
Phần 1
Hán: 1
Nhứt cú Di Đà
Ngă Phật tâm yếu
Thụ triệt Ngũ thời
Hoàng cai Bát giáo
Việt: 1
Một câu A Di Đà
Tâm yếu của Phật ta.
Dọc năm thời thấu suốt
Ngang tám giáo trùm xa.
Lược giải:
Một câu niệm Phật là tâm yếu của đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Tâm yếu, cũng gọi là tông,
là yếu chỉ tức sắc tức không của cảnh
giới chân tâm, không thể dùng lời nói và tư
tưởng để luận bàn suy nghĩ
được. Năm thời là: Hoa Nghiêm, A Hàm,
Phương Đẳng, Bát Nhă, và thời Pháp Hoa. Tám giáo là:
Tạng, Thông, Biệt, Viên, Đốn, Tiệm, Bí mật
và Bất định giáo. Dọc là chỉ cho chiều cao
thuộc thời gian. Ngang chỉ cho chiều rộng
thuộc không gian. Ư nói câu niệm Phật rất mầu
nhiệm, về nghĩa lư bao trùm Năm thời Tám Giáo,
về cao rộng suốt cả Thời gian, Không gian.
Hán 2:
Nhứt cú Di Đà
Ư chỉ như hà?
Bạn tri âm thường ít
Mộc nhĩ thiên đa!
Việt 2:
Một câu A Di Đà
Ư chỉ diệu bao nhiêu?
Bạn tri âm thường ít
Kẻ tai gỗ riêng nhiều !
Lược giải:
Như bài kệ trên đă dẫn, ta thấy đại khái
ư chỉ của câu niệm Phật cao diệu như
thế nào! Cho nên Thành Thời Đại Sư đă nói
trong một Đề Từ: " Mà trong A Di hồng danh
thâm. Ngh́n muôn khôn t́m ra tri âm! Thiên Như ḷng từ soi chân
đăng. Đưa người mau ra ṿng mê lầm...Ôi
câu hồng danh mầu thâm xa. Sâu cùng chư tông làng thiền
na. Buông ra thâu vào đều như như. Tương tư
mơ đầy trời Liên hoa !" Điệu đàn
niệm Phật cao siêu mầu nhiệm như thế,
trừ ra bậc tri âm, chớ kẻ tai gỗ làm sao nghe
thấu? V́ thế nhiều kẻ đă lầm đánh giá
Niệm Phật là pháp thấp kém chỉ để cho
kẻ ngu dốt, hạng người già cả tu hành.
Thất đáng cảm xót v́ cảnh ít tri âm, như lời
một bậc tiền bối đă than
Nga nga hồi chí tại cao sơn
Dương dương hồ ư tại lưu thủy
Đàn bá nha ít kẻ tri âm
Những nghe qua xót trộm lại đau thầm
Chung Kỳ mất đập cầm không muốn khảy!
Hán 3:
Nhứt cú Di Đà
Đại ư phân minh
Xà sanh cung ảnh
Dược xuất kim b́nh.
Việt 3:
Một câu A Di Đà
Đại ư thật phân minh
Rắn sanh từ cung ảnh
Thuốc lấy ở kim b́nh.
Lược giải:
Một người tới nhà bạn thân chơi, cố
giao rót trà ra chén mời uống. Lúc ấy vào khoảng
đầu đêm, ánh đèn chấp chóa in bóng cung treo
gần bên vào chén giống như con rắn đang lăn
quăn chao động. Trong lúc không kịp suy nghĩ,
người ấy uống vội hết chén trà, rồi
chợt sanh ḷng nghi là ḿnh đă nuốt con rắn nhỏ
vào bụng, nhưng không dám nói. Về đền nhà anh lo
sợ, rồi phát bịnh. Sau bạn đến thăm,
hỏi biết duyên cớ, mời đến nhà để
dĩa đèn và chén trà chỗ cũ, chỉ cây cung treo
gần bên, người ấy mới dứt hết
mối nghi và lành bịnh. Thuở xưa người
Ấn Độ khi luyện thuốc quí, thường dùng
gương dầy hoặc ngọc thủy tinh tụ ánh
sáng mặt trăng để lấy nước. Luyện
xong lại cất thuốc vào b́nh bạc hoặc b́nh vàng,
cho tăng thêm hiệu lực linh nghiệm. Đây ư nói câu
niệm Phật rơ ràng là pháp viên đốn đi thẳng
vào chân tâm, ngay lúc niệm Phật tức đă thể
hiện Phật tánh, ví như thuốc quí lấy ra từ
b́nh vàng. Kẻ không biết lầm hiểu niệm Phật
là pháp Quyền giáo để dứt trừ vọng
tưởng, hoặc pháp Tiệm giáo để gieo lần
thiện căn. Như thế có khác ǵ anh chàng lờ
lạc nghi ngờ lầm bóng cung là rắn đâu ?
Hán 4:
Nhứt cú Di Đà
Danh dị phương tiện
Phổ nhiếp quần cơ
Bàng thông nhất tuyến.
Việt 4:
Một câu A Di Đà
Phương tiện cực mầu lạ
Nhiếp khắp hết căn cơ
Rẽ thông vào Bát nhă.
Lược giải:
Ấn Quang Đại sư nói: "Tu các môn khác phải
nhiều đời mới thoát luân hồi, và theo như
Khởi Tín Luận th́ phải trải qua một muôn
đại kiếp tu hành liên tục mới vượt lên
ngôi Bất thối chuyển. Ví như quan chức phải
từ phẩm bậc nhỏ lần lượt thăng
đến ngôi Tể tướng. Riêng môn Niệm Phật
là phương tiệm mầu lạ để mau thành
Phật một đời được đới nghiệp
văng sanh thoát khỏi luân hồi, một kiếp đă
bước lên ngôi Bất thối chuyển. Ví như Thái
tử khi mới sanh ra, đă tôn qúi vượt hẳn
quần thần "Môn Niệm Phật lại nhiếp
tất cả căn cơ, dưới từ loài qủy
súc, hạng ngu tốt dốt nát tật nguyền, trên
đến bậc Đẳng giác Bồ Tát như Văn
Thù Phổ Hiền cũng có lời nguyện cầu sanh
Tịnh độ. Chữ "Nhất tuyến" đây
là chỉ cho môn thiền Trực chỉ, tức
đường lối thẳng vào Bát nhă chân tâm. Ngài
Triệt Ngộ dùng từ ngữ này, bởi ngài là một
"đại thiền sư". Lại "Nhất
tuyến" cũng hàm chỉ cho đường lối
đặc sắc nhiệm mầu của môn Tịnh
Độ.
Hán 5:
Nhứt cú Di Đà
Khai văng sanh môn.
Thị đa phước đức
Phi thiểu thiện căn.
Việt 5:
Một câu A Di Đà
Mở đường lối văng sanh
Đó là nhiều phước đức
Chẳng phải ít căn lành.
Lược giải:
Từ khi Vi Đề Hy phu nhân chán cơi đời trược
ác, cầu sanh về thế giới đẹp an vui,
đức Thích Tôn mới nói ra môn Tịnh độ mở
đường lối văng sanh, để hành giả
được dễ dàng thuận tiến trên bước
đường giải thoát. Muốn làm một bậc
thượng thiện nhân cao quư ở cơi đẹp mầu
như thế giới Cực Lạc, phải là người
có nhiều phước đức căn lành. Theo kinh Vô
Lượng Thọ: Chúng sanh nào đời này nghe nói
Phật A Di Đà và cơi Cực Lạc, phát ḷng tín nguyện,
chí thiết niệm Phật cầu văng sanh. Những chúng
sanh đó trong tiền kiếp đă từng gặp
nhiều đức Phật, và gieo trồng nhiều
phước đức căn lành rồi.
Hán 6:
Nhứt cú Di Đà
Lâm chung Phật hiện
Tứ biện thân tuyên
Lục phương cộng tán.
Việt 6:
Một Câu A Di Đà
Khi lâm chung Phật hiện
Tứ biện khó thân tuyên
Sáu phương đồng khen ngợi.
Lược giải:
Liên Tŕ Đại Sư nói: "Một câu A Di Đà
gồm: Đại thiện căn, đại phương
tiện, đại phước đức, đại trí
huệ, đại giải thoát, đại từ bi. Câu niệm
Phật đă có nhiều công đức lớn như
thế, nên người niệm Phật mau diệt
nhiều tội chướng, mau sanh nhiều phước
huệ, khi lâm chung quyết định Phật sẽ
hiện thân tiếp dẫn sanh về Cực Lạc. Cho nên
chư Phật sáu phương hiện ra tướng
lưỡi rộng dài, tiêu biểu cho sự tuyên thuyết
pháp môn tối thượng thừa, mà ngợi khen công
đức không thể nghĩ bàn của Tịnh
độ. Đă là pháp môn công đức không thể
nghĩ bàn; th́ đức Thích Ca Mâu Ni và chư Phật dù
đă dùng Tứ biện tài là: Từ vô ngại biện,
Nghĩa vô ngại biện, Pháp vô ngại biện và Lạc
thuyết vô ngại biện, cũng không thể tuyên
dương ngợi khen cho hết được.
Hán 7:
Nhứt cú Di Đà
Thành Phật tiêu chuẩn
Dĩ niệm Phật tâm
Nhập Vô sanh nhẫn
Việt 7:
Một câu A Di Đà
Là thành Phật tiêu chuẩn
Dùng tâm hạnh niệm Phật
Chứng vào Vô sanh nhẫn.
Lược giải:
Niệm Phật chẳng riêng khi lâm chung được sanh
về cơi Phật mà thôi. Trong hiện tại nếu hành
giả nhiếp cả sáu căn , giữ cho tịnh
niệm nối luôn, và có thể ngay đời này
được ngộ đạo, chứng vào Vô sanh pháp
nhẫn. Cho nên gọi: Niệm Phật là tiêu chuẩn thành
Phật.
Hán 8:
Nhứt cú Di Đà
Chứng tam bất thối
Chỉ thử nhất sanh
Tiện bổ Phật vị
Việt 8:
Một câu A Di Đà
Chứng ba ngôi Bất thối
Chỉ trong một đời này
Được bổ lên Phật vị
Lược giải:
Ba ngôi bất thối chuyển là: Vị bất thối,
Hạnh bất thối, và Niệm bất thối. Cứ
theo Thiên Thai Giáo, chứng được đệ nhất
bất thối tâm trụ, mới lên ngôi vị bất
thối. Chứng thập hồi hướng, lên ngôi
hạnh bất thối. Và chứng sơ địa
mới vào ngôi niệm bất thối. Nhưng ước
theo đường lối phổ thông của Đại
thừa giáo th́: Phá được kiến tư hoặc
mới lên ngôi vị Bất thối. Phục đoạn
Trần sa hoặc, lên ngôi hạnh bất thối. Và
tiến phá vô minh hoặc mới vào ngôi niệm bất
thối. Như thế chứng được ba ngôi
bất thối thật không phải dễ! Theo các giáo môn
khác, tất phải tu tập trải A Tăng kỳ
số kiếp mới chứng nhập được.
Với pháp môn tịnh độ, khi được văng sanh
kể như vĩnh viễn không c̣n bị thối
chuyển nữa. Điều này, theo kinh giáo, gọi là Xứ
bất thối. Từ Xứ bất thối, địa
vị tam bất thối là cầm chắc trong tay, lần
lượt sẽ tiến lên Phật qủa. Cho nên kinh Di
Đà nói: là bậc A bệ bạt trí (Bất thối
chuyển)". Chư thiện nhơn ở Cực lạc
sống lâu vô lượng vô biên A Tằng kỳ kiếp,
chỉ trong một kiếp sanh về nơi đó đă
dư thời gian chứng lên ngôi Nhứt sanh bổ sứ,
được bổ và Phật vị rồi.
Hán 9:
Nhứt cú Di Đà
Măn thập đại nguyện
Khởi đắc Phổ Hiền
Thác giáo liễu biện!
Việt 9:
Một câu A Di Đà
Tṛn đầy mười thập nguyện
Đâu phải đức Phổ Hiền
Dạy lầm cho xong chuyện!
Lược giải:
Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Bất Tư Ngh́ Giải
Thoát Cảnh Giới, sau khi đức Phổ Hiền nói
mười đại Nguyện vương, ngài liền
tự phát thệ và khuyên Thiện Tài đồng tử cùng
hải chúng Bồ Tát trong biển thế giới Hoa
Tạng, đều nên niệm Phật hồi hướng
về Cực lạc. Lời phát thệ như sau:
Tôi nguyện khi lúc sắp mạng chung
Dứt trừ tất cả điều chướng
ngại
Diện kiến đức Phật A Di Đà
Liền được sanh về Cơi An Lạc.
Tại sao thế? V́ muốn vào cảnh giới Bất
tư ngh́ giải thoát, muốn thành tựu các công
đức, muốn chứng Phật qủa phải
thật hành mười đại nguyện vương, và
muốn không bị nhiều chướng duyên làm cho
thối chuyển, muốn sớm mau hoàn măn mười
Đại nguyện vương ấy, tất phải
cầu sanh Cực Lạc! Cho nên lời đức Phổ
Hiền khuyên dạy chư Bồ Tát niệm Phật
cầu về Cực Lạc không phải là điều
dạy bảo cạn cợt lạc lầm, nói suông
rồi cho xong chuyện! Mà chính đó là lời khuyên dạy
tối quan yếu, bao gồm ư vị rất sâu sắc,
phải suy gẫm nhiều mới thấu hiểu!
Hán 10:
Nhứt cú Di Đà
Bạch ngưu giá cảnh
Kỳ tật như phong
Hành bộ b́nh chánh
Việt 10:
Một câu A Di Đà
Xe gác ách trâu trắng
Chạy lẹ như gió bay
Bước đi thật bằng vững.
Lược giải:
Câu niệm Phật, đối với bậc cao, th́ có
niệm đồng với không niệm. Và mặc dù không
nghĩ rằng ḿnh là người hay niệm, đức
Phật là vị được niệm, tâm niệm
hằng rỗng không, nhưng cũng chẳng ngại ǵ câu
niệm Phật thường hiển lộ rành rẻ rơ
ràng. Như chư Bồ Tát, Tổ sư vẫn đi
đứng, nằm ngồi, vẫn ăn cơm mặc áo,
vẫn thuyết pháp tụng kinh, mà không thấy có các
tướng ấy. Các ngài làm pháp hữu vi mà tâm vô vi, tâm tuy
vô vi vi song vẫn làm tất cả pháp hữu vi. Như
thế mới chẳng đọa vào lỗi "không và
có", tiến lên cảnh giới Đại thừa. Cho
nên đức Lục Tổ đă bảo:
Không niệm, niệm mới chánh
Có niệm, niệm thành tà
Có, không đều chẳng tưởng
Ngồi được Bạch ngưu xa.
Cần nhận rơ: Không và Có trên đây, chẳng phải là
không niệm Phật tụng kinh. Đây chính là niệm
Phật đi vào cảnh giới chân không, chẳng
tưởng nghĩ rằng ḿnh có niệm hay không niệm.
Với bậc kém hơn, tuy chưa thể ứng dụng
được như thế, nhưng biết niệm
Phật tức là đă tiến lên đường tu
bằng phẳng, bước đi an ổn vững vàng,
lần siêu vào cảnh giới Đại thừa. Như
đă ngồi trên xe bạch ngưu, bước đi
của nó thật bằng vững, không c̣n lo ngại chi
nữa !
Hán 11:
Nhứt cú Di Đà
Như Lai tạng tâm
Thủy ngoại vô lăng
Khí nguyên thị kim
Việt 11:
Một câu A Di Đà
Là tâm tạng Như Lai
Ngoài nước đâu có sóng
Xuyến, vàng vốn chẳng hai!
Lược giải:
Có một tu sĩ hỏi vị thượng tọa:
"Niệm Phật để làm ǵ?". Ngài đáp:
"Niệm Phật để thành Phật!" Tu sĩ
ấy mỉm cười lui về, ư không công nhân. Tu sĩ
đó không công nhận, v́ ông chưa hiểu, và chưa
ứng dụng được hạnh niệm Phật
đi ngay vào Phật cảnh, tức vào tâm tạng của
Như Lai. Theo trí phân biệt, ông chỉ chấp nhận và
chỉ có thể ứng dụng câu niệm Phật
để trừ vọng tưởng, lần lần
chứng vào chân như mà thôi. Nếu theo tâm chấp
tướng phân biệt, người ta thấy sóng với
nước, xuyến cùng vàng khác nhau. Nhưng thật ra, các
thứ đó chẳng phải một, cũng chẳng
phải hai. Nếu các hành giả niệm Phật từ thí
dụ này để t́m hiểu, tất sẽ xóa tan
niệm phân biệt, dung ḥa tâm với cảnh, thể
nhập pháp môn bất nhị, đi ngay vào tạng tánh
Phật, đại khái ư nghĩa như thế. Thuở
xưa, một hành giả khi chứng ngộ vào cảnh
giới này đă có bài kệ:
Bước đường vô
vị đă cùng rồi
Thấy sóng là đâu chỉ nước thôi
Ông Triệu siêu quần chi lắm đó
Mặt mày trông cũng thế mà thôi.
Hán 12:
Nhứt cú Di Đà
Diệu chân như tánh
Xuân tại hoa chi
Tượng hàm cổ cảnh.
Việt 12:
Một câu A Di Đà
Lộ tánh diệu chân như
Sắc xuân nơi hoa sáng
Muôn tượng ẩn gương xưa.
Lược giải:
Thuở xưa, một vị Tăng tụng kinh Pháp Hoa
đến câu: "Chư pháp tùng bản lai. Thường
tịch diệt tướng" (Các pháp từ xưa nay.
Tự tướng thường tịch diệt), bỗng
sanh nghi không hiểu. Sau mấy năm tham thiền, ông
chợt tỏ ngộ, liền viết tiếp thêm hai câu:
"Xuân đáo bách hoa khai. Hoàng Oanh đề liễu
thượng" (Xuân đến trăm hoa nở, Oanh vàng
kêu liễu biếc!). Câu niệm Phật đă thuần,
hành giả sẽ thấy tánh chân như mầu nhiệm
lồ lộ hiện bày, không thể dùng lời nói luận
bàn, dùng tâm tư nghĩ suy phân biệt được.
Cảnh trạng ấy sự sắc xuân hiện nơi
trăm hoa đua nở sáng tươi, như oanh vàng kêu hót
líu lo trên cành liễu sanh biết, chỉ dùng tâm thiên nhiên
mới thể hợp được cảnh thiên nhiên.
Nếu nghĩ suy phân biệt, tức là phiền năo
vọng động rồi, đâu c̣n chi là sáng suốt,
trong đó in cảnh non nước trời mây, gương
cùng cảnh tượng dung nhập nhau không nghĩ là
đây là kia, là một là khác. Người niệm Phật
khi ngộ vào tánh diệu chân như cũng như thế.
Thời cận đại ở Trung Hoa, một đêm
Hư Vân thượng nhân đang ngồi tịnh ngoài
trời dưới ánh trăng sáng, vị Thiền sư đồng
tham bước đến ướm hỏi thử:
Mắt cá vẫn nhiều, châu khó nhận
Móng mây dễ lẩn ráng tươi hồng!
Thượng nhân liền đáp:
Gương hàm muôn tượng không kim cổ
Chẳng thuộc âm dương sáng đại đồng.
Thiền sư nghe xong, gật đầu mỉm
cười rồi bỏ đi.
Hán 13:
Nhứt cú Di Đà
Thanh tịnh thật tướng
Tuyệt nghị, tuyệt tư
Nan danh, nan trạng.
Việt 13:
Một câu A Di Đà
Cảnh thật tướng sạch trong
Tuyệt bàn, tuyệt suy nghĩ
Khó nói, khó h́nh dung.
Lược giải:
Lập lại ư trên, hành giả niệm Phật khi đi
sâu vào tam muội, thể thật tướng của chân
tâm lồ lộ hiện bày. Cảnh giới này chỉ
đem tâm thanh tịnh khế hợp, không thể dùng
lời nói diễn tả, dùng tâm niệm phân biệt
để nghĩ ngợi phan duyên. Bởi thế nên khi
Thủy Lăo Ḥa Thượng đến tham khấu với ư
niệm cầu hỏi về chân tâm, vừa mới cúi
lạy đă bị đức Mă Tổ đạp cho té
lăn tṛn. Thế mà Ḥa Thượng tỏ ngộ, vỗ
tay cười ha hả. Sự tỏ ngộ ấy chỉ
đương nhân tự hiểu, như người
uống nước lạnh nóng riêng ḿnh biết lấy mà
thôi. Cũng với y chỉ này, thuở xưa một
vị tôn đức đem bài kệ như sau ướm
hỏi các môn nhân:
Có pháp không sau trước
Vô h́nh vốn lặng trang
Hay làm chủ muôn vật
Chẳng theo bốn mùa tàn.
Một đệ tử nghe xong, vội ứng tiếng
thưa: "Đó là chân tâm!" Liền bị tôn
đức rầy quở bác phá.
Hán 14:
Nhứt cú Di Đà
Viên dung pháp giới
Thục thể toàn chân
Giao la vô ngại.
Việt 14:
Một câu A Di Đà
Dụng thông tṛn pháp giới
Soi lặng thể toàn chân
Xen giăng khắp vô ngại.
Lược giải:
Như trên đă nói, khi hành giả chứng Niệm Phật
tam muội, căn trần dứt bặt tự tánh Di
Đà dung thông tṛn sáng khắp pháp giới. Cảnh
tượng ấy lặng lẽ mà chiếu soi, chiếu
soi mà lặng lẽ, toàn thể đâu đâu cũng là chân
thật. Trong chân thể ấy, hằng sa vô biên thế
giới xen giăng nhau, như vô số hạt châu nơi
các mắt lưới của trời Đế Thích. Chân
cảnh này rất đỗi sâu mầu, trong tứ pháp
giới, thuộc về Sự sự vô ngại pháp
giới, trong Thập huyền môn, thuộc về Nhân đà
la vơng cảnh giới môn.
Hán 15:
Nhứt cú Di Đà
Đại viên trí cảnh
Thân độ ảnh hàm
Trùng trùng yêm ánh.
Việt 15:
Một câu A Di Đà
Gương Đại Viên trí cảnh
Thân độ bóng hàm nhau
Lớp lớp mầu lập lánh.
Lược giải:
Đây là nói tiếp về công hạnh niệm Phật
của hành giả khi chứng cùng cực chân cảnh
tự tánh Di Đà. Chân cảnh này như thể
gương tṛn sáng không ngằn mé, bao gồm muôn
tượng sum la, gọi là Đại Viên cảnh trí. Trong
thể Đại viên ấy, "Thân" thuộc về
phần Chân như tịch chiếu môn. "Độ"
thuộc về phần thế giới sanh diệt môn,
đều hàm chứa h́nh bóng lẫn nhau. Sự hàm ảnh
đó như mỗi hạt châu nơi mắt lưới
của trời Đế Thích, đều ngậm chứa
h́nh bóng của vô số hạt châu khác. Cảnh hàm ảnh
giữa Không với Không, Sắc cùng Sắc, Sắc và Không
xen lẫn ngậm bóng nhau ấy, thật là lớp lớp
tầng tầng, lấp lánh vô ngại nhiệm mầu khó bề
diễn tả.
Hán 16:
Nhứt cú Di Đà
Không Như Lai tạng
Vạn pháp vị h́nh
Nhất chân tuyệt tướng.
Việt 16:
Một câu A Di Đà
Là không Như Lai Tạng
Vạn pháp dứt h́nh dung
Nhất chân tuyệt sắc tướng.
Lược giải:
Tiếp theo ư nghĩa trên, cảnh giới tuy nhiên sum la
như thế, song hành giả phải một tâm lặng
lẽ thể nhập vào Không Như Lai Tạng. Tâm cảnh
này dứt cả muôn pháp, tuyệt cả sắc
tướng, chỉ là một thể nhất chân không c̣n
phân biệt.
Hán 17:
Nhứt cú Di Đà
Viên măn Bồ Đề
Thiên cảnh vô thượng
Vân biết dữ tề.
Việt 17:
Một câu A Di Đà
Tṛn đủ Bồ Đề đạo
Ráng mây đều ở thấp
Lại không có trời cao.
Lược giải:
Khi hành giả đă thể nhập Không Như Lai Tạng,
th́ đạo Bồ đề tṛn đủ, con
đường giác ngộ đến mức cao tuyệt
rồi. Cảnh giới ấy như trạng thái của
người: "Một ḿnh nằm nghỉ trên
đỉnh non cao". Khi xưa ông Khấu Chuẩn
đời nhà Tống, thuở bé theo cha lên núi Thái Sơn,
đă đắc ư đọc lên bốn câu thi cũng mường
tượng như hai câu sau của bài kệ trên:
Bất dữ quần phong ngũ
Cảnh vô sơn dữ tề
Cử đầu hồng nhật cận
Hồi thủ bạch vân đề.
Tạm dịch:
Chẳng cùng muôn đảnh đồng bạn
Lại không một núi dám qua
Ngước mắt vầng hồng kề cận
Cúi đầu mây bạc thấp xa!
Nhưng đó chỉ là khẩu khí của một vị
Tể tướng, v́ trên c̣n có vầng hồng, c̣n có Thiên
Tử. Chưa bằng vua Hồng Vơ đời nhà Minh lúc du
ngoạn núi này, cũng tức cảnh hai câu:
Nhứt thượng, nhứt thượng, cánh nhứt
thượng
Vô hạn yên vân nhăn để thâu!
Tạm dịch:
Lên cao càng lúc càng cao tít
Vô hạn trời mây dưới mắt nh́n.
Đây mới thật là khẩu khí của một bậc
Thiên Tử, đứng trên muôn dân. Có thể mượn hai
câu sau này để tạm h́nh dùng cảnh tượng giác
ngộ tṛn đầy cao tuyệt của một vị Pháp
Vương đứng trên vạn pháp.
Hán 18:
Nhứt cú Di Đà
Đại bát niết bàn
Nhất luân minh nguyệt
Vạn lư không hàn!
Việt 18:
Một câu A Di Đà
Là cảnh Đại tịch diệt
Muôn niệm trống thanh lương
Chỉ một vầng minh nguyệt!
Lược giải:
Khi đă vào thể nhiệm mầu cao tuyệt của Không
Như Lai tạng, hành giả niệm Phật ở
cảnh giới mà nhà Thiền gọi là "Chẳng cùng
muôn pháp làm bạn" (Bất dữ vạn pháp vi lữ).
Cảnh giới này như vầng trăng tṛn sáng, chiếu
soi muôn dặm, vắng lặng thanh thanh lương, là
cảnh Đại tịch diệt hay Đại Bát
Niết Bàn vậy. Đây cũng gọi là cảnh "Song
vong", người chăn và trâu đều mất,
phiền năo cùng pháp trừ phiền năo không c̣n. Như
lời xưa đă diễn tả:
Soi lại người, trâu dă mất tung
Dặm ngàn vắng lạnh nguyệt linh lung!
Ư hay đoan bích như ai hỏi
Cỏ biếc hoa tư tươi tự thắm hồng!
Hán 19:
Nhứt cú Di Đà
Khai Bát nhă môn
Thập hư vạn pháp
Nhứt khẩu b́nh thôn.
Việt 19:
Một câu A Di Đà
Mở toang cửa bát nhă
Muôn pháp cơi thập hư
Một miếng nuốt tả cả.
Lược giải:
Bát nhă là trí huệ. Thập hư có nghĩa: cơi hư không
ở mười phương. Một câu Phật hiệu,
nếu niệm cùng cực, tất mở toang
được trí huệ và bao hàm muôn pháp ở mười
phương hư không. Muốn một tiếng nuốt
trọn muôn pháp cơi thập hư, bên trong hành giả
phải tiêu trừ bốn đại năm uẩn
thuộc ngă chấp, bênngoài xả bỏ sáu trần cùng
thời gian, không gian thuộc pháp chấp. Khi chuyên giữ
một câu Phật hiệu, xả trừ quan niệm
chấp thân tâm và thế giới như thế, đến
lúc sức cực công thuần, tam của đương
nhân bỗng mở rỗng rang, bao trùm muôn pháp khắp
mười phương, như bọt nước ḥa tan
đồng sức hàm chứa cùng biển rộng. Đó
gọi là một miếng nuốt tất cả. Thuở
xưa cư sĩ Bàng Uẩn đếm tham khấu
đức Mă Tổ hỏi: "Thế nào là ư của
Tổ Sư Đạt Ma từ Tây phương
đến?". Mă Tổ đạp: "Đợi khi nào
ông uống một hớp hết nước sông tây giang, ta
sẽ nói cho biết!". Cư sĩ nghe xong bỗng đại
ngộ. Hành giả niệm Phật nên theo dơi bước
đại ngộ này, đừng quan thiệp vào lư
giải.
Hán 20:
Nhứt cú Di Đà
Hỏa ốc môn khai
Tùng giả lư nhập
Khoái tùy ngă lai.
Việt 20:
Một câu A Di Đà
Mở cửa nhà đẹp cao
Gọi các hàng tùng giả
Mau theo ta đi vào.
Lược giải:
Hoa ốc đây, chỉ cho cảnh trang nghiêm của
thế giới Hoa Tạng. Khi hành giả chứng
được Niệm Phật tam muội rồi, tâm
cảnh rỗng rang, lần lần đi sâu vào biển
thế giới Hoa Tạng, gồm vô biên quốc độ
mầu đẹp trang nghiêm. Tự ḿnh giác ngộ chứng
được đức trí, lại dùng vô lượng
phương tiện khuyên dẫn kẻ hữu duyên
đồng bước theo vào nơi hoa ốc để
thật hiện đức Bi...Đây là bản nguyện cao
cả của người học đạo.
nghĩ bàn của môn Niệm
Phật, khuyên chúng sanh nên phát nguyện cầu sanh về
Cực lạc. Từ xưa đến nay, chư Tổ
cũng đă dẫn kinh viết luận rất nhiều,
để tán dương môn Tịnh độ. Tâm xót
thương sâu rộng, lời khổ thiết khuyên
răn của chư Phật, Bồ tát, Tổ sư như
thế, thật đă hết ḷng hết sức. Ví như
người đẩy thuyền chở nặng muôn
hộc, giương cung cứng mạnh ngàn cân, sự dùng
tâm vận lực đă đến mức điểm
cuối cùng vậy.
Hán 21:
Nhứt cú Di Đà
Nhập vương tam muội
Tợ địa quân kinh
Như thiên phổ cái.
Việt 21:
Một câu A Di Đà
Vào tam muội Bảo vương
Như đất đều nâng đỡ
Tợ trời che khắp miền.
Lược giải:
Niệm Phật tam muội cũng gọi là Bảo
Vương tam muội. Khi chứng được tam
muội này, diệt vô lượng tội chướng,
tăng vô biên phước huệ, độ vô số chúng
sanh, đức hóa lan rộng khắp mọi nơi như
trời che đất chở. Từ nơi Niệm
Phật Bảo Vương tam muội này, Bồ tát
rưới vô lượng mưa pháp độ khắp
chúng sanh. Như trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Vân Bồ tát
đă bảo Thiện Tài đồng tử:
"Thiện nam tử! Chư đại Bồ tát có vô biên
hành môn trí huệ thanh tịnh. Đó là: Môn Trí Quang Phổ
Chiếu Niệm Phật, thường thấy các thứ
cung điện nghiêm sạch nơi tất cả quốc
độ của chư Phật. Môn Linh Nhứt Thiết
Chúng Sanh Niệm Phật, tùy nơi tâm ưa thích của các
chúng sanh, đều khiến cho được thấy
Phật và được thanh tịnh. Môn Lĩnh An Trụ
Lực Niệm Phật, khiến cho được vào
mười lực của Như Lai. Môn Linh An Trụ Pháp
Niệm Phật, khiến cho thấy vô lượng chư
Phật được nghe pháp mầu. Môn Chiếu Diệu
Chư Phương Niệm Phật, thấy trong tất
cả thế giới, các Phật hải đều
đồng nhau không sai khác. Môn Nhập Bất Khả
Kiến Xứ Niệm Phật, thấy tất cả
cảnh vi tế trong các việc thần thông tự tại
của chư Phật. Môn Trụ Ư Chư Kiếp
Niệm Phật, trong tất cả kiếp thường
thấy các việc làm của Như Lai không tạm mất.
Môn Trụ Nhứt Thiết Thời Niệm Phật, trong
tất cả thời thường thấy Như Lai
đồng ở gần bên không xa ĺa. Một Trụ
Nhứt Thiết Sát Niệm Phật, trong các quốc
độ đều thấy thân Phật vượt
hơn tất cả không chi sánh bằng. Môn Trụ Nhứt
Thiết Thế Niệm Phật, tùy nơi tâm ḿnh ưa thích,
thấy khắp chư Như Lai trong ba đời. Môn
Trụ Nhứt Thiết Cảnh Niệm Phật, khắp
trong tất cả cảnh giới, thấy chư Như
lai lần lượt hiện thân. Môn Trụ Tịch
Diệt Niệm Phật, trong một niệm thấy
chư Phật trong tất cả cơi thị hiện vào
Niết bàn. Môn Viễn Ly Niệm Phật, trong một
niệm thấy tất cả Phật từ chỗ ḿnh
ở đi ra. Môn Trụ Quảng Đại Niệm
Phật, tâm thường quán sát mỗi mỗi thân Phật
đầy khắp tất cả các pháp giới. Môn Trụ
Vi Tế Niệm Phật, khoảng một đầu lông
có bất khả thuyết Như Lai xuất hiện,
đều đến tận nơi mà thừa sự. Môn
Trụ Trang nghiêm Niệm Phật, trong một niệm
thấy tất cả cơi đều có chư Phật thành
Đẳng chánh giác hiện sức thần biến. Môn Trụ
Năng Sự Niệm Phật, thấy tất cả
Phật hiện ra nơi đời phóng ánh sáng trí huệ,
chuyển bánh xe pháp. Một Trụ Tự Tại Tâm
Niệm Phật, tùy tâm ḿnh ưa thích, tất cả chư
Phật đều biết và hiện ảnh tượng.
Môn Trụ Tự Nghiệp Niệm Phật, biết tùy theo
nghiệp lành chứa nhóm của chúng sanh, hiện ra ảnh
tượng khiến cho giác ngộ. Môn Trụ Thần
Biến Niệm Phật, thấy Phật ngồi trên hoa sen
tươi nở rộng lớn đầy khắp pháp
giới. Môn Trụ Hư Không Niệm Phật, quán sát
Như Lai có nhiều thân như mây, trang nghiêm pháp giới và
hư không giới...".
Môn Niệm Phật xuất sanh nhiều tam muội và
lợi ích khắp chúng sanh như thế, nên gọi là
Vương tam muội, và như trời che đất
chở.
Hán 22:
Nhứt cú Di Đà
Đắc Đại tổng tŕ
Chuyển nhứt thiết vật
Sử thập nhị th́.
Việt 22:
Một câu A Di Đà
Khiến được Đại tổng tŕ
Chuyển hết tất cả vật
Sử dụng mười hai th́.
Lược giải:
Đại Tổng Tŕ là sự thông suốt nắm giữ tất
cả pháp với tầm mức lớn lao rộng răi.
"Muốn được tất cả, phải bỏ
tất cả". Ví như tấm gương sáng lớn
mà đem vật ǵ che áng ở trước, dù là một b́nh
hoa đẹp, tất chỗ đó mất sự chiếu
soi tự tại. Chơn tâm của chúng ta là tấm
gương Đại viên cảnh trí, nếu chấp
giữ một pháp nào, dù đó là Phật lư cao siêu mầu
nhiệm, tất cũng sẽ bị kém mất sức
chiếu soi tự tại, sự thông suốt tất
cả pháp. Như thế làm sao được Đại
tổng tŕ? Kinh nói: "Thấy biết mà giữ sự
thấy biết là gốc vô minh. thấy biết không
giữ sự thấy biết, đó mới chính Niết
bàn". (Tri kiến lập tri, tức vô minh bản. Tri
kiến vô kiến, tư tức niết bàn). Cho nên chuyên
nhứt câu niệm phật, xả bỏ tất cả,
hành giả quyết sẽ được Đại
tổng tŕ, Đại tam muội.
Kinh Lăng Nhgiêm nói: "Nếu chuyển được
vật, tức đồng với Như Lai".
(Nhược năng chuyển vật, tức đồng
Như Lai). Chúng sanh tâm thường hướng ngoại,
không biết các pháp là huyễn, cho nên bị cảnh lục
trần xoay chuyển, như con trâu lâm cảnh xỏ vàm
dắt đi, hằng chịu sự phiền năo buộc
ràng không được tự tại. Nếu quán xét các pháp
là huyễn, giữ một câu Phật hiệu xoay chiếu
vào trong, th́ tâm lần lần thanh tịnh tự tại,
sẽ làm chủ được các pháp, không c̣n bị các
pháp sai sử làm chủ nữa. Đó gọi là
"chuyển vật" là đồng với Như lai.
Trái lại, tức là bị vật chuyển, đồng
với chúng sanh vậy.
Ấn Quang pháp sư bảo: "Một ḷng không trụ,
muôn cảnh đều nhàn!" (Nhứt tâm vô trụ,
vạn cảnh câu nhàn). Khi tâm trụ nơi các pháp, th́
thấy thời gian có lâu mau, bị cảnh giới làm cho
loạn động, sanh niệm ưa, chán, ghét,
thương, khổ, vui, cùng vô lượng phiền năo.
Như trên, khi hành giả giữ câu niệm phật thanh
tịnh, không để cho vật chuyển, th́ trong
mười hai thời của ngày đêm, hằng được
nhàn nhă tự tại, tùy ư sử dụng mọi sự,
việc nào đáng làm trước hoặc làm sau đều
theo tuần tự, chẳng khác vị đông y sĩ tùy
nghi sử dụng các hộc thuốc của ḿnh.
Tóm lại, nếu khéo biết tu hành, th́ cách tự tại
sử dụng trong mười hai thời, sự làm
chủ xoay chuyển các pháp, cho đến chứng
đắc cảnh giới Đại tổng tŕ, then
chốt đều do ở nơi câu niệm Phật.
Hán 23:
Nhứt cú Di Đà
Tánh bản tự không
Tinh day cung Bắc
Thủy tận triều Đông.
Việt 23:
Một câu A Di Đà
Tánh thể vốn tự không
Các sao chầu Bắc đẩu
Muôn nước chảy về Đông.
Lược giải:
Một tín nữ đến thuật lại với bút
giả: "Có vị Sư cô bảo con bỏ hết
đừng nên niệm Phật nữa, hăy để ḷng yên
lặng cho tâm không cảnh không, mới mau ngộ
đạo!". Bút giả nói: "Các pháp đều
như huyễn, câu niệm Phật cũng như huyễn,
tự thể của nó đă là không rồi, cần ǵ
phải bỏ? Nếu muốn chứng được tâm
không cảnh không, mà c̣n ngại câu niệm Phật, c̣n bác
bỏ sự tướng, th́ đó chính là thiên không hay ngoan
không (cái không thiên lệch, trống rỗng, cứng
chắc) của ngoại đạo, chớ chẳng
phải ư nghĩa chân không của Phật pháp. Ư nghĩa chân
không chân chánh của đạo Phật ở ngay nơi
tất cả cái có thuộc mọi sự tướng, mà
không chấp thấy là có (Chân không bất không, diệu
hữu phi hữu). Chẳng phải riêng Sư cô ấy
lạc lầm, trong hiện tại có rất nhiều vị
tu học Phật pháp đă sa vào hầm hố đó.
Thật là điều không may và đáng thương
cảm!". Nay nhân tiện xin tạm mượn sự việc
trên để giải thích về ư nghĩa "Tự
không" của câu niệm Phật.
Theo quan niệm địa dư xưa, người Trung
Hoa cho rằng vùng đất của loài người ở
là một châu lớn, chỗ họ cư trú thuộc trung
quốc. Phía Đông của châu ấy là biển cả, muôn
ḍng nước ở lục địa đều chảy
ra đó. Người Việt Nam hấp thụ văn hóa
Trung Hoa, cũng đồng với quan điểm ấy.
Bởi thế cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có câu:
"Hồng Nhật đông thăng tri đại hải.
Bạch Vân tây vọng thị thần châu". Và theo thiên
văn học xưa, người Trung Hoa bảo rằng
các v́ sao đều chầu hướng về ngôi Bắc
đẩu. Để dẫn giải cho Phật pháp,
Triệt Ngộ đại sư cũng phương
tiện mượn quan niệm thế gian ấy mà làm thí
dụ. Bởi tất cả pháp đều từ nơi
biển chân không lưu xuất, và đều tan về chân
không. Bên tông tịnh độ gọi thể chân không đó
là Tự tánh Di Đà. Bài kệ trên đại ư: Câu niệm
Phật tánh vốn tu tiến chứng thể tánh ấy
một cách viên măn, sẽ thức ngộ muôn pháp từ
nơi đó mà lưu xuất, lại cũng qui nhập
về nơi đó. Như sao Bắc đẩu làm chủ
muôn sao, muôn sao chầu về Bắc đẩu, biển
Đông dâng nước vào các sông ng̣i, nước sông ng̣i
đều đổ về biển Đông vậy.
Hán 24:
Nhứt cú Di Đà
Pháp giới duyên khởi
Tịnh nghiệp chánh nhân
Bồ đề chủng tử.
Việt 24:
Một câu A Di Đà
Là duyên khởi pháp giới
Chánh nhân của tịnh nghiệp
Và chủng tử Bồ đề.
Lược giải:
Phật Pháp chia thành hai hệ: Không tông và Hữu tông. Không
tông đề ra thuyết Chân như duyên khởi; Hữu
tông đề ra thuyết A lại da duyên khởi. Dung
nhập vào trung đạo, tức Nhứt chân pháp giới,
th́ Không và Hữu chẳng khác, Chân như tức A lại
da. Đây ư nói câu niệm Phật là huyễn hữu,
cũng lại là chân không, duyên khởi điểm của
nó từ nơi pháp giới. Vậy câu niệm phật là
Pháp giới duyên khởi, gồm Chân như cùng Lại da
duyên khởi, dung nhiếp cả Hữu Không. Bởi
thế nên niệm Phật là chánh nhân của tịnh
nghiệp. Tịnh nghiệp đây gồm bốn Tịnh
độ mà tiêu điểm cuối cùng là cơi Thường
Tịch Quang. Và niệm Phật cũng là hạt giống
Bồ đề đưa đến sự toàn giác,
gồm giác ngộ ḿnh, giác ngộ chúng sanh, hạnh giác
ngộ đầy đủ.
Hán 25:
Nhứt cú Di Đà
Như cảnh chiếu cảnh.
Uyển chuyển hỗ hàm.
Trùng điệp giao ánh.
Việt 25:
Một câu A Di Đà
Như gương chiếu các gương.
Uyển chuyển ngậm bóng nhau
Điệp trùng giao chói sáng.
Lược giải:
Đời Đường, Hiền Thủ đại
sư khi giảng kinh Hoa Nghiêm đến nghĩa: "Vô
tận pháp giới trùng trùng Đế vơng". Ngài
phương tiện dùng mười mặt gương tṛn
lớn, để tám hướng và trên dưới mỗi
chỗ một tấm, cách nhau độ hơn trượng
và đều cùng đối diện. Chính giữa lại an
bài cốt Phật, rồi thắp một ngọn đèn
sáng để soi. Lúc ấy học chúng đều thấy
trong mỗi mặt gương nổi hiện lớp
lớp tượng Phật và ánh sáng. Nhân đó tất
cả đều hiểu ư nghĩa: Biển quốc
độ giao chiếu xen lẫn nhau lớp lớp
điệp trùng, không cùng tận, không ngằn mé. Đây là
cảnh tượng tang nghiêm của Hoa Tạng thế
giới hải. Bài kệ trên ư nói: Câu niệm Phật
sẽ đưa hành giả vào cảnh đại trang
nghiêm không cùng tận đó. Cho nên niệm Phật chẳng
phải là pháp thấp kém thông thường. Đă có bài
kệ khen ngợi.
Niệm Phật vào tướng thật
Chứng biết Phật với Phật.
Cảnh vô tận trang nghiêm
Môn Đại ba la mật!
Hán 26:
Nhứt cú Di Đà
Tợ không hợp không.
Liễu vô ngân phùng
Khước hữu Tây Đông.
Việt 26:
Một câu A Di Đà
Như không hợp hư không.
Tuyệt không chút lằn dấu
Nhưng vẫn có Tây Đông.
Lược giải:
Đem một ly nước đổ vào chậu
nước th́ nước cùng nước dung ḥa nhau, không
làm sao t́m thấy lằn dấu. Khi trút nước ra,
khoảng hư không trong ly hợp với hư không bên
ngoài, cũng tuyệt không lằn dấu. Hành giả
niệm Phật, nếu trong quên thân tâm, ngoài quên cảnh
giới, chẳng thấy ḿnh là người hay niệm,
Phật là vị được niệm, th́ tâm rỗng rang
hồn nhiên, dung họp với thể tánh chân không. Tâm
cảnh ấy chẳng phải vào ngoan không có chi, v́ như
thế là lạc vào ngoan không của ngoại đạo.
Trái lại, hiện tượng chân không ấy sáng suốt
vô tận bao hàm muôn pháp, vẫn có đầy đủ màu
sắc của cỏ cây, sông, núi, trời mây, vẫn có các
phương hướng, cho đến cơi Ta bà thuộc
phương Đông, cơi Cực lạc ở phương
Tây. Đó mới đích xác tánh không chân chánh, cũng gọi
là Như Lai nhứt thật cảnh giới.
Thuở xưa có vị cư sĩ đến hỏi
đạo một cao Tăng ở chốn sơn lâm.
Bậc thượng nhân này không đáp duy trỏ mây trên
trời cùng cái b́nh đựng nước của ḿnh. Tuy
nhiên tuệ căn đă sẵn, vị cư sĩ liền
nghộ vào thể đạo, tức thật tánh chân không,
liền làm bài kệ, tŕnh lên rằng:
Luyện được thân h́nh tợ hạc h́nh
Ngàn thông tươi tốt mấy pho kinh.
Ta nay hỏi đạo không chi khác
Mây ở trời xanh, nước ở b́nh!
Niệm Phật đến chỗ vô niệm, sẽ dung
hợp với tánh không bao la, t́m không thấy mối mang
dấu vết, mà vẫn đầy đủ tất
cả, không thêm bớt là như thế.
Hán 27:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng kinh
Tung hoành giao thái
Tuyệt đăi u linh.
Việt 27:
Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng kinh
Dọc ngang giao chói sáng
Tuyệt đối, thể u linh.
Lược giải:
Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ
kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng lặng quên hết
điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài
kệ sau:
Vi trần phẩu xuất đại thiên kinh
Nghĩ giải thiên kinh không dịch h́nh!
Vô lượng nghĩa tâm toàn thể lộ
Lưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.
Bài kệ này có ư nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi
để lấy ra tạng kinh rộng nhiều bằng
cơi Đại thiên thế giới. Tạng kinh ấy đă
từ điểm bụi cực vi nơi không tâm diễn
ra, th́ t́m hiểu nghĩa lư làm chi cho mệt tâm h́nh? Tốt
hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đă
sẵn đầy đủ vô lượng vô biên diệu
nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Ḱa chim oanh
bay chuyền trên cành cây kêu hót, đang nói lên ư nghĩa chân
thường vắng lặng ấy!
Câu niệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng
vô biên nghĩa lư nghiệm mầu, đâu phải chỉ
một Đại tạng kinh? Gọi một Đại
tạng kinh chỉ là lời nói ước lược mà
thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng
tưởng, đi thẳng vào chân tâm hay vô lượng
nghĩa tâm, th́ ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói
suốt bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết
sự đối đăi, u linh nhiệm mầu không thể
diễn tả!
Hán 28:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng luật.
Miết nhỉ tịnh tâm
Giới ba la mật.
Việt 28:
Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng luật.
Chớp mắt vào tịnh tâm
Đủ Giới ba la mật.
Lược giải:
Câu niệm Phật đă bao hàm đầy đủ
nghĩa lư của một Đại tạng kinh, th́
đối với một Đại tạng luật nó
cũng như thế. V́ luật chẳng ngoài nhiếp
giữ thân, khẩu, ư cho trong sạch. Và thân, khẩu, ư
lại không ngoài tâm, nếu tâm thanh tịnh th́ ba nghiệp
cũng đều trang nghiêm thanh tịnh. Luật nói:
"Phật chế tất cả giới, mục đích
để trị tất cả vọng tâm. Nếu không có
tất cả vọng tâm, th́ cần chi dùng tất cả
giới?" (Phật chế nhứt thiết giới, vi
trị nhứt thiết tâm. Nhược vô nhứt
thiết tâm, hà dụng nhứt thiết giới?)
Cho nên khi niệm Phật, thoáng chốc dứt hết
vọng tưởng đi vào tịnh tâm, tức đă
đầy đủ Giới ba la mật rồi. Ba la
mật là "Bờ bên kia", là nơi giải thoát
rốt ráo. Niệm Phật thanh tịnh, tức đă
đầy đủ sự giữ giới đến
bờ cứu cánh giải thoát vậy.
Hán 29:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt Đại tạng luận.
Đương niệm tâm khai
Huệ quang như phúng.
Việt 29:
Một câu A Di Đà
Là một Đại tạng luận.
Đương niệm tâm mở thông
Ánh huệ tuôn vô tận.
Lược giải:
Như trên, câu niệm Phật đă bao hàm Kinh, Luật,
tất nhiên đối với Luận cũng như
thế. Kinh Viên Giác nói: "Trí tuệ sáng sạch vô
ngại, đều từ nơi thiền định mà
sanh". Niệm Phật thanh tịnh chính là thiền
định, từ định phát sanh trí huệ. Đă có
trí huệ th́ nguồn biện luận sẽ vô cùng. Tứ
vô ngại biện cũng từ nơi niệm Phật
thanh tịnh tâm cảnh mở sáng, mà tuôn trào như suối
chảy.
Hán 30:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt tạng bí mật.
Phát bản thần thông
Cụ đại uy lực.
Việt 30:
Một câu A Di Đà
Là một tạng bí mật.
Phát nguồn cội thần thông
Đầy đủ uy lực lớn.
Lược giải:
Câu niệm Phật đă gồm ba tạng của Hiển
giáo lại cũng đủ thần thông uy lực của
bí tạng Mật giáo. "Bản thần thông" là
thần thông sẵn có, phát sanh từ nguồn gốc chân
tâm, không phải do tập luyện mà được.
Niệm Phật công thuần đến mức thanh
tịnh, cũng như người có sẵn tiền muốn
mua món ǵ cũng được. Dùng công đức niệm
Phật để cầu an, cầu siêu, trừ tai nạn,
trị đau bịnh, hàng tà ma, sám tội chướng,
cầu phước huệ duyên lành, nguyện sanh lên cung
trời hoặc về cơi Phật, cho đến cầu
Đại Niết bàn cũng đều thành tựu.
Tất cả uy lực thần thông cũng từ câu
niệm Phật mà phát sanh. Như thuở xưa, Thiện
Đạo đại sư khi niệm Phật, mỗi câu
đều có một luồng ánh sáng phóng ra. Một
Đại sư về Tịnh tông bên Nhật Bản,
mỗi câu niệm hồng danh, trong miệng bay ra một
vị Phật. Liên Tŕ đại sư lúc dân chúng nhờ
đảo vơ, ngài chỉ ra ngoài đồng gơ mơ niệm
Phật, đi tới đâu mưa rơi đến
đó. Niệm Phật tùy ư phát ra thần thông uy lực là
như thế.
Hán 31:
Nhứt cú Di Đà
Hồn toàn Đại tạng
Giới, định, huệ quang
Lưu xuất vô lượng!
Việt 31:
Một câu A Di Đà
Gồm toàn cả Đại tạng.
Giới, định, huệ ánh mầu
Tuôn ra không hạn lượng!
Lược giải:
Bài kệ trên nói tổng quát về sự bao hàm các Đại
tạng của câu niệm Phật. Các Đại tạng
đây, gồm Kinh tạng, Luật tạng, Luận
tạng, Tạp tập tạng và Bí mật tạng.
Tạp tập tạng nói về các pháp Đại thừa
cũng gọi Bồ tát tạng. Bí mật tạng gồm
các phương thức đàn, ấn, chú, mở một
lối tu đặc biệt, gọi là Kim cang thừa.
Đường lối chứng lên thánh đạo không
ngoài căn bản giới, định, huệ, nhưng
chỉ một câu niệm Phật đă gồm đủ.
Niệm Phật nhiếp thân, khẩu, ư trong sạch là
Giới. Niệm Phật thanh tịnh ḷng không loạn
động là Định. Niệm Phật sáng suốt
dứt hết vọng tưởng điên đảo là
Huệ. Hành tŕ như thế, công càng dày, niệm càng sâu, th́
ánh nhiệm mầu của giới, định, huệ,
càng sáng tỏ và chiếu xa đến nơi vô cùng tận!
Hán 32:
Nhứt cú Di Đà
Thằng bản thị ma.
Nại hà bất hội
Phiên nghi tác xà?
Việt 32:
Một câu A Di Đà
Dây gốc vốn là gai.
Tại sao không thể nhận?
Nghi là rắn lầm thay!
Lược giải:
Duy Thức Luận có đoạn thí dụ: Người
nọ đi trong cảnh trời nhá nhem tối, chợt
thấy một sợi dây to nằm uốn lượn,
tưởng là con rắn, vội nhảy tránh la hoảng
lên. Đến chừng nh́n kỹ lại mới biết
ḿnh lầm, v́ đó chỉ là đoạn dây. Nếu
người ấy thể nhận sâu thêm, sẽ thấy
dây kia cũng không thật, v́ do những tơ gai nhỏ
kết hợp thành.
Lầm dây là rắn, Duy thức học thí dụ cho tánh
Biến kế sở chấp thuộc Phi lượng,
tức chấp trước mọi sự và lượng
định một cách sai lạc. Nhận ra là dây, thí
dụ cho tánh Y tha khởi thuộc về Tỷ
lượng. Y tha khởi là tánh chất nương nơi
cái khác khởi hiện, như sợi dây nương nơi
cái khác khởi hiện, như sợi dây nương nơi
tơ gai mà có. Tỷ lượng là sự lượng
định tương tợ của ư thức so sánh,
như thấy dây tương tợ như rắn. Thể
nhận sâu thêm, thấy dây cũng giả, chỉ do tơ
gai kết hợp thành, thí cụ cho tánh Viên thành thật
thuộc Hiện lượng. Viên thành thật là tánh bao la
sáng suốt tṛn đầy xác thật. Hiện lượng
là tâm lượng của trực giác không phân biệt.
Đây mới là tánh lượng xác thật rốt ráo
của chân tâm.
Sự ứng dụng về niệm Phật cũng
thế. Nếu cho câu hồng danh là một pháp lành, dùng nó
để tu cầu phước báu hư huyễn của
cơi Nhơn thiên, đó thuộc về tánh Biến kế
sở chấp và Phi lượng. Có người dùng câu
niệm Phật như một thoại đầu hay
phương tiện để dứt trừ vọng
tưởng trở lại chân tâm, cũng c̣n thuộc
về tánh Y tha khởi là Tỷ lượng. Như thể
nhận niệm Phật tức là Phật, ngay câu hồng
danh là phước, là huệ, là thật tướng, là chân
tâm và Bồ đề Niết bàn, đó mới là tánh Viên
thành thật thuộc Hiện lượng. Ứng dụng
niệm Phật như thế mới đúng mức. Dùng
với hai cách trước c̣n là khuyết điểm sai
lầm. Bài kệ trên, Triệt Ngộ thiền sư
muốn nêu cao sự diệu dụng về niệm
Phật, để phá lối nhận thức sai lạc
của một số người đối với pháp môn
này.
Hán 33:
Nhứt cú Di Đà
Hản văn hản đổ.
Ảnh hiện cảnh lâm
Hưởng tuyên thiên cổ.
Việt 33:
Một câu A Di Đà
Rất ít nghe ít thấy.
Gương hiện bóng rừng cây
Trống trời tiếng vang dậy.
Lược giải:
Nơi cơi trời Đao Lợi có chiếc thiên cổ do
Bồ tát hóa hiện. Khi chư Thiên mê say theo ngũ dục,
trống ấy nổi lên tiếng ầm ầm để
cảnh giác, và nói ra các pháp: Khổ, Không, Vô thường, Vô
ngă. Thiên chúng nghe xong như chợt tỉnh, liền bỏ
các thú vui, cùng nhau tụ họp lại Thiện pháp
đường để giảng luận về
đạo đức. Niệm Phật cũng có tác
dụng giống như thế. Bởi công đức câu
hồng danh, do sự nhiếp tâm xưng niệm, hành
giả sẽ được tiêu trừ nghiệp
chướng, lần lần đi đến chỗ giác
ngộ.
Lại như tấm gương tṛn sáng vẫn lặng
lẽ không phân biệt, mà hiện rơ bóng hoa cỏ, rừng
cây với đầy đủ chi tiết. Hành giả
niệm Phật đến mức tịch tĩnh vô phân
biệt, th́ tấm gương ḷng tức Đại viên
cảnh trí sẽ lần lần hiện ra sáng suốt lan
rộng. Trong ấy cảnh y báo và chánh báo của
mười phương đều ảnh hiện,
đương nhơn có thể nhận biết rơ từng
số điểm hạt mưa trong tam thiên thế
giới. Như Di Lặc Bồ tát đă khai thị cho
Hư Vân thiền sư: "Gương đại trí trang
nghiêm. Hiện cảnh giới sum la. Trời người và
phàm thánh. Thiện ác đều an lạc".
Công đức câu hồng danh rất ít nghe ít thấy
như thế, song tiếc thay cũng rất ít
người am hiểu suốt thông!
Hán 34:
Nhứt cú Di Đà
Vô khả thí dụ!
Cổ cảnh đương đài
Thủy ngân đọa địa.
Việt 34:
Một câu A Di Đà
Không thể thí dụ tất!
Gương xưa nơi đài cao
Thủy ngân rơi xuống đất.
Lược giải:
Công năng niệm Phật rất mầu nghiệm, không
thể nào dùng thí dụ mà nói ra cho hết được!
Về thể, th́ niệm phật sẽ phát hiện
Đại viên cảnh trí, ảnh hiện mọi cảnh
giới: như tấm gương xưa để nơi
đài cao chiếu rơ và in bóng cảnh vật một cách không
phân biệt. Đă vô phân biệt th́ làm sao dùng lời nói mà
diễn tả thí dụ? Về dụng, câu niệm
Phật viên dung không ngại, như hạt thủy ngân
rơi xuống mặt đất liền lăn tṛn.
Sự tŕ niệm hồng danh có đủ Thiền, Giáo,
Luật, Mật, một ngàn bảy trăm công án, tám muôn
tư pháp tạng. Nói rộng ra, lục độ vạn
hạnh, tất cả hành môn đều dung thông hàm
chứa trong câu niệm Phật.
Hán 35:
Nhứt cú Di Đà
Lăo bà tâm khổ!
Vận vạn hộc chu
Phát thiên quân nổ.
Việt 35:
Một câu A Di Đà
Ḷng thương xót khổ tân!
Đẩy thuyền nặng muôn hộc
Kéo cung mạnh ngàn cân.
Lược giải:
V́ ḷng đại từ đại bi, đức Thích Tôn
cùng hằng hà sa số chư Phật ở sáu
phương, đều hiện tướng lưỡi
rộng dài, khen nói công đức không thể nghĩ bàn
của môn Niệm Phật, khuyên chúng sanh nên phát nguyện
cầu sanh về Cực lạc. Từ xưa đến
nay, chư Tổ cũng đă dẫn kinh viết luận
rất nhiều, để tán dương môn Tịnh
độ. Tâm xót thương sâu rộng, lời khổ
thiết khuyên răn của chư Phật, Bồ tát,
Tổ sư như thế, thật đă hết ḷng
hết sức. Ví như người đẩy thuyền
chở nặng muôn hộc, giương cung cứng
mạnh ngàn cân, sự dùng tâm vận lực đă
đến mức điểm cuối cùng vậy.
Phần 2
Hán 36:
Nhứt cú Di Đà
Minh minh thị hữu
Tứ biện Bát âm
Bà tâm khổ khẩu!
Việt 36:
Một câu A Di Đà
Rơ ràng chính là có.
Dùng Tứ biện Bát âm
Khổ lời thương giải tỏa!
Lược giải:
Trong cảnh giới Nhứt chân, chẳng phải rỗng
không, cũng chẳng phải thật có các pháp cho nên tâm kinh
nói: "Này Xá Lợi Tử! Huyễn sắc chẳng khác chân
không, chân không chẳng khác huyễn sắc. Huyễn sắc
chính là chân không, chân không chính là huyễn sắc". Tóm
lại, chân không chẳng phải cái không trống rỗng,
mà chính nó ở ngay nơi hiện tượng huyễn
hữu. Có một số người tu về Không môn,
như thiền tông chẳng hạn, chưa hiểu chân lư
này, lầm nhận chân tâm là một từ thể sáng
suốt rỗng không. Chư Cao đức bên tông môn cũng
bác lối tu theo nhận thức sai lạc ấy, cho đó
là Hư đầu thiền. Bởi hiểu biết sai
lạc như thế, nên họ rất ngại niệm
Phật, cho tu Tịnh độ c̣n có cái chướng
của tướng có, như cát lẫn vào cơm. Hoặc
họ cũng nhận niệm Phật là có công đức,
nhưng c̣n thuộc về pháp hữu vi. V́ vậy các vị
ấy có người đă mượn câu nói của Cổ
đức để thí dụ: "Mạt vàng tuy là quí,
nhưng rơi vào mắt th́ xốn xang thành bịnh!".
Kỳ thật cổ nhơn cũng có lời ấy, song
nói với một ư khác về bên Thiền khi hành giả
hỏi, chớ không phải thuộc bên Tịnh. Các vị
ấy cũng không hiểu: Pháp vô vi dung thông bao quát, đâu
riêng có ngoài pháp hữu vi?
Thuở xưa Ni cô Đạo Càn đến chùa quốc
Thanh ở non Thiên Thai để phỏng đạo, có
hỏi Bảo Lâm Trân thiền sư: "Bạch tôn
đức! Thế nào là tướng đại
nhơn?". Trân công đáp: "Đợi khi nào
ngươi trừ hết ngũ chướng, đến
đây ta sẽ nói cho!". Ni cô thưa: "Thế th́ Ḥa
thượng đă bị che lầm rồi
đấy!". Ngũ chướng là thân tướng
người nữ. Ư Đạo Càn muốn nói chân tánh không
có tướng nam nữ, nếu y cứ nơi h́nh
tướng để t́m chân tánh là sai lầm. Ngài Bảo
Lâm Trân nghe nói biết chỗ tu của Ni cô c̣n lạc vào
lối chấp thiên không, nên quát bảo: "Ngươi
học ở đâu được cái hư đầu
thiền như thế?". Đạo Càn bị quở,
bất giác xuất hạn dầm ḿnh, chợt tỏ
ngộ, liền cúi xuống đảnh lễ. Trân công
gạn hỏi lại: "Thế nào là tướng
đại nhơn?". Ni cô liền đứng chảng
hảng dang đôi chân, giăng hai tay ra. Đây là hành
động biểu thị tướng đại trượng
phu, cũng ngầm nêu rơ tánh chân không ở ngay trong
tướng có. Ngài Bảo Lâm Trân thấy thế biết cô
đă lănh ngộ, liền gật đầu ấn khả.
Bài kệ trên của tổ Triệt Ngộ, nhấn rơ lư
chân không ở ngay nơi h́nh thức diệu hữu của
một câu A Di Đà, nên mới nói: "Rơ ràng chính là có".
Tứ biện tài như tập trước đă dẫn
giải. C̣n Bát âm là tám giọng nói của Phật, gồm
có: 1. Âm thanh rất trong tốt. 2. Âm thanh cực dịu
dàng. 3. Âm thanh ḥa nhă thích ư. 4. Âm thanh tôn trọng sáng suốt.
5. Âm thanh không pha lẫn giọng nữ. 6. Âm thanh giác
ngộ không mê lầm. 7. Âm thanh rất sâu xa. 8. Âm thanh sang
sảng tuôn trào bất tận. V́ thương xót muốn
cho chúng sanh giác ngộ, chư Phật đă dùng bốn
thứ vô ngại biện tài, tám điệu âm thanh, khổ
thiết tỏ bày dẫn đủ phương tiện
chỉ rơ lư chân không ở ngay trong diệu hữu. Và chư
Tổ sư trước nay cũng đă thương xót
nói đến đắng miệng cạn lời
để giải thích lư này.
Hán 37:
Nhứt cú Di Đà
Đích đích thị vô.
Dung tha vạn tượng
Nhập ngă hồng lô.
Việt 37:
Một câu A Di Đà
Đích xác chính là không
Nếu tiêu muôn vật tượng
Tan vào một ḷ hồng.
Lược giải:
Như trên đă nói sáu chữ hồng danh nguyên là diệu
hữu, bài kệ này khai thị một câu A Di Đà chính
thật chân không. Với mục đích nêu rơ ư này, xin
tạm mượn một việc đă qua để
giải thích:
Nhớ lại độ nọ, có vị Sư cô tu thiền
đến nói với bút giả: "Gần đây một
cư sĩ niệm Phật hơn ba mươi năm, sau
khi nghe lư thiền, muốn thể nhập vào cảnh chân
không, cảm thấy ḿnh bị trói buộc chướng
ngại. Sở dĩ như thế, do v́ niệm Phật
đă lâu năm, dù muốn xả bỏ tất cả, câu
niệm Phật trong tàng thức vẫn cứ hiện ra
tiếp tục măi, không làm sao dứt thoát
được!". Biết cô muốn bác rằng:
Niệm Phật c̣n sự chướng ngại về
sắc tướng, bút giả đáp:
Lư tánh chân không vẫn ở ngay nơi các pháp có, nên Bát Nhă tâm
kinh đă nói: "Thị chư pháp không tướng".
Nếu vị cư sĩ ấy muốn thể nhập vào
chân không, th́ cái không đó là ngoan không của ngoại
đạo, chớ chẳng phải chân không. Tôi xin dẫn
ra đây một ít bằng chứng:
1. Thuở xưa, đức Thế Tôn chỉ dạy
nhiều vị Sa môn thật hành môn Bất tịnh quán
để dứt trừ nhiễm dục. Và đă có vô
số chư Tỳ kheo tu theo pháp này nên được
chứng quả A la hán. Bất tịnh vốn
tướng nhơ ác mà Phật c̣n bảo quán tưởng,
huống chi câu hồng danh là tướng của công
đức lành? Lại nếu như sắc tướng
gây chướng ngại cho việc chứng lư chân không, th́
làm sao các vị Sa môn kia đắc quả A la hán?
2. Từ trước đến nay, năm chi phái về
Thiền tông như: Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào
Động, Vân Môn, Pháp Nhăn, đều dùng câu thoại
đầu làm công phu hạ thủ. Chẳng hạn như
các thiền giả tham cứu câu: "Muôn pháp về
một, một về chỗ nào?" (Vạn pháp qui
nhứt, nhứt qui hà xứ?). Hoặc có vị chỉ tham
đơn độc một chữ Vô hay tham tưởng
chữ A theo Phạn ngữ. Sự tham cứu như
thế đều nương nơi tướng có, nào khác
chi hành tŕ câu niệm Phật? Nếu tham thoại
đầu chẳng thể nhập được vào chân
không, th́ làm sao các thiền sư xưa nay đắc
ngộ cho đến chứng quả? Và nếu niệm
Phật chẳng có công hiệu tương tợ, th́
tại sao nhiều bậc tôn đức như Nhứt
Nguyên thiền sư, Minh Bản đại sư chỉ tŕ
niệm một câu hồng danh mà được đại
ngộ, đi sâu vào tam muội?
3. Nếu cho rằng h́nh tướng của văn tự
ngôn âm gây chướng ngại đến lư tánh chân không, th́
tại sao các bậc Tôn đức khi xưa, sau khi
đại ngộ rồi, trở lại niệm Phật,
tŕ chú, tụng kinh, cho đến phiên duyệt Tam tạng
kinh điển? Trong số ấy, chẳng hạn như
ngài Vĩnh Minh và Thủ Sơn Niệm thiền sư
trọn đời tŕ tụng kinh Pháp Hoa. Phổ Am tổ
sư tŕ tụng kinh Hoa Nghiêm, Khuê Phong Định Huệ
thiền sư tŕ tụng kinh Viên Giác, Kim Hoa Câu Chi thiền
sư tŕ tụng chú Chuẩn Đề. Minh Giáo Tung
thiền sư, chuyên niệm danh hiệu đức Quán
thế Âm. Cho đến như Phần Châu Vô Nghiệp
thiền sư sau khi đại ngộ, ba lần duyệt
xem qua Đại tạng kinh điển?
Cho nên vị cư sĩ đó nếu muốn thể
nhập vào chân không, hăy bỏ sự nhận thức sai
lầm ấy đi, đừng nghĩ rằng niệm
Phật là chướng ngại mà tự thành chướng
ngại. Vị đó cần chuyên nhứt niệm Phật
hơn nữa, lâu ngày sẽ thấy tự thể câu
hồng danh chính là chân không. Niệm như thế, chẳng
những câu hồng danh là không, mà cho đến muôn vật
tượng ở thế gian cũng do nhờ niệm
Phật, được tan biến dung ḥa vào ḷ chân không to
rộng bao la khắp mười phương nữa!
Hán 38:
Nhứt cú Di Đà
Diệc vô diệc hữu.
Mộng lư sơn xuyên
Cảnh trung hoa liễu.
Việt 38:
Một câu A Di Đà
Cũng không cũng có tướng
Non sông nơi giấc mộng
Hoa liễu ở trong gương.
Lược giải:
Bài kệ trên nêu rơ ư: Câu niệm Phật nói không cũng
đưọc, nói có cũng được. Ví như bóng
cành hoa cội liễu lộ trong gương sáng, cảnh
non cao sông rộng hiện giữa giấc mơ.
Trường hợp ấy, nói không cũng được
v́ đó chỉ là h́nh bóng, là cảnh mơ; nói có cũng
được, bởi nó vẫn có ảnh tượng
của cảnh vật vậy.
Hán 39:
Nhứt cú Di Đà
Phi hữu phi vô.
Nại trước tiện chuyển
Thủy thượng hồ lô.
Việt 39:
Một câu A Di Đà
Chẳng có chẳng hư vô.
Chạm đến liền lăn chuyển
Trên nước chiếc hồ lô.
Lược giải:
Trong bốn bài kệ liên tiếp, bài đầu nói về lư
Có, bài thứ hai nói lư Không, bài thứ ba nói lư cũng Có
cũng Không, và bài thứ sau sau này nói lư Chẳng phải Có
chẳng phải Không của câu niệm Phật. Thật ra
câu hồng danh tuy không rời bốn lư trên, nhưng cũng
chẳng thuộc riêng vào một thứ nào trong bốn lư
ấy. Ư nghĩa đích thật của câu niệm Phật
là "Viên dung tự tại chẳng thể nghĩ
bàn!". Nếu hiểu ư này, hành giả có thể tùy duyên
ứng phó với mọi hoàn cảnh trong mọi
trường hợp: hoặc có, hoặc không, cũng có
cũng không, cho đến chẳng phải có chẳng
phải không, một cách dung thông tự tại, không bị
nó làm dính mắc chướng ngại. Ví như chiếc
hồ lô thả nổi trên mặt nước, chạm
đến liền tùy tiện lăn chuyển, không nằm
hẳn một bề nào. Bài kệ tiếp sau đây,
sẽ nói rơ thêm về thật nghĩa của câu niệm
Phật.
Hán 40:
Nhứt cú Di Đà
Đệ nhứt nghĩa đế.
Thượng siêu Bách phi
Khởi lạc Tứ cú!
Việt 40:
Một câu A Di Đà
Là Đệ nhứt nghĩa đế.
C̣n vượt khỏi Bách phi
Huống rơi vào Tứ cú!
Lược giải:
Trước tiên xin giải qua về Tứ cú, Bách phi.
Tứ cú là bốn câu gồm: Có, không, cũng có cũng
không, và chẳng phải có chẳng phải không. Bách phi:
Bách là ước số lấy một trăm làm giới
hạn. Phi là chẳng phải, tiêu biểu cho nghĩa bác
phá. Đây nói chân lư vốn phi hữu, phi vô, phi
thường, phi đoạn, phi sanh, phi diệt, phi
nhứt, phi dị, phi lai, phi khứ, phi hữu biên, phi vô
biên v.v... cho đến cả một trăm thứ phi.
Tại sao thế? Bởi lư tánh ấy tuyệt ngôn
luận, dứt tâm tư, chẳng thể dùng lời nói và
sự suy nghĩ mà vịn đến và diễn tả
được.
C̣n Đệ nhứt nghĩa đế là thế nào?
Đây là nghĩa chân thật bậc nhứt, bên Tông
mệnh danh là: Một bước trên đầu sào trăm
trượng, bên Giáo gọi là: Bất nhị pháp môn hay
Thánh đế. Xin mượn lời vấn đáp của
vua Lương Vơ hỏi tổ Đạt Ma để
tạm giải thích: Hỏi: "Bạch ngài! Sao gọi là
Đệ nhứt nghĩa đế hay Thánh
đế?". Đáp: "Rỗng rang không thánh!".
Quy kết lại, ư bài kệ trên nói: Một câu A Di Đà,
nếu vận dụng đến mức cùng tột, hành
giả sẽ ĺa tứ cú, vượt khỏi Bách phi,
đi ngay vào Đệ nhứt nghĩa môn, tức thể
nhập chân tâm vậy.
Qua năm bài kệ liên quan nhau nói trên, từ diễn
dịch cho đến quy nạp, ở điểm nào câu
niệm Phật cũng dung thông không ngại. Nhưng
luận về phần căn bản, các lối chấp
của nhà tu học Phật pháp xưa nay chẳng ngoài hai
điểm: Có và Không. Bước đầu tiên vào
đạo, và cũng thuộc phần đa số,
người tu Phật thường hay chấp Có. Khi làm các
công đức lành, họ sanh niệm trước
tướng, đôi khi dẫn đến sự tự măn
khoe khoang. Lối chấp này gây trở ngại cho
bước ngộ đạo, tiến tŕnh đến
cảnh giới giải thoát.
Sau khi đi sâu thêm vào biển Phật pháp, xem đến
kinh Kim Cang, Pháp Bảo Đàn, hoặc nghiên cứu về
thiên lư cao siêu, hầu hết lại rơi vào lối
chấp Không. Do đó, có nhiều kẻ đă không xem
trọng điểm ăn chay giữ giới, bác bỏ
sự niệm Phật tụng kinh, cùng các việc làm lành,
cho là thấp kém trước tướng, chẳng hợp
với tŕnh độ cao siêu của lư Không. Họ đâu
hiểu lư Không của Đại thừa, là làm tất
cả công đức hữu vi mà không chấp thấy có
tướng làm. Chẳng hạn như kinh Kim Cang bảo
Bồ tát bố thí chẳng nên trụ tuớng, là không
chấp thấy ḿnh là người thí cho, đây là vật
trao giúp, kia là kẻ được ân huệ nhận lănh.
Bố thí như thế công đức mới vô hạn
lượng, rộng lớn như hư không. Trong ấy
cũng nói về tụng kinh này sẽ được công
đức như thế nào? Vậy th́ kinh Kim Cang, một
áo điển diễn đạt về lư Không của
Đại thừa: Đâu từng bác bỏ việc
tụng kinh, bố thí?
Trong hai lối chấp trên, chấp Có hăy c̣n gốc luân
hồi, song chấp với những việc lành, cũng
sẽ được phước báu cơi Nhơn Thiên.
Đến như chấp Không, bác phá tất cả sự
tướng, th́ quả thật là tai hại. Kinh Phật
gọi đó là tội phá chánh kiến, bởi v́ bài bác nhân
quả. Nó gây sự lầm lạc cho ḿnh và người
hủy hoại Phật pháp, khiến cho đương
nhơn dễ sa vào địa ngục! Đây là hiện
tượng mà các bậc thiện tri thức gọi là
nhức đầu đau tim (thống tâm tật thủ) v́
nó gây tổn thương rất nhiều cho Phật giáo.
Chấp Không như thế lại dễ khiến cho loài
không ma dựa vào tác hại, làm hành giả đảo
điên. Bút giả đă gặp một Thượng
tọa thuật lại câu chuyện như sau:
Theo ư tôi, vị Thượng tọa ấy nói, việc tham
thiền chỉ thích hợp riêng cho một số ít
người bậc thượng căn. Thời nay,
phần đông hàng Tăng tục khi tu, nên lấy niệm
Phật làm phần chánh, tụng kinh hoặc tŕ chú làm
phụ. Bởi tham thiền mà chưa thể thường
nhiếp tâm vào định, hoặc hiểu sai lầm
rồi trụ tâm nói cái ngoan không ám muội, tất sẽ
bị loài không ma dựa vào. Chính tôi đă mục kích vài ba người
trong trường hợp này. Độ nọ, có một
sư cô đến gặp tôi đảnh lễ tŕnh
thưa rằng: "Huynh đệ con hơn mười
người, trước kia đă thọ giáo với
một vị tự xưng là Khán Không thiền sư.
Vị này bảo phải gạt hết tướng có,
trụ tâm vào nơi không. Huynh đệ con thật hành theo
một thời gian, về sau tất cả đều
bị loài ma ám nhập, nói việc vị lai quá khứ,
luận thuyết toàn là lư không. Riêng phần con, nó đă
dựa vào hơn mười năm. Hiện thời khi
gặp tượng hay kinh Phật, nó giục bảo
phải đập phá xé bỏ. Gặp hàng Tăng Ni,
lại giục bảo phải chửi mắng nói những
lời thô tục. Con tự kềm hăm chống trả
lại, t́m nhiều bậc Pháp sư cầu cứu, song
họ đều nói con ma này uy lực cao không thể
trục xuất ra được. Nay con đến đây
đảnh lễ cầu xin thầy có phương pháp chi
giải thoát dùm con!". Tôi nghe nói, bảo Sư cô ấy
tạm nằm nơi ghế dựa, rồi ngồi phía sau
để tay kiết ấn nơi đảnh mà tŕ chú
Chuẩn Đề. Tụng một lát, cô ấy chuyển
lời nói con ma năn nỉ xin tha, v́ nó ra ngoài bơ bơ
không nơi nương tựa. Tôi không chấp thuận,
tiếp tục tŕ chú măi. Ban sơ Sư cô nghiêng trở
dằn vật ḿnh, kế tiếp lần lần thở
gấp gần như đứt hơi. Tôi thấy thế
liền dừng lại, v́ biết nếu cứ tŕ tụng
tiếp, nó có thể liều chết giết người
bịnh trước, phó mặc cho sự thể ra sao th́
ra. Đă có vài vị Pháp sư bị cảnh ma giết
người bịnh trong trường hợp này.
Tối hôm ấy, tôi tŕ chú cầu nguyện xin chư
Thần giúp đỡ. Hơn một giờ đêm, trong
giấc mơ tôi thấy có hai vị Kim Cang sứ giả.
Một vị thân màu đen như sắt, khôi giáp toàn
trắng; vị kia thân trắng như bạc, khôi giáp toàn
đen. Trước tiên, Thiết sứ giả lấy ra
một binh khí lạ dường như xa luân múa lên. Giây
phút, từ binh khí ấy phát tiếng kêu vo vo, phóng ánh sáng
lạ mắt. Kế tiếp vị Ngân sứ giả
đưa tay ra ngăn lại bảo: "Hăy từ từ
xem nó có chịu cải hối hay không đă!". Tới
đây, cảnh tượng đều ẩn mất.
Thức tỉnh, tôi ngẫm nghĩ biết chư vị
mách bảo: Nên khuyến hóa hơn là dùng uy lực gây oan
trái. Sáng ra tôi thuyết giáo chỉ rơ lối chấp sai lầm
không lợi ích cho con ma nghe, nó xin sẽ chuyển
hướng tu theo chánh pháp. Riêng phần Sư cô nọ, tôi
bảo v́ loài ma đă dựa vào quá lâu, nên thể phách
của nó có phần dính liền với thể xác. Nếu
vội trục xuất, e cho thân của người
bịnh sẽ bị tổn. Tôi truyền ấn và chú
Chuẩn Đề bảo cô nên hằng ngày tŕ tụng.
Với uy lực của chú, ma sẽ từ từ xuất
ra. Sư cô ấy vâng lời.
Nói xong vị Thượng tọa kết luận: Sự
nhận thức cùng tu tập sai lầm, gây nên tổn
hại và cứu gỡ khó khăn là như thế.
Hán 41:
Nhứt cú Di Đà
Diệu viên Tam đế.
Tối thanh lương tŕ
Đại mănh hỏa tụ.
Việt 41:
Một câu A Di Đà
Mầu tṛn Tam đế lư.
Như ao rất thanh lương
Tợ lửa to thiêu hủy.
Lược giải:
Tam đế là ba lư chắc thật: Không, Giả, Trung.
Không đế hiển công dụng phá t́nh chấp. Giả
đế hiển công dụng lập các pháp. Trung
đế hiển công năng dứt đối đăi.
Trung quán Luận có bài kệ:
Các pháp nhân duyên sanh
Ta nói tức là Không.
Cũng gọi là Giả danh.
Cũng là nghĩa Trung đạo.
Các pháp v́ hư huyễn chẳng có thật thể, nên
gọi là Không. V́ sanh diệt vô thường nên gọi là
Giả. V́ tự tướng lồ lộ hiện bày,
chẳng thể nói riêng là Không, là Giả, dứt ngôn
thuyết tâm tư, nên gọi là Trung. Kinh Pháp Hoa nói: "Các
pháp từ xưa nay. Tự tướng hằng tịch
diệt" chính là nghĩa này. Trong ba đế, Không bao hàm
cả Giả, Trung. Giả và Trung cũng đều
lại như thế, nên gọi là mầu tṛn, cũng
gọi là Tam đế tương tức.
Dùng trí tuệ quán chiếu, các pháp đă như thế, th́
câu hồng danh cũng đủ lư Tam đế nhiệm
mầu tṛn thông như vậy. Hiểu được lư
này, tất có thể ứng dụng hạnh niệm
Phật siêu vào cảnh giới đại tịch diệt,
như đống lửa lớn cháy hừng đốt
tiêu tất cả rác rến trần cấu, như ao to mát
mẻ dứt trừ tất cả hơi nóng của năo
phiền. Hành giả sẽ lần lần chứng vào chân
cảnh tịnh Bảo Nguyệt quang Minh tam muội
vậy.
Hán 42:
Nhứt cú Di Đà
Đắc Đại tự tại.
Chuyển biến thánh phàm
Dung thông thế giới.
Việt 42:
Một câu A Di Đà
Chứng được Đại tự tại.
Hay chuyển thánh siêu phàm
Dung thông mười giới hải.
Lược giải:
Với câu niệm Phật, nếu hành giả ngộ
suốt lư Tam đế như trên, sẽ vượt Thánh
siêu phàm chứng vào chân tâm tuyệt đối. Cảnh trí
này không c̣n giới hạn giữa tự cùng tha, nhơn
với pháp, chúng sanh và Phật, nên gọi là Đại
Tự Tại tam muội. Ánh sáng chân tâm sẽ từ đó
lan rộng ra, chiếu suốt vô biên thế giới ở
mười phương. Trong ánh đại quang minh,
biển thế giới mười phương đều
lung linh như huyễn, tṛn trặn nhiệm mầu, dung
thông vào một chân cảnh.
Hán 43:
Nhứt cú Di Đà
Hữu công giả thưởng.
Vương thiện dinh tiền
Kế châu tại chưởng.
Việt 43:
Một câu A Di Đà
Thưởng kẻ có công hay
Yến tiệc vua đầy trước
Châu mái tóc nơi tay.
Lược giải:
Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật có thí dụ đại
khái: "Như vua Chuyển luân đem quân dẹp giặc,
thấy những binh tướng có công, đều tùy
phần mà thưởng, hoặc cho y phục, châu báu, chí
đến thành ấp tụ lạc. Duy hạt minh châu
nơi mái tóc chẳng đem cho, v́ riêng trên đảnh vua
chỉ có một viên bảo châu ấy thôi. Nếu vua
thấy vị nào có công lớn, mới đem hạt ma ni
vô giá để từ lâu nơi mái tóc ra cho. Đức
Như Lai cũng như thế, nếu thấy hàng
đệ tử y theo các kinh khác dứt trừ ba
độc năm ấm, liền ban cho các pháp thiền
định, giải thoát, chí đến thành Niết bàn,
bảo rằng đă diệt độ. Nhưng riêng kinh
Pháp Hoa lại không nói ra, v́ kinh này rất sâu khó tin, quí báu
bậc nhứt. Nếu hàng đệ tử nào có công
lớn phá các vô minh phiền năo, vượt ra ba cơi, phát tâm
Đại thừa, mới đem kinh Pháp Hoa là tạng bí
mật, từ lâu hằng nghiêm cẩn giữ ǵn, ngày nay tuyên
thuyết".
Môn niệm Phật cũng như thế, là Bí mật
tạng chỉ thưởng riêng cho những kẻ có công
tin nhận diệu pháp thành Phật này. Tin tưởng và
thật hành theo môn Niệm Phật tức như
người đă có trước mặt yến tiệc
đầy đủ sơn hào hải vị của vua ban,
đă cầm vào tay viên minh châu nơi mái tóc của
Chuyển luân vương vậy.
Hán 44:
Nhứt cú Di Đà
Lư nhân vi mỹ.
Cư bốc lai quy
Khô thung phi quỉ.
Việt 43:
Một câu A Di Đà
Xóm nhân là tốt quí.
Lựa chỗ ở nương về
Cây khô không phải quỉ.
Lược giải:
Thuở thầy Mạnh Tử c̣n bé, nhà ở xóm có hàng
thịt. Khi ông cùng lũ trẻ nô đùa, thường
họp nhau nắn đất thành h́nh súc vật, rồi bày
ra tṛ giết heo dê. Bà mẹ thấy thế e con ḿnh về
sau thành kẻ đồ tể, liền dời nhà đi
nơi khác. Chỗ ở kế lại không may gặp
nhằm xóm có một nhóm người chuyên nghề ma chay
chôn cất. Hằng ngày Mạnh tử lại cùng đám
trẻ bắt chước đào huyệt, nắn
đất thành ḥm, giả trang sức đồ tang, bày tṛ
chơi khóc than tống táng. Thấy vậy bà mẹ không
ưng, t́m chỗ tản cư. Lần sau này, nhà ở
gần trường học. Mạnh Tử lại cùng
lũ trẻ bắt chước lời nói khiêm
nhường lễ nghĩa, học dáng điệu cung kính
chào thưa, cùng ê a đọc sách. Bà mẹ trông thấy
mừng thầm, yên ḷng không dời đi đâu nữa.
Cũng như thế, người gặp pháp giải thoát
của môn Niệm Phật, có khác nào kẻ t́m chỗ
ở, được may mắn gặp nhằm xóm nhân
đức hiền lương. Gia đ́nh kẻ ấy
sẽ lần lần tập nhiễm hạnh lành tánh
tốt vậy.
Một người đi đêm bất ngờ gặp
trụ cây khô, lầm tưởng là quỉ nên thảng
thốt kinh hoảng. Nhưng quan sát kỹ, đó chỉ là
cây khô không làm sao có tác dụng của ma quỉ
được, nên lại yên tâm ngẫm nghĩ buồn
cười cho ḿnh. "Trụ cây khô" c̣n tiêu biểu cho
pháp chân như bất biến. Cổ đức có câu:
"Cây khô xơ xác tựa rừng đông. Mấy
độ xuân sang chẳng đổi ḷng!". (Tồi tàn
khô mọc ỷ hàn lâm. Kỷ độ pḥng xuân bất
biến tâm). Pháp Niệm Phật là viên ngọc ma ni, là con
thuyền giải thoát, mà kẻ không biết giá trị xem
thường như đất sạn, khác nào anh chàng
thảng thốt kia nh́n cây khô, tưởng là ma quỉ
đâu!
Hán 45:
Nhứt cú Di Đà
Phi nan phi dị.
Cửu phẩm liên hoa
Nhứt sanh tâm lực.
Việt 45:
Một câu A Di Đà
Chẳng khó, nhưng không dễ.
Được về chín phẩm sen
Một đời dùng tâm lực.
Lược giải:
Môn Niệm Phật quả dễ thật hành, câu hồng
danh niệm ra không phải khó. Tuy nhiên, niệm với tâm
tín nguyện chắc thật, niệm với hạnh
bền bỉ lâu dài, niệm với y dứt tuyệt
trần duyên, lại là điều không phải dễ.
Với ba điều kiện vừa kể trên, trong muôn
ngàn người khó t́m được một. Cho nên cũng
đừng vội xem thường hạnh niệm
Phật. Muốn được dự vào chín phẩm sen
ở cơi Tây phương, người tu tịnh nghiệp
phải đem hết năng lực của thân và tâm,
chẳng nài khổ nhọc thật hành suốt một
đời, mới mong đạt được kết
quả.
Hán 46:
Nhứt cú Di Đà
Tự lộ hoàn gia.
Khả tích si nhơn
Khí kim đảm ma!
Việt 46:
Một câu A Di Đà
Theo đường trở lại nhà.
Tiếc cho kẻ khờ dại
Bỏ vàng gánh vỏ gai!
Lược giải:
Trong kinh có đoạn thí dụ về điểm cố
chấp của kẻ khờ dại: Hai người
nọ vào rừng róc lột vỏ gai để lấy
tơ dệt vải bố. Trên lối về với
đôi gánh vỏ gai oằn oại nơi vai, cả hai
gặp một đống tơ gai của ai bỏ sót trên
đường. Một người mừng rỡ
bảo: "Chúng ta đem vỏ gai về, chẳng qua
để đập rồi ngâm lấy tơ. Nay đă có
sẵn tơ gai ở đây, nên bỏ thứ vỏ
nặng nề này, lấy tơ đem về!". Nói xong
liền thật hành theo ư định. Kẻ kia chấp mê
rằng ḿnh đă ra công gánh vỏ gai trải qua một
quăng đường rồi, nên không chịu bỏ. Đi
thêm đoạn nữa, cả hai bỗng gặp mấy
xấp vải bố của một chiếc xe tải làm
rơi rớt ngổn ngang. Người gánh tơ lại
mừng nói: "Vỏ gai hay tơ gai dù đem về
cũng chỉ dùng để dệt vải bố. Nay
đă có thứ này ở đây, chúng ta phải bỏ
hết cái cũ mà chọn lấy vải là quí hơn!".
Nói đoạn vội bỏ tơ gai, chất vải
bố đầy gánh. Kẻ kia cũng chấp rằng ḿnh
gánh vỏ gai quá xa, nên không chịu bỏ. Đi thêm một
đoạn đường, cả hai dừng lại
ngồi nghỉ, chợt thấy một hốc
dưới gốc cây khô nằm la liệt mấy hũ
vàng, có lẽ của ai đă chôn giấu từ lâu.
Người gánh vải quá mừng, vội vất lại
thứ cũ, chọn lấy hai hũ vàng đem về, v́
vải không làm sao bằng vàng được. C̣n kẻ si
mê kia vẫn cố chấp ḿnh đă ra công quá nhọc, thà
chịu gánh vỏ gai chớ không lấy vàng.
Môn niệm Phật là pháp viên đốn, là đường
lối thẳng tắt để trở lại nhà.
Người đă gặp môn tối thượng mau thành
Phật này, mà c̣n tham cầu phước báu nhơn thiên, c̣n
mê chấp lối tu tà ngoại, c̣n giữ theo những hành
môn quanh co khó bảo đảm cho sự giải thoát.
Tổ Triệt Ngộ cho đó là một lối si
chấp, như kẻ thà cam gánh vỏ gai không chịu
chọn lấy vàng vậy.
Hán 47:
Nhứt cú Di Đà
Hoành xuất Ta bà.
Nhữ tín bất cập
Ngô mạc như hà?
Việt 47:
Một câu A Di Đà
Vượt ngang thoát Ta bà.
Người tin không thấu đáo
Ta biết làm sao mà?
Lược giải:
Có hai lối tu để thoát ṿng luân hồi trong Tam
giới. Đó là lối thụ xuất, vượt ra theo
chiều dọc. Và Hoành xuất, vượt ra theo chiều
ngang. Kẻ tu đường lối Thánh đạo, dùng
sức giới, định, huệ lần lượt
dứt trừ Kiến hoặc cùng Tư hoặc của
Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới, thoát ra
ba cơi, gọi là Thụ xuất. Ví như con ong muốn ra
khỏi cây tre, dùng sức khó nhọc đục từng
mắt tre theo chiều đứng, mà t́m lối thoát. C̣n
người tu theo đường lối văng sanh, tuy
chưa dứt trừ hoặc nghiệp, nhưng biết
dùng sức tín, nguyện, hạnh của ḿnh và nương
theo sức bản thệ nhiếp thọ của Phật,
cũng được vượt thoát ba cơi Ta Bà, sanh ngang
về Lạc quốc. Đă về cơi ấy rồi,
tất không c̣n bị luân hồi, lần lượt
chứng lên các Thánh phẩm, cho đến khi thành phật.
Đây gọi là lối tu Hoành xuất. Ví như con ong
biết dùng phương tiện đục ngang cây tre mà
thoát ra, đă dễ dàng lại ít nhọc công phí sức.
Pháp môn Tịnh độ là lối tu Hoành xuất tam
giới, là phương tiện nhiệm mầu để
mau thoát luân hồi, chứng lên quả Phật. Trong
nhiều kinh luận, chư Phật và chư Tổ đă
tuyên dương khen ngợi rộng về môn này. Song
tiếc thay những kẻ kém duyên sức tin chưa
thấu đáo, th́ ḷng từ bi của các Ngài dù trải ra
vô lượng vô biên, nhưng kết cuộc cũng không
biết làm sao mà cứu vớt được!
Hán 48:
Nhứt cú Di Đà
Quy nguyên tiệp kính.
Khẩn yếu tư lương
Duy Tín, Nguyện, Hạnh.
Việt 48:
Một câu A Di Đà
Là đường tắt về nguồn.
Những tư lương cần thiết
Tín, Nguyện, Hạnh gọn suông.
Lược giải:
Câu niệm Phật là con đường thẳng tắt
để trở lại nguồn tâm. Như người
đi xa cần dự bị cho đủ tư
lương là: tiền nong, đồ phục dụng và
thức ăn uống. Tư lương cần thiết
đi về Tịnh độ cũng thế, chỉ suông
gọn trong ba điểm: Tín, Nguyện, Hạnh mà sau
đây sẽ nói.
Hán 49:
Nhứt cú Di Đà
Yếu tại Tín thâm
Liên hoa cửu phẩm
Sưu tại thử tâm.
Việt 49:
Một câu A Di Đà
Cần ở điểm Tin sâu.
Mầm hoa sen chín phẩm
Từ tâm đây nhô đầu.
Lược giải:
Ḷng Tin là phần tư lương trước tiên của
môn Niệm Phật. Hoa sen chín phẩm ở Tịnh
độ cũng từ ḷng Tin này mà nẩy mầm nhô
đầu lộ mọc lên. Nhưng Tin cần phải sâu
chắc, có thể tóm gọn trong ba điểm:
Một là tin cơi Cực lạc trang nghiêm tốt đẹp
kia vẫn thật có, không phải chuyện hư huyễn
hay thí dụ. V́ đức Phật Thích Ca không bao giờ nói
dối, Ngài đă diễn tả rành rẽ từng chi
tiết của cảnh ấy trong ba kinh Tịnh
độ. V́ đă có rất nhiều người niệm
Phật trong đời hiện tại, do tâm thanh tịnh,
từng chứng kiến cảnh giới này.
Hai là tin sự văng sanh về cơi kia cũng hiện thật.
V́ đức A Di Đà Thế Tôn không bao giờ nguyện
suông, nói mà chẳng thật hành. V́ từ xưa đến
nay có rất nhiều người niệm Phật, khi lâm
chung hiện ra điềm lành, được Tây
phương Tam Thánh hiện thân tiếp dẫn sanh về
Cực Lạc.
Ba là tin ḿnh dù c̣n phiền hoặc, dù nghiệp chướng
nặng nề đến đâu, nếu chí tâm niệm
Phật cầu nguyện văng sanh tất sẽ
được tiếp dẫn. V́ trong kinh Vô Lượng
thọ đă nói, kẻ tạo nghiệp ngũ nghịch
thập ác khi lâm chung dùng mười niệm cũng
được văng sanh. V́ trong truyện kư đă có ghi,
những kẻ tạo ác nhiều như Hùng Tuấn, Duy
Cung, nhờ biết hồi tâm niệm Phật đều
được sự tiếp dẫn.
Hán 50:
Nhứt cú Di Đà
Yếu tại Nguyện thiết.
Thốn tâm dục phần
Song mục lưu huyết.
Việt 50:
Một câu A Di Đà
Cần ở nơi Nguyện thiết
Ḷng về tơ lửa nung
Mắt thương khóc ra huyết.
Lược giải:
Nguyện là phần tư lương thứ hai của môn
Niệm Phật. Nhưng Nguyện phải tha thiết,
không tham luyến trần cảnh, gia tư, quyến
thuộc, không mong cầu hưởng sự vui
phước báu nhơn thiên nơi đời sau. Chỉ
nguyện mau sanh về Cực Lạc, để thoát
khỏi nỗi khổ luân hồi, để sớm
thấy Phật và chứng kiến cảnh trang nghiêm
của Liên bang, để độ thoát ḿnh, kẻ oan
người thân và vô lượng chúng sanh trong ṿng ch́m
đắm. chí nguyện cầu sanh ấy nung nấu
như lửa đốt ḷng, đôi mắt thương
cảm tha thiết trông về hầu như tuôn ra huyết
lệ.
Hán 51:
Nhứt cú Di Đà
Yếu tại Hạnh chuyên
Đơn đề nhứt niệm
Trảm đoạn vạn duyên.
Việt 51:
Một câu A Di Đà
Cần ở chỗ Hạnh chuyên.
Chỉ nêu cao một niệm
Dứt sạch cả muôn duyên.
Lược giải:
Sau rốt, Hạnh là phần tư lương thứ ba
của môn Niệm Phật. Song Hạnh cần phải tinh
chuyên. Điều này có thể tóm lại trong hai câu:
"Rũ sạch muôn duyên. Một ḷng niệm
Phật". Muốn rũ sạch muôn duyên, phải
thấu đáo cảnh Ta bà là khổ, mọi sự vật
đều vô thường, như huyễn mộng, mà không
c̣n niềm tham luyến. Muốn một ḷng Niệm
Phật, phải hâm mộ cảnh Cực lạc y báo chánh
báo vui đẹp trang nghiêm, mong mỏi cầu về như
con thơ nhớ mẹ, như lữ khách tưởng
nghĩ trở lại quê xưa.
Ba điểm Tín, Nguyện, Hạnh trên tuy giải thích
riêng từng phần, song thật ra cả ba đều liên
quan hỗ trợ lẫn nhau. Như cái đảnh có ba
chân, nếu thiếu một phải sụp đổ
tất cả vậy.
Hán 52:
Nhứt cú Di Đà
Thệ thành phiến đoạn.
Bản thử nhứt sanh
Tác cá nhàn hán.
Việt 52:
Một câu A Di Đà
Thề niệm thành một khối.
Liều tu măn kiếp này
Được làm người nhàn rỗi.
Lược giải:
Người tu tịnh nghiệp do ư thức nỗi khổ
sống chết luân hồi là việc lớn cần
phải giải quyết, nên phát tâm Bồ đề.
Từ nơi điểm này dùng ḷng tin nguyện sâu
thiết, hành tŕ câu hồng danh thề niệm thành một
khối, không để phiền năo xen vào. Trong đời
này phải liều ḿnh hết sức tu hành như thế,
để bảo đảm cho sự văng sanh lúc lâm chung.
Khi đă được về Cực lạc rồi,
chừng đó mới thoát ṿng sống chết, làm
người an nhàn tự tại, không c̣n lo bị luân
hồi sa đọa nữa.
Hán 53:
Nhứt cú Di Đà
Chỉ nhẫm ma niệm.
Bách bát luân châu
Tuyết đoạn trùng hoán.
Việt 53:
Một câu A Di Đà
Nên niệm như thế này.
Chuỗi lần trăm lẻ tám
Dây đứt lại đổi dây.
Lược giải:
Kẻ sức yếu lúc lên non, muốn được
vững vàng, phải nương cây gậy. Cũng như
thế, người tu tịnh nghiệp khi niệm lực
chưa thuần, cần nương nơi tràng chuỗi
giữ chắc định số mỗi ngày để
pḥng ngừa sự biếng trễ. Cứ niệm măi
như vậy, chuỗi đứt lại đổi dây
khác, khi nào đến cảnh giới "không niệm
tự niệm", chừng đó muốn lần chuỗi
hay không cũng được. Đừng nghĩ rằng
lần chuỗi sẽ mất sự tự tại. Cổ
đức đă tŕnh thuật lại kinh nghiệm lần
chuỗi vẫn được viên dung vô ngại như
sau: "Nắm lấy chuỗi tràng trần niệm
dứt. Nghiễm nhiên thành Phật đă từ lâu!".
(Niết khởi sổ châu thằng sách đoạn.
Thể hương phạn thục dĩ đa thời).
C̣n phương pháp niệm Phật như thế nào,
dưới đây sẽ lần lượt chỉ rơ.
Hán 54:
Nhứt cú Di Đà
Bất cấp bất huỡn
Tâm khẩu nhứt như
Lịch lịch nhi chuyển.
Việt 54:
Một câu A Di Đà
Chẳng gấp cũng chẳng huỡn.
Ḷng miệng ứng hợp nhau
Rành rơ mà chuyển niệm.
Lược giải:
Cách niệm Phật không nên gấp hoặc huỡn lắm.
Niệm gấp tất khó rành rơ, có hại cho sự huân
tập câu hồng danh, ngày kia cảnh giới "không
niệm tự niệm" phát hiện, câu Phật hiệu
cũng không được rành rơ. Niệm huỡn th́
vọng tưởng dễ xen lẫn vào. Lại quá dùng
sức niệm mau gấp, hư hỏa sẽ bốc lên,
thần kinh căng thẳng, tất sanh bịnh nám mặt
đau đầu. Niệm huỡn đăi lơ là th́ tâm ư
buông lơi, sẽ sanh lỗi hôn trầm biếng trễ.
Khi niệm phải tiếng nương nơi tâm, tâm duyên
theo tiếng, ḷng và miệng ứng hợp nhau, cứ
niệm đều đều ngoài ra không tưởng
nghĩ chi khác.
Hán 55:
Nhứt cú Di Đà
Dũ đa dũ hảo.
Như nhơn học xạ
Cữu tập tắc xảo.
Việt 55:
Một câu A Di Đà
Niệm càng nhiều càng hay
Ví như người học bắn
Tập lâu th́ khéo tay.
Lược giải:
Người học bắn, càng tập lâu tất nghề
càng tinh xảo. Câu hồng danh là sự kết tụ vô biên
phước huệ của Phật, niệm càng nhiều
th́ căn lành càng thuần, công đức càng to rộng,
phẩm sen lại càng cao. Ngẫu ích đại sư
đă nói: "Được văng sanh cùng không, là do nơi
Tín, Nguyện. Phẩm sen cao hoặc thấp, toàn bởi
sự Hành tŕ!".
Hán 56:
Nhứt cú Di Đà
Nhiếp tâm mật tŕ.
Như nhơn ẩm thủy
Lănh noăn tự tri.
Việt 56:
Một câu A Di Đà
Mật niệm hằng nhiếp tâm.
Ví như người uống nước
Nóng lạnh tự biết thầm.
Lược giải:
Kinh nói: "Chí tâm niệm một câu A Di Đà, tiêu
được tội nặng trong tám mươi ức
kiếp sống chết". Một kiếp sống
chết là một quăng đời trong nẻo luân hồi.
Liên Tŕ đại sư cũng bảo: "Câu niệm
Phật là đại phước, đại đức,
đại trí, đại huệ, đại thánh, đại
hiền!". Về phước th́ câu hồng danh cảm
hiện nhạc trời, hương lạ, ao báu,
đất vàng, cho đến vô lượng cảnh
tướng tốt đẹp trang nghiêm. Về huệ th́
câu Phật hiệu sẽ khiến cho hành giả tiêu
trừ tội chướng, lần lần đi sâu vào
cảnh giới giác ngộ, chứng lên Thánh quả.
Tiến tŕnh chứng ngộ phước và huệ thấp
hoặc cao ấy, duy đương nhơn tự
biết; như người uống nước lạnh,
nóng chỉ ḿnh hay, không thể diễn tả ra
được!
Hán 57:
Nhứt cú Di Đà
Thí như quật tĩnh.
Tựu hạ cận nê
Giá liêm công tĩnh.
Việt 57:
Một câu A Di Đà
Như đào giếng lấy nước.
Lần sâu thấy gần bùn
Giá hời công kiệm ước.
Lược giải:
Kinh Pháp Hoa có thí dụ: "Như người đào
giếng, trước tiên duy thấy đất cát khô ráo,
biết mực nước hăy c̣n xa. Lần lần thấy
đất ướt và bùn, biết đă gần tới
mực nước. Người tu Phật cũng thế,
khi chưa nghe hiểu kinh Pháp Hoa, kẻ ấy hăy c̣n xa
đạo Vô thượng Bồ đề. Lúc đă nghe
hiểu kinh này, tất biết người ấy đối
với đạo Vô thượng Bồ đề không c̣n
xa nữa...".
Với môn Tịnh độ cũng lại như thế,
người nào đă biết và tu pháp Niệm Phật,
tất kẻ đó đă gần đạo Vô
thượng Bồ đề. Chẳng những ngần
ấy mà thôi, với pháp môn này chỉ cần dụng công
trong một đời, khi được văng sanh, tức
đă bước lên ngôi Bất thối chuyển, không c̣n
bị lui sụt nơi Phật quả nữa. sự dùng
công phu ít nhưng thành đạo quả cao như thế,
há chẳng giống kẻ đào giếng với giá
hời, hoặc may mắn ra công sức chưa bao lâu mà
đă thấy lộ bùn gần mực nước đó
ư!
Triệt Ngộ Đại Sư
Thích Thiền Tâm dịch và giảng
Phần 3
Hán 58:
Nhứt cú Di Đà
Loại như toản hỏa
Mộc noản yên sanh
Tạm đ́nh bất khả.
Việt 58:
Một câu A Di Đà
Như cọ gỗ lấy lửa
Gỗ nóng khói phát sanh
Chớ tạm dừng lần lựa.
Lược giải:
Thời xưa ở ấn Độ, khi muốn lấy
lửa người ta cọ hai thanh gỗ khô vào nhau.
Cọ đến khi nào gỗ nóng phát sanh ra khói, mới
để đồ dẫn hỏa vào, tự nhiên lửa
bắt phừng cháy. Nếu cọ nửa chừng,
hoặc đến lúc đă nổi khói mà bỏ dở
tạm dừng, th́ gỗ sẽ lần lần nguội
đi không phát ra lửa được.
Sự hành tŕ câu A Di Đà cũng như thế. Khi chúng sanh
ở Ta bà phát tâm niệm Phật cầu về Cực
lạc, th́ nơi ao báu ở Tây phương đă nở
hiện một búp sen. Nếu hành giả mỗi ngày
đều tinh tấn tŕ niệm, hoa sen ấy sẽ
lần lần to lớn. Như nửa chừng bỏ
dở, hoa sen cũng lần khô héo rồi tàn. Bởi đóa
sen chín phẩm nơi liên tŕ, đều do công đức
của hành giả mà thành tựu. Ngày kia công hạnh thành,
báo thân măn, thần thức của đương nhơn
sẽ gởi vào thai sen đó mà hóa sanh. Cho nên người
tu tịnh nghiệp chớ nên niệm Phật nửa
chừng rồi bỏ dở, hoặc biếng trễ
lần lựa tạm dừng. V́ trễ sót như thế
tất nhiên thai sen sẽ hỏng.
Viết đến đây, bút giả nhớ lại
độ trước có được cô Diệu
Thuần ở quận Ba Tri tỉnh Bến Tre, thuật
lại cho nghe điềm mộng như sau:
Bạch thầy! Con nằm mơ thấy đến
một ngôi chùa, trước chùa có ao to rộng, nước
trong suốt, các đóa hoa sen nhiều sắc, hoặc
lớn hoặc nhỏ đua nhau tươi nở. Gần
bờ ao có một hoa sen to lớn độ bằng
chiếc mâm thau tṛn. Nhưng đóa hoa ấy lại bị
cái chụp úp lên. Con lại gần dở cái chụp, th́ hoa
sen tan ră từng cánh rồi tàn rụng. Lúc ấy, giữa
hư không bỗng có tiếng nói: "Hoa sen đó là của
liên hữu Minh Phúc!". Sau khi tỉnh giấc, sáng ra con
đem điềm mộng thuật lại cho đạo
hữu Minh Phúc ở tiệm vàng tại bản quận
nghe. Đạo hữu tỏ sắc lo sợ bảo:
"Chết nỗi! Thầy dặn tôi mỗi ngày niệm
Phật tối thiểu phải một ngàn câu. Tôi tinh
tấn đă được vài năm, nhưng gần
đây v́ công việc quá bề bộn, nên suốt ba tháng nay
biếng trễ không niệm một câu nào. Bây giờ
chị thấy hoa sen héo rụng, và chư vị đă mách
bảo như thế, tôi phải sám hối gắng tinh
tấn lại mới được!". Thưa
thầy! Con đă biết hoa héo rụng là do Minh Phúc
giải đăi, nhưng chưa rơ tại sao lại có cái
chụp ấy?.
Bút giả đáp: Chiếc chụp tượng trưng cho
Ngũ cái nói về phương diện chung, hoặc
Ngũ dục về phương diện riêng. Ngũ cái là:
tham, sân, si, nghi, hối. Ngũ dục là: sắc
đẹp, tiền của, danh vọng, ăn uống,
ngủ nghỉ. Chúng sanh thường bị những
điều trên che đậy, làm cho tham đắm si mê,
không biết tỉnh ngộ tu hành. Minh Phúc tất bị
một hoặc nhiều phần trong các điều ấy
che mờ, nên mới biếng trễ không niệm Phật,
khiến cho hoa sen công đức phải héo tàn. Nhưng
từ đây biết giác ngộ gắng tu, th́ đóa hoa sen
khác sẽ tiếp tục mọc lên, thay cho đóa hoa
trước. Đừng nên e ngại rằng nó tàn rồi
mất hẳn, mà phế bỏ sự tu tŕ. Khi xưa cô
thị nữ của bà Kinh Dương phu nhơn,
trước tiên cũng giải đăi nên hoa sen héo tàn, sau
giác ngộ tinh tấn, hoa lại mọc lên tươi
tốt. Kết cuộc cô được văng sanh Cực
lạc, cô trở về báo mộng cho phu nhơn biết.
Hán 59:
Nhứt cú Di Đà
Toàn thân đảnh đái
Nhơn mạng vô thường
Quang âm bất tái!
Việt 59:
Một câu A Di Đà
Đem toàn thân đội trải
Mạng người rất vô thường
Tháng ngày không trở lại.
Lược giải:
Cổ nhơn đă bảo: Trên đường tiến tu
đạo giải thoát, có bốn điều khó:
Điếu thứ nhất là: thân người rất khó
được. Khi xưa đức Phật đă nói
với ngài A Nan: "Chúng sanh được thân trời,
người ít như đất nơi móng tay. Đọa
bốn ác thú nhiều như đất miền đại
địa". Đọa vào các nẻo như: Tu la, bàng
sanh, ngạ quỉ, địa ngục, bị nhiều
nỗi thống khổ và nghiệp ác làm chướng
ngại đường tu đă đành, nhưng sanh lên cơi
trời cũng bị sự vui khiến cho mê đắm
khó tu nữa! Thế nên duy có thân người mới dễ
tiến tu đạo giải thoát mà thôi. Người
xưa đă từng diễn tả sự khó
được của thân người qua mấy câu thi
như:
Ngàn năm cây sắt đơm hoa dễ
Một mất thân người khó lại sanh!
(Thiên niên thiết thọ khai hoa dị
Nhứt thất nhơn thân tái phục nan!)
Hoặc:
Tam đồ một đọa trăm ngàn kiếp
Lại cơi nhơn thiên chẳng hẹn ngày!
(Tam đồ nhứt đọa bá thiên kiếp
Tái xuất đầu lai hữu kỷ thời!)
Thân người đă khó được như thế,
nhưng làm thân người mà không tàn tật, không sanh
nơi biên địa, được ở nơi trung tâm
văn hóa đạo đức cũng là điều khó. Và
đây là cái khó thứ hai.
Dù được ở miền trung quốc có văn hóa
đạo đức, nhưng không dễ ǵ
được gặp và nghe hiểu Phật pháp. Bởi
chánh pháp như hoa Ưu đàm bát la, rất lâu mới
nở hiện nơi cơi đời. Đây là điều
khó thứ ba.
Lại tuy được gặp và nghe hiểu Phật pháp
để tu hành, nhưng c̣n điều thứ tư
rất khó là không dễ ǵ thoát khỏi tam giới, dứt
hẳn nỗi khổ sống chết luân hồi. Bởi
nhân loại phần đông nghiệp nặng căn
tối, chướng duyên rất nhiều, kiếp sống
lại vô thường ngắn ngủi, mới vừa
thấy đó, bỗng lại mất đi.
Nay chúng ta hân hạnh được thân người,
lại rất may mắn gặp môn Tịnh độ là
pháp cực nhiệm mầu, một đời có thể
đới nghiệp văng sanh thoát ṿng sống chết, th́
phải đem toàn thân mà gánh vác thọ tŕ, đừng nên
lần lựa hẹn chờ, hoặc thờ ơ
biếng trễ. Tại sao thế. V́ bóng quang âm thấp
thoáng như thoi đưa, tuổi xuân không trở lại,
mạng người thoạt c̣n thoạt mất không
biết đâu mà lường. Khi xưa có thiền sinh
hỏi một vị tôn đức: "Bạch ngài!
thế nào là sự tiến tu của hành giả?"
Vị tôn đức đáp: "Thấy nói Kinh Kha xưa
dơng mănh. Một đi thà chết chẳng quay về!".
(Kiến thuyết Kinh Kha lữ. Nhứt hành cánh bất
hồi).
Hành giả đem toàn thân trải đội một câu A Di
Đà, cũng phải như thế.
Hán 60:
Nhứt cú Di Đà
Như cứu đầu nhiên
Tận thập phần lực
Kỳ thượng phẩm liên.
Việt 60:
Một câu A Di Đà
Như cứu lửa cháy đầu
Giốc mười phần công lực
Cầu thượng phẩm sen mầu.
Lược giải:
Hành nhơn khi xưa đă cho biết: "Học
đạo như dong thuyền nước ngược,
không tiến nổi trôi lui" (Học đạo như
nghịch thủy hành chu, bất tiến tắc thối).
Bởi trên đường tu, hành giả gặp nhiều
chướng duyên trong và ngoài, nếu không mạnh mẽ
cố gắng tự chủ trương, tất không làm
sao tiến triển nổi. Mà muốn làm chủ thân tâm cùng
ngoại cảnh, thắng dẹp muôn duyên để
tiến đạo, phải dùng hết mười phần
năng lực mới mong đạt được
kết quả. Về môn Tịnh độ, nếu
muốn cầu phẩm sen bậc thượng, dĩ nhiên
cũng phải như thế. Trong bức thơ gởi cho
một Phật tử hỏi đạo, Ấn Quang pháp
sư nói: "Theo kinh nghiệm xưa nay, nhiều hành
giả chỉ mong cầu bậc thượng, nhưng phần
nhiều chỉ được trung, cầu bậc trung
lại rớt xuống bậc hạ. Nếu ngươi
không phát tâm thẳng tiến, tu hành lơ là, hy vọng ḿnh dự
vào Hạ hạ phẩm, cũng tốt, th́ làm sao bảo
đảm sự văng sanh?
Trên đây cũng là điểm suy nghĩ chung cho hàng liên
hữu vậy.
Hán 61:
Nhứt cú Di Đà
Diệu viên chỉ quán
Tịch tịch tĩnh tĩnh
Vô tạp vô gián.
Việt 61:
Một câu A Di Đà
Môn chỉ quán mầu tṛn
Lặng lặng tĩnh tĩnh niệm
Không xen tạp nối luôn.
Lược giải:
Người mới tu lúc niệm Phật lắng nghe vào
trong, dứt các tạp vọng, gọi là Chỉ. Khi phát
khởi tŕ câu hồng danh với các tâm trạng khác nhau
tạm gọi là Quán. Những tâm trạng khác nhau ấy
như thế nào? Có lúc tŕ câu hồng danh với ư tha
thiết, như con nhớ mẹ, như lữ khách lâu
năm hoài vọng cố hương. Đây gọi là Chí
thiết niệm. Có lúc tŕ câu hồng danh với ư sám
hối, bởi nghĩ ḿnh từ vô thỉ kiếp
đến giờ v́ mê lầm tạo nhiều tội
chướng, nay hết sức hổ thẹn ăn
năn. Đây gọi là Sám hối niệm. Có lúc tŕ câu
hồng danh với ư thương cảm, v́ nghĩ ḿnh
nghiệp chướng sâu dày ch́m đắm trong vũng bùn
lầy ngũ dục ác nhơ, nay cầu mong sự cứu
vớt nơi đấng đại từ bi. Đây
gọi là Bi cảm niệm. Có lúc tŕ câu hồng danh với
ư lo sợ, bởi nếu rời Phật lực tức
sớm muộn cũng sẽ bị đọa vào ba
đường ác, chịu vô lượng nỗi khổ
sống chết luân hồi. Đây gọi Bố tâm
niệm. Có lúc tŕ câu hồng danh với ư phân phát tự trách
hờn, như một nho sinh sẵn đủ trí huệ
tài ba, thi văn mẫn tiệp, bởi cậy tài nên khinh
suất măi thi rớt, cam chịu cảnh nghèo hèn. Đây
gọi là Phát phẩn niệm. Có lúc tŕ câu hồng danh
với ư nhàm chán lẻ loi, như bậc cao sĩ sống
giữa cảnh xung quanh các đồng nhơn tranh đua
sắc tài danh lợi, phi thị hơn thua, gièm pha phỉ
báng giết hại lẫn nhau, riêng ḿnh chỉ c̣n biết
nương gần với Phật, bởi cơi trần man
mác, ấy ai là bạn tri âm? Đây gọi là Cô tịch
niệm.
Niệm Phật với các tâm cảnh như trên, tuy tạm
gọi là có Chỉ có Quán, nhưng chưa được
xưng là Diệu Viên bởi chưa đến mức tṛn
trặn nhiệm mầu. Hành giả dụng công lâu ngày, tâm
niệm vắng lặng dứt hết muôn duyên, nơi câu
Phật hiệu gồm đủ phước, huệ,
hạnh, nguyện, giải thoát, sáu ba la mật, không và
sắc dung thông, mới gọi là Diệu. Trong bặt thân
tâm, ngoài dứt trần giới, chẳng thấy ḿnh là
kẻ hay niệm, Phật là vị được
niệm, không c̣n lằn mức cách biệt giữa chúng sanh
và phật, giữa cảnh cùng người, tất cả
đều dung hợp rộng răi, bao la, mới gọi là
Viên. Nơi tâm cảnh ấy, điểm thanh tịnh
lặng lặng không tán loạn là Chỉ, điểm sáng
suốt tĩnh tĩnh không hôn trầm là Quán. Niệm
như thế không xen tạp, hằng nối tiếp nhau,
gọi là Diệu Viên Chỉ Quán.
Hán 62:
Nhứt cú Di Đà
Hiển lộ chỉ b́nh
Trực để bảo sở
Bất trụ hóa thành.
Việt 62:
Một câu A Di Đà
Lối hiểm đều san bằng
Thắng về nơi bảo sở
Không trụ cảnh hóa thành.
Lược giải:
Trong kinh Pháp Hoa, nơi phẩm Hoá Thành Dụ, đức
Thế Tôn có nói đại khái như sau:
"Một vị đạo sư hướng dẫn
đoàn người vượt qua đoạn
đường hiểm trở xa độ năm trăm
do tuần, để đến nơi Bảo sở là
chỗ có nhiều châu báu. Nhưng giữa đường
đoàn người ấy mỏi mệt thối tâm, xin
muốn lui bước trở về. Đạo sư nghe
nói thương xót, dùng phương tiện biến ra
một Hóa thành cách đó ba trăm do tuần và bảo:
"Các ông hăy cố gắng đến thành ấy tạm
nghỉ sẽ hết nhọc mệt!". Đoàn
người vui mừng tiến tới Hóa thành, cho rằng
ḿnh đă đến nơi, đă được chỗ an
ổn. Khi đạo sư thấy họ đă nghỉ
ngơi xong, liền diệt mất Hoá thành và bảo: "Vừa
rồi là Hóa thành không phải cảnh thật. Ta v́ thấy
các ông mỏi mệt bỏ dở công khó muốn lui trở
về, nên thương xót phương tiện hóa hiện
ra. Nay đă sắp gần tới Bảo sở các ông nên
cố gắng gia công tiến bước..."
Theo thí dụ trên, Đạo sư chỉ cho đức
Như lai. Đoàn người chỉ cho hành giả
tiến tu theo chánh pháp. Đường năm trăm do
tuần, chỉ cho sự hiểm nguy khổ nạn trong
Ngũ thú luân hồi là: Thiên, nhơn, bàng sanh, ngạ
quỉ, địa ngục. Trên đây không kể A tu la và
thần tiên, v́ hai đạo này nhiếp vào các nẻo kia.
Như A tu la th́ có thiên A tu la, nhơn A tu la, quỉ A tu la,
súc A tu la. Tiên th́ có thiên tiên, quỉ tiên cho đến súc
tiên, chẳng hạn như hồ tiên cho đến long tiên
v.v... Nếu phối hợp với các thừa, th́ năm
trăm do tuần là sự trải vượt qua năm
thừa gồm: Nhơn thừa, Thiên thừa, Thanh Văn
thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa. Thanh văn,
Duyên giác, Bồ tát c̣n kể trong giai đoạn hiểm
nguy, v́ nếu không nhờ sức Phật gia bị, tất
bị u trệ, khó nỗi tiến lên Phật quả.
Nhưng đây là luận rộng thêm đó thôi, thật ra
đường hiểm năm trăm do tuần chỉ cho
Ngũ thú th́ thiết cận hơn.
Tiếp tục theo lời dụ, Bảo sở chỉ cho
Phật quả Vô thượng đẳng giác. Cách ba
trăm do tuần, chỉ cho sự vượt khỏi Tam
giới. Hóa thành chỉ cho quả vị giải thoát
phiền hoặc ba cơi của hàng Nhị thừa Thanh
văn, Duyên giác. Tổng kết đại ư, đức
Thế Tôn muốn nói trong giáo pháp của Ngài, chỉ duy
một Phật thừa, không có sự chia riêng hai thừa
như Tiểu thừa và Đại thừa, hoặc ba
thừa như Thanh văn, Duyên giác, Bố tát thừa.
Những thừa trên đều toàn giả lập, quả
vị Thanh văn, Duyên giác, chỉ là Hóa thành huyễn
tạm mà thôi.
Đối với pháp Tịnh độ, có người
không hiểu rơ môn này, lầm cho Cực lạc là Hóa thành,
chẳng phải Bảo sở. thật ra Hóa thành cùng
Bảo sở là cảnh giới tu chứng của tự
tâm, không cuộc hạn nơi quốc độ. Xin nói rơ
lại, Hóa thành là cảnh giới Thanh văn, Duyên giác;
Bảo sở là cảnh giới Phật. Môn niệm
Phật đưa chúng sanh về Cực lạc, để
mau tiến lên cảnh giới Phật, chứng thành
Phật quả. Đó là đường lối thẳng
tắt tiến về Bảo sở; chớ đâu phải
trụ nơi Hóa thành. Đúng ra Ta bà và Cực lạc
đều là huyễn cảnh, nhưng Ta bà có vô
lượng khổ nạn chướng duyên. Cực
lạc đủ vô lượng duyên lành tiến đạo.
Bởi thế chư Phật đều khuyên nên cầu
văng sanh để dễ tiến tu, không c̣n thuộc
giới phàm phu đầy đủ nghiệp lực, mà cho
cực lạc là Hóa thành, cam ở cảnh ta bà vô
lượng chướng duyên hiểm nạn, rất khó
được giải thoát, đó là Bảo sở
đấy ư? Thật là lầm lạc và đáng buồn
cười lắm vậy!
Câu "Lối hiểm đều san bằng" hàm ư
nghĩa: Khi công phu niệm Phật thuần thục, từ
cơi Phàm thánh đồng cư nơi Cực lạc, th́
đă thoát khỏi sự luân hồi trong đường
hiểm Ngũ thú thuộc Tam giới, lại thường
được gần gũi Phật cùng chư Bồ tát,
không c̣n bị chướng ngại và bị thối
chuyển trên đường Vô thượng Bồ
đề. Tóm lại một câu niệm Phật có công
năng mầu nhiệm san bằng tất cả hiểm
nạn trên đường tu, đưa hành giả
tiến mau bề Bảo sở, nên Triệt Ngộ
thiền sư mới tỏ bày khen ngợi!
Hán 63:
Nhứt cú Di Đà
Như thủy thanh châu
Phân vân tạp niệm
Bất đoạn tự vô.
Việt 63:
Một câu A Di Đà
Như ngọc lắng trong nước
Ngàn muôn tạp niệm rối
Chẳng dứt tự thành không.
Lược giải:
Hạt châu Thủy thanh có công năng lóng nước
đục thành trong. Câu niệm Phật cũng thế, không
luận vọng niệm nhiều ít, hành giả cứ chuyên
chú giữ chắc sáu chữ hồng danh lâu ngày, tạp
niệm tự nhiên tan mất. Điểm đáng lưu ư
trong đây là không nên khởi tâm dứt trừ vọng
niệm. V́ vọng niệm vốn như huyễn, cố
t́nh muốn dẹp, nó lại càng tăng. Một nhà hiền
triết đă nói kinh nghiệm này qua câu: "Càng muốn
đè nén, chính là cố tâm làm cho nó thêm phát khởi"
(Tương dục án chi, tất cố hưng chi).
Khi xưa có một Tú tài đến phỏng đạo
nơi bậc cao đức, vị Thiền sư này
hỏi: Cư sĩ tên họ chi?". Tú tài đáp:
"Thưa, đệ tử nhủ danh Trương
Chuyết". Chữ Chuyết có nghĩa là vụng
về. Thiền sư nghe xong bảo: Với đạo
khéo c̣n chẳng có, huống chi đến vụng!". Tú
tài nghe qua liền ngộ vào Bất nhị pháp môn, làm
kệ tŕnh lên rằng:
Ánh linh lặng chiếu khắp hằng sa
Phàm thánh nguyên lai bản tánh ta
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện
Sáu căn vừa động bị mây ḷa
Dứt trừ phiền năo càng thêm bịnh
T́m tới chân như cũng vẫn tà
Tùy thuận các duyên không trở ngại
Niết bàn sanh tử tợ không hoa.
Theo ư hai câu luận bài kệ trên, phiền năo vốn là không
là huyễn, cứ mặc nhiên giữ chánh niệm, nó
sẽ tự tiêu tan. Nếu khởi ư dứt trừ, th́
phiền vọng lại hóa thành có. Chân như là thể tánh
tự nhiên, biết lặng lẽ dung hợp với
tự nhiên, tánh chân như sẽ hiển lộ. Nếu
khởi tâm t́m ṭi xu hướng, tức có niệm phân
biệt, trái với thể bản nhiên, đó chính là tà
vọng. Để bổ túc ư trên, xin ghi thêm lời của
Đàm Hư đại sư, một bậc cao Tăng
cận đại thuộc giáo phái Thiên Thai bên Trung Quốc.
Đây Phật Tổ quê hương
Xứ xứ hiện phong quang
Nước non miền đất rộng
Ưng tự có biên cương
Động vật tùy sanh trưởng
Thực vật tự phô trương
Nắng mưa tùy đổi tiết
Tháng năm tự đoản trường
Vinh hư muôn tượng hiện
Là tự thể chân thường
Nếu cố ư cầu toàn
Trở lại bị tổn thương!
Hán 64:
Nhứt cú Di Đà
Đốn nhập thử môn
Kim xí phích hải
Trực thủ long thôn.
Việt 64:
Một câu A Di Đà
Ngộ vào đủ công năng
Kim xí rẽ nước biển
Bắt thẳng lấy rồng ăn.
Lược giải:
Trong kinh Khởi Thế Nhân Bản có đoạn nói:
"Đại bàng kim xí điểu là giống chim ăn
thịt loài rồng. Khi muốn thọ thực, chim này tùy
theo khả năng của loại thai, noăn, thấp, hóa, dùng
cánh quạt nước biển sâu nhiều ngàn do tuần,
bắt lấy các loài rồng thuộc thai, noăn, thấp, hóa
mà ăn thịt. Kim xí là loại chim cao nhứt trong hàng phi
cầm, có sức thần thông biến hóa. Rồng là sanh
vật tối linh trong biển cả, cũng có nhiều uy
lực thần thông".
Trên đây ví hiệu năng môn Niệm Phật như
thần thông của Kim xí điểu. Các công đức mà
môn này thu được như thủ đắc loài
rồng là sinh vật tối linh. Kinh Hoa Nghiêm có nói
đến môn tam muội gọi là Vô Biên Hải Tạng Môn.
Liên Tŕ đại sư đă so sánh bảo: "Niệm
Phật tam muội cũng thế, ngộ vào môn này tức
sẽ đắc vô lượng Vô Biên Hải Tạng Môn,
sẽ thủ đắc vô lượng tam muội". V́
thế Tổ Triệt Ngộ mới tŕnh thuật lại
ư nghĩa ấy qua bài kệ trên.
Hán 65:
Nhứt cú Di Đà
Trần duyên tự đoạn
Sư tử du hành
Dă can kinh tán!
Việt 65:
Một câu A Di Đà
Sạch trần duyên phiền năo
Như sư tử dạo chơi
Kinh ră bầy chồn cáo!
Lược giải:
Chúng sanh từ vô thỉ/thủy kiếp đến nay, v́
mê chân tánh khởi tham sân si, đắm sâu trong vũng bùn
lầy duyên phiền năo, kết thành sức nghiệp
tự ràng buộc lấy ḿnh. Một hiền giả đă
than: "Tâm đắm nhiễm của con người
như vực sâu không đáy, như biển rộng mênh
mông. Đem dâng hết sắc đẹp trong thiên hạ
cũng không vừa đủ ḷng dục. Hiến khắp
hết tiền của trong thiên hạ cũng không vừa
đủ ḷng tham!". Bởi thế tuy gặp thắng
duyên bước lên đường tu, nhưng nghiệp
tham sân si trong muôn kiếp không dễ ǵ trừ dứt. Nhưng
nếu hành giả chí tâm giữ một câu Phật hiệu,
dù chẳng khởi niệm dứt trừ nghiệp
hoặc, trần duyên phiền năo cũng sẽ tự tiêu
trừ.
Tại sao thế? Bởi phiền năo là vọng niệm
hư huyễn, Phật hiệu là chánh niệm chân thật.
Vọng niệm như chồn cáo, chánh niệm như
sư tử. Chánh niệm khởi lên, vọng niệm
tự diệt, như sư tử ra khỏi hang, các loài
chồn cáo đều kinh hăi tan ră bỏ chạy. Vọng
niệm như nhà tối muôn năm, chánh niệm như
ngọn đèn to sáng, diệt ngay tất cả sự
tăm tối. Cho nên nếu nhiếp tâm nơi chánh
niệm, tất vọng niệm tự trừ. Ngoài
điều ấy ra, sáu chữ hồng danh là kết tinh
công đức phước huệ của Phật A Di
Đà đă tu từ vô lượng A tăng kỳ
kiếp. Cho nên, Phật hiệu có công năng diệt
nghiệp rất mau chóng.
Trong Trí Độ Luận, Long Thọ Bồ tát đă khai
thị: "Môn Niệm Phật tam muội hay dứt
trừ tất cả phiền năo nghiệp chướng
đời này cùng đời trước. Các tam muội
khác, có môn trừ được nghiệp dâm, mà không
thể trừ nghiệp sân. Có môn trừ được
nghiệp sân, si mà không thể trừ nghiệp tham, dâm. Có
môn trừ được tham, sân, si, nhưng chẳng thể
trừ những tội nghiệp đời trước.
Niệm Phật tam muội có thể trừ sạch
nghiệp tham, sân, si, cùng tất cả trần duyên
phiền năo và tội chướng đời trước.
Lại nữa, Niệm Phật tam muội hay sanh trí
huệ phước đức rộng lớn, có thể
độ chúng sanh. Chư Bồ tát nếu muốn
độ sanh mà tu các môn tam muội khác, tất kết
quả rất chậm kém. Bởi các môn tam muội khác,
phước đức không bằng Niệm Phật tam
muội. Tai sao thế? V́ Phật là đấng Pháp
Vương, phước huệ đều viên măn, nên vô
lượng phước đức trí huệ của hành
giả, tất phải từ nơi Phật mà tăng
trưởng và thành tựu mau chóng.
Lại nữa, do v́ niệm Phật luôn, tâm không rời
Phật, nên hành giả thường được gặp
chư Phật...".
Những lời khuyên dạy trên, chứng tỏ niệm
Phật hay trừ sạch trần duyên phiền năo.
Hán 66:
Nhứt cú Di Đà
Khiên trực niệm quá
Nhứt đạp đáo để
Hương tượng độ hà.
Việt 66:
Một câu A Di Đà
Thẳng chắc niệm nơi ḷng
Một phen đạp tận đáy
Như hương tượng qua sông.
Lược giải:
Trong kinh, đức Phật có thí dụ một đoạn
như sau:
"Do chỗ bị động, nên bầy dă thú t́m
đoạn sông cạn để lội sang khu rừng
khác. Khi vượt sông, các loài thú nhỏ như chồn
thỏ chỉ bơi khơi khơi trên mặt
nước. Những thứ bậc trung như hươu
nai lúc lội sang, chân đạp được nửa
chừng mực nước. C̣n loài voi cao lớn là
hương tượng, th́ chân bước đạp
tận đáy để vượt qua sông. Chúng sanh tu theo
ba thừa của ta hóa đạo cũng lại như
thế, tùy theo căn cơ của ḿnh mà vượt biển
sanh tử sang đến bờ Niết bàn. Hành giả tu
theo pháp Tiểu thừa như loài thú nhỏ. Tu theo pháp Trung
thừa như loài bậc trung. Tu theo pháp Đại
thừa như loài thú cao lớn là hương tượng
đạp tận đáy sông, nghĩa là đạp thấu
suốt chiều sâu của ly tánh mà vượt qua biển
luân hồi sống chết...".
Dẫn thí dụ trên để so sánh, Tổ Triệt
Ngộ cho môn Niệm Phật là pháp Đại thừa.
Nếu hành giả tŕ câu hồng danh một cách thẳng
chắc, dứt tất cả phiền năo, không c̣n phân
biệt năng sở trong ngoài, tức sẽ khế
hợp với lư tánh, đi sâu vào Thật Tướng
Niệm Phật. Kẻ ấy như con hương
tượng chân đạp tận đáy, vượt sông
một cách vững vàng chắc chắn.
Hán 67:
Nhứt cú di Đà
Vô tướng tâm Phật
Quốc độ trang nghiêm
Cảnh phi ngoại vật.
Việt 67:
Một câu A Di Đà
Cảnh Vô tướng tâm Phật
Cơi nước đẹp trang nghiêm
Không phải là ngoại vật.
Lược giải:
Hành giả tu Tịnh độ do chuyên tŕ câu hồng danh,
lâu ngày nghiệp chướng tiêu trừ, sẽ chứng
vào Niệm Phật tam muội. Đây là cảnh Vô
tướng tâm Phật. Vô tướng không phải
trống rỗng chẳng hàm tướng trạng chi, mà
chính v́ các tướng sanh diệt như huyễn không có
tự thể chắc thật, nên gọi là Vô. Tâm Kinh nói:
"Huyễn sắc tức chân không, chân không tức
huyễn sắc", chính là ư này. Tâm Phật có nghĩa: Tâm
tức Phật, Phật tức Tâm, chân tâm là Phật
cảnh, Phật cảnh là chân tâm.
Thế th́ cảnh chánh báo y báo trang nghiêm ở cơi Cực
lạc, cùng tất cả quốc độ khắp
mười phương, đều chính là cảnh giới
của chân tâm, của tâm ḿnh, không phải vật chi ngoài
khác. Cho nên những kẻ bảo: "Niệm A Di Đà,
nguyện sang Cực lạc, là t́m cầu bên ngoài, chẳng
hướng về tự tâm", đó là quan niệm sai
lầm, chưa hiểu rơ chân tâm, cũng như pháp môn
Tịnh độ.
Hán 68:
Nhứt cú Di Đà
Vô vi đại Pháp
Nhựt dụng đơn đề
Kiếm ly bảo hạp.
Việt 68:
Một câu A Di Đà
Pháp vô vi đại bảo
Hằng ngày một niệm chuyên
Gươm linh rời hộp báu.
Lược giải:
Trong danh từ Vô vi, chữ Vi có nghĩa: khởi làm hay tác
động. V́ các tướng động chuyển trong
mười phương thế giới đều sanh
diệt như mộng huyễn, như bọt bóng, không có
thật thể, nên gọi Vô vi. Đừng lầm hiểu
Vô vi là rỗng không, chẳng có tướng trạng hay tác
động chi cả mà sai lạc. Cho nên trong kinh nói:
"Bồ tát tuy thị hiện vô biên quyến thuộc, mà
tâm hằng không quyến thuộc. Tuy thật hành sáu
độ cùng tất cả việc lành, mà không thấy ḿnh
hay làm và có các pháp để tu. Tuy độ vộ
lượng chúng sanh, mà không thấy ḿnh là người hóa
độ và những chúng sanh được
độ". Đó là hạnh Vô vi. Hạnh Vô vi như
thế mới gọi là đại pháp lớn rộng và
quí báu.
Nơi đây Triệt Ngộ đại sư dạy:
"Người tu tịnh độ khi niệm Phật
không thấy ḿnh là kẻ hay niệm, Phật là vị
được niệm, câu hồng danh là pháp tu niệm;
dứt tất cả phiền năo vọng tưởng, trong
quên thân tâm, ngoài tan ngoại cảnh. Hằng ngày đề
khởi chuyên niệm như thế, sử dụng câu
hồng danh như bậc kiếm sĩ rút gươm thiêng
sắc bén ra khỏi vỏ hộp báu, vật chi xúc
phạm đến đều bị chém đứt tan. Hành
tŕ như thế tất sẽ chứng vào pháp giới Vô vi
rộng lớn, nhập Không Huệ đà ra ni vậy".
Hán 69:
Nhứt cú Di Đà
Vô lậu chân Tăng
Tuyết sơn dược thọ
Hiểm đạo minh đăng.
Việt 69:
Một câu A Di Đà
Thành vô lậu chân Tăng
Cây thuốc nơi non Tuyết
Đường hiểm ngọn minh đăng.
Lược giải:
Kinh nói: "Trong dăy Tuyết sơn có cây thuốc tên là
Dược Vương. Người đau bịnh ôm thân
cây liền lành mạnh. Nếu uống được chút
ít chất nhựa cây th́ trọn đời không
bịnh". Lại ở Tuyết sơn có nhiều
thứ thuốc quí lạ. Theo kinh Hiền Ngu, khi xưa
đức Thế Tôn đă dùng gió thổi đưa
chất thuốc tiên nơi non Tuyết vào mắt của
năm trăm người mù, khiến cho họ đều
được sáng tỏ. Trong quyển Lục Đạo
Luân Hồi Tập có dẫn sự việc một
người đi ngang qua núi Tuyết, nhân đói ăn
thứ dược thảo lạ, bỗng nói và hiểu
được sáu môn thổ ngữ của dân chúng và các
xứ quanh vùng. Chẳng riêng ǵ núi Tuyết, mà ở các danh sơn
khác cũng có nhiều thứ thuốc tiên. Một
độ, bút giả đọc quyển Nam Nhạc
Kỳ, thấy nói một đạo sĩ vào núi này hái
thuốc, chợt thấy một bàn tay trắng đẹp
sáng mịn mọc ra từ vách đá. Biết đó là
thứ tiên dược, đạo sĩ liền cắt
lấy để vào giỏ. Đi một đoạn, ông
ta bỗng nghĩ: "Loại thuốc tiên này biến hóa,
nếu không ăn liền nó sẽ ẩn mất!".
Quả nhiên khi xem lại th́ bàn tay ấy đă không c̣n.
Trong đây, Tổ Triệt Ngộ so sánh sáu chữ hồng
danh như thuốc tiên ở Tuyết sơn, như
ngọn đèn sáng nơi khoảng đường tối
tăm nguy hiểm. Thuốc tiên ngoài công năng trị lành
các bịnh, c̣n có thể khiến cho người
đổi xác phàm phu thăng thành tiên thánh. Ngọn đèn
sáng nơi đường hiểm, ngoài công dụng soi
tỏ để hành khách khỏi lạc lối, c̣n có
thể khiến cho họ khỏi sa hầm sụp hố,
tránh những tai nạn chết người. Câu Phật
hiệu lại cao siêu hơn, có thể khiến cho hành
giả trở thành bậc chân Tăng vô lậu, thoát ṿng
luân hồi, chứng ngôi Vô thượng Đẳng giác.
Chữ "Lậu" có nghĩa: sa lọt, là biệt danh
của nghiệp vào ṿng sống chết luân hồi trong ba
cơi. Vô lậu chỉ cho thể tánh sáng suốt, dứt
hết phiền năo, không hệ lụy vào nẻo luân
hồi. chứng được thể tánh này mới
gọi là bậc chân Tăng. Mà muốn chóng thành bậc Vô
lậu chân tăng tất phải niệm Phật.
Hán 70:
Nhứt cú Di Đà
Măn Bàn na độ
Liệt phá xan nang
Hân phiên bảo tụ.
Việt 70:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ Bố thí độ
Phá toang túi sẻn tham
Tuôn cho đống châu báu.
Lược giải:
Chúng sanh sở dĩ không bố thí được
để tạo duyên phước, là v́ c̣n nghiệp
bỏn sẻn tham lam. Khi chuyên niệm Phật, nghiệp
ấy sẽ tiêu trừ, hành nhơn được tṛn
đầy hạnh thí xả, cả bên trong lẫn bên ngoài.
Bên ngoài là thí xả mọi thứ tiền bạc của
cải, lần lượt cho đến đầu,
mắt, tay, chân, như đức Thích Tôn khi c̣n tu Bồ tát
hạnh. Bố thí như thế mới tṛn đủ
Đàn ba la mật.
Hán 71:
Nhứt cú Di Đà
Măn thi la độ
Độ nhiếp lục căn
Viên tịnh Tam tụ.
Việt 71:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ Tŕ giới độ
Nhiếp hết cả sáu căn
Tṛn sạch đủ Tam tụ.
Lược giải:
Cổ đức bảo: "Phật chế tất
cả giới để trị tất cả tâm. Nếu
không tất cả tâm, cần chi tất cả
giới?". Qua lời trên, giới luật chỉ là
phương tiện để ngăn trừ nghiệp
hạnh xấu ác của chúng sanh. Mà sở dĩ có
nghiệp hạnh xấu ác là do c̣n tâm phiền năo nhiễm
ô. Nếu nhiếp cả sáu căn chuyên tŕ Phật
hiệu, th́ nghiệp chướng bên trong sẽ lần
lần tiêu tan, hạnh xấu ác bên ngoài lần lần
được dứt. Và hành giả cũng sẽ lần
lần được trong sạch thân tâm, tṛn đầy
cả Tam tụ tịnh giới. Tam tụ tịnh giới
là: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp
giới và Nhiêu ích hữu t́nh giới. Nhiếp luật nghi
giới có công năng đưa người tu vào khuôn
mẫu luật hạnh, trừ những điều
lỗi lầm tội ác của ba nghiệp thân, khẩu, ư.
Nhiếp thiện pháp giới khuyến tấn hành giả
làm tất cả điều lành. Nhiêu ích hữu t́nh
giới khiến cho người con Phật được
tṛn đủ hạnh nguyện cứu độ chúng sanh.
Đủ ba tụ trên, Thi ba la mật mới
được viên măn. Môn niệm Phật là nhân nhiệm
mầu để mau thành tựu Giới độ ấy.
Hán 72:
Nhứt cú Di Đà
Măn Sằn đề độ
Nhị ngă tướng không
Vô sanh nhẫn ngộ.
Việt 72:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ nhẫn nhục độ
Tướng Nhị ngă không c̣n
Pháp Vô sanh được ngộ.
Lược giải:
Sở dĩ hạnh Nhẫn nhục khó được
thành tựu, v́ chúng sanh c̣n có tướng Nhị ngă. Nhị
ngă tướng là Nhơn ngă tướng và Pháp ngă
tướng, tức mối chấp có Ta và Pháp. Nếu
chuyên niệm Phật, nghiệp chướng mau tiêu
trừ, lần lần hành giả sẽ được tâm
không, thấy Ta, Người và Pháp đều như
huyễn, chẳng thật có. Khi ấy đâu c̣n chấp có
người cùng pháp là nguyên nhân gây nên sự bức năo, và ta
là kẻ hay nhẫn, bởi hành giả đă thoát khởi
ranh giới của Ngă, Pháp; chân tâm dung hợp khắp
mọi nơi. Chừng ấy đương nhơn sẽ
chứng ngộ vào Vô sanh pháp nhẫn, tṛn đầy
Sằn đề ba la mật.
Hán 73:
Nhứt cú Di Đà
Măn Tỳ lê độ
Bất nhiễm tiêm trần
Trực đạp huyền lộ.
Việt 73:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ tinh tấn độ
Ḷng không nhiễm mảy trần
Bước thẳng lên huyền lộ.
Lược giải:
Khi tu hành mà c̣n thấy ḿnh có tinh tấn, tức chưa
đạt đến mức cứu cánh của tinh
tấn, v́ c̣n chấp ngă và pháp. Muốn tṛn đầy
Tỳ lê da ba la mật, phải thoát ly quan niệm đó,
tuy hằng tinh tấn không gián đoạn mà chẳng
thấy ḿnh có tinh tấn. Hai vị đại sĩ đă
đạt đến cảnh giới này, nên
được tôn hiệu là Thường Tinh tấn và
Bất Hưu Tức Bồ tát.
Khi hành giả niệm Phật đến mức tâm trong
sạch rỗng rang, không c̣n nhiễm một mảy
trần, tức đă đặt bước lên con
đường huyền vi, vào cảnh giới cứu cánh
của Tinh tấn độ vậy.
Hán 74:
Nhứt cú Di Đà
Măn thiền na độ
Hiện chư oai nghi
Tang thậm khô thọ?
Việt 74:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ thiền độ lư
Hiện trong các oai nghi
Cây khô có ǵ quí?
Lược giải:
Liên tŕ đại sư đă bảo: "Niệm Phật
và tham thiền chỉ là một, không khác nhau!". Tại
sao thế? Bởi Thiền na có nghĩa: Tĩnh lự.
"Tĩnh" thuộc về Định, về Chỉ,
về Tịch, thể hiện công đức vắng
lặng. "Lự" thuộc về Huệ, về Quán,
về Chiếu, thể hiện công đức sáng soi. Khi
hành giả niệm Phật đến mức dứt
bặt muôn duyên, tâm yên lặng sáng suốt, thể hiện
công năng tịch chiếu, trong ấy đă bao gồm
thiền định rồi. Đó cũng gọi thật
hành. Thiền na ba la mật, nghĩa là đương
nhơn đă tiến bước vào cảnh giới chân
thật của thiền định.
Thuở xưa đă có bà lăo cất ngôi tịnh thất cho
một nhà sư ở để tham thiền, thường
cung cấp cho bốn sự cúng dường đầy
đủ. Sau hai mươi năm, muốn thử xem tŕnh
độ sự tu hành đă đến mức nào, bà lăo
dặn cô con gái lúc đem cơm nước đến dâng,
hăy th́nh ĺnh ôm lấy vị sư và hỏi: "Hiện
thời tâm của thầy ra sao?". Cô gái thật hành y
như lời mẹ dặn, được nhà sư
đáp: "Tâm của tôi lúc này như cây khô nương
gộp đá lạnh trong ba tháng mùa đông, không một chút
hơi nóng động nào cả!". (Khô mộc ỷ hàn
nham. Tam đông vô noản khí). Bà lăo nghe cô gái thuật
lại lời ấy liền than: "Uổng công ta khó
nhọc trong hai mươi năm, kết cuộc chỉ
cúng dường cho một kẻ phàm phu!". Rồi
đốt thất, đuổi nhà sư đi.
Trong bài kệ trên ư Tổ sư muốn nói: "Lúc tu
Tịnh độ đến mức tâm yên lặng sáng
suốt, th́ dù khi hiện các oai nghi: đi, đứng,
nằm, ngồi, ăn cơm, mặc áo, niệm Phật,
tụng kinh; trong ấy đă đầy đủ
Thiền định độ. Như thế c̣n hơn
hạng khô thiền bám chặt lấy cảnh giới thiên
không, như cây chết khô chẳng có chi là siêu xuất
cả!".
Hán 75:
Nhứt cú Di Đà
Măn Bát nhă độ
Cảnh tịch tâm không
Vân khai nguyệt lộ.
Việt 75:
Một câu A Di Đà
Đầy đủ Bát nhă độ
Cảnh thanh vắng ḷng không
Mây tan vầng nguyệt lộ.
Lược giải:
Ấn Quang pháp sư nói: "Với câu niệm Phật,
nếu có một phần kính thành, th́ tiêu một phần
tội nghiệp, sanh một phần phước
huệ". Được mười phần kính thành,
sẽ tiêu mười phần tội nghiệp, sanh
mười phần phước huệ. Cho nên khi niệm
Phật, hành giả sẽ tùy tâm mà được tiêu
trừ nghiệp chướng, phát huy trí huệ của công
đức Bát nhă. Hành tŕ lâu ngày, người ấy sẽ
tiến đến mức tâm cảnh rỗng không sáng
lặng, và sẽ lần lần đầy đủ Bát
nhă độ. Hiện tượng ấy ví như mây tan
hiện ra vầng trăng trong sáng chiếu rạng
khắp nơi, cảnh và ánh trăng đều lặng
lẽ trong trạng thái dung hàm không c̣n phân biệt.
Hán 76:
Nhứt cú Di Đà
Tưởng tịch tư chuyên
Vị ly Nhẫn độ
Dĩ tọa bảo liên.
Việt 76:
Một câu A Di Đà
Tâm lặng tưởng nhớ chuyên
Tuy chưa ĺa Nhẫn độ
Đă ngồi tọa bảo liên.
Lược giải:
Bài kệ trên, hai câu trước ư nghĩa đă rơ ràng, duy
hai câu sau, riêng một số độc giả chưa
khỏi có điều nghi vấn. Theo Ấn Quang pháp sư,
tác dụng nghiệp thức của chúng sanh không thể
nghĩ bàn! Có người tuy c̣n ở Ta bà, mà một
phần thần thức đă hiện thân ngồi nơi
hoa sen cơi Tịnh độ. Có người đang c̣n
sống mà nghiệp thức đă hiện thân thọ
tội nơi địa ngục dưới Âm ty.
Chuyện Cửu Pháp Hoa và Kinh Dương phu nhơn trong
tịnh Độ Thánh Hiền Lục, thân chơi cực
lạc, thấy trước Dương Kiệt, Từ
đạo cô, Tôn Trung, đă ngồi nơi hoa sen, là điều
chứng minh cho hai câu: "Tuy chưa ĺa Nhẫn độ.
Đă ngồi tọa bảo liên" vậy. Nhẫn
độ chính là cơi Ta bà, v́ Ta bà có nghĩa "Kham
Nhẫn". Chúng sanh ở cơi này phải có sức nhẫn
nại mới chịu đựng nổi với những
cảnh chướng ác xung quanh.
Hán 77:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt đóa bảo liên
Duy tâm chi diệu
Pháp chỉ như nhiên.
Việt 77:
Một câu A Di Đà
Là một đóa bảo liên
Lư duy tâm mầu nhiệm
Pháp hợp lẽ thiên nhiên.
Lược giải:
Câu hồng danh mà chúng ta đang hành tŕ, là kết tinh công
đức của Phật A Di Đà đă tu từ vô
lượng vô biên kiếp về trước. Cho nên khi
chúng sanh khởi tâm niệm một câu Phật hiệu, theo
nhân quả của lư "các pháp do tâm tạo", trong vô
h́nh tự nhiên có ánh sáng và hoa sen phát hiện, mà mắt phàm
thường không thể nh́n thấy. Tuy nhiên cũng có vài
trường hợp do tâm chí thành nên hoa sen hiện rơ, có
thể mục kích được với đôi mắt
thường. Bởi thế hành giả mới chứng
biết được lư ấy.
Nhắc tới điều này, bút giả bỗng nhớ
lại chuyện thầy Thiện Lộc, thân phụ Sư
cô Diệu Châu, ở ngôi am sau chùa Vạn Đức tại
Thủ Đức, đă thuật lại cho các liên lữu
biết. Một đêm nọ vào khoảng tám giờ
tối, thầy đang qú chí tâm niệm Phật theo
thời khóa đầu hôm, bỗng thấy từ cạnh
bàn Phật ở ngay trước mặt mọc ra một
búp hoa sen đỏ to bằng cái tách. Vừa tŕ niệm
vừa nh́n kỹ từng chi tiết, thầy thấy
cuống hoa uốn lượn cong, búp sen ngửa lên,
rồi lần lần theo tiếng Phật hiệu nở
to ra bằng đĩa bàn. Độ mười lăm phút
sau, đóa hoa ấy biến mất. Đây là một trong
nhiều chuyện hiện thật, mà chư liên hữu
ở khắp mọi nơi đă mục kích và trần
thuật lại.
Để nói rộng thêm, câu niệm Phật chẳng
những có công đức hiện ra tướng hoa sen, mà
c̣n hiện đủ các tướng thuộc chánh báo, y báo
ở Cực lạc. Trong các truyện văng sanh, có vị
trước giờ phút thọ chung, đại chúng
bỗng thấy mặt đất xung quanh bỗng hóa thành
ra vàng ṛng. Có vị đang nằm bịnh, tràng phan, lầu
các hiện trong tảng băng để gần bên
giường. Có vị đang niệm Phật, thân
tướng trang nghiêm của đức A Di Đà hoặc
chư Bồ tát hiện giữa hư không, bay trên ngọn
đèn lưu ly. Có vị trong khi tŕ niệm, chợt nghe mùi
hương lạ bay thơm cùng khắp. Công đức
trang nghiêm thanh tịnh của câu niệm Phật tùy tâm
hiển hiện, đại khái là như thế.
Hán 78:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt đóa bảo liên
Phàm t́nh bất tín
Diệt như kỳ nhiên.
Việt 78:
Một câu A Di Đà
Là một đoá bảo liên
Phàm t́nh không tin tưởng
Cũng là lẽ tất nhiên.
Lược giải:
Như trên đă nói: Do công đức của câu Phật
hiệu, theo lư duy tâm tạo, tự nhiên có hoa sen, ánh sáng
hoặc các tướng đẹp lạ khác phát hiện.
Nhưng các điều ấy tiếc thay, phần đông
phàm phu không tin hiểu và công nhận. Sở dĩ như
thế, v́ sự thấy biết của họ c̣n thuộc
hạn trong tâm lượng cạn hẹp của phàm t́nh.
Âu đó cũng là lẽ tất nhiên.
Triệt
Ngộ Đại Sư
Thích Thiền Tâm dịch và giảng
Phần 4
Hán 79:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt đóa bảo liên
Quyết định bất tín
Chân cá khả liên
Việt 79:
Một câu A Di Đà
Là một đóa bảo liên
Nếu quyết không tin nhận
Đáng thương thật kém duyên!
Lược giải:
Trong các kinh luận về Tịnh độ, nhiều
nơi Phật và chư Tổ đă nói công đức
niệm Phật hay trừ tội chướng, sanh
phước huệ, hiện ra hoa sen, ánh sáng. Từ xưa
đến nay các hành giả tu tịnh nghiệp, lúc
thức tỉnh hay trong giấc mơ, đă thấy
hiển hiện điều này, và cũng đă thuật
lại rất nhiều. Đó là lư chiêu cảm của nhân
lành quả lành, kẻ chưa tin phải theo lời
giải thích và điều minh chứng mà phát ḷng tin.
Nếu c̣n quyết định không tin nhận, th́ thật
đáng thương kẻ ấy quá nông cạn, nhiều
nghiệp chướng, kém phước duyên, cam chịu
khổ măi trong ṿng luân hồi sáu nẻo.
Hán 80:
Nhứt cú Di Đà
Nhứt đóa bảo liên
Trực nhiêu bất tín
Dĩ nhiễm thức điền.
Việt 80:
Một câu A Di Đà
Là một đóa bảo liên
Dù cho không tin tưởng
Cũng đă nhiễm thức điền.
Lược giải:
Tiếp theo ư trên, dù cho những kẻ chưa hiểu
biết, hoặc đă nghe giải thích và chứng minh rơ
ràng về công đức niệm Phật mà c̣n cố
chấp không tin nhận th́ câu Phật hiệu cũng đă
ghi vào ruộng Tàng thức của kẻ ấy rồi! Khi
hạt giống câu hồng danh đă nhiễm vào Hàm tàng
thức, ngày kia trong một hoàn cảnh nào đó nó sẽ
phát hiện. Và nhân đó đương nhơn sẽ
được độ thoát, bất quá phải chịu
khổ luân chuyển trong thời kiếp lâu xa mà thôi.
Về điểm này, một bậc tôn đức đă
bảo: "Khen chê cũng nhờ độ thoát. Tin nghi
đều đến Liên bang". (Tán báng câu mông giải
thoát. Nghi tín cộng nhập Liên bang).
Thuở Phật c̣n tại thế, có ông lăo đúng trăm
tuổi mới đến chư Tăng xin xuất gia. Các
hàng Trưởng lăo từ ngài Ca Diếp, Xá Lợi
Phất, đến chư Đại đức khác
đều không thâu nhận, v́ các vị nhận
định xét thấy ông không có căn lành. Khi đức
Thế Tôn đi khất thực trở về thấy ông
lăo khóc, Ngài quán biết liền chấp thuận cho xuất
gia. Chư Tỳ kheo hỏi duyên cớ, Phật đáp:
"Đạo nhăn bậc A la hán của các ông chỉ
thấy biết sự việc trong ṿng tám muôn bốn ngàn
kiếp về trước và về sau mà thôi. Nhưng
trước khoảng thời gian đó lâu xa, ông lăo này là
kẻ tiều phu đi đốn củi, bị cọp
rượt, sợ hăi leo lên cây phát thanh niệm một câu
"Nam mô Phật". Do chủng tử nhân lành đó, ngày
nay ông mới gặp ta hóa độ và sẽ
được giải thoát". Ông lăo là Phước
Tăng tỳ kheo, Phật giao cho ngài Mục Kiền Liên
thâu làm đệ tử, không bao lâu chứng được
quả A la hán.
Tóm lại, ảnh hưởng của câu Phật hiệu
rất nhiệm mầu sâu rộng, chẳng những
kẻ nghe danh hiệu Phật sanh ḷng vui mừng, tin
nhận, khen ngợi và thật hành đều
được giải thoát, mà người nghi ngờ kinh
báng nhái giọng niệm theo để chê bai, khi thọ ác
báo rồi cũng nhờ chủng tử công đức
ấy gây nhân duyên đắc độ về sau. Cho nên bài
kệ: "Thà ở cơi Địa ngục. Được
nghe hồng danh Phật. Không mong sanh Thiên giới. Chẳng
biết hiệu Như Lai", như trong kinh nói rất là
xác đáng.
Hán 81:
Nhứt cú Di Đà
Hoằng thông cảm đọa
Nhập Đại bi thất
Tọa pháp không ṭa.
Việt 81:
Một câu A Di Đà
Sốt sắng gắng hoằng thông
Nguyện vào Đại bi thất
Ngồi yên ṭa Pháp không.
Lược giải:
Trong kinh Pháp Hoa, đức Thế Tôn đă từng khuyên các
học nhơn: "Nếu muốn kham sống trong cơi
đời ngũ trược để độ ḿnh cùng
độ sanh, th́ phải mặc áo giáp Nhẫn nhục, vào
nhà Đại Bi, và ngồi ṭa Pháp không".
Tại sao thế? Bởi nơi cơi Ta bà những nghiệp
tham, sân, si, khinh mạn, nghi ngờ cùng ác kiến của
chúng sanh tất mạnh mẽ lẫy lừng. Các phiền
nghiệp ấy ví như những mũi tên lửa, dễ
làm tổn năo người, nếu không mặc áo giáp
Nhẫn nhục nhu hoà, tất khó thể chịu
đựng nổi. Song như thế cũng chưa
đủ, v́ nếu nhẫn nhục mà không có ḷng
đại bi thương xót tha thứ sự mê lầm
tội lỗi của chúng sanh, th́ chẳng thể hoằng
pháp độ người. Cho nên hành giả phải
nối gót Như Lai vào nhà đại Từ bi của
Phật. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa
được trọn vẹn. Bởi dù có tâm Từ bi, Nhẫn
nhục, nhưng nếu chưa thấu suốt tất
cả pháp đều không, mà vào nơi Vô sở trụ
như kinh Kim Cang đă chỉ dạy, tức nhiên tướng
Nhơn ngă chấp và Pháp ngă chấp hăy c̣n. Đă c̣n tác
tướng ấy th́ dù có Nhẫn nhục cũng chưa
dứt hết gốc giận hờn, dù có niệm Từ
bi cũng chưa tuyệt ḷng ái luyến. Cho nên hành giả
lại phải cần an trụ nơi ṭa Nhứt thiết
pháp không. Đạo lư này rất uyên thâm, như diễn
rộng ra sáu trăm quyển Đại Bát Nhă cũng nói
chưa cùng tận. Song nếu tóm tắt lại, có thể
gồm trong một lời kệ của kinh Hoa Nghiêm: "Vô
trước vô y trí huệ lực", nghĩa là sức
trí huệ không nương tựa dính mắc vào đâu.
Đại ư bài kệ trên, ngài Triệt Ngộ muốn nói:
"Chư Như Lai từ trong nhân hạnh cho đến
khi đắc quả, v́ bi nguyện độ sanh nên đă
mặc áo giáp Nhu ḥa nhẫn nhục, vào nhà đại
Từ bi, ngồi ṭa Nhứt thiết pháp không mà tu học
cùng nói ra pháp môn niệm Phật này". Các hành giả
muốn độ ḿnh một cách chắc chắn và
rộng độ chúng sanh, cần phải siêng năng noi
theo gương ấy.
Hán 82:
Nhứt cú Di Đà
Vô tận bảo tạng
Bát tự đả khai
Phổ đồng cúng dường.
Việt 82:
Một Câu A Di Đà
Là kho báu vô tận
Tám chữ mở toang ra
Khắp cho không tiếc lẫn.
Lược giải:
Tám chữ trên đây, là "Đại từ đại bi
A Di Đà Phật". Trong Tịnh Độ Thánh Hiền
Lục có thuật chuyện một hành giả niệm
Phật, khi lâm chung thấy tám chữ ấy hiện ra
giữa hư không to lớn, sắc như vàng ṛng. Tám
chữ ấy hàm ư tiêu biểu cho bốn mươi tám bi
nguyện độ sanh rộng lớn của đức A
Di Đà Thế Tôn. Song về sự tŕ niệm, th́ yếu
ước lại chỉ có sáu chữ "Nam mô A Di Đà
Phật". Sao gọi là tám chữ, hay sáu chữ mở
kho báu vô tận?
Theo Hiển Giáo, sáu chữ ấy tiêu biểu cho sự
nương về kho Vô lượng thọ mạng, Vô
lượng quang minh, Vô lượng công đức.
Theo Mật giáo, về quyển Thánh Tài Tập, sáu chữ
đó là chủng tử của năm đức Phật.
Hai chữ Nam Mô có nghĩa là quy mạng. Mạng là Thọ
thường trú, tức chỉ cho đức Tỳ Lô Giá
Na Như lai. C̣n bốn chữ kia, theo thứ tự là
chủng tử của năm đức Phật. Hai
chữ Nam Mô có nghĩa là quy mạng. Mạng là Thọ
thường trú, tức chỉ cho đức Tỳ Lô Giá
Na Như Lai. C̣n bốn chữ kia, theo thứ tự là
chủng tử của bốn đức Phật: A Súc
Bệ, Bảo Sanh, A Di Đà, và Bất Không Thành Tựu. Cho
nên sáu chữ hồng danh là kho bí mật, gồm thâu tất
cả chánh báo, y báo khắp mười phương.
Theo Tâm giáo, sáu chữ này là kho chân tâm, gồm nhiếp
tất cả nhân quả, tánh tướng, phước
huệ, sự lư. V́ thế nên gọi: "Một câu A Di
Đà, Là kho báu vô tận".
Về điểm dùng tám chữ hay yếu ước
lại sáu chữ, để mở kho báu vô tận, cổ
nhơn đă có câu: "Lục tự đả khai vô
tận tạng. Thâu lai phóng khứ chỉ như nhiên".
Hai câu này có ư nghĩa: (Niệm sáu chữ hồng danh có
thể mở toang kho báu vô tận như trên đă nói. Và khi
đă thể nhập vào kho chân tâm, th́ niệm tức là vô
niệm, vô niệm tức là niệm, buông ra thâu vào
đều ở trong trạng thái như như).
Chư Phật Thế Tôn, chư Bồ tát, chư Tổ, v́
ḷng bi nguyện, đă đem tám chữ hay sáu chữ
nầy mà phổ thí cúng dường khắp tất cả
loài hữu t́nh, để cho chúng sanh mở được
cửa và thọ dụng kho báu vô tận ấy.
Hán 83:
Nhứt cú Di Đà
Đoạn chư phiền năo
Toàn Phật toàn tâm
Nhứt liễu bá liễu.
Việt 83:
Một câu A Di Đà
Dứt phiền năo rộn ràng
Tâm Phật toàn dung hợp
Rơ một, rơ trăm ngàn.
Lược giải:
Ư nghĩa bài kệ trên rất hàm súc, muốn hiểu thấu
đáo, chỉ nên dùng hạnh thể nhập hơn là theo
phần lư giải. Tuy nhiên, để tùy thuận sở
cầu cho người mới học đạo, xin
tạm giải thích như sau:
Lúc hành giả chuyên tâm niệm Phật, th́ nghiệp tham,
sân, si cùng tất cả phiền năo đều dừng
lặng. Khi công phu lâu năm tŕ niệm chuyên thành như
thế đến mức cùng tận, ngày kia
đương nhơn chợt thấy tâm niệm rỗng
rang như chiếc thùng lọt đáy, ngộ được
tánh bản lai của ḿnh. Chừng ấy toàn câu niệm
Phật, toàn thể đức A Di Đà cùng chánh báo, y báo
thế giới cực lạc của Ngài, chính là toàn
thể chân tâm diệu cảnh. Và các pháp không ngoài tâm đă
ngộ được nhứt chân tâm, tất rơ
được tất cả trăm ngàn muôn pháp.
Hán 84:
Nhứt cú Di Đà
Diệt trừ định nghiệp
Hích nhật khinh sương
Hồng lô phiến tuyết.
Việt 84:
Một câu A Di Đà
Dứt trừ được định nghiệp
Nhật rạng phá sương thưa
Lô hồng tan điểm tuyết.
Lược giải:
Trong kinh có lời dạy: "Chí thành xưng một câu A Di
Đà, diệt được tội nặng trong tám
mươi ức kiếp sống chết, xung quanh hành
nhơn mỗi bề ánh sáng phát ra rộng đến
bốn mươi dặm.
Chí tâm xưng một câu hồng danh, ảnh hưởng c̣n
được như thế huống chi chuyên thành niệm
Phật nhiều năm, th́ định nghiệp nào mà không
dứt trừ? Công năng diệt nghiệp của sự
tŕ danh, ví như vầng nhật chói rạng phá tan mau màn
sương thưa, như ḷ lửa to dễ làm tiêu
mảnh tuyết. Tổ sư đă mượn hai thí
dụ trên để nêu rơ công đức niệm Phật,
và khuyến tấn hành giả gắng sức tu tŕ.
Hán 85:
Nhứt cú Di Đà
Năng không khổ báo
Thế giới, căn thân
Tức thô nhi diệu.
Việt 85:
Một câu A Di Đà
Hay tiêu quả báo khổ
Chuyển thế giới, căn thân
Tức thô thành tế diệu.
Lược giải:
Các sự khổ đều do sức nghiệp làm chủ
động, niệm Phật đă có công năng diệt
nghiệp, tất nỗi khổ cũng lần lần tiêu
trừ. Nhưng "một câu Di Đà làm cho khổ báo
trở thành không", hàm ư nói về phần tánh nhiều hơn
phần tướng. Bởi tất cả sự khổ
từ lớn đến nhỏ, đều do tâm ta bị
căn thân bên trong và thế giới bên ngoài chi phối.
Nếu hành nhơn ngộ lư các pháp đều như
huyễn, biết an trụ nơi tự tánh Di Đà mà
niệm Phật, th́ tâm trở nên vắng lặng, thoát
khỏi sự chi phối của thân và cảnh. Như
thế dù thời tiết nóng lạnh, cảnh ngộ an
nguy, sự đói khát cùng mỏi mệt yếu đau
cũng không làm cho đương nhơn cảm thấy
khổ? Tại sao? V́ hành nhơn đă an trụ nơi
định tâm, thoát ly cả hai sự chi phối trong và
ngoài ấy.
Khi xưa, một thiền sư tu ở sơn tự
bị chứng thương hàn, do thiếu thuốc thang
điều dưỡng, nên bịnh càng trở nặng
sắp lâm nguy. Một vài đệ tử thấy thế,
xin phép đi xuống núi để rước y sư và t́m
thuốc đem lên. Thiền sư ngăn lại bảo:
"Căn bịnh đă nhập lư, chỉ nên dùng đạo
pháp để điều trị, chớ không thể dùng
thuốc cứu chữa kịp thời
được!". Thế rồi ông xả hết muôn
duyên, ngồi trụ tâm vào tịnh cảnh không ăn
uống luôn trong bảy ngày. Đến khi xuất
định, bịnh chứng tiêu tan, sức khoẻ
lần lần b́nh phục. Lại một vị Tăng tu
Tịnh độ, lúc sắp văng sanh, túc nghiệp phát
hiện làm cho cả thân ḿnh đều phù thủng, c̣n thêm
nhiều chứng bịnh khác, ông nói với hàng đệ
tử: "Nếu thầy không nhờ mấy mươi
năm công phu niệm Phật, tất không thể chịu
nổi sự mỏi mệt nhức đau". Cho nên
một bậc tôn túc đă nói câu: "Lăo tăng có pháp an
nhàn. dù cho tám khổ cháy lan ngại ǵ!". (Lăo tăng
tự hữu an nhàn pháp. Bát khổ giao tiên tổng bất
pḥng).
Về ư nghĩa hai câu sau của bài kệ, có thể
dẫn giải tóm tắt: thế giới, căn thân
đều như huyễn. Nếu tâm chúng sanh c̣n đầy
nghiệp chướng phiền năo, dù sống nơi
cảnh mầu đẹp ở thiên đường,
cũng cảm thấy buồn khổ. Với bậc hành
giả đă đắc định, th́ riêng có một thiên
đường, tuy ở cảnh ác trược, cũng
thấy mầu nhiệm an vui. Kinh Duy Ma bảo: "Tùy
nơi tâm thanh tịnh, tức cơi Phật thanh tịnh".
Kinh Viên Giác nói: "Địa ngục, thiên cung đều
là Tịnh độ". Ư nghĩa của hai câu kinh
ấy, đều chỉ cho cảnh giới trên.
Hán 86:
Nhứt cú Di Đà
Viên chuyển tam chướng
Tức Hoặc, Nghiệp, Khổ
Thành Bí mật tạng.
Việt 86:
Một câu A Di Đà
Chuyển tṛn cả ba chướng
Tức nơi Hoặc, Nghiệp, Khổ
Trở thành Bí mật tạng.
Lược giải:
Ba chướng chỉ cho: Hoặc, Nghiệp, Khổ.
"Hoặc" thuộc về Phiền năo chướng.
"Nghiệp" thuộc về Nghiệp chướng.
"Khổ" thuộc về Báo chướng. Ba
chướng này như chùm trái Ác xoa, có liên quan tương
thông lẫn nhau, một tức là ba, ba tức là một.
Đại ư của bài kệ sau này cũng tương
tự như bài kệ trước, nếu suy ra sẽ
tự hiểu. Như các lượn sóng ở đại
dương là biến tướng của nước, cho
nên toàn thể sóng là nước. Cũng như thế,
vọng giác từ nơi chánh giác mà thiên lưu, cho nên đi
sâu vào, toàn thể vô minh vọng giác tức là chánh giác viên
minh. Hành giả nếu đi sâu vào Niệm Phật tam
muội, sẽ ngộ được Hoặc, Nghiệp,
Khổ chính là Bí mật tạng vậy.
Hán 87:
Nhứt cú Di Đà
Giải nạn giải oan
Từ quang cộng ngưỡng
Pháp hỷ quân triêm.
Việt 87:
Một câu A Di Đà
Giải tai nạn trái oan
Quy ngưỡng ánh từ quang
Thấm nhuần niềm pháp hỷ.
Lược giải:
Bài kệ trên đều là những lời nói trắng rơ
ràng, không có ẩn ư sâu kín nào khác. Công đức niệm
Phật có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tai
nạn, tà ma, giải những oan trái đời này cùng
đời trước. Công đức ấy cũng
khiến cho sanh phước đức trí huệ,
độ thoát chính ḿnh cho đến kẻ oan người
thân. Các điểm vừa nói đă thể hiện rất
nhiều đối với những hành giả niệm
Phật từ xưa đến nay. Trong Mấy
Điệu Sen Thanh đă có nhiều sự tích trần
thuật, độc giả duyệt kỹ sẽ tự
thấy, khỏi phiền dẫn chứng thêm nhiều.
Hành giả tu môn niệm Phật đều thọ
hưởng được sự lợi ích an vui của
pháp này, nên gọi là Pháp hỷ. Bởi thế, chẳng
những riêng nơi cơi Ta bà, mà ở khắp hằng hà sa
quốc độ trong mười phương, vô số
chúng sanh cũng tu môn Niệm Phật và đều cùng
hướng về ánh sáng từ bi của đức Giáo
chủ Tây phương cực lạc thế giới.
Hán 88:
Nhứt cú Di Đà
Báo vị báo ân
Liệt Triền miên vơng
Nhập Giải thoát môn.
Việt 88:
Một câu A Di Đà
Đáp ân nặng chưa tṛn
Cắt đứt Triền miên vơng
Chứng vào Giải thoát môn.
Lược giải:
Người học đạo có bốn trọng ân là: 1. Ân
chư Phật, chư Bồ tát. 2. Ân thầy lành bạn
tốt và các thiện tri thức. 3. Ân cha mẹ cùng thân
quyến phù trợ. 4. Ân đàn na tín cúng và tất cả
chúng sanh. Chúng ta nếu có đền trả bốn ân th́
cũng chỉ một phần nào thôi, chớ thật
sự chưa làm tṛn, đại khái có thể gọi là
chưa báo đáp. Muốn mau tṛn bổn phận đền
trả tứ ân, phải tu môn Niệm Phật để
sớm thành đạo quả, tế độ khắp
kẻ oan thân cùng tất cả loài hàm thức.
Lại nữa, chúng ta sống trong lưới nghiệp dây
dưa, nợ này chưa xong đă vay mối khác, nhứt là
các nghiệp oan cừu, ân ái. Lưới nghiệp ấy
vây quần kéo dài măi không dứt, nên gọi là Triền miên
vơng. Chư Bồ tát đă do tu pháp Niệm Phật, mà
cắt được lưới Triền miên vơng của
nghiệp lực, chứng vào Vô lượng giải thoát
môn. chẳng hạn như: Không Huệ Tam Muội Giải
thoát Môn, Thần Thông Du Hư Tam Muội Giải Thoát Môn,
Giải Nhứt Thiết Chúng Sanh Ngữ Ngôn Tam Muội
Giải Thoát Môn, Sư Tử Phấn Tấn Tam Muội
Giải Thoát Môn v.v... Tổ Triệt Ngộ khuyên chúng ta nên
đi theo con đường ấy.
Hán 89:
Nhứt cú Di Đà
Không chư ác thú
Vạn đức hồng danh
Na dung tư nghị
Việt 89:
Một câu A Di Đà
Hay trống không ác đạo
Ức muôn đức hồng danh
Khó nghĩ bàn kỳ ảo!
Lược giải:
Trong Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục có
ghi một sự tích công đức Niệm Phật. Xin
mượn nêu ra, để giải thích bài kệ trên
với tánh cách chứng thật.
Một vị Bà la môn ở nước a Du Sa xứ Thiên
Trúc có cô vợ rất đẹp. V́ t́nh si mê ái nhiễm sâu
nặng, ông ta gần gũi măi cũng không thấy chán
đủ. Người vợ lại là một tín
đồ Phật giáo; muốn nhân cơ hội đó hóa
độ chồng, mới đặt điều kiện:
"Nếu khi sắp gần gũi, phải gơ chiếc
trống đồng, cả hai cùng niệm hồng danh A Di
Đà một lúc lâu cô mới chấp thuận". Ông
chồng bất đắc dĩ phải tuân theo.
Ba năm sau, vị Bà la môn bị bạo bịnh tắt
hơi, chỉ nơi ngực măi c̣n nóng ấm, nên
người nhà chưa dám thiêu hóa. Trải qua năm ngày, ông
chợt sống lại, gọi vợ khóc bảo rằng:
"Tôi chết do nghiệp nặng bị đọa vào
địa ngục Phất Thang. Khi quỉ tốt dùng
đinh ba, vít tội nhơn vào vạc dầu sôi, chĩa
sắt đụng thành vạc đánh keng một tiếng.
Lúc ấy tôi đang kinh hồn lạc phách, chợt nhớ
tới việc bà bảo gơ trống đồng niệm
Phật, nên bất giác lớn tiếng niệm Nam mô a Di
Đà Phật. Lạ thay, ngay lúc ấy vạc dầu sôi
liền biến thành ao sen nước trong mát, các tội
nhơn đều hiện tướng tốt ngồi trên
đài sen, rồi cùng bay về Tịnh độ. Diêm
Vương nghe báo sanh ḷng hoan hỷ, thả cho tôi trở
về!".
Truyện kư trên, chứng minh công năng niệm Phật có
thể làm tiêu tan trống không cảnh Địa ngục.
Lẽ dĩ nhiên, đối với các ác đạo khác
như Ngạ quỉ, Súc sanh, Tu la, cũng lại như
thế. Câu Nam Mô A Di Đà Phật là kết tinh
phước huệ của vô lượng công đức
lành, khi Phật c̣n tu Bồ tát đạo, nên mới
gọi Vạn Đức Hồng Danh. Bởi thế,
hồng danh này có công năng rộng lớn kỳ diệu
chẳng thể nghĩ bàn! Trong kinh gọi đó là Vô tác
thần lực, nghĩa là sức thần thông đương
nhiên, không phải do Phật tác ư khởi niệm xui
khiến nên. Đại khai, bài kệ trên tán dương và
nêu rơ công đức của câu hồng danh, khiến cho hành
giả tăng thêm phần tín, hạnh, nguyện.
Hán 90:
Nhứt cú Di Đà
Cơ đậu nhơn thiên
Sâm si tam bối
Yên ánh cửu liên!
Việt 90:
Một câu A Di Đà
Hợp cơ cả trời, người
Ba căn tánh cao thấp
Chín phẩm sen rạng ngời!
Lược giải:
"Tam bối" trong bài kệ là chỉ cho ba hạng
người: Thượng căn, Trung căn, Hạ
căn. "Cửu liên" tức chín phẩm sen, cũng
phân ra ba cấp thượng trung hạ, mỗi cấp
lại có ba bậc thượng trung hạ nữa, nên thành
ra chín. Đó là các phẩm: Thượng thượng,
Thượng trung, Thượng hạ. Trung thượng,
Trung trung, Trung hạ. Hạ thượng, Hạ trung,
Hạ hạ.
Ấn Quang đại sư nói: "Phật pháp tùy cơ,
có khó dễ thấp cao. Đối với pháp cao khó, th́
bậc hạ căn không kham tu. Với pháp thấp dễ,
bậc thượng căn lại chẳng cần tu. Riêng
môn Tịnh độ có đặc điểm rất
mực nhiệm mầu, vừa cao siêu vừa thuận
dễ, thích ứng cả ba căn, hạng nào cũng
thấy cần thiết và có thể tu tập
được. Nói về phần cao siêu th́ nơi hội
Hoa Nghiêm, mười phương hải hội Bồ tát
trong năm mươi mốt vị: Thập tín, Thập
trụ, Thập hạnh, Thập hướng, Thập
địa và Đẳng giác, đều theo lời khuyên
của Phổ hiền đại sĩ tu tập môn này. Bàn
đến chỗ thuận dễ, th́ những chúng sanh nhiều
tội chướng, cho đến tạo nghiệp Ngũ
nghịch, Thập ác, cũng có thể niệm Phật sanh
về cực lạc. Cho nên kẻ chê pháp tịnh
độ là thấp kém, tức chưa hiểu chi về
môn này, và cũng phạm lỗi khinh báng các bậc Bồ
tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ
đó!"
Điều dẫn giải trên cho ta thấy, pháp môn
Tịnh độ thích hợp với tất cả căn
tánh thượng trung hạ của hàng nhơn thiên. Ba
căn tánh ấy tuy có cao thấp so le, song nếu tu môn
niệm Phật, tất sẽ tùy theo công hạnh,
đều được nêu danh nơi chín phẩm sen sáng
đẹp rạng ngời ở cơi Tây phương Cực
lạc.
Hán 91:
Nhứt cú Di Đà
Hóa kiêm tiểu Thánh
Hồi hiệp liệt tâm
Hướng Vô thượng thừa.
Việt 91:
Một câu A Di Đà
Các quả vị tiểu thánh
Chuyển tâm hẹp gồm đưa
Hướng về Vô thượng thừa.
Lược giải:
Tiểu thánh tức là các quả thanh văn, Duyên giác
gồm: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích Chi
Phật. Hàng tiểu thừa lấy cảnh Sanh không
Niết bàn làm quả vị cứu cánh, chỉ cầu mong
cho mau thoát ly nỗi khổ sống chết luân hồi trong
ba cơi. Các vị này không phát thệ nguyện rộng
lớn, trên cầu Phật quả vô thượng
dưới độ tất cả chúng sanh, như
những bậc Bồ tát, cho nên đức Thế Tôn chê là
tâm nhỏ hẹp.
Môn Niệm Phật là pháp Đại thừa, nên có thể
chuyển tâm nhỏ hẹp của hàng Tiểu thừa,
đưa các quả vị Thanh văn, Duyên giác
hướng về Vô thượng của Phật
đạo.
Hán 92:
Nhứt cú Di Đà
Siêu nhiên vô ngại
Văn Thù, Phổ Hiền
Đại nhơn cảnh giới.
Việt 92:
Một câu A Di Đà
Thật vô ngại siêu nhiên
Như Văn Thù, Phổ Hiền
Là cảnh bậc đại nhơn.
Lược giải:
Môn niệm Phật đi sâu vào bốn pháp giới, cùng
tột là Sự sự vô ngại pháp giới. Cổ
đức cũng nói: "Niệm Phật có thể
khiến cho hành nhơn vào cảnh giới Vô ngại
giải thoát".
Trên đây, Triệt Ngộ đại sư muốn nói:
"Niệm Phật không phải pháp thấp kém tầm
thường mà chính là cảnh giới của các bậc
Bồ tát đại nhơn như Văn Thù, Phổ
Hiền vậy".
Hán 93:
Nhứt cú Di Đà
Vi diệu nan tư
Duy Phật dữ Phật
Năi năng tri chỉ.
Việt 93:
Một câu A Di Đà
Mầu nhiệm khó nghĩ bàn
Chỉ có Phật với Phật
Mới rơ biết tận cùng.
Lược giải:
Trên đă nói Niệm Phật tam muội là cảnh giới
của bậc đại Bồ tát, Nơi đây Tổ
Triệt Ngộ lại nhắn rơ thêm: Niệm Phật tam
muội tuy chư đại Bồ tát cũng thâm nhập,
nhưng thật ra chưa được cùng tận. Duy có
Phật với Phật mới rơ biết được
hết, v́ đó là Phật tam muội, là cảnh giới
của chư phật.
Điều này càng khẳng định rơ ràng hơn tánh cách
cao thâm của pháp môn Tịnh độ.
Hán 94:
Nhứt cú Di Đà
Liệt Tổ phụng hành
Mă Minh tạo luận
Long Thọ văng sanh.
Việt 94:
Một câu A Di Đà
Chư Tổ đều phụng hành
Tổ Mă minh viết luận
Tổ Long Thọ văng sanh.
Lược giải:
Môn Niệm Phật v́ là pháp môn Tối thượng thừa
cao siêu, nên chư Tổ đều phụng hành, bằng
cách hoặc viết luận khen ngợi khuyên tu, hoặc
niệm Phật cầu về Cực lạc. Chẳng
hạn như hai vị Bồ tát Mă Minh, Thế Thân đă
viết Đại Thừa Khởi Tín Luận và Văng Sanh
Luận để xưng tán, chỉ đường
Tịnh độ. Và Long Thọ Bồ tát chứng Sơ
Hoan Hỷ địa đă niệm Phật văng sanh về
An dưỡng. Các vị Bồ tát trên đều là chư
tổ bên thiền tông.
Nơi đây Triệt Ngộ đại sư lại nêu ra
một chứng liệu để minh xác điểm cao
siêu của pháp môn Niệm Phật. Điều này,
Đại sư muốn cảnh tỉnh phá tan sự
nhận thức sai lầm của một số
người từ trước đến nay nghĩ
rằng: "Môn Tịnh độ là pháp thấp kém, chỉ
dành cho hạng ông già bà cả quê dốt tu hành".
Hán 95:
Nhứt cú Di Đà
Nhân duyên thời tiết
Dị hương thường văn
Liên xă sang kiết.
Việt 95:
Một câu A Di Đà
Hợp thời tiết nhân duyên
Hương lạ hằng thanh thoảng
Liên xă lập nhiều miền.
Lược giải:
Pháp môn Tịnh độ sở sĩ càng lúc càng
được thạnh hành, bởi có nhiều lư do:
Về phần nhân duyên: Điều thứ nhứt
đức A Di Đà có pháp duyên rất lớn với chúng
sanh ở Ta bà, bằng chứng là các chùa đều có
thời khóa Tịnh độ, và hàng Phật tử khi
gặp nhau thường chào với câu "A Di Đà
Phật". Điều thứ hai, đức Di Đà
Thế Tôn có bốn mươi tám bi nguyện độ
sanh rộng lớn, rất thích ứng với cảnh ngộ
cần cứu cấp nơi cơi ngũ trược này.
Về phần thời tiết, như lời Phật
đă huyền kư. Bắt đầu từ thời mạt
pháp trở về sau, muốn chắc chắn được
giải thoát, chỉ có pháp môn niệm Phật.
Bởi những nguyên nhân ấy, nên chư thiện tri
thức xưa nay đă sáng lập ra Liên xă khắp nơi
để hướng dẫn người tu hành. Và các hành
giả niệm Phật cũng cảm được
nhiều điềm thoại ứng như: thấy sen
lành, nghe hương lạ.
Hán 96:
Nhứt cú Di Đà
Lợi đại long, tượng
Vĩnh Minh thiền bá
Trí Giả giáo tông.
Việt 96:
Một câu A Di Đà
Lợi bậc đại tượng, long
Như Vĩnh Minh thiền bá
Cùng trí Giả giáo tông.
Lược giải:
Long, tượng là rồng và voi. Hai loại này là hạng
cao quí trong loài thú. Đại long, tượng tức
rồng cùng voi lớn, lại c̣n cao quí hơn. Người
xưa đă đem biểu tướng rồng, voi mà thí
dụ cho những bậc cao siêu kiệt xuất trong hàng
Tăng Ni. V́ thế mới có danh từ Pháp môn long
tượng, nghĩa là hạng rồng voi trong cửa chánh
pháp.
Môn niệm Phật chẳng những nhiếp hóa lớp
trung, hạ căn, mà c̣n làm lợi ích luôn cho cả bậc
thượng thượng căn nữa. Như Vĩnh Minh
đại sư, một bậc thiền bá trong tông môn,
ngộ suốt huyền cơ, viết một trăm
quyển Tông Cảnh Lục để xương minh
thiền đạo, nhưng cũng niệm mười
muôn câu Phật hiệu mỗi ngày. Và Trí Giả đại
sư, bậc giáo tông sáng lập ra Thiên Thai giáo, b́nh thời
vẫn niệm Phật, khi lâm chung khen ngợi kinh Pháp Hoa
cùng Vô Lượng thọ, bảo với đại chúng
rằng Tây phương Tam Thánh với các đồng
bạn của ngài đă sanh về Tây phương, nay
hiện thân đến tiếp dẫn.
Sự kiện này, người học đạo nên
để tâm suy nghĩ.
Hán 97:
Nhứt cú Di Đà
Cảm ứng phi khinh
Thiếu Khang hóa Phật
Thiện Đạo quang minh.
Việt 97:
Một câu A Di Đà
Cảm ứng chớ xem khinh
Thiếu Khang hiện hóa Phật
Thiện Đạo phóng quang minh.
Lược giải:
Thiếu Khang đại sư niệm một câu hồng
danh, trong miệng bay ra một vị hóa Phật. Thiện
Đạo Ḥa thượng niệm mỗi câu Phật
hiệu, nơi miệng phóng ra một đạo quang minh.
Hai điều trên chứng minh cho công đức niệm
câu hồng danh A Di Đà thật lớn lao, và sự
cảm ứng của Phật hiệu như thế đă
đến mức cùng diệu. Và điều trên đây
cũng nhắc cho người học đạo nên
thức ngộ, đừng xem môn Niệm Phật là dung
thường.
Trong mấy bài kệ liên tiếp, Triệt Ngộ
đại sư đă dẫn chứng trên từ chư
Phật Thế Tôn, nói rộng ra là các đức Như Lai
ở sáu phương như kinh A Di Đà đă thuyết
minh, đều khen ngợi khuyên tu Tịnh độ, và
chỉ riêng các ngài mới biết cùng tận pháp này. Kế
đến chư đại Bồ tát như Văn Thù,
Phổ Hiền, các bậc đại Tổ sư như Mă
Minh, Long Thọ, những vị đại long tượng
về bên Tông như ngài Vĩnh Minh, về bên Giáo như ngài
Trí Giả và sau cùng chính chư Tổ bên Tịnh độ
như Thiện Đạo, Thiếu Khang. Những vị
trên tuy cũng suốt thông các pháp môn khác, song vẫn quy
hướng về Tịnh độ. Tại sao Tổ Triệt
Ngộ lại nhiều phen dẫn chứng như thế?
Trong đây có hai nguyên nhân rất quan trọng.
Điều thứ nhứt: Các vị học thức
xưa nay "bút giả dùng danh từ học thức
chớ không nói trí thức, v́ học thức là một
việc, trí thức lại là việc khác", khi mới
t́m đạo, đều ưa thích những lư luận cao
siêu huyền diệu. Sự ưa thích đó không phải là
điều lỗi. Nhưng phần nhiều họ lầm
lạc chấp theo thiên không, chưa dung hội
được giữa không và có, bài bác nhân quả sự
tướng, nên hầu như thành một căn bịnh
trong khi học đạo. Đối với môn Tịnh
độ, họ chưa thấu đáo được
sự cao diệu của pháp này, nên khi thấy những
kẻ tối dốt, hạng b́nh dân cũng tu hành
được, lại xem thường cho là pháp thấp
kém. Chư đại thiện tri thức thấy sự
lầm lạc tà kiến đó, mới thẳng thắn bác
phá chỉ bày. V́ thế Tổ Triệt Ngộ đă
dẫn những chứng minh trên để cảnh giác,
ngụ ư bảo: "Nếu Tịnh độ là thấp
kém, tại sao từ chư Phật, Bố tát, cho đến
chư Tổ, các bậc đại long tượng bên Tông
lẫn bên Giáo đều ngợi khen khuyến khích,
hoặc thân thiết phụng hành?"
Điều thứ hai: Các vị thông minh kiến thức
trên, khi luận đạo thường nói những lư
luận siêu huyền, để tỏ ra ḿnh là những
người hiểu rộng tu cao. Nhưng họ lại
không tự xét rằng: Về phần thật hành, ḿnh có làm
được môt phần nào đối với những
lời nói đó chăng? Nhứt là buổi đi sâu vào
thời mạt pháp này, người tu căn cơ non kém,
nghiệp chướng nặng nề, dùng những h́nh
thức dễ làm như niệm Phật tụng kinh, mà
kẻ hành đạo tại gia lẫn xuất gia c̣n
vọng niệm rối ren, nay chầy mai trễ, huống
chi là sự nhiếp tâm nơi định trong tất
cả thời, tất cả hành động nói năng? Bút
giả từng nghe một vài vị tu học về
Thiền, khi luận đến sự hành tŕ, thường
dẫn lời của những chư Tổ hoặc các
bậc tôn túc thời xưa mà trạng huống cho lối
tu của ḿnh và c̣n ra vẻ đắc ư. Chẳng hạn
như câu: "Viên bảo tử quy thanh chướng lư.
Điểu hàm hoa lạc bích nham thiền!".
(Vượn ôm con chuyền về rặng núi xanh. Chim
ngậm hoa sa trước gộp đá biếc). Hoặc
như: "Nhập lâm bất động thảo. Nhập
thủy bất đạp ba". (Vào rừng mà không làm
động đến ngọn cỏ. Xuống nước
nhưng chẳng đạp sóng nước). Các vị
đó không xét lại hai câu trước là tâm cảnh
của ngài Giáp sơn, chớ chẳng phải cảnh
giới của ḿnh. Thỉnh thoảng có việc chi xúc động,
th́ các vị liền tỏ vẻ phiền hà tức
giận. Thế là cỏ cây đă động, chân đă
đạp sóng nước rồi đấy! Trước
tệ trạng lạc lầm lạc rộng đó, chư
thiện tri thức v́ xót thương, v́ muốn cứu văn
đạo pháp, nên mới thẳng lời phê trích, cho hành
động ấy là cuồng thiền. Và các ngài c̣n nói
đến hạng cuồng Mật nữa, mà nếu có
dịp, sau này bút giả sẽ dẫn giải.
Để kết luận, cần nhấn rơ thêm là những
điều nói trên, tuyệt không có ư bài bác Thiền,
Mật. Thiền và Mật là hai pháp môn cao siêu, và thật ra
Thiền, Mật, Tịnh cả ba đều có đặc
điểm riêng, cần tu học để hỗ trợ
cho nhau. Chẳng hạn như khi tŕ chú theo chân ngôn, Phật
hiệu huân sâu vào tạng thức, kích động cho
phiền năo nổi dậy, phương pháp làm lắng
động hữu hiệu nhứt, không chi hơn
Thiền. Trong lúc tham thiền hoặc niệm Phật, ma
chướng trong ngoài khuấy rối, cách hàng phục
kiến hiệu mau lẹ nhứt, không chi hơn Mật. Và
muốn giải quyết việc lớn là sống chết
luân hồi một cách thẳng tắt chắc chắn
nhứt, lại không chi hơn Tịnh. Luận cho cùng
mỗi môn tự hàm đủ công năng của ba, song
đó là ứng dụng của bậc tŕnh độ cao
siêu. C̣n với bậc sơ cơ non kém, thật ra vẫn
có sự sai biệt. Ví như bậc Tổ sư về vơ,
dù sử dụng côn, chùy, kiếm, sự lợi hại
vẫn đồng như nhau. Nhưng với hạng vơ
nghệ thông thường, th́ tác dụng của ba môn binh
khí kia lại có sai biệt. Nếu chẳng thế, trong vơ
lâm cần chi bày ra ba môn ấy cho thêm phiền!
Cho nên trong thời mạt pháp, theo thiển ư, nên lấy
Tịnh độ làm chánh yếu, Thiền, Mật làm
phụ trợ. Hoặc nếu có tu Thiền hay Mật
cũng nên niệm Phật nhiều ít hồi hướng
về cơi Cực lạc ở Tây phương.
Hán 98:
Nhứt cú Di Đà
Hữu giáo vô loại
Hùng Tuấn nhập minh
Duy Cung diệt tội.
Việt 98:
Một câu A Di Đà
Hóa độ kẻ vô loại
Hùng Tuấn vào minh ty
Duy Cung trừ chướng tội.
Lược giải:
Môn niệm Phật chẳng những làm lợi ích cho các
bậc Thượng thượng căn như trên, lại
c̣n hóa độ đến cả hàng vô loại như Hùng
Tuấn, Duy Cung, mà trong Mấy Điệu Sen Thanh đă
trích dẫn.
Bài kệ trên đại ư chỉ rơ: Pháp Tịnh độ
gồm thâu lợi độn, giúp ích khắp ba căn.
Hán 99:
Nhứt cú Di Đà
Thị Vô thượng thiền
Nhứt sanh sự biện
Khoáng kiếp công viên.
Việt 99:
Một câu A Di Đà
Là môn thiền Vô thượng
Việc lớn một đời xong
Công tu nhiều kiếp trọn.
Lược giải:
Triệt Ngộ đại sư tuy được
đời sau tôn làm vị tổ hoằng dương
Tịnh độ, nhưng thuở đương thời
ngài chính thật là một thiền bá. Bởi duyên
Đại sư đă tham thiền chứng ngộ và
viết ra quyển Triệt Ngộ Ngữ Lục
để xương minh thiền đạo. Một
bậc đại triệt đại ngộ về
thiền, mà nói niệm Phật là môn thiền Vô
thượng, đó là điều chứng minh xác đáng
rồi, không cần phải bàn luận chi thêm nữa.
Việc lớn một đời của người tu
Phật, là phải làm thế nào để giải
quyết sự sống chết luân hồi ngay trong kiếp
hiện tại. Bởi nếu c̣n luân hồi, tất
đời sau dễ bị mê lạc rồi sẽ sa
đọa nữa. Khi đă thoát khỏi sự sống
chết luân hồi, lại c̣n phải hiện thân tu Bồ
tát hạnh trong vô số kiếp, công đức viên măn,
mới thành đạo Vô thượng Chánh giác. Pháp môn
niệm Phật có thể giải thoát luân hồi ngay trong
hiện đời, và khi được sanh về Tây
phương, th́ sự tiến tu để thành Phật
không c̣n bị thối chuyển, kể như đă nắm
chắc trong tầm tay rồi.
Hán 100:
Nhứt cú Di Đà
Lư phi dị hội
Bách kệ nga thành
Tam tôn gia bị.
Việt 100:
Một câu A Di Đà
Lư mầu chưa dễ hiểu
Thoáng chốc trăm kệ xong
Tam tôn thầm gia bị.
Lược giải:
Từ lúc sơ khởi đến đây, Triệt Ngộ
đại sư đă viết ra một trăm bài kệ
để tuyên dương Tịnh độ. Song
Đại sư vẫn tự thấy c̣n chưa nói ra
hết điểm huyền diệu của pháp môn này. V́
như chư Cổ đức đă nói: "Lư tịnh
độ là bí mật tạng. Sự Tịnh độ là
đại nhân duyên" th́ người học Phật
dễ ǵ thấu đáo?
Tuy nhiên, Đại sư cũng nguyện cầu Tam
Bảo gia bị cho lời ḿnh trên hợp ư Phật,
dưới lợi quần sanh, khiến người
đọc được thấu hiểu phần nào
để tiến tu trên đường giải thoát. Và
ngài cũng cảm ân Tam Bảo thầm gia bị khiến
cho tâm đại linh thông, nên trong thoáng chốt đă viết
xong một trăm bài kệ này.
Triệt
Ngộ Đại Sư
Thích Thiền Tâm dịch và giảng