hết mọi thứ, sinh viên không phải
lo bất cứ việc ǵ. Một khi
đă đậu vào trường, sinh viên được
hưởng mọi quyền lợi, kể cả cư
sĩ tại gia ngoại quốc. Visa
được nhà trường đăng kư, không cần
phải đóng visa phí, hết hạn th́ nộp cho nhà
trường, và như vậy cho đến khi ḿnh hết
tiêu chuẩn sinh viên.
Trong
năm có một hai đợt trai tăng lớn do các chức
sắc lănh đạo nhà nước hỷ cúng. Vào mùa an cư hoặc những ngày giải hạ,
họ sẽ dâng tứ sự cho chư Tăng, chủ yếu
là nhị y, ít khi dâng tịnh tài, thế là chư Tăng phải
đem đổi lại cho những cư sĩ chuyên thu
mua lại. Việc ấy diễn ra rất nhẹ nhàng, họ
đến tận pḥng chư Tăng
để hỏi. Có th́ bán, không th́ thôi, chẳng
có chi phiền. Một số vị cho rằng hủ
tục “bán y” đó thật đáng buồn, không nên tồn tại ! Nhưng mà cảnh huống
đó có khác ǵ một số tự viện, tịnh xá ở
Việt Nam. Chùa có nhiều tứ sự
mà lại không có tiền để chi phí cho những việc
khác, đành đem tứ sự xuống phố bán lại.
Việc này thật ra không thành vấn đề, nếu thí
chủ chỉ cần khéo một chút thôi!
Pḥng ốc cho sinh viên năm thứ nhất
được nhà trường bố trí, ghi danh sẵn nên
không thể lựa chọn. Năm 2 và năm 3, v́ là
sinh viên cũ nên có thể chọn lựa hoặc đổi
với bạn bè nếu cần thiết. Mỗi
ngày hai bữa đến trường. Sáng
từ 8 giờ học đến 10.45, học 3 tiết.
Chiều từ 1 giờ đến 3 giờ,
2 tiết. Kể ra nhà trường
đă điều nghiên giờ học. Điểm tâm
lúc 6 giờ sáng, nhưng 8 giờ mới chính thức học,
để sinh viên có thời gian ôn bài trước khi đến
lớp. Chiều, 1 giờ đă học, nên dù
có muốn ngủ nghỉ thêm cũng chẳng được.
Ba tháng
vũ an cư theo truyền thống Nguyên Thuỷ từ 15
tháng 6 đến 16 tháng 9 âm lịch, các sinh viên phải tụng
kinh và toạ thiền vào buổi chiều từ 5 hoặc
6 giờ, chỉ 30 phút thôi ! C̣n các tháng khác, sinh viên tự tụng
kinh, ngồi thiền, tuỳ theo sự
tu tập của từng người.
Thực
phẩm được dâng mỗi ngày hai bữa: sáng và
trưa cho hàng tu sĩ, c̣n cư sĩ th́ 3 hay 2 bữa tuỳ
họ. Chay mặn đều đủ, tuỳ
thuộc vào sinh viên. Buổi chiều tự
túc lấy để bồi dưỡng sức khoẻ.
Học về có thực phẩm sẵn, chư
Tăng Ni chỉ chú nguyện rồi dùng thôi, mọi việc
dọn rửa … đều có nhân viên phục vụ. Ngay từ
năm đầu họ c̣n làm một cuộc thăm ḍ,
sinh viên ăn chay chọn món ǵ, ăn mặn
thích món chi; ban quản trị nhà trường quả là có
ḷng đối với sinh viên. Không làm mà có ăn, không cất
nhà mà có chỗ ở, đúng là quả phước của
chư thiên !
Để
giản tiện, nhanh gọn trong ăn uống, chư Tăng không nhất thiết phải
ăn bát. Các Tăng sinh chỉ ngồi đúng theo vị trí hạ lạp của ḿnh, rồi
hiệp tâm tụng một phẩm kinh ngắn để nhắc
nhở mục tiêu ăn uống của một vị tu
sĩ và chú nguyện cho tín chủ đàn na. Ăn
xong phần ai nấy xuống, tranh thủ nghỉ ngơi,
chuẩn bị bài cho buổi chiều.
Sinh viên
năm đầu học kỳ I thường được
nhà trường chiếu cố tổ chức vào thứ Bảy
đi tham quan các thắng tích, các trường thiền tại
Yangon, đặc biệt các trường thiền có quan hệ
tốt với nhà trường, vừa để quảng
bá văn hoá của đất nước, mà cũng để
giới thiệu cho các sinh viên về môi trường, truyền
thống tu tập, chuẩn bị cho những kỳ nghỉ
hè sắp tới.
Vào mỗi
năm nhà trường đều tổ chức cho toàn thể
Tăng sinh ngoại quốc khất thực một lần
chung với nhau, nhằm giới thiệu
con đường thực nghiệm tâm linh cho mỗi hành
giả, đồng thời để giới thiệu
đội ngũ Tăng tài hùng hậu mà nhà trường,
mà nói đúng hơn là nhân dân họ đă đào dưỡng.
Các Sư có thể đắp y mang bát theo
truyền thống đất nước ḿnh.
Những sinh viên Cao học được ưu
tiên hơn sinh viên cấp cử nhân và tiền đại học.
Vào mùa hè, các sinh viên này có thể được
ở lại kư túc xá để nghiên cứu, viết bài,
không nhất thiết phải rời kư túc xá. Nếu đi th́ xin giấy giới thiệu của
trường, các tự viện, trường thiền gần
như đều hoan nghênh tầng lớp sinh viên trí thức
này. V́ đó là những thành phần
ưu tú của nhiều quốc gia mà đất nước
họ vinh dự thâu nhận, đào tạo. Một số
trường thiền mà các sinh viên thường đến
tu tập như: Mahāsi, Chanmyay, Paṇḍitarāma, hoặc
Pa-auk (ở tại Yangon hoặc Mawlamyine). C̣n
thiền viện Moegok hoặc Soonloon, sinh viên đến tu
tập ít hơn. Moegok v́ ở xa trường,
c̣n thiền viện Soonloon không được ưa chuộng
v́ pháp môn niệm hơi thở hơi khác truyền thống
một chút.
Nếu đau ốm nhẹ, cần thiết th́
nhà trường đưa vô nhà thương chính phủ
khám miễn phí cho sinh viên. Nếu nặng,
nhà trường yêu cầu đương sự phải về
nước điều trị. Các sách giáo khoa hoặc
các tài liệu học được copy từ trong Kinh, Luật,
Luận, đều được phát miễn phí.
Nói tóm lại,
đời sống sinh viên ở Miến an
ổn hơn nhiều nước khác. C̣n học
có tốt, tu có tinh tấn hay không là tuỳ thuộc vào mỗi
người.
III.
CHƯƠNG TR̀NH HỌC
Chương tŕnh học ở đây cũng không
nhẹ, nếu tiếng Anh không được tốt.
Những sinh viên khá tiếng Anh và Pali th́ đỡ vất vả
hơn những sinh viên yếu mà may mắn đậu vào.
Các Sư Miến khá Pali hơn các Sư ngoại quốc, dù
là Sư ở Bangladesh, Campuchia, Lào hay Việt. Bởi v́ các
đoạn trích dẫn căn bản có lẽ được
các Sư Miến học thuộc ḷng khi c̣n là Sa-di. Ngược lại các sinh viên ngoại quốc phần
lớn đều khá tiếng Anh hơn các Sư bản
địa. Đó cũng là quy luật bù trừ để
cân bằng học lực trong lớp.
Năm thứ
nhất (Diploma) – chương tŕnh tiền Đại học,
học 9 môn: 1. Luật (Vinaya), 2. Kinh (Suttanta), 3. Luận
(Abhidhamma), 4. Văn Hoá và Lịch Sử Phật
Giáo (Buddhist Culture and History), 5. Pali ngữ
(Pāḷi Language), 6. Miến ngữ
(Myanmar Language), 7. Phật Pháp Căn Bản, dịch
chính xác là Pháp Thuận Thứ (Dhammānuloma), 8. Thiền Chỉ (Samatha) và 9. Thiền Quán
(Vipassanā). Các sinh viên Miến không học Miến
ngữ th́ học Anh ngữ. C̣n 2 môn: Tôn Giáo Thế Giới
(World Religions) và Hoằng Pháp (Missionary Works) mà chúng ta thấy
trong syllabus thật ra không được học. Môn Thiền
Chỉ, Thiền Quán và Phật Pháp Căn Bản như
trong syllabus là 3 môn độc lập, nhưng khi thi th́ dồn
lại một học phần (paper) nên tính chung lại chỉ
có 7 papers thôi. Các môn được phân bổ
đều trong tuần. Có hai giờ hành
thiền trong mỗi tuần, và khi thi sinh viên sẽ
được một câu hỏi về kinh nghiệm tu thiền
nằm trong học phần thiền chỉ và thiền quán.
Ngoại trừ sinh viên Cao học trở lên
th́ được miễn.
Năm thứ 2, môn Phật Pháp Căn Bản trong
học phần Thiền được giảm.
Năm thứ 3 bỏ hẳn môn: Lịch Sử và Văn
Hoá Phật Giáo, nên chỉ c̣n 6 môn thôi. Nếu may mắn
được vào Cao học th́ đỡ phải thi kỳ
I như các lớp dưới mà chỉ thi vào cuối
năm, nhưng bù vào đó phải viết một bài khảo
cứu ngắn 25 trang, khổ A4, co chữ 12, font Times New
Roman và khoảng cách giữa các hàng là double. Bài khảo cứu
phải nộp trước khi học kỳ II bắt
đầu, tức là khoảng tháng 11 dương lịch,
đó là một h́nh thức làm bài tập về
phương pháp viết khảo luận. Chương tŕnh
Cao học ở đây ngay từ năm thứ nhất
đă học chuyên môn, chỉ chọn một trong các môn:
Kinh, Luật, Luận, hoặc Thiền Chỉ Quán mà thôi.
Môn Pali, phương pháp nghiên cứu và viết khảo luận
là môn bắt buộc học, dầu học ở chuyên ngành
nào. Ở cấp Cao Học chương tŕnh căn bản
là 3 năm, 2 năm đầu phải thi. Năm thứ 2
sinh viên bắt đầu chính thức viết luận
văn, có thể phát triển đề tài cũ hoặc viết
một đề tài mới, khoảng 50 trang, hoàn tất
trước khi thi kỳ II và năm thứ 3 phải viết
tiếp với đề tài cũ, tiêu chuẩn từ 100 –
120 trang, cuối cùng là bảo vệ luận văn ra
trường.
Syllabus của trường chưa thật sự ổn
định, cho tới nay, nó vẫn dưới dạng bản
thảo. Ngay cả chương tŕnh Cao học,
một số môn và chương tŕnh học chưa
được viết thành văn, mặc dầu có giảng
dạy. Các sách giáo khoa hoặc sách tham khảo
cũng chưa liệt kê đầy đủ.
Sanskrit không buộc học, nhưng nhà trường
khuyến khích sinh viên Cao học nên học thêm để có
khả năng tra khảo. Mỗi tuần
chỉ 2 giờ ngoại khoá. Bên cạnh
đó, lớp Pali có học về văn học Pali, mối
quan hệ giữa Pali và Sanskrit, nhưng cũng chỉ với
tính cách giới thiệu sơ bộ về Sanskrit thôi.
IV. CÁCH
THI VÀ ĐIỂM SỐ
Tuỳ theo mỗi năm mà phương pháp ôn bài hoặc
ra đề thi của giáo viên. Ví dụ học
kỳ I năm 2006, các sinh viên than phiền là năm nay không
có giới hạn, học bao nhiêu thi bấy nhiêu. Tuy
nhiên, cũng có những giáo sư đă cho viết bài luận
(assignment) từ những ngày đầu của năm học
và kéo dài cho tới khi thi, được chấm sửa cẩn
thận, và bảo rằng tất cả các assignments phải
học hết ! Dĩ nhiên
là phải học thuộc ḷng, bởi v́ truyền thống
Miến học thuộc ḷng có lẽ là đệ nhất
thiên hạ. Nói th́ nói vậy, chứ sinh
viên Việt Nam nếu được đào tạo trong ḷ
học thuộc ḷng cũng có thành tích đáng khâm phục.
Bằng chứng ở Ấn Độ và Miến
Điện, rất nhiều sinh viên xuất sắc cả
tư duy lẫn học thuộc ḷng, mà sinh viên các nước
khác, kể cả Miến Điện, đều bái phục.
Thời gian được nghỉ để ôn
bài khoảng 10 ngày. Thời gian thi chỉ
nửa tháng, nên sinh viên học rất căng. Vào giai
đoạn gặt hái này, có những sinh viên ăn
không nổi v́ quá lo bài vở, nhất là bài vở bằng
tiếng Anh và với quá nhiều thuật ngữ Pali trong từng
trang vở! Có vị than phiền rằng cách học này sai
nguyên tắc học Phật Pháp, v́ học căng thẳng
như vậy không thể nào lănh hội được cái
chân, cái diệu trong Phật Pháp! Bên cạnh đó cũng có
vị phát biểu rằng nhờ thi mỗi năm hai lần
như vậy, nên sinh viên dẫu có lười tới
đâu cũng có cái “cơ hội” ngồi lại để
học bài, kiếm vài con chữ cho đời tu của
ḿnh ! Thi học kỳ I hàng năm đều kết thúc
trước khi giải hạ (rằm tháng 9 âm lịch) vài
ngày, và sau đó được nghỉ hè, khoảng một
tháng hoặc một tháng rưỡi tuỳ theo
mỗi năm.
C̣n điểm số ở đây th́ “mịt mù
khói toả.” Vào đầu học kỳ
mới, họ không dán điểm cụ thể, chỉ
đánh dấu sao môn nào, nghĩa là môn ấy dưới 40
% để sinh viên biết lo mà học để cuối
năm gỡ. Cách cộng điểm
không công bố chính thức. Tin hành lang
trong trường nói là điểm kỳ II hệ số 2,
nên điểm học kỳ I không quan trọng. Điểm
để đậu tối thiểu là 40 %, được
xếp là C-, điểm để được A+ là 75%
trở lên, được mọi người hiểu ngầm
là outstanding (xuất sắc), mặc dầu trên bản
điểm không xếp loại ǵ cả, chỉ đánh giá
từng môn mà thôi. Nếu năm thứ nhất chỉ cần
một môn dưới 40 % coi như ḿnh “tốt nghiệp sớm”
vậy!
Ở trường không có chế độ phúc khảo,
cộng điểm hoặc thi lại. Dĩ
nhiên một năm bỏ công ra học, không thể không có
văn bằng, nên sinh viên dù yếu tới đâu cũng
được cấp bằng Diploma, để kỷ niệm
một năm bút nghiên ở trường. Về mặt hành chánh, văn bằng này không dùng
vào đâu được. Tuy nhiên, ở Đại học
Kelaniya, Tích Lan nếu có một văn bằng cử nhân ngoại
điển nào khác, cộng với văn bằng Diploma này,
ḿnh sẽ được chấp nhận vào học khoá Cao
học một năm thôi !
Cũng lưu ư đối với sinh viên Miến,
vào năm một mà rớt th́ phải ngưng, mà năm 2 chỉ
cần thiếu một môn cũng buộc phải nghỉ.
Có một vài sinh viên vào đầu năm 3 không ngờ tên
ḿnh không có trên danh sách, đành phải thôi học, mà sinh viên
trường cũng như chính họ không biết v́ lư do
ǵ, v́ nhà trường không công bố điểm số cụ
thể! Dĩ nhiên trước khi rời
trường, họ sẽ rút được bản điểm
năm 2 và sẽ biết được ḿnh rớt v́ môn
nào.
Nếu v́
bệnh duyên học không nổi, hoặc do ngoại duyên,
thân nhân gia đ́nh thầy tổ bệnh hoạn, v.v... nên năm đó không tập trung học tốt
được, thông thường sinh viên lấy một cớ
nào đó như đi tu thiền hoặc về quê chữa
bệnh, nhà trường vẫn chấp nhận, và sang
năm sẽ học tiếp học kỳ đó. Đây là
lối thoát an toàn nhất cho sinh viên khi gặp trở ngại
về thời gian và năng lực, hoặc muốn kéo dài
thời gian để được học, được
tu ở đây !
Nếu
may mắn được tuyển lên năm 2 th́ coi như
bắt đầu được chính thức cử nhân
năm một. Chương tŕnh cử nhân ở
đây chỉ 2 năm. Về văn bằng ở
trường này cũng chưa lấy ǵ làm bảo đảm
để đi học các nước ngoài, nhưng chắc
chắn ở Tích Lan, Thái Lan và một vài
trường ở Ấn Độ th́ không có vấn đề
ǵ phải lo lắng.
Một điều khác cần lưu ư, nếu
đạo đức của sinh viên trong thi cử bị
đánh giá thấp, th́ dầu điểm các môn có toàn giỏi
hết đi nữa, th́ vẫn được “tốt nghiệp
sớm.” Và sinh viên ấy, nói theo
ngôn ngữ của các vị ở Miến hay dùng, là chờ
kiếp sau mới có cơ hội vào trường này! Trên
thực tế trường đă có lần không
nương tay, nghe đâu là phán quyết sai lầm, làm vài
người trong đó có cả Tăng sinh Việt Nam phải
đành bấm bụng cười trừ, rồi chia tay!
Sau 3 năm học, họ sẽ chọn một số
sinh viên ưu tú để tuyển vào Cao học.
Năm 2006, sinh viên Việt Nam có 7 vị tốt nghiệp cử
nhân trong tổng số 14 sinh viên ngoại quốc được
tuyển thẳng với sĩ số năm cuối là 18
người. Không những các vị được tuyển
thẳng (qualified) ở điểm loại khá (65 %) mà ở
điểm trên xuất sắc (outstanding) từ 75 % trở
lên cho tất cả môn. Đây cũng là
năm có số lượng sinh viên Việt Nam đậu
vào Cao học đông nhất so với các năm qua. Trong số 7 vị, chỉ có 2 vị Tăng
nhưng rồi cũng rời trường qua xứ sở
Ấn Độ khổ hạnh để hoàn tất tâm
nguyện của ḿnh.
Đặc
biệt trong khoá này, Sư cô Liễu Nguyên, đệ tử
Thượng toạ Viên Minh, chùa Bửu Long, Sài G̣n đậu
thủ khoa khoá Cử nhân, được nhận huy
chương vàng. Đây là phần thưởng danh dự,
cao quư chỉ dành cho sinh viên thật xuất sắc mọi
mặt, kể cả Miến ngữ, và chỉ phát ở bậc
cử nhân ! Lễ cấp phát văn bằng
lần này nhằm một buổi sáng đẹp trời
ngày 11 tháng 06 năm 2006 tại ngôi Chánh Điện chùa
Kaba Aye, trụ sở của ban Tôn Giáo chính phủ thật
trọng thể, dưới sự chứng minh của
Đại lăo Hoà thượng Tăng thống Phật giáo
Miến Điện và chư tôn đức giáo phẩm của
toàn quốc. Trong đợt này họ cũng
phát văn bằng cho những vị tốt nghiệp Cao học.
Thông thường trước đó một
ngày là lễ Khai giảng cho khoá mới tổ chức tại
Chánh Điện của trường.
Về chương tŕnh Ph.D., mỗi năm thi tuyển
hai lần, sinh viên được lấy từ khoá Cao học.
Cũng giống như ở Cử nhân hay Cao học, sinh
viên được lấy từ trường, chứ không
nhận từ bất cứ trường nào, dầu vị
đó là tiến sĩ hay giáo sư ở trường đại
học nổi tiếng nào. Sayādaw hiệu
trưởng Nandamālābhivaṃsa cho rằng, trong thời
gian tới trường sẽ điều chỉnh vấn
đề này. Đề cương ôn thi không giới
hạn cụ thể, sinh viên chỉ dựa vào các đề
cũ mà ôn! Mỗi sinh viên được thi tại
trường tối đa 3 lần. Trong thời gian
ôn bài, bao lâu cũng được, vẫn được
xem là sinh viên chính thức của trường, được
hưởng mọi đặc ân nhà
trường dành cho.
Sinh viên được trúng tuyển mấy năm
qua không nhiều. Thi đợt một cuối tháng 4
năm 2006 họ chỉ lấy 5 vị (3 Tăng, một
Ni và một cư sĩ), toàn là người Miến. Đợt 2, đầu tháng 10 năm 2006 này mới
có sinh viên ngoại quốc dự thi. Năm
nay tổ chức trước giải hạ và có trên 10 thí
sinh dự thi. Sư Thiện Đức và Sư Tâm
Đăng, đệ tử của TT Viên Minh là 2 sinh viên Việt
Nam đầu tiên dự khoá thi này.
V. GIÁO
TR̀NH
Giống
như ở Việt Nam và các nước đào tạo
Tăng tài như Thái Lan, Tích Lan, Đài Loan, Ấn Độ,
sách giáo khoa Phật học chưa hoàn bị trong các phân khoa
Phật học ở các trường. Mỗi trường
dạy theo mỗi kiểu, nên tŕnh độ
Tăng Ni sinh các trường đào tạo ra chênh lệch
rất nhiều.
Tại Miến,
các sách giáo khoa của trường cũng chưa hoàn thiện,
ngoại trừ môn Samatha của Giáo sư tiến sĩ
Mehm Tin Mon gồm 5 tập, là giáo tŕnh hoàn chỉnh nhất, triển
khai chi tiết 40 đề mục thiền chỉ, dành cho
sinh viên năm thứ nhất đến năm ba. Tiểu phẩm Fundamental Abhidhamma (part I) của
HT Tiến sĩ Nandamālābhivaṃsa, được
dùng như giáo tài năm thứ nhất cho Abhidhammama. Hai cuốn Abhidhamma của giáo sư Mehm Tin
Mon soạn cho năm tiền đại học và
năm thứ nhất của cử nhân có thể được
dùng cho giáo tŕnh 2 năm này. Môn Pali th́ phần lớn dựa
vào sách của các học giả khác soạn sẵn như
cuốn Pali Primer của Lily de Silva, hoặc Pali Made
Easy của Ven. Balangoda Ananda Maitreya Mahanayaka Thera làm giáo
tŕnh năm thứ nhất. Năm thứ hai
th́ lấy cuốn A Practical Grammar of the Pali Language của
Charles Duroiselle. Cuốn A Grammar of the Pali Language, phối
hợp một số sách căn bản khác như: Kaccāyana
Vyākaraṇaṃ làm giáo tŕnh năm cuối của cử
nhân. C̣n các môn khác tuỳ thuộc vào tài liệu
của các vị giảng dạy. Riêng môn kinh từ
năm thứ nhất đến Cao học được
Thượng toạ Giáo sư U Kosalla, khoa trưởng khoa
Pháp học (Pariyatti) soạn khá chu đáo, kể cả
phần câu hỏi để sinh viên tự ôn bài và chuẩn
bị trước cho thi cử. Các môn khác đều
được copy từ các bản dịch, hoặc phần
phụ chú hay tóm tắt của giáo viên hướng dẫn.
Sư Nguyên Tuệ cùng với một số bạn
học đă làm đĩa chương tŕnh học năm
thứ nhất (Diploma) năm 2004 để lưu trữ
tài liệu. Đĩa cung cấp khá
đầy đủ thông tin và bài vở của năm thứ
nhất.
Trong 3
năm liền, sinh viên buộc phải học Miến ngữ,
một trong những môn từ giáo sư cho đến sinh
viên của trường, ai cũng thấy đó không phải
là nhu cầu thiết yếu đối với sinh viên ngoại
quốc. Nhưng khổ thay, nó lại được đặt
vào tay của những người tự
quan trọng hoá ngôn ngữ của ḿnh, nên sinh viên khốn
đốn vô cùng. Mà dẫu học xuất sắc rồi
để làm ǵ ? Việc hoằng pháp ở
Miến ai cũng thấy là không cần ngoại quốc trợ
giúp nhân lực, thế nhưng sinh viên phải cố mà học
để các môn đều phải trên 75% mới hy vọng
đủ tiêu chuẩn đậu Cao học ! Chỉ trừ
một vài trường hợp ngoại lệ muốn học
để sau này đọc các bản sớ giải Miến
ngữ hoặc dịch sang Việt ngữ, nhưng cho tới
nay chưa có sinh viên ngoại quốc nào thành tựu về
mảng này. Học như vậy, nên đó đây đôi ba
tiếng thở dài mỏi mệt của những sinh viên
đầy nhiệt huyết, nhưng họ vẫn phải
chấp nhận như một định nghiệp, bởi
v́ họ đă yêu “Mảnh Đất Vàng” này, th́ họ phải
thương luôn cả những sỏi đá của nó!
Sự thật th́ ở một vài nước khác
khi ghi danh học tập, họ cũng có những quy chế
buộc sinh viên học ngôn ngữ của họ. Ví dụ,
trường Đại học Nalanda bên Ấn, có chế
độ học bổng cho chương tŕnh Cử nhân Phật
học (B.A. in Buddhist Studies) cho sinh viên quốc tế,
nhưng phần lớn họ không nhận Ni, nữ cư
sĩ v́ chưa có kư túc xá cho nữ. Họ bắt sinh viên phải
học bằng Hindi, v́ phần lớn đội ngũ giảng viên chuộng nói tiếng mẹ
đẻ hơn là tiếng Anh. Nhưng điểm
lợi của Hindi là anh em chú bác với Pali nên học một
thành hai, hỗ trợ lẫn nhau rất nhanh. Một
số trường ở bang Punjab, sinh viên buộc phải
học một năm địa phương ngữ, mà họ
thừa biết rằng địa phương ngữ
đó ngay cả ở Ấn Độ, vùng này chẳng biết
vùng kia, nhưng mà họ vẫn buộc sinh viên cái vô lư
đó. Nếu thích học th́ phải đành
chấp nhận vậy. Đó là cái lẩn quẩn của
cái gọi là bản sắc văn hoá vùng miền, làm bao
người cứ mệt đừ ra, bỏ không biết
bao nhiêu thời gian cho những chuyện phí phạm vô ích
đó, nhưng rồi đành chịu!
Ở
điểm này, Miến Điện có phần tiến bộ
hơn Ấn Độ. Một số Sayādaw c̣n là nghiên
cứu sinh, tiếng Anh không giỏi mấy, nhưng trên lớp
hầu như cố gắng nói tiếng Anh, không hề xen
lẫn tiếng Miến, mặc dầu số lượng
sinh viên Miến cũng đáng kể, làm cho sinh viên ngoại
quốc cảm thấy dễ chịu hơn. Trong khi
đó, ở Ấn Độ, ngay cả khi bảo vệ
luận án, một vài sinh viên Ấn cứ nói tiếng Hindi,
sinh viên ngoại quốc chẳng hiểu họ nói cái ǵ, rồi
họ tranh luận nhau cũng bằng tiếng Hindi nữa,
thế ḿnh vẫn phải nghe thôi, bởi English và Hindi là 2
ngôn ngữ chính được sử dụng trong học
đường. Ngay cả trong các cuộc hội
thảo lớn, thỉnh thoảng họ dùng tiếng Hindi,
nếu ḿnh đủ kiên nhẫn ngồi nghe th́ họ hoan
nghênh, bằng không th́ ra về. Đó cũng là một
trong nhiều lư do khiến một số sinh viên ở Ấn
Độ không nói giỏi tiếng Anh.
VI. TR̀NH
ĐỘ GIÁO VIÊN
Trường
bắt đầu hoạt động thực sự vào cuối
năm 1998, nên đội ngũ giảng
sư, giáo viên giảng dạy bằng tiếng Anh ở một
đất nước như Miến khó mà giỏi như ở
Ấn, ở Tích Lan hay các nước nói tiếng Anh. Dĩ nhiên chúng ta không thể phủ nhận các vị
rất giỏi về Tam tạng bằng Miến ngữ và
Pali ngữ. Có nhiều vị Thượng
toạ đạt danh hiệu Abhivaṃsa, một danh hiệu
chỉ có khi thí sinh qua được cuộc khảo hạch
dưới 28 tuổi. Nhưng rất tiếc
các vị thiếu duyên học tiếng Anh nên việc phiên dịch,
nghiên cứu, trước tác để lại tác phẩm bằng
Anh ngữ không nhiều. Nói như vậy,
không có nghĩa là không có các vị giỏi cả Phật học
lẫn ngoại ngữ và phương pháp truyền đạt.
Ví dụ như cố HT hiệu trưởng
U Sīlānandābhivaṃsa. Hoà thượng
giỏi nhiều mặt, pháp học cả pháp hành, lẫn
Anh ngữ. Sau đây là vài nhân vật có tầm quan trọng,
đang và sẽ ảnh hưởng đến vận mạng
của trường:
Hoà thượng
hiệu trưởng đương kim Nandamālābhivaṁsa:
tốt nghiệp Cao học Phật học ở Tích Lan, tốt
nghiệp tiến sĩ Phật học ở Ấn Độ.
Hiện nay HT có 13 đầu sách bằng tiếng Miến,
Pali và tiếng Anh.
HT.
Kumarabhivaṃsa, được chính phủ Miến Điện
truy tặng danh hiệu tiến sĩ, hiệu phó học vụ.
Ông Myint
Kyi, tiến sĩ nghành khoa học tự nhiên: hiệu phó
điều hành (gần như là người có thực quyền
nhất trong trường, là phát ngôn viên của Ban tôn giáo
Chính phủ.
HT tiến sĩ U. Adiccavaṃsa, tốt nghiệp
tiến sĩ Phật học tại Delhi, Ấn Độ,
khoa trưởng khoa Pāḷi.
Thượng
toạ Candāvarābhivaṃsa: tiến sĩ Ấn Độ,
có hai bằng Abhivaṃsa, khoa trưởng (Dean) khoa Pháp hành
(Paṭipatti).
Thượng
toạ Giáo sư U Kosalla: tốt nghiệp Cao học Phật
học ở Đại học Kelaniya, Tích Lan,
khoa trưởng khoa Pháp học (Pariyatti).
Thượng toạ Addiccavaṃsa, Khoa trưởng
khoa Tôn giáo và Hoằng Pháp.
Cư sĩ U Sao Htun Hmat Win, khoa trưởng khoa
Ngoại ngữ và dịch thuật.
Ngoài đội
ngũ ṇng cốt này ra, c̣n rất nhiều Thượng toạ,
Đại đức Tăng Ni và Phật tử đều
là những vị có học vị ở quốc ngoại và
có sở trường nghiên cứu. Đơn cử một
vài vị có uy tín:
Giáo sư Mehm Tin Mon tốt nghiệp tiến sĩ
ngành hoá học ở Mỹ.
Bà Daw Myint Aye, giáo sư tiến sĩ (không rơ ngành
ǵ) tốt nghiệp ở Đức, hiện đang phụ
trách về môn Phương Pháp viết khảo cứu, luận
án.
C̣n nhiều vị có tên tuổi khác mà chúng tôi không
rơ họ tên và trường mà các vị tốt nghiệp.
Ngoài ra, c̣n có các tân giáo thọ vừa mới tốt nghiệp
ở Ấn Độ về, hoặc các vị sắp hoàn
tất luận án tiến sĩ tại
trường, hoặc là vừa mới đậu vào nghiên
cứu sinh tiến sĩ. Bên cạnh đó, c̣n có các vị
đang là sinh viên Cao học phụ giảng một số
môn cho các vị Hoà thượng khác, bao gồm đủ mọi
giới từ hàng Thượng toạ, Đại đức,
Ni Cô, nam và nữ cư sĩ. Nói chung, mỗi một môn
gần như đều có 2 hoặc 3 vị phụ trách, vị
giỏi cùng với vị yếu phụ trách một môn và
như thế trường từng bước ổn định
đội ngũ giáo viên. Trong số các vị sắp tốt
nghiệp tiến sĩ Phật học ở Miến, Pháp
Sư Chekinda là một trong những vị Tăng có ảnh
hưởng đến quần chúng trên khắp đất
Miến hiện nay, đang hoàn tất luận án và cũng
đang giảng dạy Thiền Quán cho sinh viên tại
trường.
Nh́n chung, v́ đây là trường đào tạo
Phật Pháp kiểu mẫu mang tính quốc tế, nên bao
nhiêu nhân tài ở khắp mọi miền đất nước
đều được mời về để giảng
dạy, dù là thường xuyên hay ngắn hạn.
Các vị
giảng có sức thuyết phục, lôi cuốn, sư phạm
hay không, sinh viên cũng phải lặng thinh mà học, tuyệt
không có yêu sách hay phản đối như ở một vài
trường Phật học Việt Nam. Rất tiếc
cũng giống như ở Việt Nam, nhiều vị
giáo thọ có tŕnh độ nhưng chưa được
đào tạo qua trường lớp sư phạm, mà
cũng không có tu nghiệp trước mỗi niên khoá mới,
nên việc giảng dạy hạn chế là điều
đương nhiên. Nhưng dù sao các vị
cũng đă nỗ lực hết ḿnh để truyền
đạt kiến thức, kinh nghiệm. Sự khắc
phục hạn chế về ngôn ngữ và phương pháp
truyền đạt để làm tṛn bổn phận đứng
lớp của tất cả các vị, việc làm ấy quả
là can đảm và đáng để cho ḿnh kính quư rồi.
Ngoài những
Hoà thượng, Thượng toạ tôn túc như là Hiệu
trưởng hay hiệu phó học vụ, các vị khác chỉ
có bổn phận dạy, hoàn toàn không biết về cơ
cấu tổ chức của trường lớp, bởi
v́ tính tương hỗ giữa người giảng dạy
và người điều hành gần như chưa
được thiết lập. Các vị giáo
thọ hầu như không bao giờ được mời
họp và chỉ có nhận chỉ thị, thông tư từ
trên đưa xuống mà thôi. Các vị giảng viên
đôi lúc c̣n chưa biết tại sao cái “thông điệp”
đó lại được “văn pḥng cơi trên” gởi xuống
nữa, huống ǵ là sinh viên. Do đó, nếu sinh viên không bằng
ḷng với thực tại của trường, th́ cuốn
gói về quê, chứ không hề có quyền kêu ca, khen chê, yêu
sách này nọ. Quyền quyết định tối
hậu và bất cứ lúc nào cũng thuộc về nhà
trường, hay nói đúng hơn là từ Hội Đồng
Điều Hành thuộc Ban Tôn Giáo.
Một điều nữa mà một số sinh viên
ở Miến đều thấy, đó là Tăng Ni và
cư sĩ chỉ học một bộ Luật Tăng thuộc
Nam Truyền. Dẫu biết rằng việc tổ chức
để học Luật riêng là điều vô cùng khó
khăn, và gần như là điều không thể, nhưng
điều đáng nói là các vị giáo thọ không hề
quan tâm đến điều này, không bao giờ giảng những
mối liên hệ giữa Luật Tăng và luật Ni, hoặc
những điều nào chư Ni cần hành tŕ. Chúng ta
cũng có thể hiểu và thông cảm, v́ ở Miến
không có truyền thống Tỳ-kheo-ni, chỉ có những vị
nữ tu thọ 10 giới nên việc giảng dạy hay
đề cập đến luật Ni đối với
các vị là không cần thiết. Từ trên nền
tảng này, các bộ luật khác không cần nghiên cứu
là điều đương nhiên. Do đó, họ rất
dễ rơi vào t́nh trạng đánh giá sai lầm về luật
Đại Thừa, nhất là nh́n Đại thừa qua
h́nh ảnh các nhà Sư phái Tân Tăng Nhật Bản.
Một điều nữa mà ở các khoa Phật
học ở các nước khác đỡ hơn, đó là
ít nhất họ giới thiệu Tam Tạng Phật giáo của
Theravāda và Mahāyāna, nên sinh viên có kiến thức tổng
quát cả hai truyền thống. Ở đây sinh viên
hoàn toàn không biết ǵ về Đại Thừa, mà có lẽ
điều đó không nằm trong quy chế, mục tiêu
đào tạo của nhà trường, nên sinh viên Miến
nghe nói các nước Phật giáo Đại Thừa học
một số luận thư như Câu Xá Luận, Duy Thức
Tam Thập Tụng, Thành Thật Luận, v.v… cũng chia
chẻ tâm, tâm sở, sắc pháp, Niết bàn… tương tự
như trong Thắng Pháp Tập Yếu Luận, họ
vô cùng ngạc nhiên.
VI. CÁCH
TUYỂN SINH VÀ TIÊU CHUẨN SINH VIÊN
Đối
với sinh viên ngoại quốc chỉ cần có văn bằng
Trung học là có thể nộp đơn thi, không cần bất
cứ bằng tiếng Anh ǵ. Nhưng đối
với người Miến tiêu chuẩn khó khăn hơn.
Các Sư phải có văn bằng
Dhammācarya (Pháp Sư) là tối thiểu. Văn bằng này chỉ cấp cho người Miến
v́ thi bằng Miến ngữ. Các cư
sĩ phải có văn bằng Đại học, dầu
khoa tự nhiên hay xă hội.
Đối tượng thí sinh nào thi cũng
được, không phân biệt quốc gia, tôn giáo, Tăng
tục, lứa tuổi, giới tính. Sinh
viên phần lớn đến từ Châu Á, nhiều nhất
là Việt Nam và Cam-pu-chia. Riêng Tăng Ni
Việt Nam, ngoài những vị đến từ Việt
Nam, có 4 vị mang quốc tịch Mỹ và Pháp quốc.
Theo thống kê sơ bộ, Tăng Ni sinh Việt
Nam chiếm 1/4 tổng số sinh viên ngoại quốc và 1 /
10 tổng số sinh viên của trường. Số
lượng sinh viên trong nước cũng như ngoại
quốc hàng năm được tăng dần, từ niên
khoá đầu tiên đến 2005 như sau:
|
Niên Khoá |
Sinh Viên Ngoại Quốc |
Sinh Viên Miến |
Tổng Số |
|
1998 - 1999 |
36 |
51 |
87 |
|
2000 - 2001 |
55 |
49 |
104 |
|
2001 – 2002 |
72 |
66 |
138 |
|
2002 – 2003 |
88 |
78 |
166 |
|
2003 - 2004 |
95 |
103 |
198 |
|
2004 - 2005 |
99 |
125 |
224 |
Sinh viên dự
thí đều phải qua hai buổi khảo hạch: (1) thi
viết, nội dung chia thành hai phần, một phần trắc
nghiệm về tŕnh độ ngoại ngữ (2 tiếng),
một phần là những vấn đề cơ bản về
Phật học (2 tiếng), mỗi phần thông thường
là 5 câu hỏi. (2) Phần vấn đáp liên quan đến
nỗi thao thức, nguyện vọng của thí sinh, thông
thường là trả lời 5 câu hỏi. Cách ra đề
thi mỗi năm trên căn bản đều giống,
nhưng chi tiết dĩ nhiên là khác. Thí sinh phải
có tŕnh độ thực sự mới có khả năng
hoàn tất tốt đẹp được. Không những là tiếng Anh mà ngay cả Phật
Pháp, đặc biệt là những vấn đề thiền
học tổng quát hoặc thiền Miến Điện.
Nhất là những năm gần đây, v́ số lượng
thí sinh đông, nhưng lấy lại giới hạn chỉ
5, 6 vị, nên nhiều thí sinh rất giỏi Anh ngữ,
đă tốt nghiệp cử nhân ngoại ngữ loại
khá, từng làm việc nhiều năm ở các cơ quan sử
dụng Anh ngữ, nhưng v́ sơ suất hay không chuẩn
bị bài kỹ nên đành phải “nhường” cho các vị
khác. Nếu biết một số thuật ngữ
Pali Phật học th́ càng tốt, v́ rất nhiều lần
đề thi viết hoặc phỏng vấn bằng một
số thuật ngữ Pali. Đề thi hiện nay
được quư Tăng Ni sinh ở Miến gởi về
Việt Nam rất nhiều, vị nào có nguyện vọng
thi vào trường có thể hỏi thăm ở Học Viện
Phật Giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc
viết thư nhờ các vị bên Miến gởi về.
Mỗi năm đều có tổ chức thi ở
các nước có sứ quán Miến Điện. Dù ḿnh
đang ở Thái Lan, Ấn Độ,
Nepal … đều có thể ghi danh tại Sứ quán hoặc
Tổng Lănh Sự Quán để thi đều được.
Nếu đang ở Miến cũng
tương tự, nộp hồ sơ thi tại trường.
Phần phỏng vấn được nhân
viên Sứ Quán Miến ở nước sở tại trực
tiếp phỏng vấn, c̣n bài thi th́ phải gởi về
bộ Tôn Giáo ở Kaba Aey chấm. Thông
thường ở Việt Nam sẽ tổ chức thi sau Tết
dương lịch tại Sứ Quán Hà Nội. Khoảng 3 tháng sau sẽ có kết quả. Một
khi may mắn đậu rồi, nhưng v́ lư do nào đó
không học liền được năm đó, có thể
bảo lưu điểm lại để năm sau học
cũng không sao. Visa sẽ được
đóng miễn phí. Khi qua Miến sẽ
có nhà trường tiếp tục lo thủ tục c̣n lại.
VII.
TR̀NH ĐỘ HỌC VIÊN Ở MIẾN
V́ đầu
vô tương đối tốt, nên chất lượng
sinh viên đầu ra nh́n chung rất khá.
Dĩ nhiên nơi nào lại không có sự lầm lẫn khi
đánh giá, và nơi nào lại không có sinh viên được
“may mắn.” Có một số thí sinh do học trúng đề
mà đậu, khi qua phải đối phó với một
chương tŕnh mới mẻ và nói viết bằng Anh ngữ
nên cũng rất vất vả. C̣n phần lớn
các sinh viên gần như đều là xuất sắc của
các nước gom lại. Ví dụ trong cộng đồng
Tăng Ni sinh Việt Nam, nhất là những năm gần
đây, một số có văn bằng đại học
khác để hỗ trợ dầu là Phật học hay thế
học (như kiến trúc, ngoại ngữ, ngoại
thương, kinh tế, v.v…), và nhiều vị có bằng C
tiếng Anh để bổ sung. Điều
đó cho thấy tŕnh độ sinh viên ít nhiều đă vững
vàng trên nhiều mặt. C̣n ở Cam-pu-chia chẳng hạn,
hai năm trước có tới 200 thí sinh toàn quốc dự
thi, nhưng rồi nhà trường chỉ lấy 5, cho nên
những vị trúng tuyển chắc chắn đều là
Tăng sinh ưu tú. Mà giả như xuất phát điểm
của sinh viên không xuất sắc, nhưng v́ giảng dạy
bằng Anh ngữ, nên 3 năm họ được trui
rèn, mỗi ngày được học Kinh, Luật, Luận,
viết bài kiểm tra hàng tuần, nặng nề thi cử
sau vài tháng, nên tốc độ tiến bộ tiếng Anh
và kiến thức Phật học sau vài năm trông thấy
rơ rệt.
Nếu những sinh viên tốt nghiệp cử
nhân Phật học ở Miến qua các nước có cùng
khuynh hướng học Theravāda th́ rất khoẻ.
C̣n nếu qua các nước có truyền thống
Đại thừa th́ cũng hơi vất vả. Chỉ
nói riêng ở Ấn Độ, một đất nước
không thiên trọng về Theravāda hoặc Mahāyāna,
nếu các vị Sư Miến qua đó học th́ đỡ
vất vả về môn Pali và Abhidhamma, đặc biệt học
chuyên ngành vào năm thứ 2, nếu chọn môn Pali. Ví dụ
luật Sandhi hoặc Nama ở cấp độ cử nhân
tại Miến được học vững vàng, thuộc
ḷng các điều luật bằng Pali như thần chú,
khi lên Cao học Phật học ở Ấn Độ, quả
thật là vô ngại đối với các vị. C̣n đối
với sinh viên Việt Nam, những năm trước
đây, chưa thấy hết tầm quan trọng của
Pali, và thậm chí một vài vị c̣n nhận định
sai lầm rằng đó là tử ngữ và chuyển tải
nội dung văn học Phật giáo Tiểu Thừa, nên học
dăm câu cho đủ điểm lên lớp, nên một khi
lỡ qua các nước khác học, th́ Pali và Sanskrit vẫn
là những môn không thể nuốt trôi, dù cho Tăng Ni sinh
đó có nỗ lực tối đa đi nữa, nhưng vẫn
không thể nào tương đương với sinh viên ở
Miến hoặc ở Thái với Pali lớp 5, lớp 6 cho
đến lớp 9. Thế là ḿnh phải
đem sở trường của các môn khác để khắc
chế điểm yếu kém của môn này.
Song, các vị
được đào tạo ở Miến nói riêng và các
nước theo truyền thống Nam truyền nói chung, sẽ
rất vất vả khi phải đối đầu với
Phật giáo Đại thừa qua hệ Sanskrit và Hoa văn
(hoặc Tạng văn, phải chọn một trong hai) mà
sinh viên buộc phải học. Nội cái chữ Hoa viết
theo lối tượng h́nh, hội ư, giả
tá … từng nét từng nét, viết một đàng đọc
một nẻo, qủa là một nỗi khổ lớn! C̣n Sanskrit th́ đỡ hơn, dầu sao cũng gần
với Pali và được Latinh hoá nên học nhanh hơn.
Cũng cần nói thêm, chương tŕnh ở Miến
chú trọng đến Tam Tạng hơn là bất cứ
môn nào. Ngay cả sử học và văn
hoá Miến chỉ học 2 năm thôi. Lịch
sử Phật giáo thế giới, sinh viên tự nghiên cứu
lấy sau khi tốt nghiệp.
Nhưng
bù lại đó, ở Miến sẽ học được
một hệ thống pháp số Abhidhamma Nam truyền
cũng như hệ thống thiền chỉ vững vàng,
mà các nước khác, ngay cả Tích Lan và Thái Lan cũng không
có được. Ở Việt Nam những
năm trước đây, v́ giáo sư dạy không có, hoặc
bổ nhiệm không đúng người, nên phần dạy
môn Abhidhamma đúng là “cỡi ngựa xem hoa.” Đây là quan điểm mà nhiều Tăng Ni sinh
Việt Nam ở Miến Điện và Ấn Độ phản
ánh, chứ không hẳn riêng của người viết.
Dầu vậy, ở Miến cũng có nhiều sinh viên
không thấm được hệ thống Abhidhamma này, bởi
v́ giảng viên không biết cách triển khai, thậm chí cứ
học theo truyền thống, xưa sao nay vậy, toàn là
pháp số và thuật ngữ, chẳng liên hệ ǵ đến
thực tế thân tâm của ḿnh, nên càng học càng ngán, càng
thấy xa vời !
VÀI LỜI
KẾT
Ở nơi nào cũng có những tuyệt chiêu mà
sinh viên cần t́m hiểu để khám phá, học hỏi,
và giồi mài. Người học chỉ
liệu thời gian và trí năo của ḿnh, chọn những ǵ
phù hợp, lợi ích cho chính ḿnh th́ học sâu, một mặt
học như thế nào để đáp ứng cho
chương tŕnh căn bản của trường đề
ra nữa.
Lúc nào
cũng than van, chê trách trường này trường nọ,
có lẽ bất xứng với tư cách của một
người học Phật ! T́m
được phương pháp học và chọn những
ǵ cần phải học, ít nhất cho bản thân là điều
cần, và đem truyền bá cách học đó để
đem lại hiệu quả cao nhất trong thời gian
tương đối ngắn nhất, là điều thật
sự hữu ích cho tha nhân, mà chắc ai cũng tán thưởng,
hoan nghênh.
Vài trang
chia sẻ với bạn bè bốn phương.