AI ĐỦ TRÍ TUỆ ĐỂ BỎ BÁT KỈNH
PHÁP
Tác giả: Tỳ kheo Thích Nhựt Chấn
Kính bạch chư tôn thiền
đức Tăng,
Kính thưa chư vị Tăng Ni sinh thân mến!
Kính gởi TS. Nhật Từ!
Dưới đây con có
đôi lời bày tỏ quan điểm của ḿnh khi nghe
bài giảng của TS.
Nhật Từ về đề tài Giáo đoàn Tỳ
kheo ni và Bát kỉnh pháp, ngày
11/11/2005 tại Học viện Phật giáo Việt Nam
được phổ biến trên website: http://www.tusachphathoc.com. Cúi mong chư tôn thiền
đức lắng nghe và xét cho.
Như con được
biết, do sức ảnh hưởng bởi cao trào kêu
gọi b́nh đẳng toàn cầu, mà điểm xuất
phát từ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
phương Tây, nên sự phân công lao động xă hội
cần phải được sắp xếp lại và
một số tu sĩ Phật giáo không hiểu thế nào là
đích thật của sự b́nh đẳng nam nữ nên cũng
đ̣i xóa bỏ Bát kỉnh pháp[1]. V́ họ nghĩ rằng, Bát kỉnh pháp
là điều khoản bất công với Ni giới,
nếu chấp nhận sự có mặt của Bát kỉnh
pháp trong hệ thống kinh luật, tức là chấp nhận
đức Phật không có từ bi, thiếu tuệ giác và
chúng ta tự đào thải ḿnh. Rồi qua một số lư
luận không có cơ sở khoa học vững chắc,
họ suy đoán rằng các điều khoản trong Bát
kỉnh pháp được h́nh thành là do sự mâu thuẫn
giữa Tăng Ni trong một giai đoạn lịch sử
nào đó, nên các bậc tiền nhân đă áp đặt ra
để đè đầu cỡi cổ mấy cô Ni,
chứ điều đó không phải do Phật nói. Cho nên, để thích hợp với xă hội toàn
cầu hóa ngày nay, chúng ta phải mạnh dạng xóa bỏ
điều này.
Ở đây, con thiết
nghĩ, chúng ta đừng đem giá trị thời
đại để kêu gọi xóa bỏ những giá
trị đă từng tồn tại mấy ngàn năm lịch
sử. Làm như thế chúng ta vô t́nh ném vào
lịch đại tôn sư trong quá khứ, những
người đă từng chấp nhận và giữ ǵn nó
một mớ ngôn từ bất kính, phạm thượng.
C̣n nếu ai đủ sức thay th́ cứ thay, không làm
được th́ để đó; chứ chúng ta không
thể dựa vào thời đại mà nói Bát kỉnh pháp là
sai lầm, không phải do Phật nói. Bởi
v́ Bát kỉnh pháp chính là các điều khoản cơ
bản để giữ ǵn trật tự của Tăng,
nếu mất nó th́ trật tự Tăng sẽ rối
loạn.
Kính thưa chư
vị,
Như chúng ta biết, phong
trào kêu gọi nam nữ b́nh quyền chỉ mới xuất
hiện khoảng 100 năm nay.
Điều này có thể c̣n kéo dài ra bao nhiêu
thời gian nữa, chúng ta chưa biết. Nhưng
một điều chúng ta có thể biết chắc
rằng sự phân công lao động
trong xă hội tương lai sẽ c̣n biến chuyển.
Nếu vài trăm năm sau, xă hội loài người không
có h́nh thức lao động tập trung vào các công ty, xí
nghiệp phổ biến như ngày nay; mà mỗi gia đ́nh
có thể sản xuất một linh kiện nào đó trong
hệ thống dây chuyền công nghiệp siêu hiện đại,
th́ sự phân công lao động chắc chắn sẽ khác
đi. Chừng đó người phụ
nữ trong xă hội sẽ có vai tṛ hoàn toàn khác so với
ngày nay. Biết đâu, nam giới
đến ngày đó phải đứng lên kêu gọi b́nh
quyền cũng có. Sự biến thái của vấn
đề nam nữ b́nh quyền này đă xuất hiện
nhiều tệ nạn như người nữ tuổi
trẻ v́ để chứng tỏ ḿnh là đàn ông nên hút
thuốc lá nhiều và tệ hại hơn nữa là khi ra
đường họ để trần như nam
giới…
Như vậy bản chất của vấn đề nam
nữ b́nh quyền chính là nhu cầu của sự phân công lao động xă hội, chứ không thể
đem cào bằng theo luận điệu “nam cũng như
nữ” được.
Trở lại vấn
đề sự thành lập Bát kỉnh pháp trong Phật
giáo, chúng ta có thể đặt vấn đề rằng
ai là người có đủ tuệ giác để soạn
ra Bát kỉnh pháp? Điều này với chúng ta ngày nay th́ hoàn toàn
chưa có một cứ liệu khoa học nào cả.
Tuy nhiên, không hẳn việc ǵ cũng đem ánh sáng khoa
học ra để soi đường cho giá trị chân lư.
V́ sao, v́ giá trị khoa học đôi lúc chỉ là giá trị
thời đại và bản thân nó có khi lại phủ
định kết quả khảo sát của chính ḿnh.
Có người nói Bát
kỉnh pháp được Tôn giả Ca Diếp lập ra
trong cuộc kiết tập kinh điển đầu tiên
tại thành Vương Xá.
V́ ngài thường bị mấy cô ni
chửi, nên trong đợt yết ma lần này, Ngài soạn
ra Bát kỉnh pháp để Tăng chúng về sau không c̣n
bị trường hợp như ngài nữa. V́ sao có chuyện này? V́ Tỳ kheo ni Thâu-la-nan-đà rất thần tượng
và bênh vực Tôn giả A-nan nên thường chửi ngài Ca
Diếp.
Chuyện là thế này, Tôn
giả A-nan đối với ngài Ca Diếp th́ chỉ là
hàng hạ tọa, nên lúc nào ngài cũng tôn kính ngài Ca Diếp
như bậc thầy và xưng con. Một hôm đi giáo
thọ cho Ni chúng, ngài A-nan theo làm thị
giả cho ngài Ca Diếp, th́ Tỳ kheo ni Thâu-la-nan-đà nói
rằng: Ông Bà-la-môn Ca Diếp dám giảng trước mặt
đại trí A-nan. Chỉ là người bán kim
mà đi rao bán cho người làm kim, thế chẳng khác nào
như hành động của kẻ múa ŕu qua mắt
thợ. Ngài Ca Diếp nói: A-nan, tôi với ông ai là
người làm kim, ai là người bán
kim? Tôn giả A-nan thưa: Dạ con là người bán kim. Đúng như thế, v́ Tôn giả A-nan
chỉ mới chứng sơ quả th́ rơ ràng đạo lư
thánh quả phải do bậc A-la-hán Ca Diếp nói ra.
Thế nên nói Bát kỉnh pháp do Tôn giả Ca Diếp soạn
trong đợt kiết tập lần thứ nhất và có
mấy điều khoản được thành lập th́
chưa có cơ sở để kết luận. Do đó
con nghĩ, đây cũng chỉ là một quan điểm
mang tính suy luận qua vài t́nh tiết ghi lại trong kinh
điển mà thôi.
Một khía cạnh khác
nữa, chúng ta cần phải xét là vấn đề
truyền bản bằng h́nh thức truyền khẩu
(tạng thổ ngữ).
Như chúng ta biết, ngay cả việc sao
chép chữ viết c̣n nhầm th́ huống chi là vấn
đề này. Cho nên các t́nh tiết trong
một đoạn có sự đảo lộn qua thời
gian lưu truyền là chuyện thường thôi. Rồi từ bản Sankrit được
dịch qua mấy bản Hán ngữ cũng vậy. Tại sao chúng ta phải xét về t́nh tiết
diễn tiến của một vấn đề? Bởi lẽ điều này có một ư nghĩa
hết sức lớn, v́ chỉ cần đảo lộn
t́nh tiết, chúng ta sẽ hiểu sai ư nghĩa thâm sâu
của nó.
Chuyện là thế này, khi
biết vua Tịnh Phạn sắp qua đời, các Tỳ
kheo thuộc ḍng họ Thích Ca về để tang. Sau khi vua qua đời th́ bà Cù-đàm-di
Đại Ái[2] không c̣n nghĩa vụ
với vua nữa, nên xin Phật xuất gia. Ở đây,
chúng ta nên lưu ư rằng chuyện đối đáp
phải theo thứ tự, nếu
đảo ngược th́ ư nghĩa sẽ khác
liền.
Giả sử, nếu chúng
ta theo thứ tự của truyền bản thứ
nhất: Bà Cù-đàm-di Đại Ái xin xuất gia,
đức Phật không cho, sau đó bà cạo tóc[3]. Rồi từ Ca-tỳ-la-vệ,
đức Phật về thành Xá-vệ (khoảng 80 km), bà
và các cung nữ mệnh phụ chạy theo
đến xin nữa. Đức Phật
cũng không chấp nhận, rồi bà ra trước
cổng khóc. Tôn giả A-nan thấy
vậy đi xin, đức Phật cũng không chấp
nhận, v́ nữ đi tu th́ Chánh pháp giảm 500 năm.
Tôn giả A-nan hỏi nam nữ có khả
năng chứng thánh quả như nhau không? Phật nói b́nh đẳng. Sau
đó Phật cho nữ giới xuất gia và nói Bát kỉnh
pháp. Như vậy, nếu chúng ta xét truyền bản
này th́ nguyên do giảm 500 chánh pháp là do người nữ
xuất gia và để cứu văn t́nh thế nên đức
Phật phải ban hành Bát kỉnh pháp. Theo con nghĩ th́ t́nh
tiết của truyền bản này bị nhầm.
Truyền bản thứ hai[4] chép rằng, sau 3 lần thưa
thỉnh đức Phật cho phép xuất gia của
Cù-đàm-di Đại Ái (Mahāpajāpatī Gotamī) và 3
lần của Tôn giả A-nan, đến đoạn nói
về khả năng chứng thánh quả của nữ
nhân th́ đức Phật cho phép người nữ
xuất gia, nhưng phải trọn đời giữ ǵn
Bát kỉnh pháp. Khi trong Pháp và Luật có
người nữ th́ phạm hạnh không được
dài lâu. Truyền bản này không thấy
nói đến sự hiếu đạo và vấn
đề giảm 500 chánh pháp.
Theo thứ tự của
truyền bản thứ ba[5], chúng ta
sẽ phân tích kỹ truyền bản này. Sau khi Cù-đàm-di
Đại Ái xin xuất gia ba lần, đức Phật
không chấp nhận, th́ Tôn giả A-nan đến thưa
Phật:
“Tôn giả A-nan đi
đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ sát chân Phật, chắp tay hướng Phật mà
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, nữ
nhân có thể đắc quả thứ tư
được chăng[6]? Do nhân duyên này
nữ nhân có thể ở trong Pháp Luật chân chánh chí tín,
ĺa bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học
đạo được chăng?”
Đức Thế Tôn nói:
“Thôi! Thôi! A-nan, người chớ
nên nghĩ rằng ‘Nữ nhân có thể ở trong Pháp
Luật chân chánh này chí tín, ĺa bỏ gia đ́nh, sống không
gia đ́nh mà học đạo’. A-nan, nếu cho
nữ nhân được ở trong Pháp Luật chân chánh này
chí tín ĺa bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học
đạo th́ phạm hạnh này sẽ không tồn tại
lâu dài[7]. A-nan, ví như gia đ́nh có nhiều người
nữ, ít người nam th́ gia đ́nh này có được
hưng thịnh lâu không?
“Bạch Thế Tôn, không
thể vậy”.
“Cũng vậy, này A-nan,
nếu có nữ nhân được ở trong Pháp Luật
chân chánh này chí tín, ĺa bỏ gia đ́nh, sống không gia
đ́nh mà học đạo th́ phạm hạnh sẽ không
được tồn tại lâu dài.
“A-nan, ví như trong
ruộng lúa dé, ruộng lúa tẻ có sanh cỏ uế [8] th́
ruộng lúa kia chắc chắn bị hư hại. Cũng vậy, này A-nan, nếu cho nữ nhân
được ở trong Pháp Luật chân chánh này chí tín ĺa
bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học
đạo th́ phạm hạnh này sẽ không
được tồn tại lâu dài”.
Tôn giả A-nan lại
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn,
Cù-đàm-di Đại Ái đă đem lại cho Thế Tôn
nhiều lợi ích. V́ sao? V́
sau khi thân mẫu Thế Tôn mất, Cù-đàm-di Đại
Ái đă bảo dưỡng Đức Thế Tôn”.
Đức Thế Tôn nói:
“Đúng vậy, A-nan! Đúng vậy, A-nan! Cù-đàm-di
Đại Ái đă đem lại cho Ta nhiều lợi ích,
đă bảo dưỡng Ta sau khi thân mẫu Ta mất.
Nhưng này A-nan, Ta cũng đem lại cho
Cù-đàm-di Đại Ái nhiều lợi ích. V́ sao? Này A-nan, Cù-đàm-di Đại Ái
nhờ Ta mà được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Chúng
Tỳ-kheo, không nghi ngờ ba ngôi tôn quư và Khổ - Tập -
Diệt - Đạo, thành tựu tín tâm, phụng tŕ
giới cấm, tu học bác văn, thành tựu hạnh
bố thí, được trí tuệ, xa ĺa nghiệp sát,
đoạn trừ nghiệp sát; xa ĺa nghiệp không cho mà
lấy, đoạn trừ nghiệp không cho mà lấy; xa ĺa
nghiệp tà dâm, đoạn trừ nghiệp tà dâm; xa ĺa
nghiệp nói dối, đoạn trừ nghiệp nói
dối; xa ĺa nghiệp uống rượu, đoạn
trừ nghiệp uống rượu.
“A-nan, nếu có
người nhờ người mà được quy y
Phật, quy y Pháp, quy y Chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ ba ngôi
tôn quư và Khổ -Tập - Diệt - Đạo, thành tựu
tín tâm, phụng tŕ giới cấm, tu học bác văn, thành
tựu bố thí, được trí tuệ, xa ĺa nghiệp
sát, đoạn trừ nghiệp sát; xa ĺa nghiệp không cho
mà lấy, đoạn trừ nghiêïp không cho mà lấy; xa ĺa
nghiệp tà dâm, đoạn trừ nghiệp tà dâm; xa ĺa
nghiệp nói dối, đoạn trừ nghiệp nói
dối; xa ĺa nghiệp uống rượu, đoạn
trừ nghiệp uống rượu. Rồi, này A-nan,
giả như người này cúng dường người
kia y phục, ăn uống, tọa cụ, thuốc thang,
các vật dụng cho cuộc sống, cho đến
trọn đời, chẳng lẽ nào lại không
được đền ơn”[9].
Ở đây, con không
biết TS. Nhật Từ có
đọc và hiểu ư đoạn kinh trên nói về
chuyện đền ơn đáp nghĩa hay không, mà
thầy lại nói: “Ngài A-nan lư luận rằng Di mẫu
đă thương Như Lai Thế Tôn như là con ruột,
nuôi nấng chăm sóc vỗ về và nhờ công ơn
trời biển đó mà Như Lai có được ngày hôm
nay, lẽ nào Như Lai dạy chúng con về đạo lư
hiếu thảo, Như Lai lại không cho phép d́ của ḿnh
trở thành người cao thượng. Đánh
vào tâm điểm của ḷng thương tưởng
hiếu kính, làm cho Như Lai Thế Tôn cũng lính quưnh, không
biết phải giải quyết thế nào (Phút thứ 8).”
Trở lại vấn
đề truyền bản này, chúng ta thấy Phật
dạy:
“Này A-nan, Ta v́ nữ nhân mà
tuyên bố tám pháp tôn sư[10], nữ nhân
không được trái phạm, nữ nhân phải
phụng tŕ suốt đời.
“A-nan, ví như người
thợ đánh cá và đệ tử của người
thợ đánh cá đắp đập ở khoảng
nước sâu để giữ nước, không cho
chảy ra ngoài; cũng vậy, này A-nan, nay Ta v́ nữ nhân mà
tuyên bố tám pháp tôn sư, nữ nhân không được
trái phạm, nữ nhân phải phụng tŕ suốt
đời.”
Ư của đoạn kinh này
th́ rơ ràng đức Phật v́ giữ ǵn trật tự Tăng
như giữ ǵn ḍng nước mà tuyên bố Bát
kỉnh pháp, chứ hoàn toàn không có ngầm ư nào ám chỉ
một bên là cao vĩ và một bên là b́nh thường
như lời TS. Nhật Từ nói: “Mặc dầu ngài nói
bằng một ngôn ngữ rất là văn chương,
thế nhưng mà chúng ta phải hiểu ngầm ở
trong, đó là nếu như không có Bát kỉnh pháp này th́
mối quan hệ quá thân mật giữa Tăng và Ni theo
hướng hai chiều có thể tạo ra sự rắt
rối về phát sinh t́nh cảm, dẫn đến
chấp trước mang tính cách hệ lụy, làm mất
đi bản chất giải thoát của người
xuất gia. Cho nên có Bát kỉnh pháp để
vai tṛ của hai bên được tách biệt.
Một bên được xem như là cao vĩ,
c̣n một bên được xem là b́nh thường.” (phút thứ 13).
Xét bản kinh này, chúng ta
thấy diễn tiến của sự kiện đến
đây th́ đức Phật chấp nhận cho
người nữ xuất gia trong giáo pháp của Ngài, hoàn
toàn không đề cập đến vấn đề
giảm thiểu 500 chánh pháp.
Tuy nhiên, để giữ ǵn trật tự
Tăng trong ư nghĩa xă hội th́ Bát kỉnh pháp chính là
điều kiện bảo vệ chánh pháp, cho nên
đức Phật phải ban hành.
C̣n việc tại sao
đức Phật không chấp nhận cho nữ giới
xuất gia khi bà Cu-đàm-di Đại Ái thưa xin lần
đầu tiên, mà phải đợi đến qua 6
lần xin ngài mới chấp nhận? Điều này dễ hiểu
thôi. Tùy vào bệnh mà đấng
Điều Ngự cho thuốc và chỉ cần nh́n vào
gương phát tâm cầu đạo của lịch
đại tổ sư, chúng ta cũng có thể hiểu
được.
Tuy nhiên, sự kiện này
với cặp mắt nh́n nhận của TS. Nhật Từ th́ lại khác,
nó khác đến mức giống như cái nh́n của
ngoại đạo đối với Phật giáo.
Thầy nói: “Khi đức Phật cho phép Ni giới vào trong
th́ ngài cho một cách bất đắc dĩ qua 6 lần
thỉnh cầu; 3 lần của di mẫu, 3 lần
của ngài Anan (26phút: 15giây).
Một người có ḷng
từ bi thật sự là không cần phải năn nỉ, cơ chế của năn
nỉ là cơ chế của ô dù trù dập. Ai
có o bế ḿnh, khen tặng ḿnh th́ ḿnh nâng đỡ, c̣n
bằng không th́ ḿnh đ́ đọt chết luôn. Cơ chế đó là cơ chế của các
thần linh tôn giáo ngoại đạo, chứ không phải
là cơ chế của ḷng từ bi đạo Phật.”
Do đó, thầy mới kết luận Bát kỉnh pháp không
phải do đức Phật nói. Nếu nói như thầy
th́ việc tổ Huệ Khả - Thần Quang đứng
suốt đêm trong tuyết và chặt cánh tay
bày tỏ ḷng cầu đạo đă biến tổ
Bồ-đề-đạt-ma thành kẻ sát nhân rồi. Có lẽ trong đời này, thầy chưa bao
giờ phát tâm tha thiết cầu đạo nên làm sao
thầy hiểu được ư nghĩa thâm sâu mầu
nhiệm trong chuyện này.
Kính thưa quư vị,
đức Phật tuyên bố: “Tám pháp đó là những
ǵ?”
Điều 1: “A-nan, Tỳ-kheo-ni phải cầu thọ
giới Cụ túc nơi Tỳ-kheo. A-nan, Ta
đă v́ nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn sư thứ
nhất. Nữ nhân không được trái phạm,
nữ nhân phải phụng tŕ suốt đời.”
Phân tích điều
khoản này, trước tiên chúng ta nên hiểu rằng:
Đủ nghĩa của Tăng phải gồm có hai
bộ là Tỳ kheo tăng và Tỳ kheo ni
tăng. Bản kinh Pali có dùng từ Ḥa
thương Tăng, Ḥa thượng Ni. Khi
truyền giới th́ dùng từ Ḥa thượng
đường đầu Tăng, Ḥa thượng
đường đầu Ni. Cho nên trong yết ma
của Tỳ kheo tăng th́ nói “đại đức
tăng xin lắng nghe”, c̣n với Tỳ kheo ni tăng th́
nói “chư đại tỷ tăng xin lắng nghe”. Ở thế gian cũng vậy, khi gia đ́nh có
một người con trai, nay có thêm người con gái
nữa, gia đ́nh ấy nghiễm nhiên có 2 thành viên anh và em.
Điều thứ 2, Phật dạy: “A-nan, Tỳ-kheo-ni cứ
mỗi nửa tháng phải đến thọ giáo nơi
Tỳ-kheo. A-nan, Ta đă v́ nữ nhân mà tuyên
bố pháp tôn sư thứ hai. Nữ nhân không
được trái phạm, nữ nhân phải phụng tŕ
suốt đời.”
Khi bố tát, trong luật
quy định có câu: “Có ai sai Tỳ kheo ni sang thỉnh giáo
giới không?” Tức là mỗi nửa tháng
Tăng phải có sự họp mặt, trao đổi
những thông tin cần thiết. Nhưng
thử hỏi, cứ đến nửa tháng th́ sư ông
sư bà qua lại lộn xộn thế hay sao? C̣n nếu chúng ta nói trong xă hội hiện
đại phần ai nấy sống, không cần có sự
liên lạc với nhau, liệu Tăng đoàn có c̣n là
một thể thống nhất nữa hay không? Cho nên điều này chỉ mang tính chất
bảo vệ sự liên lạc có tính cố kết một
cách trật tự trong Tăng, chứ không thể nói là
bất b́nh đẳng được. Ví như
một gia đ́nh có hai anh em, hôm nay cha chết, ai thờ lư hương bát nước? Hay là
phần ai nấy thờ? Đó là chưa nói đến
những xung đột trong chúng, cần phải có Tăng
yết ma can gián. Hơn nữa thời
Phật tại thế, việc đi học tập và
truyền đạo rất khó khăn bởi chuyện
cướp đáp, nên Ni chúng không thể đi cầu học
một cách tự do được. Cho nên từ
đời sống vật chất cho đến tinh
thần của Tỳ kheo ni, Tỳ kheo
phải có trách nhiệm về mặt giáo giới cho
đến bảo vệ sự an toàn sinh hoạt tu
tập. Nếu không tuyên bố điều
luật này th́ quả thật đức Thế Tôn chính là
người thiếu ḷng từ bi và tuệ giác, đem con
bỏ chợ.
Trong điều khoản
này, TS. Nhật Từ cũng
đă chấp nhận: “... Cho nên họ
tới để học trong những dịp Bố tát là
một trong những điều không thể nào không có.
Nhưng mà trên thực tế, chúng ta thấy rằng không
phải bất kỳ chư Tăng nào
cũng được thỉnh giáo giới. Chỉ có
một số tăng già giỏi về giới luật. Thông thường là tôn giả Ưu Ba Ly
được tới thỉnh giáo giới, c̣n những
vị khác th́ không thấy.” Ở đây,
thầy đă chấp nhận việc Tăng giáo giới
cho Ni trong thời Phật là một sự thật. Và tất nhiên, một vị Tỳ kheo giáo
giới phải đủ phẩm hạnh [11]. Nhưng không biết từ cơ sở nào, TS.
Nhật Từ cho rằng điều này là một
sự bịa đặt của người đời
sau, Bát kỉnh pháp không phải lời Phật dạy.
Tiếp theo
thầy c̣n nói: “Trong khi đó giáo đoàn của Tỳ
kheo ni sau những lịch sử biến thiên, không c̣n
giống như cấu trúc của xă hội Ấn
Độ nữa. Tức là Ni được học ngay
từ lúc mới vào chùa, chẳng những học Phật
pháp mà c̣n học luôn cả thế học, có thể nghiên
cứu viết sách dịch kinh. Như vậy
là họ đâu cần có cái nhu cầu để thỉnh
giáo giới. Lấy một cái điều khoản
được ra đời từ nhiều thế kỷ
về trước để áp dụng cho cơ chế xă
hội hiện tại, đôi lúc nó không cần, mà trên
thực tế nếu có làm th́ cũng làm cho ngoại lệ
qua loa. Nó đâu có ư nghĩa ǵ đâu. Chủ nghĩa h́nh thức là điều nên
cấm kỵ.”
Theo luận điệu này,
TS. Nhật Từ muốn xóa
bỏ Bát kỉnh pháp v́ nó là “Chủ nghĩa h́nh thức
là điều nên cấm kỵ”. Nhưng
không biết thầy sẽ thay h́nh thức liên lạc trong
hai bộ phái của Tăng bằng cách nào để không
xảy ra điều hệ lụy?
Điều thứ 3, Phật dạy: “A-nan, nếu nơi
trụ xứ không có Tỳ-kheo th́ Tỳ-kheo-ni không
được thọ hạ an cư. A-nan, Ta đă v́ nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn
sư thứ ba. Nữ nhân không được trái
phạm, nữ nhân phải phụng tŕ suốt đời.”
Xét về tính an toàn trong
đời sống thời đại xưa, đoàn thể
Ni chúng là những người từ bỏ gia đ́nh,
sống không gia đ́nh trong một xă hội mạnh
được yếu thua, nhiều trộm cướp;
nếu không có sự bảo hộ của Tăng th́
điều ǵ sẽ xảy ra? Lỡ có
chuyện xung đột xảy ra trong Ni chúng, ai là
người giải quyết tranh chấp? Nh́n vào án lệ luật tạng, chúng ta thấy trong
Tỳ kheo c̣n có trường hợp phải đi mời
Tăng đủ trí ở nhiều trú xứ về
giải quyết tranh chấp. Nếu là Tỳ kheo ni th́ làm sao đi như thế
được?
Xét về giới luật,
để người thế gian bảo hộ Tỳ kheo ni, làm sao chúng ta có thể tin họ
được. Họ có thể quyến rũ
quư cô, luật thế gian đâu có xử được
trong chuyện này. C̣n Tăng bảo hộ,
nếu ai phạm th́ có luật Tăng đủ để
xử trị. Nếu đức
Phật không đặt ra điều này th́ ai bảo
vệ Ni chúng? Như thế, đức
Phật có c̣n là đấng từ bi và tuệ giác nữa
hay không, và không lư Ni chúng muốn ở đâu th́ ở hay
sao? Nếu xét cho cùng về bản
chất của giới, ngày nay điều này hoàn toàn
đầy đủ giá trị; chỉ có điều chúng
ta không chịu thực hiện nên không thấy lợi ích
thiết thực mà thôi, chứ không thể nói là không thích
hợp nữa.
Một lư lẽ thật
dễ hiểu như thế, nhưng không biết sao TS. Nhật Từ lại lư luận rằng: “Liệu
là cái nhu cầu bảo vệ đó có cần thiết trong
thời đại ngày hôm nay hay không? Khi mà chư Ni đă có
những cái chùa riêng và chùa của họ lớn hơn chùa của
Tăng và họ cũng đâu hề có lời thỉnh
cầu bảo hộ nào đâu, mà ḿnh cũng chưa hề
bảo hộ họ lần nào, ngày nào cả. Họ
muốn bảo hộ, họ điện thoại lên công
an, công an xuống lo hết trơn (54phút,55 giây). Hoặc là an ninh văn pḥng,
họ xuống sẽ làm hết hà. Vệ sĩ, bây giờ
có công ty vệ sĩ nhiều lắm.”
Trong xă hội ngày nay,
đặc biệt là ở Việt Nam, sự thật
về điều này có đúng như lời thầy nói hay
không? Ai đến
bao vây chùa Giác Hoa trong ngày giỗ tổ Nguyên Thiều? Ai kéo áo xô xát không cho HT. Thích Quảng Độ -
Viện trưởng Viện hóa đạo Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đến dự
lệ húy kỵ? Ai đang tâm trù dập, chia rẽ,
bôi nhọa bằng đủ mọi luận điệu
đối với một Giáo hội dân lập khiến cho
Tăng Ni ly tán, nghi kỵ, tranh đấu nhau, chia rẽ ư
thức hệ một cách sâu sắc? Ai đă làm
điều này suốt 30 năm để chính phủ Hoa
Kỳ phải bênh vực bằng cách đưa Việt Nam
vào danh sách các quốc gia vi phạm nhân quyền trầm trọng
trên thế giới?
Người Việt Nam trên
thế giới xấu thay cho đất nước ḿnh,
đau khổ thay cho một dân tộc nghèo nàn lạc
hậu, đạo đức suy thoái, điều này ai
cũng biết; tại sao đứng trước
giảng đường Học viện Phật giáo,
một người mang danh Tiến sĩ mà thầy dám nói
sai sự thật rằng: “Họ muốn bảo hộ,
họ điện thoại lên công an, công an xuống lo
hết trơn (54phút,55 giây). Hoặc là an ninh văn pḥng, họ xuống sẽ làm
hết hà”. Ngày nay, mọi người dân
Việt Nam đều nhận ra sự quan liêu tham nhũng
đến thối nát trong bộ máy nhà nước.
Không lư nào người có học vi
Tiến sĩ như thầy mà không nhận ra một
sự thật như thế? Vậy ai đă
bảo thầy ca ngợi điều này? Thầy muốn giao trứng cho ác hay sao? V́ sao thầy nói một điều lố bịch
như thế mà không thấy ngượng miệng?
Nếu quả thật đó là sự hiểu biết
của thầy th́ con không c̣n ǵ để chia sẻ
nữa.
Thầy c̣n cổ xúy
rằng: “bây giờ có công ty về sĩ nhiều lắm.”
Tức là thầy muốn biến những ngôi ǵa lam trang
nghiêm thanh tịnh thành các công ty, các siêu thị buôn bán hàng hóa
hay sao mà thầy nói thuê vệ sĩ để bảo hộ
chùa, bảo hộ quư cô?
Thầy có biết thế
hệ Tăng Ni trẻ đang ngồi dưới
giảng đường chính là nầm non tương lai
thừa tự ngôi nhà Phật giáo hay không, kế sao thầy
lại gieo vào đầu họ một chủng tử
thế pháp phá hoại trật tự Tăng như thế?
Xét về giới luật, nếu thầy
không dám nói ra một sự thật đau ḷng mà Phật giáo
Việt Nam đang gánh chịu th́ thầy nên im lặng.
C̣n cố ư nói sai th́ thầy đă mắc
tội vọng ngữ, không c̣n xứng đáng làm công tác
giáo dục đạo đức nữa.
Ngày nay, sự thật có
chuyện công an bảo hộ Tỳ kheo
ni trong tinh thần giới luật hay không, mọi
người chúng ta học luật đều biết! Và
không biết khi công an xâm phạm Tỳ kheo ni,
th́ TS. Nhật Từ sẽ lấy luật nào
để xử họ???
Điều thứ 4, đức Phật dạy: “A-nan,
Tỳ-kheo-ni sau khi thọ hạ an cư
phải đối trước hai bộ chúng thỉnh
cầu chỉ rơ về ba sự kiện, thấy, nghe và
nghi. A-nan, Ta đă v́ nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn sư
thứ tư. Nữ nhân không
được trái phạm, nữ nhân phải phụng tŕ
suốt đời.”
Trong nghi thức này, chúng ta
thấy ngày Tự tứ của Ni (tức ngày 15/7),
đại diện Ni đến trong đại Tăng kính
lễ cúi đầu, chấp tay, khép ḿnh
bạch: “Tăng tỳ-kheo-ni hạ an cư xong. Tăng
tỳ-kheo hạ an cư xong. Tăng
tỳ-kheo-ni muốn nói ba việc tự tứ: thấy,
nghe và nghi. Xin Đại đức dũ ḷng
thương chỉ bảo con. Nếu con thấy có
tội sẽ như pháp sám hối”[12].
Chúng ta thấy điều này rất khách quan, chỉ
cần đại diện Tỳ kheo ni Tăng đến
nói ba việc tự tứ, chứ đâu phải tất
cả Ni chúng đứng trước cá nhân vị Tỳ
kheo nào nói ba việc này, và nếu Ni nhận thấy có
lỗi th́ như pháp sám hối mà thôi.
Như đă nói ở trên,
thời Phật tại thế Tỳ kheo tăng là thành
phần nhiếp chánh, bảo hộ, dạy dỗ,... cho Ni
chúng; nên một lẽ hiển nhiên rằng trong quá tŕnh
đó, do vô t́nh nh́n thấy, nghe người khác nói hay nghi
ngờ Tỳ kheo ni làm hạnh phi pháp; phải đến
ngày Tự tứ, đại Tăng suy nghĩ đúng pháp
trong thời gian ba tháng an cư vừa qua, nhân việc Ni
chúng cầu chỉ rơ về ba sự thấy, nghe, nghi th́
mới nói được chứ. Nếu làm
ngược lại, Tăng đi cầu ba sự
trước Ni trong một điều kiện xă hội
như thế liệu có hiệu quả không? Hơn nữa, việc cầu chỉ rơ ba sự
kiến văn nghi trong ngày Tự tứ, Tỳ kheo tăng
(vào ngày 14/7) cũng phải làm cơ mà. Do đó, chúng
ta không thể phủ nhận rằng: Bát kỉnh pháp không
phải do Phật nói.
Ngoài ra, như chúng ta
biết, người nữ đa phần có tâm lư nói
nhiều, và ít kín miệng, nếu nhận làm việc này th́
có thể tạo điều kiện cho họ dễ phạm
vào giới “kể lỗi người này cho người
khác nghe”, và pháp yết ma trong điều kiện xă hội
như thế liệu có bảo đảm không? Nhưng ở đây, TS. Nhật Từ cho
rằng: “Nếu như tự nói lỗi để hoàn
thiện nhân cách của ḿnh, th́ tại sao chỉ có Ni
mới tự nói lỗi, c̣n Tăng không tự nói lỗi. C̣n nếu như là nói lỗi trước hai
bộ Tăng và Ni để cho có nhiều người có ư
kiến nhiều hơn th́ ḿnh sẽ được hoàn
thiện nhiều hơn, th́ tại sao chư Tăng không
làm việc đó tương tự?”
Trong khía cạnh khác, TS. Nhật Từ nói: “Có nhiều
người nói rằng Ni nghiệp cảm nặng. Câu nói
đó là câu nói cửa miệng của rất nhiều
người, tôi mà thấy chư Ni
xuống làm bếp th́ nói: ồ ni nghiệp nặng nên
mới xuống làm bếp. Ḿnh đ́
người ta xuống làm bếp rồi nói người ta
nghiệp nặng.”
Rơ ràng trong vấn đề này TS. Nhật
Từ chưa hiểu ǵ cả. Những
vấn nạn thầy nói thay cho người khác chỉ là
một điều kiện thiếu y cứ. Chúng tôi
xin hỏi thầy: Luật nào dạy Tỳ kheo trong ngày
Tự tứ mà không cầu ba sự kiến văn nghi? Ai áp đặt quư cô là nghiệp năng rồi
đ́ xuống làm bếp?
Tiếp theo,
TS. Nhật Từ c̣n lư luận rằng: “...Vấn
đề mấu chốt nữa là vấn đề
mời gọi chư Tăng chỉ
điểm ba việc thấy, nghe và nghi; dựa vào tư
tưởng kinh điển nhà Phật nó không thích hợp?
Chúng ta thấy trong kinh tạng Pali, đức Phật dạy
trong sự tu tập, các hành giả phải kiểm thúc sáu
giác quan của ḿnh, khi tiếp xúc th́ nên hạn chế
tối đa nếu không có việc cần. Nếu
như phải tiếp xúc th́ đừng bao giờ
để cho các giác quan của ḿnh đặt trên nền
tảng ái nhiễm. Và nếu như phải tiếp
xúc mà cơ hội đó có thể diễn ra th́ Ngài đă
dạy cái mẹo vặt, đừng bao giờ quan sát
tướng chung và tướng riêng.
Tức là một người nam mà quan sát những
đặc điểm, những cá tính, sở trường
và sở đoản của người nữ th́ lâu ngày dày
tháng t́nh cảm cũng phát sanh. Bởi v́ việc quan sát
sẽ tạo ra hệ lụy. Và sự nghe ngóng cũng
vậy, nếu như nghe âm thanh của người kia nhiều quá th́ bỗng dưng ḿnh có
cảm giác đam mê. (...) Đức Phật
dạy mỗi người phải phản quan chính ḿnh
về các giác quan, thông qua thiết lập chánh niệm
tỉnh thức trong từng cử chỉ đi
đứng, nằm, ngồi. Tự quan sát ḿnh, tự
hoàn thiện ḿnh chứ Ngài không có kêu là phải đi quan
sát dùm. Chẳng lẽ, mấy ông thầy
tối ngày đi ŕnh mấy bà Ni làm ǵ, rồi đến
cái ngày Bố tát mới chỉ điểm thấy nghe và
nghi th́ vô lư. C̣n không thôi tối ngày cứ
đi nghe ngóng coi bà đó bả làm ǵ. Rất
là vô lư, chúng tôi thấy nó ra sao đó.”
Thật là một kiểu
lư luận “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” rồi mô tả một khuông mặt quái
thai khiến người nghe kinh khiếp. Không
biết trong đời sống thường nhật, có khi
nào thầy góp ư cho quư cô chưa? Nếu
có th́ chính thầy đă đi “ŕnh mấy bà Ni” đó
rồi. Ngay cả trong cuộc sống
thường nhật, người đời cũng
cầu mong người khác góp ư. Nói như TS. Nhật
Từ th́ tất cả những ai muốn làm cái việc
góp ư, đều phải “đi ŕnh”, đi “quan tướng
chung và tướng riêng hết hay
sao”?
Thật sự điều
khoản này, đại Tăng chỉ làm pháp lắng nghe
lời cầu thỉnh của đại diện Ni,
rồi suy nghĩ góp ư ba việc kiến văn nghi đă
biết có tính chất vô t́nh hay hữu duyên trong ba tháng an cư mà thôi.
Điều thứ 5, đức Phật dạy: “A-nan, nếu
Tỳ-kheo không cho phép Tỳ-kheo-ni thưa hỏi th́
Tỳ-kheo-ni không được thưa hỏi Tỳ-kheo
về Kinh-Luật hoặc A-tỳ-đàm. Nếu
cho phép hỏi th́ Tỳ-kheo-ni mới được
thưa hỏi về Kinh-Luật hoặc A-tỳ-đàm.
A-nan, Ta đă v́ nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn
sư thứ năm. Nữ nhân không được
trái phạm, nữ nhân phải phụng tŕ suốt
đời.”
Điều thứ 6, đức Phật dạy: “A-nan,
Tỳ-kheo-ni không được nói điều trái phạm
của Tỳ-kheo, nhưng Tỳ-kheo được
quyền nói điều trái phạm của Tỳ-kheo-ni. A-nan, Ta đă v́ nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn
sư thứ sáu. Nữ nhân không được trái
phạm, nữ nhân phải phụng tŕ suốt đời.”
Với điều
khoản 5 và 6 này, con chưa có bản kinh cụ thể nào
để hiểu hết ư nghĩa của nó nên không dám
lạm bàn. Nhưng
dưới đây, con sẽ lập lại vấn
đề này trong ư nghĩa giới luật.
Với điều khoản
thứ 6, TS. Nhật Từ nhận
lại nhận định rằng: “Nếu chúng ta phân tích
về nội dung chúng ta thấy mâu thuẫn, bởi v́
đức Phật dạy dù Tăng hay Ni, tại gia hay
xuất gia phải hành tŕ pháp ái ngữ, tức là nói
với tất cả ḷng tôn trọng hiểu biết và ḷng
có từ bi. (…) Chỉ cần đưa
học thuyết về ái ngữ thôi, chúng ta thấy
rằng là cái nhu cầu giao tế bằng những lời
lẽ rất đẹp ḷng nhau không thể tạo ra
những lời phê b́nh chỉ trích lẫn nhau
được. Do đó, nó phải được áp
dụng chung cả hai t́nh huống
Tăng và Ni, tức là bên nào cũng phải dùng ái ngữ,
chứ không phải chư Ni th́ phải ái ngữ, c̣n
chư Tăng th́ muốn nói sao th́ nói. Rơ ràng đức
Phật đâu bao giờ dạy như vậy.”
Luận cứ này dựa
vào phương diện chân lư của kinh, con hoàn toàn
chấp nhận.
Nhưng dùng nó để nói về Bát kỉnh pháp th́ lại
rơi vào phạm trù giới luật, nên con không
đồng ư với luận điểm này và cảm
thấy nó không ngoài cách “lấy râu ông nọ cắm cằm
bà kia” như đă phân tích ở trên.
Điều thứ 7, đức Phật dạy: “A-nan,
Tỳ-kheo-ni nếu phạm Tăng già bà thi sam [13] th́
phải đối trước hai bộ chúng hành bất
mạn trong ṿng mười lăm ngày. A-nan, Ta
đă v́ nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn sư thứ
bảy. Nữ nhân không được trái phạm,
nữ nhân phải phụng tŕ suốt đời.
Như đă nói ở trên, v́ tính thống nhất của
Tăng đoàn, nên việc xử trị của Tỳ kheo ni cũng phải có sự thống nhất
của Tăng.
Điều thứ 8, đức Phật dạy: “A-nan,
Tỳ-kheo-ni dù đă thọ giới Cụ túc lâu
đến một trăm năm, nhưng đối
với trước Tỳ-kheo mới thọ giới
Cụ túc vẫn phải khiêm cung cúi đầu làm lễ,
cung kính chắp tay thưa hỏi. A-nan, Ta
đă v́ nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn sư thứ tám.
Nữ nhân không được trái phạm,
nữ nhân phải phụng tŕ suốt đời.”
Nói đến đây,
đức Phật tuyên bố: “A-nan, Ta đă v́ nữ
nhân tuyên bố tám pháp tôn sư này, nữ nhân không
được trái phạm, nữ nhân phải phụng tŕ
suốt đời. A-nan, nếu Cù-đàm-di Đại Ái
phụng tŕ tám pháp tôn sư này th́ được ở trong
Pháp Luật chân chánh mà xuất gia học đạo, được
thọ giới Cụ túc, làm Tỳ-kheo-ni”.
Theo bản kinh này th́
đến đây, đức Phật đă chấp
nhận cho nữ giới xuất gia. Hoàn toàn ngài chưa hề nói
đến việc giảm 500 chánh pháp. Đoạn
kế tiếp:
“Khi ấy Tôn giả A-nan
nghe Đức Phật dạy, khéo léo nhận lănh và ghi
nhớ, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật,
nhiễu quanh ba ṿng rồi lui ra, đi đến chỗ
Cù-đàm-di Đại Ái, nói rằng:
“Cù-đàm-di, nữ nhân
đă được phép ở trong Pháp Luật chân chánh này
chí tín ĺa bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học
đạo. Cù-đàm-di,
đức Thế Tôn đă v́ nữ nhân mà tuyên bố tám
pháp tôn sư, nữ nhân không được trái phạm,
nữ nhân phải phụng tŕ suốt đời.
…
Khi ấy, Cù-đàm-di Đại Ái bạch:
“Thưa Tôn giả A-nan, cho
phép tôi nói ví dụ này, người trí tuệ nghe dụ này
phải hiểu rơ nghĩa lư.
Thưa Tôn giả A-nan, giả sử có thiếu nữ
Sát-lợi, Phạm chí, Cư sĩ hay Công sư đoan
chánh, đẹp đẽ, tắm gội sạch sẽ,
lấy hương xoa khắp thân, mặc y phục
mới, dung mạo trang sức bằng đủ thứ
anh lạc, nếu có người nghĩ tưởng
đến thiếu nữ ấy, mong muốn cho được
lợi ích và phước lành, được an ổn khoái
lạc, liền đem tràng hoa sen xanh, tràng hoa chiêm bặc,
tràng hoa Tu-ma-na, tràng hoa Bà-sư, hoặc tràng hoa
A-đề-mưu-đa trao tặng thiếu nữ ấy,
thiếu nữ ấy vui mừng, hai tay nhận lănh, đem
cài lên đầu ḿnh. Cũng vậy, thưa Tôn giả
A-nan, Đức Thế Tôn đă v́ nữ nhân mà tuyên bố
tám pháp tôn sư này, tôi nguyện suốt đời nhận
lănh phụng tŕ”.
Xét về điều
khoản thứ 8, khi mới nh́n vào chúng ta thường cho
rằng nó hết sức bất b́nh đẳng. Nhận định của TS.
Nhật Từ cũng không ngoại lệ.
Nhưng khi xét kỹ hơn, chúng ta thấy đức
Phật dạy:
“Bấy giờ Cù-đàm-di
Đại Ái ở trong Pháp Luật chân chánh xuất gia
học đạo, được thọ giới Cụ
túc mà làm Tỳ-kheo-ni.
Cù-đàm-di Đại Ái, về sau trở thành Đại
Tỳ-kheo-ni, cùng với các Trưởng lăo Thượng
tôn Tỳ-kheo-ni, là những vị danh tiếng trong hàng
vương giả, tu hành phạm hạnh đă lâu,
đồng đi đến chỗ Tôn giả A-nan cúi
đầu làm lễ rồi đứng một bên mà
bạch rằng:
“Thưa Tôn giả A-nan, nên
biết, các Tỳ-kheo-ni Trưởng lăo Thượng tôn
này là những vị danh tiếng trong hàng vương
giả, tu hành phạm hạnh đă lâu, c̣n các Tỳ-kheo kia
nhỏ tuổi, mới học đạo, xuất gia sau,
vào nơi Pháp Luật chân chánh này chưa được bao
lâu, mong rằng các thầy Tỳ-kheo ấy đối
với các Tỳ-kheo-ni nên tùy theo lớn nhỏ mà cúi
đầu làm lễ, cung kính chắp tay thưa hỏi.
Khi ấy Tôn giả A-nan
nói:
“Cù-đàm-di, hăy đứng dậy, để tôi đi
đến Đức Phật thưa hỏi việc này”.
Cù-đàm-di Đại Ái Đạo bạch rằng:
“Kính vâng, thưa Tôn giả A-nan!”
Rồi th́ Tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật,
cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật rồi
đứng một bên, chắp tay
hướng Phật mà bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm nay
Cù-đàm-di Đại Ái cùng các Tỳ-kheo-ni Trưởng
lăo Thượng tôn là những vị danh tiếng trong hàng
vương giả, tu hành phạm hạnh đă lâu,
đồng đi đến chỗ của con, cúi
đầu đảnh lễ sát chân con rồi đứng
qua một bên, chắp tay mà nói với con rằng: ‘Thưa
Tôn giả A-nan, các Tỳ-kheo-ni Trưởng lăo
Thượng tôn này là những vị danh tiếng trong hàng
vương giả, tu hành phạm hạnh đă lâu, c̣n các
thầy Tỳ-kheo nhỏ kia c̣n nhỏ tuổi, mới
học đạo, xuất gia sau, vào nơi Pháp Luật chân
chánh này chưa được bao lâu, mong rằng các
thầy Tỳ-kheo ấy đối với Tỳ-kheo-ni nên
tùy theo lớn nhỏ mà cúi đầu làm lễ, cung kính
chắp tay thưa hỏi’”.
Đức Thế Tôn nói:
“Thôi, thôi! A-nan, hăy ǵn giữ lời nói
này. Hăy thận trọng, chớ có nói
điều đó. A-nan, giả sử
người hiểu biết như Ta biết th́ một câu
cũng không nên nói, huống nữa là đă nói như
vậy.
“A-nan, ví như nữ nhân
không được ở trong Pháp Luật chân chánh, chí tín,
ĺa bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, học
đạo, th́ các Phạm chí, cư sĩ sẽ lấy áo
trải lên đất mà nói rằng: ‘Thưa Sa-môn tinh
tấn, ngài có thể đi lên trên này. Thưa Sa-môn tinh
tấn, ngài đă làm việc khó làm, khiến cho chúng tôi
được lợi ích, phước lành, an
ổn, khoái lạc lâu dài’.
“A-nan, ví như nữ nhân
không được Pháp Luật chân chánh, chí tín, ĺa bỏ
gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học đạo th́
các Phạm chí, Cư sĩ sẽ đem đầu tóc ḿnh
trải lên đất mà nói rằng: ‘Thưa Sa-môn tinh
tấn, ngài có thể đi lên trên này. Thưa Sa-môn tinh
tấn, ngài đă làm việc khó làm, khiến cho chúng tôi
được lợi ích, phước lành, được
an ổn, khoái lạc lâu dài’.
“A-nan, ví như nữ nhân
không được ở trong Pháp Luật chân chánh này chí tín
ĺa bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học
đạo, th́ các Phạm chí, cư sĩ nếu trông
thấy Sa-môn, hai tay sẽ bưng các thức ăn ra
đứng bên đường chờ đợi mà nói
rằng: ‘Thưa Tôn giả, xin thọ nhận món ăn này.
Có thể mang đi tùy ư thọ dụng để cho chúng
tôi được lợi ích phước lành,
được an ổn khoái lạc lâu
dài’.
“A-nan, ví như nữ nhân không
được ở trong Pháp Luật chân chánh này chí tín ĺa
bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học
đạo, th́ các Phạm chí, cư sĩ nếu trông
thấy Sa-môn tinh tấn liền sanh tâm kính mến, d́u
đỡ vào nhà, đem các tài vật ra cúng dường
Sa-môn tinh tấn mà nói rằng: ‘Thưa Tôn giả, xin
thọ nhận tài vật này. Có thể mang đi tùy ư
thọ dụng để cho chúng tôi được lợi
ích phước lành, được an
ổn khoái lạc lâu dài’.
“A-nan, ví như nữ nhân
không được ở trong Pháp Luật chân chánh này chí tín
ĺa bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học
đạo, th́ dù cho mặt trời mặt trăng này có
đại như ư túc, có đại oai đức, có
đại phước hựu, có đại oai thần,
nhưng đối trước đức oai thần
của vị Sa-môn tinh tấn vẫn không thể sánh
bằng, huống nữa là đối với hàng dị
đạo dở chết ấy!”
Căn cứ theo
lời Phật dạy trong đoạn kinh này, chúng ta
thấy có ư nghĩa xă hội rất lớn trong việc
đức Phật xát lập điều khoản thứ
8. Đức Phật dạy rằng khi trong
Tăng có người nữ xuất gia đông, chánh pháp có
thể giảm là v́ sao? Đứng trên khía cạnh xă
hội mà xét th́ rơ ràng địa vị tôn kính dành cho Tỳ
kheo Tăng không c̣n như trước nữa. Bởi lẽ, yếu tố tâm lư xă hội
của người tại gia nh́n vào phương diện
ly dục của Tăng trong điều kiện có
người nữ thường xuyên kề cận, họ
có quyền nghi ngờ và giảm thiểu ḷng tôn kính là
điều dễ hiểu thôi.
Đặc biệt, nếu
không tuyên bố điều thứ 8 này th́ đồng
nghĩa với việc đức Phật chấp nhận
có một giai cấp quư tộc trong giáo đoàn của Ngài,
mà như lời Cù-đàm-di Đại Ái đă thưa
với Tôn giả A-nan rằng: “Thưa Tôn giả A-nan, nên
biết, các Tỳ-kheo-ni Trưởng lăo Thượng tôn
này là những vị danh tiếng trong hàng vương
giả…” Chúng ta thấy đức Phật là
người giải phóng giai cấp th́ không thể chấp
nhận câu này, nếu chấp nhận th́ lẽ tất
nhiên sẽ không có một người nữ nô tỳ nào có
thể tồn tại được trong Ni đoàn. Nếu chấp nhận điều này th́
đức Phật chính là người chú trọng giai
cấp quư tộc, mà không nghĩ đến các giai cấp
thấp và nếu chấp nhận điều này th́
đạo Phật c̣n ǵ gọi là b́nh đẳng nữa?
Tuy nhiên, đối với
vấn đề trên, TS.
Nhật Từ sau khi đưa ra một số dẫn chứng
từ kinh điển, rồi diễn giải theo tính logic
học và đi đến kết luận: “Chúng ta thấy
rơ ràng cái này được tạo ra như là một cái
phản ứng đối lập giữa Ni bộ và
Tăng bộ trong một giai đoạn lịch sử nào
đó mà phải gán ghép vào lời của Như Lai Thế
Tôn để người ta không có cơ hội nào
để biện hộ được (53phút:29 giây). Bắt buộc phải chấp nhận, dĩ
nhiên sự chấp nhận này vẫn có lợi cho Ni
chứ không phải là nó không có lợi. Nhưng
mà nó không có lợi cho tổng thể Phật giáo và cho
đại cuộc của Phật giáo. Cho nên nếu chúng
ta tin tưởng mà không có đặt vấn đề Bát
kỉnh pháp th́ chúng ta sẽ làm và giáng tiếp tiếp tay,
làm cho đạo Phật mất đi vai tṛ độc tôn
từ vị trí chủ trương học thuyết b́nh
đẳng trên đạo đức, trên giới tính, trên
tâm linh và trên sự chứng đắt.”
Sự thật qua 2500
năm lịch sử, điều này cho đến hôm nay có
đúng như lời TS.
Nhật Từ hay không là tùy vào nhận định của
mọi người. Nếu ai trong chúng ta chấp nhận
nghĩa lư thâm sâu khi bàn về đoạn kinh vừa phân
tích ở trên trong phương diện ư nghĩa xă hội
th́ lẽ dĩ nhiên, chúng ta chấp nhận điều
thứ 8 trong Bát kỉnh pháp là do Phật nói.
Và ở đây, không
biết TS. Nhật
Từ có nhận ra điều này hay không? Nếu
thầy không chấp nhận, con mong rằng thầy hăy
đưa ra đầy đủ cứ liệu về
truyền bản này là thiếu khoa học lịch sử, khoa
học khảo cổ,… để bác bỏ, chứ
thầy không nên phán một cách vơ đoán rằng: “Nó
thương tổn ḷng từ bi ở một điểm
nữa đó là ngài đă tạo ra một cái bản án ngh́n
đời vô số đời, v́nh viễn kiếp số
về sau cho đến lúc nào cơ chế Bát kỉnh pháp
đó được giải thể th́ thôi, rằng Ni
giới có mặt làm giảm thọ bản chất của
Chánh pháp. Nếu chúng tôi là Ni, chúng tôi không
đi tu đâu. Đi tu vô làm giảm 500 năm Chánh
pháp mà Chánh pháp là mang an lạc hạnh phúc cho cuộc
đời, mà giảm Chánh pháp có nghĩa là mang lại
khổ đau cho cuộc sống. Đi tu
để mang khổ đau cho cuộc sống th́ đi tu
để làm cái ǵ? Rơ ràng là ḷng từ bi bị
thương tổn ghê gớm lắm.”
Thực tế không có
thể phủ nhận khi chúng ta nh́n vào khía cạnh
đạo đức th́ Tăng với Ni, ai có đạo
đức hơn sẽ được người đời
tôn trọng. C̣n trật tự Tăng Ni là
phải tôn kính nhau. Phép xă giao b́nh
thương ở đời khi chúng ta được ai
đó tôn trọng th́ tất nhiên ḿnh phải tôn trọng
lại, v́ đó là tính tự trọng của con
người. Không lư nào một thầy Tỳ kheo tu
hành phạm hạnh lại có thái độ bất kính
với Tỳ kheo ni. Nếu thật
sự điều này có xảy ra th́ trong Luật yết ma
của Ni có cho phép làm pháp yết ma “bất kỉnh” vị
Tỳ kheo có thái độ như vậy. Pháp
yết ma này có hiệu lực cho đến khi nào vị
Tỳ kheo ấy nhận ra lỗi và đến sám hối
th́ Ni mới làm pháp yết ma xả bỏ và tôn kính trở
lại.
Giới luật của
bậc toàn trí có sức uyển chuyển là như thế
đó. Tuệ giác
non kém của phàm phu chúng ta đừng có suy luận nông
cạn rồi áp đặt và kêu gọi xóa bỏ.
Tiếp theo,
bản kinh cho chúng thấy lời Phật dạy:
“A-nan, giả như nữ
nhân không được ở trong Pháp Luật chân chánh này
chí tín ĺa bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh mà học
đạo th́ chánh pháp sẽ tồn tại đến ngàn
năm. Thế nhưng, giờ đây đă
mất hết một nửa, chỉ c̣n lại có
được năm trăm năm.
“A-nan, có năm việc
nữ nhân không làm được. Nếu nói rằng nữ nhân được
thành Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, hoặc Chuyển luân vương, Thiên Đế
Thích, Ma vương hay Đại Phạm thiên, điều
này nhất định không thể có.
Nhưng có năm việc
nam nhân làm được.
Nếu nói rằng nam nhân được thành Như Lai,
Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, hoặc
Chuyển luân vương, Thiên Đế Thích, Ma
vương hay Đại Phạm thiên vương,
điều này chắc chắn có thật”.
Sự thật về
điều này con không đủ tuệ giác nên không dám
lạm bàn, ngưỡng mong chư tôn
đức chỉ giáo.
Như vậy theo trật tự của truyền bản
này, chúng ta thấy: Bà Cù-đàm-di Đại Ái xin xuất
gia, đức Phật không cho, sau đó bà cạo tóc.
Rồi từ Ca-tỳ-la-vệ Phật về thành Xá
Vệ (khoảng 80 km), bà và các cung nữ mệnh phụ
chạy theo đến xin nữa. Đức Phật cũng không chấp nhận
rồi bà ra trước cổng khóc. Tôn
giả A-nan kể công nuôi dưỡng, bị đức
Phật không chấp nhận. Tôn giả
A-nan lại hỏi về khả năng chứng thánh
quả của người nữ. Đức
Phật nói b́nh đẳng và cho nữ giới xuất gia,
nhưng phải giữ Tám kỉnh pháp. Sau
đó mới nói đến việc Chánh pháp giảm.
Việc này chúng ta c̣n
thấy có nhắc lại trong kỳ kiết tập
tại Vương Xá, Tôn giả A-nan bị ngài Ca Diếp
quở trách. Ngài A-nan thưa rằng:
Phật là đại trí, cho hay không là ở ngài, c̣n con là
trách nhiệm phải đi xin. Theo t́nh
tiết sự kiện này, chúng ta thấy ư nghĩa của
vấn đề hoàn toàn khác ư nghĩa của truyền
bản thứ nhất và thứ hai.
Ngoài các điều
khoản của Bát kỉnh pháp ra, chúng ta c̣n thấy trong
giới Tỳ kheo ni có các điều
như sau:
“Điều 139:
“Tỳ-kheo-ni nào, cho người thọ giới cụ túc,
để cách đêm mới dẫn đến trong
tỳ-kheo tăng xin nhận giới cụ túc,
ba-dật-đề.”
Điều 141:
“Tỳ-kheo-ni nào, mỗi nữa tháng không đến trong
tăng cầu giáo thọ, ba-dật-đề.”
Điều 143:
“Tỳ-kheo-ni nào, hạ an cư nơi
không có tỳ-kheo, ba-dật-đề.”
Điều 142: “Tăng
tỳ-kheo-ni, hạ an cư xong phải
đến trong Tăng tỳ-kheo nói ba việc tự
tứ: thấy, nghe và nghi. Nếu không như
vậy, ba-dật-đề.”
Điều 172:
“Tỳ-kheo-ni nào, muốn hỏi nghĩa với tỳ-kheo,
không xin phép trước mà hỏi, ba-dật-đề.”
Điều 145:
“Tỳ-kheo-ni nào, mạ lị tỳ-kheo,
ba-dật-đề”.
Điều 175:
“Tỳ-kheo-ni nào, dù 100 tuổi, thấy tỳ-kheo mới
thọ giới mà không đứng dậy nghinh đón, cung
kính lễ bái, hỏi chào, ba-dật-đề.”[14]
Như vậy, xét về các
điều khoản trong Bát kỉnh pháp với luật
Tỳ kheo ni chúng ta thấy có sự tương
đồng. Điều này có thể giải thích tại
sao trong khi truyền giới Tỳ kheo ni,
không có truyền Bát kỉnh pháp.
Nếu ủng hộ
lời kêu gọi của TS.
Nhật Từ rằng: “chúng ta ứng dụng những
điều đó th́ đạo Phật được cái
ǵ? Mất cái ǵ? Rơ ràng là nó có rất
nhiều vấn đề. Thứ nhất, đạo
Phật sẽ mất đi học thuyết b́nh
đẳng như là một sự sáng tạo về tư
tưởng học thuyết của đức Phật.
Đức Phật sẽ mất ḷng từ bi, sẽ
được nh́n nhận như một người không
c̣n tuệ giác nữa, v́ Ngài đă chấp nhận một
cách bất đắc dĩ và có điều kiện là
tạo ra một cái bản án rất nặng nề là
để trở thành một vị Tỳ-kheo ni phải
mang vào ḿnh một tội lỗi đó là làm cho Chánh pháp
bị giảm thiểu. Rơ ràng những điều đó
nếu chúng ta không mạnh dạng đặt lại
vấn đề th́ sự tổn thất sẽ nằm
về đức Phật, về đạo Phật. Rơ ràng
xóa bỏ Bát kỉnh pháp đi th́ chư
Tăng vẫn là chư Tăng, chư Ni vẫn là chư
Ni. Hai bên vẫn cùng làm Phật sự. Ni
bộ riêng, Tăng bộ riêng, hỗ trợ lẫn nhau
về phương pháp luận, về chính sách hoằng
pháp, chính sách giáo dục… rơ ràng rằng đạo Phật
sẽ phát triển rất mạnh trong xă hội. C̣n
bằng không th́ giống như con người có hai vai,
chúng ta nếu chặt một vai th́ làm sao tồn tại
được?”; th́ lẽ tất nhiên,
chúng ta phải bỏ luôn các điều trong luật Tỳ
kheo ni như vừa nêu trên. Nếu không bỏ
các điều luật này th́ bỏ Bát kỉnh pháp có làm thay
đổi ǵ đâu?
Nh́n nhận từ thực
tế, chúng ta thấy ngày nay cách áp dụng bát kỉnh pháp
không có tính tuyệt đối và có một số vị
Tỳ kheo tăng đă lạm dụng Bát kỉnh pháp
để áp đặt. Như trường hợp trong
lễ tang của cô Trí Hai vừa rồi, không
được dùng từ “giác linh” mà phải dùng “chơn
linh” v́ lư do cô Trí Hải là Ni. Nếu thật
sự quư cô đă chứng thánh quả, chúng ta cũng nên
lễ bái cầu phước như dân gian lễ
đức mẹ Quán Thế Âm vậy. Và sự
thật khi văng sanh vào cơi Tịnh Độ, tùy vào
phước đức tu tập mà hóa sinh trong hoa sen có
phẩm vị khác nhau, chứ làm ǵ có chuyện Ni không
thể sinh vào phẩm vị cao hơn Tăng. Đây là
một ví dụ về chuyện lạm dụng Bát kỉnh
pháp do sự sai lầm của một số vị hiểu
biết mà thôi.
Tóm lại, chúng ta nên
nhớ rằng bản chất của Bát kỉnh pháp chính
là các điều khoản giữ ǵn trật tự trong
Tăng, chứ không có chuyện cao thấp và kêu gọi nam
nữ b́nh đẳng ở trong này. Nếu
mất nó đi th́ trật tự Tăng sẽ bị
rối loạn. Ví như hai cái ly để gần
nhau, mỗi bên đều có giá trị của nó, chúng ta
không thể nói cái bên này hơn cái bên kia
được. Làm sao chúng ta có thể
để hai cái ly thành một trong thế giới
đối đăi sai biệt này? Nếu ai đủ
khả năng thay các điều khoản khác vào trật
tự ấy để tránh lời dèm pha của các tôn giáo
khác th́ cứ thay, và tất nhiên là phải thay luôn các
điều trong luật Tỳ kheo ni và một số
điều trong luật Tỳ kheo quy định về
việc giáo giới, bố tát, tự tứ... nữa. Chúng ta đừng nghĩ “Bụt giấy không
thiêng”, không giá trị. C̣n nếu không đủ
tuệ giác mà thay đổi Bát kỉnh pháp th́ trong trật
tự Tăng sẽ rối loạn, người ấy
sẽ mang tội “phá ḥa hợp tăng”, đọa
địa ngục A-tỳ là điều chắc chắn. Có ai trong chúng ta làm nổi điều này không?
Xin thưa, TS. Nhật
Từ có làm nổi chuyện này không?
Trong tương lai, nếu
có một giây phút nào tâm hồn thầy yên tĩnh suy nghĩ
lại, hoặc một ngày thầy rảnh rỗi t́m thêm
sự tương quan của vấn đề Bát kỉnh
pháp có trong các bộ kinh luật khác, thầy nhận ra ḿnh
đă bị nhầm th́ con mong thầy nên thành tâm sám hối
tội bất kính tam bảo, phỉ bán lịch đại
tôn sư. Mạnh dạn cải chính những điều
thầy nói để một số Tăng Ni trẻ không
c̣n nhầm v́ bị ảnh hưởng bởi cách lư
luận của thầy; và con luôn kính trọng, khâm phục
nghĩa cử này, bởi Phật dạy người có
lỗi mà dám sửa th́ thanh tịnh bằng người
không phạm lỗi.
Kính bạch chư tôn
đức,
Kính thưa chư vị Tăng Ni sinh!
Cuối cùng, con xin trích
một đoạn trong lời giảng của TT. Thích Tuệ Sỹ về Bát kỉnh pháp
để kết thúc quan điểm của ḿnh: “Trong xă
hội ngày nay, với hệ thống kinh luận và
đặc biệt là hệ thống luật tạng, chúng
ta giữ được điều ǵ th́ giữ, chứ
đừng nói rằng điều đó không c̣n phù hợp
thời đại mà muốn làm ǵ th́ làm. C̣n
nếu đủ sức sửa các điều luật
để Tăng Ni tu tập cho hợp với thời
đại khoa học nhưng phải đảm bảo
rằng điều đó chắc chắn người tu
tập sẽ đạt đến thánh quả th́ cứ
làm. Ở đây, trong chúng ta ai là người đă
từng giải quyết những khúc mắc trong
đời sống Ni chúng, ai đă từng giải
quyết những sáo trộn tâm lư, những xung động
bức xúc trong đời sống người Ni, ai
đủ khả năng nh́n thấy những diễn
biến tâm lư để đưa ra những điều
luật giúp họ tu tập chứng thánh quả? C̣n những quan hệ trong trật tự Tăng
chúng th́ như thế nào? Vị ấy
đă đủ tuệ giác thấu triệt chưa?
C̣n nếu không biết th́ chúng ta đừng có tùy tiện
đặt lung tung, đừng có tự
hào rồi làm bậy. Anh không phải luật
sư th́ đừng đặt các điều luật sai
trái để giết người ta. Anh
không phải là nhà luật sư kinh tế th́ đừng
đặt luật thương mại khiến cho rối
loạn thị trường. Đừng
v́ sự hời hợt trong chuyện b́nh đẳng nam
nữ ở phương Tây mà làm mất trật tự là
không được.”
Kính chúc chư
tôn đức Tăng Ni luôn thanh tịnh, ḥa hợp.
Nguyện cầu Tỳ-ni
cửu trụ.
Con: Tỳ Kheo Thích Nhựt
Chấn
Địa chỉ liên hệ: email: tkthichnhutchan@yahoo.com
Chú thích:
[1]- Những bản
dịch về danh hiệu Bát kỉnh pháp:
- Tứ phần luật, Tỳ kheo ni
Kiền Độ thứ 17, Đại chánh tạng,
cuốn 22, tr 158 gọi là “Tám điều không thể
vượt qua”.
- Ngũ phần luật, Tám pháp Tỳ kheo ni,
Đại chánh tạng, cuốn 22, tr 158 gọi là “Tám pháp
không thể vượt qua”.
- Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni giới kinh,
quyển thượng, Đại chánh tạng, cuốn 24,
tr 946; Cù Đàm Di lai tác Tỳ kheo ni, phẩm 9, Đại
chánh tạng, cuốn 4, tr 158; Thiện kiến luật
Tỳ bà sa, quyển 15, Đại chánh tạng, cuốn 24,
trang 782; Hành sự sao chúng biệt hành thiện, Đại
chánh tạng, cuốn 40, tr 154 đều gọi là “Tám pháp
bát kính”.
- Cù Đàm Di kinh, quyển10, Đại chánh tân tu, cuốn
1, tr 66 th́ gọi là “Tám pháp tôn sư”.
- Tôn Bà Tu Mật Bồ tát sở tập luật thứ 8,
Đại chánh tạng, cuốn 28, tr 779
gọi là “Tám pháp trọng”.
- Căn bản Tát bà đa bộ luật, quyển 10,
Đại chánh tạng, cuốn 24, tr 582
gọi là “Tám pháp tôn trọng”.
[2]- Cù-đàm-di Đại
Ái 瞿 曇 彌
大 愛. Pāli: Mahāpajāpatī Gotamī.
[3]- Theo Luật Tứ phần: sau khi Bà không được Phật cho phép
nữ giới xuất gia, bà cùng với năm trăm
người nữ khác tự cạo tóc, mặc áo ca-sa và
vẫn đi theo Phật khẩn
nguyện Ngài chấp thuận. Bản Pāli cũng
vậy, Bà theo Phật đến
Vesāli và tự cạo tóc tại đây.
[4]- Mahāpajāpatī
Gotamī, Kinh Tăng Chi Bộ,
tập 3, Viện nghiên cứu
Phật học Việt Nam ấn hành, năm 1996, tr 649-658
[5]- TT. Thích Tuệ Sỹ
dịch, Kinh Cù Đàm Di, Phẩm Lâm, Trung A Hàm,
Tương đương Pāli A.8.51 Gotamīsutta. Biệt dịch No.60. Kinh nói về sự
thiết lập Tỳ-kheo ni tăng, do
đó được kể trong tất cả Luật
tạng. Tham chiếu, Luật Pāli, Cv. 10.1;
Tứ Phần Luật 48 (Đại 22, tr.922), Ngũ
Phần Luật 29 (Đại 22, tr.185), và các luật khác.
[6]- Bản Pāli, A-nan
nghĩ, Phật không chấp nhận thỉnh cầu, ta hăy
dùng cách khác, và hỏi như vậy
(yaṃnūnāhaṃ aññepi pariyāyena bhagavantaṃ
yāceyyaṃ...).
[7]- Trong bản Pāli,
Phật chỉ nói điều này sau khi đă chấp
thuận cho nữ xuất gia.
[8]- Hữu uế 有 穢,
ruộng có cỏ xấu mọc lan.
No.60: bạc vũ, mưa đá. Tứ phần (nt) sương bạc. Pāli: sālikkhette
setaṭṭhikā nāma rogajāti,
trong ruộng lúa có loại bệnh gọi là “bạch
chứng” (tức sương muối? Hay do
một giống nấm ăn trắng cây?).
[9]- Tứ phần (nt):
Phật vẫn chưa chấp thuận, Tôn giả A-nan
hỏi về khả năng đắc Thánh quả của
nữ nhân, Phật xác nhận, rồi A-nan nói: “Nếu
nữ nhân có thể đắc Thánh quả, họ cũng
có thể xuất gia”. Do đó Phật chấp thuận và
thiết lập tám kỉnh pháp.
[10]- Bát tôn sư pháp 八 尊
師 法, tức Bát kỉnh pháp. No.60: Bát trọng pháp
Pāli: attha garu dhamma. Trong bản Hán, garu: kính trọng;
được hiểu là guru: tôn sư.
[11]- Kinh tăng chi bộ, phẩm Ai giáo giới, Viện nghiên cứu
Phật học Việt Nam ấn hành, 1996, tr
658,659
[12]- Tứ phần luật (nt)
[13]- Tăng-già-bà-thi-sa 僧 伽
婆 尸 娑.
Thường dịch là Tăng tàn, với mười
bảy điều khoản dành cho ni,
nếu vi phạm, bị bắt buộc phải sống
biệt chúng một thời gian theo giới kinh quy
định. Pāli: saṅghādisesa.
[14]- Tứ phần luật, quyển 3, phần Bất cộng
giới, Tỳ kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức
Thắng dịch – Tỳ kheo Thích Nguyên Chứng hiệu
chính và chú thích.
--
* * * * *
Con người phạm phải sai lầm không phải v́ họ không hiểu biết, mà là v́ họ tự cho rằng ḿnh hiểu biết tất cả.
(J.J.Rousseau)
* * * * *