Hành Hương Hoa Hạ
Thích Nhật Quang chủ biên

|
Mục Lục Giới
thiệu I Bài Viết Thượng tọa
Thích Thông Phương Chùa Nam Hoa Đến Thiếu Lâm Cây Bồ-đề Chùa
Quang Hiếu Truyện tượng Lục
Tổ bằng đồng ở chùa Lục Dung II Hành Hương Hoa Hạ - Sư Cô
Hạnh Chiếu Quảng Đông Chùa Quang Hiếu Tứ Xuyên Lạc Sơn Đại
Phật Chùa Báo Quốc Nga My Sơn Thanh Dương Cung Thiền Viện Bảo
Quang Viện Văn -Thù Thưởng Trà Thiểm Tây Lên tàu đi Tây An Chùa Từ Ân- Tháp Đại
Nhạn Binh Mă Dũng Hoa Thanh Cung Sơn Tây Ngũ Đài Sơn Bồ Tát Đỉnh-Chùa
Hiển Thông-Chùa Tháp Viện Bồ-tát Đỉnh Chùa Hiển Thông Chùa Tháp Viện Hà Nam Chùa Thiếu Lâm Long Môn Thạch Quật Bạch Mă Tự Phủ Khai Phong Chuyến tàu kỷ niệm
Thượng Hải Thượng Hải Về lại Quảng Đông Tào
Khê Nam Hoa Thiền Tự Chùa Lục Dụng Tổng kết |
Bút kư về chuyến hành hương thăm viếng Thánh tích Phật Giáo Trung Quốc của Thiền viện Thường Chiếu, do Ḥa thượng Thích Nhật Quang làm trưởng đoàn.
...Chúng tôi đến Trung Quốc không phải chỉ để thưởng lăm những bức tranh thủy mặc cổ điển, đâu đó thành xưa miếu cổ, non nước sắc hương, những thạch động c̣n tỏa ánh sáng ngọc ngà thần bí của một thời xa xưa… Mà trên tất cả chúng tôi muốn t́m lại ḿnh qua dấu vết của cổ nhân.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của tập sách này, chỉ là chút đồng vọng về chốn Tổ năm xưa với cuộc đời, hạnh nguyện và đạo nghiệp của quư ngài, không sao nói hết được về ánh sáng mặt trời Phật, mặt trăng Phật ở nơi đây. Hơn nữa, viết về Tổ sư rất dễ phạm vào lỗi khua môi múa mép, không đúng môn quy. Cho nên chúng tôi chỉ xin được cúi thấp đầu, làm một kẻ tăng lữ hướng vọng về các đấng Tổ phụ để học tập, hành tŕ theo con đường của các ngài đă chỉ dạy.
Tập sách có hai phần:
Phần thứ nhất là bài viết của Thượng tọa Thông Phương.
Phần thứ hai là bút kư của Sư cô Hạnh Chiếu.
Hướng về cội nguồn thiền tông, để tăng trưởng niềm tin trên hành tŕnh giác ngộ giải thoát là mục đích chính của chúng tôi. V́ vậy tập sách nhất định không thể hiện được trọn vẹn mọi mặt mà bạn đọc mong đợi. Song với chừng ấy đóng góp, hy vọng đủ để gọi là tấm ḷng của Tăng Ni chúng tôi đối với khách hữu duyên tu thiền theo Ḥa thượng Ân sư. Nếu có thể, tập sách sẽ giúp cho độc giả t́m lại được ngôi nhà thật sự của ḿnh.
Xin được trân trọng gởi đến pháp lữ muôn phương cuộc Hành Hương Hoa Hạ của chúng tôi, như là một món quà của người từ phương xa trở về.
Món quà tuy không đáng, nhưng mà rất thiệt t́nh.
Thường Chiếu, 27-07-Đinh Hợi (2007)
Kính ghi,
THÍCH NHẬT QUANG
Hành Hương Hoa Hạ
Thích Nhật Quang chủ biên
Phần 1
Bài viết của Thượng Tọa Thích Thông Phương
Chùa Nam Hoa tức đạo tràng Bảo Lâm của Lục Tổ ngày xưa. Nơi đây một thời vang dội pháp môn đốn giáo Thượng thừa. Vua Đường Trung Tông và Vơ Hậu từ kinh đô cũng một ḷng ngưỡng mộ cao phong. Yếu chỉ Tào Khê truyền rộng măi về sau, từ đây phát xuất. Tuy nhiên không phải chỉ là ở ḍng suối, ở rừng cây, ở đất linh nước lạ, mà chính là ở Tâm Tổ sáng ngời vượt ngoài văn tự, ngữ ngôn. Người thấu được chỗ này mới thật sự vào được cửa Tổ, mới thật nếm được giọt nước Tào Khê mà Thiền sư thường khai thị.
Nhưng thôi, chuyện công phu không phải một sớm một chiều, nay đây chân đă đạp đến đạo tràng của Lục Tổ, tận mắt nh́n thấy dấu tích của Tổ, là một niềm vui quá rồi. Phải nói, suốt chuyến đi, chỉ nơi này mới được tham quan kỹ hơn hết. Có cảm tưởng như về nhà, vào cả nơi ăn, chốn ở, tận trong pḥng ngủ của Ḥa thượng trưởng lăo trong chùa. Sao mà tự nhiên thế! Một trái chuối của chùa được mời, quả thật mười mấy ngày qua, đến nay mới được chứng quả!
Giờ này là giờ chư tăng Thọ trai nhưng không biết ḿnh có duyên cớ ǵ với Thiền đường chốn Tổ nên lại được vào đây. Quy củ nghiêm túc, vào bên trái, chân trái bước vào trước; ra bên phải, chân phải bước ra trước, phải thật tỉnh giác! Có bốn vị tăng đang công phu quên cả giờ cơm. Một chút sinh khí Tào Khê.
Lại một duyên lành với chốn Tổ Tào Khê này, đoàn đă ra ngoài dùng cơm, trong đây, vị thầy Đạt Thành vẫn c̣n nhiệt t́nh hướng dẫn số người sót lại này vào thăm Tàng Kinh Các, nơi chứa giữ những cổ vật của chùa. Thật không ngờ, ḿnh đâu biết được, không hỏi, không cầu mà đủ duyên liền đến. Đây là cây tích trượng của Lục Tổ dùng qua, c̣n kia là chiếc vớ, tương truyền do Vơ Tắc Thiên ban tặng cho Lục Tổ, Ngài chỉ mang dùng khi thăng ṭa thuyết pháp. Kia nữa là viên đá, Ngài đeo khi giă gạo – nhưng theo tư liệu khảo cứu, viên đá này đă được phục chế vào thời nhà Minh; c̣n đây là tờ chiếu chỉ của bà Vơ Tắc Thiên, vị Nữ Hoàng đế độc nhất của Trung Hoa sắc ban tặng cho Lục Tổ b́nh bát thủy tinh, cà sa, lụa, trà, tiền; tờ chiếu của vua Nguyên bằng tiếng Bát-tư-ba, bộ kinh Pháp Bảo Đàn viết bằng máu. Tượng Quán Âm bằng sắt đời Đường, chuông đồng thời Nam Hán, bộ tượng gỗ năm trăm La-hán thời Bắc Tống, không c̣n đủ, những viên xá-lợi trời mưa xuống khi pháp sư Viên Quưnh ở Hương Cảng sang đây giảng kinh Duy-ma-cật… và nhiều, nhiều cổ vật quư báu mà người chưa tận mắt vào đây, nghe nói cũng thấy tiếc. Tuy nhiên c̣n có một thứ báu vượt xa cả những vật báu này mà chư Tổ sẵn sàng trao lại cho tất cả, nhưng tiếc thay ít người chịu nhận. Xâu chuỗi bằng ngọc kia tuy nó quư báu thật, song tự nó đâu biết báu! C̣n cái báu sáng ngời đang soi sáng tất cả các thứ đó th́ sao? Báu này đâu có ai thiếu! Yếu chỉ Tào Khê vốn nằm trọn trong đây. Đến Tào Khê thật sự, phải đến trong ấy. Lục Tổ nghe thấu lời này, hẳn Ngài cũng mỉm cười. Việc này nào có xưa nay. Tổ tịch đă hơn ngh́n năm qua, nhưng sức sống của Tổ đâu từng ngăn cách!
Thời gian nước chảy đá ṃn
Tào Khê một mạch vẫn c̣n cho ai!
Thiếu Lâm đây rồi! Từ lâu học qua trong sách vở, ḷng ao ước một lần đặt chân đến chốn này để giáp mặt sự thật thế nào. Tâm tưởng tượng nhiều lúc vượt xa sự thật. Giờ đây đă đứng tại chỗ này, cổng TUNG SƠN THIẾU LÂM chạm ngay trước mắt, nhưng c̣n phải lên xe điện đi một đoạn khá xa mới vào điện chính. Đâu phải như người tưởng, thấy đó là đăø đến rồi! Vào bên trong đứng trước tàng cây cổ thụ đầy cảm hứng, tuy nó không nói nên lời nhưng nó là chứng tích trải qua nhiều cuộc thăng trầm của chốn Tổ đầy huyền diệu này. Một phút lặng ḷng để tự thầm cảm đến một cái ǵ đó vượt ngoài ngôn ngữ. Tâm Tổ nay ở đâu? Tâm ấy nào có nam nữ, tăng tục ǵ, nhưng giờ đây muốn vào sâu bên trong, cũng phải bỏ lại tướng nữ bên ngoài. Thiền đường trang nghiêm, vào đây phải nhẹ bước, im hơi để cảm thông chín năm im lặng nh́n vách. C̣n ham nhảy nhót thô động, nói chuyện lăng xăng th́ thôi vào chốn này.
Song tâm phàm đâu thể một lúc chịu dừng lại ngay, nó cũng c̣n muốn đi nơi này, nơi nọ để biết thêm. Động Đạt-ma từ xa nh́n thấy dáng nhưng làm sao có đủ thời gian đến đó! Đành phải hẹn lại vậy.
Cũng c̣n có duyên lành chưa hết, tột dấu tích xưa kia chưa lên tới, nhưng Tháp Lâm, dấu tích của chư Tổ sau này để lại kia rồi. Cả một rừng tháp đầy ấn tượng, ghi dấu ấn chiều dài lịch sử của chốn Tổ Thiền Tông.
Thắp nén hương, bày tỏ ḷng thành để thầm cảm thông trong chỗ không thể nói kia.
Kính mong chư Tổ thầm chứng ḷng này.
Đây Thiếu Lâm
Đây bài pháp an tâm.
Khai pháp ấn Thiền tông Đông độ
Lối biệt truyền đưa người vào thẳng
Đường giáo ngoại thức tỉnh liền đây.
Chín năm ngồi đợi chờ ai đó?
Một thoáng Thần Quang tỏ lư mầu.
Thôi chớ theo chia xương chia tủy
Chỗ tâm truyền vượt hẳn ư cạn sâu.
Theo Thiên Thai Chí ghi: Ha Lâm có cây Bồ-đề thời Tiêu Lương ngài Tam Tạng Trí Dược từ Tây Trúc đem đến trồng. Nay trải qua hơn ngàn năm, to cả trăm ṿng, thành ba bốn thân cây, từ trên buông xuống, có trăm ngàn cái, cái to hợp thành ṿng, cái nhỏ th́ cuốn quanh, trải qua lâu năm, rễ bao cả gốc cây, chỉ thấy rễ mà chẳng thấy gốc, gốc đă ở trong không, không có gốc, rễ tức là gốc; cành cũng ở trong không, không có cành, rễ tức là cành…
Và theo Việt Đông Bút Kư ghi: Năm Gia Khánh thứ hai, vào đêm 15 tháng 2 gió băo thổi ngă, Trung thừa Trần Đại Văn sai người vun bón bảo dưỡng hơn năm bị khô héo. Tăng trong chùa là Kiều Am, Ly Tướng đồng đến chùa Nam Hoa tiếp lấy một nhánh nhỏ đem về trồng trên đất cũ, nay cành lá vẫn sum suê như xưa.
TRUYỆN TƯỢNG LỤC TỔ BẰNG ĐỒNG Ở CHÙA LỤC DUNG
Vào cuối thời Thanh, Tuần phủ Quảng Đông là Du Trí Khai phái ủy viên đến chùa lấy tượng để đúc tiền đồng. Ủy viên này bèn thắp hương thầm khấn nguyện: “Đây vốn là việc bất đắc dĩ, chẳng phải bổn ư của con.” Mới vừa lễ bái th́ tượng này vô cớ bỗng nghiêng đổ, tiếng chấn động như sấm, rung rinh cả ngói nhà. Vị ủy viên này rất kinh hăi gục xuống đất luôn chẳng thể đứng dậy. Những người tùy tùng bèn đỡ ông dậy đi ra, liền báo cáo về cho Tuần phủ họ Du. Du cũng kinh hăi mới thôi, do đó tượng c̣n bảo tồn đến nay.
Địch Bảo Hiền ở Phiêu Dương
Phần 2
Hành Hương Hoa Hạ - Sư Cô Hạnh Chiếu
Ngày
09-5-2007
Sân bay Bạch Vân hiện ra đúng như tầm
cỡ của xứ sở Trung Quốc, đất rộng
người đông, sân bay lớn. Máy bay đáp xuống Quảng
Châu vào lúc 2h50 phút chiều Trung Quốc, sau Việt Nam 1 giờ.
Đây được xem là phi trường lớn của
Trung Quốc hiện nay
Toàn khu vực sân bay rộng đến hai ba cây số.
Quảng Châu là thủ phủ của tỉnh Quảng
Đông, nó cũng chính là trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hóa của cả tỉnh với diện tích 7.047 km2,
khoảng 12 triệu dân. Nhiệt độ lúc đó là 24oC,
rất giống Việt Nam nên đoàn nghe quen thuộc, dễ
chịu.
Chúng tôi gồm 73 vị, trong đó có 14 Tăng, 32
Ni và 27 Phật tử. Ḥa thượng Nhật Quang, Trụ
tŕ thiền viện Thường Chiếu làm Trưởng
đoàn. Hướng dẫn đoàn là ba vị hướng
dẫn viên trẻ, 1 người Việt Nam, 2 người
Trung Quốc, vui vẻ, hiền lành, nhiệt t́nh và nói tiếng
Việt khá sơi.
Trung Quốc từ lâu đă được biết
đến như một đất nước kỳ vĩ
với nhiều non nước mỹ tú diễm lệ. Bắc
Kinh, Thượng Hải ngày nay hào nhoáng giàu sang với những
ṭa nhà chọc trời thấu đất. Đường
phố, cầu vượt tầng tầng lớp lớp,
uốn lượn quanh co, đâu đó giữa phố thị
rực rỡ tân kỳ là thành xưa miếu cổ, sắc
nước lưng trời… Song những điều ấy
không phải là nguồn cảm hứng, là lời mời gọi
chúng tôi đến với Trung Quốc, mà trên tất cả
v́ nơi đây từ thuở xa xưa đă từng là
đạo tràng của chư vị Bồ-tát thị hiện
tu hành, các tùng lâm thiền phong vang dội của lịch
đại Tổ sư, mà đă một thời cái nhướng
mày chớp mắt của quư ngài, uy vũ lệch nghiêng trời
đất. Cho đến bây giờ sức mạnh vô biên ấy
vẫn đủ để kích dương hạt giống
Phật trong ḷng hậu thế. Rất đơn giản,
chúng tôi thực hiện chuyến hành hương về
phương Nam Trung Quốc lần này chỉ v́ muốn
chiêm bái chốn Tổ năm xưa, noi theo gương hạnh
của cổ nhân, để t́m lại nơi ḿnh cái ḿnh muốn
t́m hôm nay. Thế thôi.
Thật ra, đôi khi ta cũng chợt nhận ra
gia bảo nhà ḿnh ai cũng có, không phải đi t́m đâu
xa. Nó ở trước mắt, nó hiển hiện trong ḷng.
Nhưng v́ mắt vướng bụi nên ta không thấy, tâm
rối loạn nên ta không tỉnh, do vậy ta chưa nhận
ra đó thôi. Là những người con Phật, dĩ nhiên
ta hiểu rơ điều này rồi. Song mà, kho báu vô tận ấy
cũng không phải bỗng dưng sờ sờ ra đó
để cho thiên hạ mặc t́nh tiêu pha. Muốn nhận
ra nó, tùy ư thọ dụng, phải lặn lội qua những
chặng đường, dài ngắn tùy mỗi lữ khách
chọn lựa cho ḿnh lộ tŕnh thẳng tắt hay quanh
co. Nhớ là đi một ḿnh và tự tay mở cánh cửa
Không. Để rồi đến một lúc nào đó thời
tiết nhân duyên đă đủ, công phu chín muồi, ta ngồi
thật yên trong chốn thâm mật, nhẹ nhàng buông xuống,
buông xuống… Buông xuống cả chính ḿnh th́ toàn thể
pháp giới hiện bày.
Chuyến đi này phải chăng mở đầu
cho cuộc hành hương tâm linh của chúng tôi, những
tu sĩ khát khao được giác ngộ giải thoát
như đức Phật và hết ḷng ngưỡng mộ
ánh thiền quang sắc lạnh của Tổ sư? Bằng
con đường thiền định, các ngài đă ra
đi và đă đến. Viễn ly, viễn ly, xa ĺa mộng
tưởng điên đảo, cứu cánh Niết-bàn. Trung
Quốc là nước có lịch sử Thiền tông phát triển
mạnh mẽ và có tầm ảnh hưởng lan rộng,
lâu dài đến Phật giáo các nước thuộc khu vực
Đông Nam Á, trong đó có nước ta. Có thể nói chư
Tổ thiền tông Việt Nam lĩnh hội được
trọn vẹn tinh tuư của ḍng thiền Ấn Hoa, dung hội
tài t́nh đường lối tu hành của người
xưa với bản sắc văn hóa nước Việt,
tạo thành một ḍng thiền Việt Nam “trực chỉ,
thi vị và tùy duyên” (nhận xét của Ḥa thượng Trúc
Lâm), rất kỳ tuyệt để chúng ta hănh diện và
lấy đây làm kim chỉ nam cho hành giả tu thiền Việt
Nam.
Rời phi trường, xe đưa đoàn đến
thành phố Quảng Châu. Đây là một trong những thành
phố cổ của Trung Quốc. Chúng tôi như lọt thỏm
vào những ṭa chung cư cao ngất ngưởng và cũ kỹ.
Bỗng dưng ta có cảm tưởng như bị chết
ngộp v́ những mảng bê-tông cốt thép chồng lên
nhau. Nhà là nhà. Toàn bộ các cánh cửa sổ được
bọc khuôn sắt để pḥng chống kẻ gian. Cứ
tưởng tượng ḿnh bị nhồi nhét vào trong những
ṭa nhà đó th́ thiệt là khó thở. Rồi ra mới quư mảnh
vườn cây xanh trái ngọt quê nhà. Việt Nam chúng ta rất
may ít có nhà cao tầng kiểu này (nhưng h́nh như bây giờ
người ta cũng bắt đầu xây nhà cao tầng rồi),
nên dân ḿnh vẫn c̣n thấy trời xanh mây trắng. Ở
thủ đô hay thành phố th́ có nhà cao tầng nhưng
không cao và khít rịt như vầy, vẫn c̣n chừa chỗ
cho người và cây xanh thở. Ở miệt vườn
th́ tha hồ. Ngẩng lên là trời cao lồng lộng, ngó
xuống là ruộng vườn mênh mông, ḷng người cũng
theo đó rộng mở, độ lượng, bao dung. Ai
bảo nghèo không sướng, nghèo mà biết đủ không
phải sướng lắm sao? Cuộc sống quê mùa, yên tĩnh,
đơn sơ, bước một bước là vào đến
nhà, không phải leo lầu hay chui vào cái thang máy bít bùng, sợ
cúp điện muốn chết!
Quảng Châu sầm uất, nhộn nhịp v́ là
trung tâm buôn bán thuộc miền Nam Trung Quốc. Đoàn chọn
chỗ này làm điểm tham quan đầu tiên v́ nơi
đây có chùa Quang Hiếu tức chùa Pháp Tánh ngày xưa, là
nơi đức Lục Tổ được pháp sư Ấn
Tông thế phát xuất gia. Cuộc đời tu hành của
Lục Tổ khác lạ hơn ai hết, thăng trầm lắm
nỗi. Sau mười lăm năm đă ngộ đạo
và được truyền y bát của Ngũ Tổ Hoằng
Nhẫn, Lục Tổ vẫn giữ h́nh thức cư sĩ,
sống lẫn trong đám thợ săn, tùy duyên giáo hóa, tùy
duyên độ nhật. Vậy mà vẫn không yên v́ một số
bạn đồng môn săn lùng, rượt đuổi
giành lại y bát. Cuộc sống thật khó khăn, kham khổ.
Thế nhưng Tổ vẫn là Tổ, cuộc thế này
có nghĩa lư ǵ đâu với một bản tâm “vô nhất vật”.
Khi thấy đă đủ duyên, Tổ đến
chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, gặp pháp sư Ấn Tông
đang giảng kinh Niết-bàn. Bên ngoài gió thổi, có hai vị
tăng căi nhau, một vị nói gió động, một vị
nói phướn động, Tổ nghe thế liền bảo
“không phải gió động, cũng không phải phướn
động mà là tâm nhân giả động”. Câu nói này đă
làm lộ hành tung của Ngài sau mười lăm năm ẩn
dật. Pháp sư Ấn Tông khi nhận ra và được
xem y bát của Tổ, đă cung kính thế phát cho Ngài,
nhưng lại thờ Ngài như bậc Thầy. Từ
đây, dưới cội Bồ-đề chùa Pháp Tánh, Lục
Tổ chính thức khai pháp môn Đông Sơn, khơi mạch
nguồn cho ḍng thiền Tào Khê tuôn chảy măi về sau. Thiền
đốn ngộ phương Nam lấp lánh tỏa sáng
dưới những ngọn truyền đăng tục diệm
của đời đời Tổ sư. Một cơi thiền
quang quét sạch vô lượng đảo điên ngu muội
của bao chúng hữu t́nh, đưa họ trở về
chốn yên b́nh. Trong đó không biết có chúng ta chăng?
Chùa Quang Hiếu ở phía tây bắc Quảng Châu,
tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Xứ sở này quả
thật không biết nhỏ là ǵ nên chùa chiền cũng lớn.
Tuy nhiên, những ngôi cổ tự nằm trong ḷng phố chỉ
có đền điện, chứ cảnh quan không thiên nhiên
và u nhă như chùa núi hoặc ngoại ô. Theo Quang Hiếu Tự
Chí, ban đầu chùa vốn là nhà cũ của Nam Việt
vương Kiến Đức (cháu Triệu Đà, thuộc
đời Tây Hán). Nước Ngô thời đại Tam Quốc,
Ngu Phiên bị giáng chức ra ở đất đó, gọi
là Ngu Uyển. Đến năm 362, Tam Tạng nước
Kế-tân đến đây mới lập thành chùa Phật,
gọi là chùa Chế Chỉ, c̣n gọi là chùa Vương
Viên. Đời Lưu Tống, vị cao tăng Ấn
Độ là ngài Cầu-na-bạt-đà-la đến chùa này
khai lập giới đàn, gọi là Đạo tràng Chế
Chỉ.
Năm 502, ngài Tam Tạng Trí Dược đem cây
Bồ-đề từ Tây Ấn Độ đến trồng
tại đây và huyền kư rằng: “Sau 170 năm, có nhục
thân Bồ-tát dưới cội cây này khai diễn pháp Đại
thừa, độ vô lượng người”. Đến
năm 527, Sơ Tổ Đạt-ma đến ở
đây. Đến đời Đường chùa đổi
tên Chế Chỉ thành chùa Càn Minh Pháp Tánh. Đời vua Cao
Tông, năm 676 Lục Tổ Huệ Năng đến chùa
này và gặp pháp sư Ấn Tông như đă nói ở trên.
Năm 705, vị Tam Tạng người Tây Vức là ngài
Bát-thích-mật-đế ở đây phiên dịch kinh Thủ-lăng-nghiêm
(10 quyển), Tể tướng Pḥng Dung bút thụ. Đến
năm 845, chùa Càn Minh Pháp Tánh đổi tên thành Tây Vân Đạo
Cung. Trong khoảng năm 825-826, chùa dựng Đại Bi
Tràng. Đầu thời Bắc Tống đổi tên là Càn
Minh Thiền viện. Đời vua Cao Tông lại đổi
tên là chùa Báo Ân Quảng Hiếu. Đến năm 1466 đời
Minh Hiến Tông, mới bắt đầu gọi là chùa
Quang Hiếu. Khoảng năm 1646 đời Minh, chùa bị
quân Thanh phá hủy. Đến năm 1662, thiền sư
Nguyên Chí trùng hưng trở lại thành Nam Hải Đệ
Nhất Thiền Lâm. Tuy nhiên cũng có nhiều thuyết
khác nhau nói về sự thay đổi của chùa này.
Chùa hiện c̣n những kiến trúc quư báu với
phong cách kiến trúc đặc thù vùng Hoa Nam như điện
Lục Tổ, Đại Hùng Bảo Điện… được
xây cất khoảng năm 1241-1252 thời Nam Tống. Có một
Thiết Tháp (tháp sắt) đă rất cũ tạo thêm nét
cổ kính lâu xưa cho chùa. Cây Bồ-đề vẫn c̣n
đó nhưng lá đă vàng, cội cũng khô. Chắn chắn
là vào thời Tổ nó xanh và có hồn hơn, bởi v́ ngày ấy
nơi đây cô tịch lan-nhă, là vườn thiền rừng
vắng, chớ không thị tứ ồn náo giữa trung
tâm phố thị như bây giờ. Chúng tôi đến vào buổi
chiều, chiêm bái cảnh hoàng hôn của Quang Hiếu Tự
ngày nay mà ngậm ngùi nhớ về Tổ sư. Hiện tại
cũng có bóng dáng chư tăng, nhưng h́nh như quư thầy
tu Tịnh độ, không theo pháp tu thiền của Tổ
ngày xưa. Chùa chỉ dành cho khách hành hương văng lai nhiều
hơn là du tăng hành khước một thuở. Thiền
môn nghiêm tịnh, hải chúng an ḥa của hơn ngh́n năm
trước, nay đă thiên di mấy độ. Cũng là lẽ
thường thôi. Quư ở chỗ tâm Tổ vẫn c̣n
nguyên.
Là hậu sanh, được học lại cuộc
đời Tổ sư, chúng ta cung kính chấp tay đảnh
lễ một hiện thân Bồ-tát thôi th́ chưa đủ,
mà phải làm sao tu tập như Ngài. Toàn bộ cuộc
đời của Tổ là tấm gương sáng dạy
chúng ta vượt qua mọi thử thách cam go, và nhất là
vượt qua chính ḿnh, xả bỏ tâm kiêu mạn ngông cuồng
mới có thể học đạo và tu đạo. Đến
cửa này th́ phải biết cúi xuống, cúi xuống thật
gần với chính ḿnh để nhận ra đâu là chốn
trở về. Cái ǵ ngăn cản chúng ta sống một
đời sống rộng mở, tỉnh giác, chan ḥa và an
vui? Chướng ngại là “cái tôi”, từ đó mà có “cái của
tôi” để ta bám chặt, để ta tự siết lấy
đời ḿnh, đời người cho tới khi nhắm
mắt vẫn khôn nguôi. Nếu biết tung ra khỏi cái vỏ
kén đầy ích kỷ, nhỏ nhen và cô đơn này, thoát
khỏi cái bản ngă co cụm của ḿnh, chúng ta sẽ dễ
sống chan ḥa cùng tha nhân, biết yêu thương và chia sẻ
thật ḷng. Cho đi mà không bao giờ đ̣i lại là nguồn
hạnh phúc vô biên của một người biết sống
đạo.
Rời khỏi chùa đoàn đă ghi h́nh kỷ niệm.
Kính mong Tổ nhận cho ḷng thành của chúng con, những
tu sĩ đến muộn nhưng thật là rất tha thiết
tu thiền như chính Tổ năm xưa.
Cơn mưa phùn rỉ rả làm hỏng đi
chương tŕnh du thuyền bến nước Châu Giang của
đoàn. Xe chạy một ṿng cho chúng tôi tham quan. Thế cũng
đủ, v́ thật ra trời cũng đă tối. Con
nước Châu giang bắt nguồn từ Vân Nam chảy
qua bao bến băi thăng trầm, để rồi âm thầm
đi vào ḷng phố, uốn lượn quanh quẩn theo
chân người, làm mát lại chốn thị thành và thêm rực
rỡ sắc đêm dưới muôn ngàn ánh đèn. Ồ, mà
ta cũng không biết rơ ḍng sông len lỏi vào ḷng phố hay
ḷng phố mọc lên theo ḍng sông. Thôi, cũng không cần biết
tới chuyện ấy làm ǵ. Chỉ có điều Châu giang
làm cho trong chúng tôi, ít nhiều người nhớ tới
sông Hương bên nhà. Cũng len lỏi trong ḷng phố, cũng
uốn lượn đôi bờ bến nước con
đ̣, cũng bóng dáng phố thị in trên ḍng, nhưng sông
Hương nguyên sơ và trầm lặng hơn Châu giang nhiều.
Sông Hương lại càng lăng đăng sương khói hữu
t́nh, e ấp dịu dàng ẩn ḿnh bên núi Ngự khi bóng hoàng
hôn thả xuống đất Thần kinh. Nét đẹp của
sông Hương không thể đem so sánh với Châu giang hay
bất cứ một ḍng sông nào. Bởi v́ nó là nét đẹp
của ḍng sông quê nhà. Ḍng sông đă từ lâu mang tiếng
chuông chùa Linh Mụ đi vào ḍng đời, cảnh tỉnh
nhân sinh. Cho nên thôi, ḿnh cứ giữ kín trong ḷng.
Đêm nay đoàn nghỉ lại khách sạn Quảng
Châu. Nh́n xuống ḍng Châu giang, ánh nước lung linh trong ánh
đèn. Nơi đây bao người đă nhảy xuống,
bao người lại ngoi lên? Cái tṛ chơi xem ra rất cũ,
nhưng người ta dường như chưa biết
chán. Cả thế gian này cũng chỉ thế thôi, hết
sinh lại tử, hết tử lại sinh. Vậy mà chúng
sanh lặn hụp trong đó từ vô thủy kiếp đến
nay. Ngán th́ có ngán, nhưng chán th́ chưa chán. Thiền sư
th́ không như thế. Hoa Đ́nh Thuyền Tử ung dung
bước trên đôi bờ sanh tử, làm người lái
đ̣ đưa khách sang sông. Một con thuyền không
đáy. Một giọt nước chẳng dính chân. Đêm
về ngẫu hứng thả câu:
Thiên xích ty luân trực
hạ thùy,
Nhất ba tài động
vạn ba tùy.
Dạ tĩnh thủy
hàn ngư bất thực,
Măn thuyền không tải
nguyệt minh quy.
Dịch:
Nhợ câu ngàn
thước đà buông xuống,
Một sóng vừa
gợn muôn sóng sanh.
Nước trong,
đêm lặng, câu chẳng dính,
Đầy thuyền
chỉ chở ánh trăng thanh.
Không c̣n đủ thời gian để lần lựa
nữa, xe theo con đường nhựa tiến thẳng
về hướng Nga My sơn, cách Lạc Sơn khoảng
40km. Vào đến huyện Nga My ta cảm nhận ngay cái
không khí đất Phật. Một dăy đèn đuốc
sáng choang trên những tầng ngói uốn cong, thoạt nh́n cứ
tưởng là ngôi đại già-lam, nhưng không phải,
đó là khách sạn. Tổng thể khu du lịch dưới
chân núi Nga My đều có kiến trúc như vậy. Thật
hay. Rơ ràng vào đến Thánh địa, ḷng Phàm cũng lắng
dịu bụi trần.
Nghe danh chùa Báo Quốc là Nga My Đệ Nhất Tự,
chúng tôi hăm hở nối gót nhau đi thật nhanh,
trước khi trời sụp tối. Quả thật danh
bất hư truyền. Có thể nói bốn ngôi Đại
cổ tự để lại ấn tượng sâu đậm
nhất trong đoàn là chùa Báo Quốc tại đây, chùa Hiển
Thông tại Ngũ Đài sơn, chùa Thiếu Lâm tại Tung
sơn và Nam Hoa Thiền Tự tại Tào Khê. Đón khách là một
thác nước trắng xóa ở giữa. Bên phải là bút
tích của vua Khang Hy với ba chữ “Nga My Sơn” khắc
trên đá thật mạnh mẽ, sắc nét. Bên trái, một
khối thạch bảng dựng đứng hùng dũng với
năm chữ “Chấn Đán Đệ Nhất Sơn” do
Mao Chủ Tịch đề tặng, đủ biết
danh tiếng của ngọn núi này. Chùa Báo Quốc án ngữ
ngay dưới chân núi, xứng đáng là cánh cửa của
ṭa Nga My sơn. Khách đến Nga My mà không ghé chùa Báo Quốc
th́ chưa thể biết thế nào là:
Nhập thâm
sơn, trú lan-nhă,
Sầm ngâm u thúy
trường tùng hạ.
(Vào rừng sâu, trú
lan-nhă,
Núi dựng, tùng già
ôm bóng cả.)
Chứng Đạo
Ca
Phiến đá, con đường, rặng cây, ngọn
cỏ… mỗi mỗi đều lan-nhă. Đường dẫn
lên chùa đẹp như tranh và dĩ nhiên sống động
hơn tranh. Chúng tôi cúi xuống để lách qua một ṿm
cây là bước sang một khúc quanh mới với những
mảng đá lạ. Cảnh trí biến đổi theo những
đoạn đường quanh co với thiên nhiên ḥa
điệu cùng tâm hồn và bàn tay của con người gầy
dựng, làm cho cảnh trí chùa Báo Quốc thật là có một
không hai. Rất tiếc trời mờ tối nên chúng tôi
không đọc được bút tích trên các bia đá dọc
đoạn đường lên chùa. Chữ viết đủ
kiểu, chân phương, thảo, biến thể… khi th́
truyền thần mạnh mẽ, lúc lại uyển chuyển
thanh tao, sắc sảo vô cùng. Lầu chuông u tịch nằm
chêch chếch với Đại Hùng Bảo Điện, càng
về chiều càng trầm mặc đến lặng
người. Đứng nơi đây nh́n sang cổng Tam
quan của chùa mà nhớ tới một thời hưng thịnh
của thiền tông tại ngôi già-lam này.
Chùa được xây dựng vào khoảng năm
1573-1619 đời vua Thần Tông nhà Minh, thuộc tự viện
thiền tông. Chùa có tên cũ là Hội Tông Đường cũng
gọi là Hội Tông Phường. Đời Thanh (khoảng
năm 1662-1722), chùa được trùng tu và đổi tên
như ngày nay. Phía trước cổng Tam quan có biển
đề Báo Quốc Tự do tự tay vua Khang Hy viết.
Điện vũ chính có Di-lặc Điện, Đại
Hùng Bảo Điện, Thất Phật Điện, Tàng
Kinh Lâu, từ trước đến sau theo thế núi và cấp
bậc lên cao. Kiến trúc hoành tráng, tượng Phật uy
nghi, mỗi mỗi đều được thếp vàng
sáng chói. Tháp Phật ở trước điện Thất
Phật đúc bằng đồng cao 7m, nguyên là tháp Phật
của chùa Thánh Tích, ngôi chùa cũ đă hư vào đời
Minh. Trên tháp khắc hơn 4.700 tượng Phật và toàn bộ
kinh Hoa Nghiêm. Đây là một kiệt tác tinh xảo về
nghề đúc tượng của Trung Hoa.
Cảnh chùa làm cho chúng tôi nhớ đến hai câu
thơ tiếp theo của thiền sư Huyền Giác:
Ưu du tĩnh tọa
dă tăng gia,
Khuếch tịch
an cư thật tiêu sái!
Dịch:
Thong dong tĩnh tọa
gă tăng quê,
Vắng lặng an
nhiên cơi tiêu sái.
Bóng thiền tăng bây giờ ở đâu? Thiền
sư Huyền Giác xin được làm một gă tăng
quê th́ chắc có lẽ Ngài ở một mái chùa tranh, chớ
không ở một ngôi chùa tráng lệ như vầy. Song chiếc
bóng tĩnh tọa thong dong, một cơi tiêu sái hiện bày th́
quảng đại uy nghiêm và vĩnh cửu hơn muôn ngàn
lâu đài điện các. Đây mới đích
thực là linh hồn muôn thuở của già-lam, và
cũng chính là chốn t́m về của mỗi chúng tôi.
Đêm nay nghỉ dưới chân núi Nga My, mà không
được tĩnh tọa trong ngôi thiền tự
năm xưa. Thấy cũng buồn!
Ngày
11-5-2007
Thiên nhiên dường như ban tặng cho Trung Quốc
những đường nét hùng vĩ nhất của ḿnh.
Dăy Hy-mă-lạp sơn chất ngất chọc trời xanh
quanh năm tuyết phủ, những cao nguyên ngút ngàn lộng
gió, những đồng bằng mênh mông bất tận, những
sa mạc thử chân người cứng mềm, những
ḍng sông đôi bờ ngút mắt. Nhưng có thể nói tuyệt
tác nhất là sơn kỳ thủy tú.
Trung Quốc có những ngọn núi đă trở
thành Thánh địa thiêng liêng, là đạo tràng của các
vị Bồ-tát như Ngũ Đài sơn của ngài
Văn-thù, Nga My sơn của ngài Phổ Hiền, Cửu
Hoa sơn của ngài Địa Tạng, Phổ Đà
sơn của ngài Quan Âm. “Tứ đại danh sơn” không
chỉ là trú xứ tâm linh của người dân Trung Quốc
mà c̣n là nguồn t́m về của những ai bén duyên với
Phật pháp trong khắp năm châu bốn bể.
Nga My sơn nằm ở phía nam tỉnh Tứ
Xuyên, cách Thành Đô 160km về phía tây nam. Mạch núi xuất
phát từ Mân sơn, chập chùng uốn lượn như
chiếc cầu ṿng, dài hơn 180km, chu vi từ 5km đến
6km. Đỉnh cao nhất là Vạn Phật Đỉnh
3.099m. Toàn dăy núi có ba ngọn chính là: Đại Nga, Trung Nga,
Tiểu Nga. Quần thể chùa viện đền đài
hơn 200 ngôi, trên 40 sơn động và 100 thạch khám. Từ
chân núi lên đến chỗ cáp treo trước khi đi cáp
và leo bộ lên Kim Đỉnh là 53km, ngồi xe ô tô mất
khoảng 2 tiếng. Nhưng thật không tiếc chút nào v́
cảnh non Bồng nước Nhược của Nga My. Xe
len lỏi giữa những tầng núi chập chùng ghềnh
thác. Mỗi một vách núi là một cảnh tượng
khác lạ, biến ảo không lường. Kỳ hoa dị
thảo phủ lên non cái diễm lệ tự nhiên, không tô
điểm ngượng ngùng. Nước trên non chảy xuống,
mây lưng đèo bay lên. Núi và mây. Thinh và sắc… réo rắt
xao xuyến ḷng người. Thật chưa từng thấy!
Là nhà tu, đến chỗ này th́ phải tu lắm
mới được, không thôi cái lỗ tai, đôi con mắt
bị Ngộ Không dẫn đi chơi quên mất
đường về. Nhà thiền bảo thấy chỉ
thấy, nghe chỉ nghe, xem ra không đơn giản chút
nào. Thiền sư Đạo Giai dạy chúng:
Ngộ thinh ngộ
sắc như thạch thượng tài hoa,
Kiến lợi kiến
danh như nhăn trung trước tiết.
Dịch:
Gặp thinh gặp
sắc như trồng hoa trên đá,
Thấy lợi thấy
danh như bụi rơi trong mắt.
Thiền sư không dính, Bồ-tát không dính nên các
ngài ở núi dễ. C̣n chúng ta lợi danh mờ mắt nên ở
núi khó. Muốn ở núi cao th́ chí phải cao, tâm phải lớn,
hạnh phải rộng. Với người đời nét
đẹp sơn thủy là sương khói hữu t́nh,
nhưng với người tu non cao rừng thẳm là nơi
trưởng dưỡng công phu. Khí càng thanh tâm càng thoát, cảnh
càng vắng ḷng càng yên, mới có chút phần tương
ưng. Cho nên Bồ-tát Phổ Hiền đă chọn nơi
này làm trú xứ tu hành.
Lên đến Kim Đỉnh nhiệt độ
chỉ khoảng 30C – 50C, không khí đă loăng, tất cả
đều ch́m ngập trong biển mây bao la. Không biết có
phải “mây ma-ni vương” do Bồ-tát rưới khắp
mười phương như trong kinh Hoa Nghiêm đă tả
chăng, mà sao diệu kỳ đến thế! Đoàn c̣n
được hạnh ngộ với mưa Nga My, mới
biết thế nào là cái buốt giá nơi đây. Lạnh từ
trong xương lạnh ra. Thở bằng mũi không đủ
dưỡng khí, phải há hốc mồm thở phụ.
Toàn thân run cầm cập mặc dù ai cũng mặc ba bốn
lớp áo.
Có tới nơi mới kinh ngạc về sự
kỳ vĩ không phải chỉ núi non mà là con người.
Một đất nước quá lớn cho nên đă sinh ra
những con người có đầu óc cũng quá lớn.
Dám nghĩ dám làm. Chỉ đi hai tay không với một
đoạn núi ngắn có bậc cấp đàng hoàng mà ta c̣n
thở dốc. Chẳng hiểu ngày xưa không có ô tô, không
có cáp treo, làm sao người ta lên đây mà xây dựng đền
đài, điện các trang nghiêm uy vũ như vầy,
chưa kể đến phải chịu đựng một
khí hậu quanh năm giá rét và mây mưa phủ ngập
đêm ngày.
Trong sử ghi từ thời Đông Hán (25-220), ở
đây đă có Kim Đỉnh Phổ Quang Điện. Đến
khoảng đời nhà Đường, nhà Tống, Nga My
sơn được dựng lên rất nhiều điện
các. Cho đến đời Minh, đời Thanh th́ huy hoàng
rực rỡ. Ngày nay ngoài Kim Đỉnh ra, có khoảng 20
ngôi tự viện đang được bảo quản và
trùng tu, trong đó Kim Điện, Ngân Điện được
xem là hoành tráng và lộng lẫy nhất. Vừa nghĩ
đến thôi là đă phát run, đừng nói tới làm. Phải
chăng mỗi một con người nơi đây là hiện
thân của ngài Phổ Hiền, mang đại hạnh của
Ngài đi vào đời. Bởi v́ chỉ có hạnh nguyện
đại hải như Bồ-tát mới làm nổi những
chuyện khó làm nhất trên đời.
Kiến trúc của Kim Đỉnh Phổ Quang
Điện thật là kỳ vĩ. Đây là một ngôi
điện h́nh tṛn, nằm trên đỉnh núi Nga My. Nóc
điện là tượng Bồ-tát Phổ Hiền Thập
Diện, chia làm ba tầng. Diện mục xoay tṛn tượng
trưng cho sự có mặt của Ngài biến khắp
mười phương cơi. Bồ-tát ngự trên con voi sáu
ngà, bốn mặt xây về bốn hướng đông,
tây, nam, bắc. Toàn bộ Kim Đỉnh được thếp
vàng óng ánh, chiếu tỏa trên ṭa Nga My. Chúng tôi bước
vào Kim Đỉnh, biển đề “Thế giới Hoa Tạng”
hiện bày, đức Tỳ-lô-giá-na ngự chính giữa.
Mây mưa bên ngoài dứt bặt, ánh sáng bên trong tỏa chiếu,
Bồ-tát Phổ Hiền như ảnh hiện trong mỗi
kẻ cùng tử lang thang.
Phổ Hiền
thân tướng như hư không
Nương chân
tánh ở chẳng phải cơi
Tùy ḷng chúng sanh chỗ
thích ưa
Thị hiện
thân h́nh đồng tất cả.
Kinh Hoa Nghiêm
Nếu Bồ-tát Văn-thù cưỡi sư tử
xanh tượng trưng cho đại trí th́ Bồ-tát Phổ
Hiền ngồi trên voi trắng tượng trưng cho
đại hạnh. Voi trắng sáu ngà để biểu thị
hạnh nguyện rộng lớn.
Trong các loài thú, về sức mạnh chuyên chở,
voi là mạnh hơn cả. Nó hay chuyên chở người
và vật từ chỗ này đến chỗ khác. Bồ-tát
Phổ Hiền cũng thế, dùng đại hạnh hóa
độ chúng sanh, đưa họ từ bờ mê đến
bến giác. Sáu ngà tượng trưng cho Lục độ.
Hai vị Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền luôn luôn
được tán dương song song với nhau để
nói lên thâm ư “tri hành hợp nhất” trong giáo điển
Đại thừa.
Toàn bộ tông chỉ của kinh Hoa Nghiêm là “Nhất
tâm chân như, pháp giới duyên khởi”, được diễn
đạt xung quanh ba h́nh ảnh chính: Đức Phật Tỳ-lô-giá-na,
Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Phổ Hiền. Không rời
Pháp thân thanh tịnh (Phật Tỳ-lô-giá-na), từ Căn bản
trí (Bồ-tát Văn-thù), khởi Sai biệt trí làm lợi
ích vô lượng chúng sanh (Bồ-tát Phổ Hiền). Đức
Phật và hai vị Đại Bồ-tát này thật ra không
phải ở đâu xa, mà đă ngự sẵn trong ḷng mỗi
chúng sanh.
Dưới con mắt của Hoa Nghiêm th́ vũ trụ
vạn hữu trùng trùng do nhân duyên ḥa hợp mà thành. Từ
một vật nhỏ như hạt bụi cho đến một
vật lớn như trăng sao đều nương vào
nhau, làm nhân làm quả, dung thông nhau, ảnh hưởng nhau
mà có. Mỗi pháp mỗi pháp trong vũ trụ không thể tồn
tại riêng lẻ, biệt lập mà tự có được.
Cái này có là nhờ cái kia có, tương quan tương duyên,
lớp lớp không cùng cho nên gọi là “trùng trùng duyên khởi”.
V́ là trùng trùng duyên nhau nên một là tất cả, tất cả
là một. Mọi sự vật trong vũ trụ đều
dung thông nhau, do đó kinh Hoa Nghiêm gọi là “Sự sự vô
ngại pháp giới”.
Thiện Tài đồng tử khi gặp
được Bồ-tát Văn-thù, lănh thọ và nhiếp
tŕ chỉ giáo của Ngài xong, thân tâm vô cùng hoan hỷ, thành tựu
vô số pháp môn, đầy đủ vô lượng đại
trí quang minh. Bồ-tát Văn-thù dùng thần lực quảng
đại khiến Thiện Tài vào được đạo
tràng của Bồ-tát Phổ Hiền. Vào được cảnh
giới Phổ Hiền là vào được “Sự sự
vô ngại pháp giới” của Hoa Nghiêm. Mỗi sự mỗi
vật đều từ pháp tánh hiển hiện. Lư pháp tánh
viên dung vô ngại nên hiện ra sự vật cũng viên
dung vô ngại.
Bồ-tát làm tất cả việc mà chẳng thấy
có việc ǵ để làm, nên chẳng có chi ngăn ngại.
Do chẳng có chi ngăn ngại cho nên trùm khắp pháp giới.
Bồ-tát Phổ Hiền do nhiều kiếp lập hạnh
nguyện rộng lớn, công đức không thể tính kể,
đă thể nhập Hoa tạng thế giới hải, cho
nên mới có diệu lực như thế. Chúng ta lập hạnh
tu hành quyết phải có hai vị Bồ-tát này dẫn dắt
mới không rơi vào ma đạo. Làm nhiều mà không có trí
th́ dễ làm điều sai quấy, mê chấp thân tâm,
lầm sanh nhân ngă, dẫn tới phiền năo khổ
đau, trọn không có công đức.
Kim Đỉnh biểu trưng cho giai đoạn
chư Đại Bồ-tát đă lên vị Pháp Vân Địa
trong Thập địa. Tại đây sẽ được
Bồ-tát Phổ Hiền dẫn đạo thể nhập
Thập nguyện vương, tiếp tục tu tập
để tiến lên Đẳng giác, Diệu giác thành Phật.
Mười đại nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền
là:
1. Kính lễ chư Phật.
2. Xưng tán Như Lai.
3. Rộng tu cúng dường.
4. Sám hối nghiệp chướng.
5. Tùy hỷ công đức.
6. Thỉnh chuyển pháp luân.
7. Thỉnh Phật trụ thế.
8. Thường theo Phật học.
9. Luôn tùy thuận chúng sanh.
10. Hồi hướng khắp tất cả.
Ngài bảo dù “cơi hư không cùng tận, cơi chúng
sanh cùng tận, nghiệp chúng sanh cùng tận, phiền năo
chúng sanh cùng tận” th́ hạnh nguyện của Ngài “vẫn
không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, ba
nghiệp thân khẩu ư không hề nhàm mỏi” (kinh Hoa
Nghiêm). Trên con đường Bồ-tát đạo để
tiến lên Phật đạo, hành giả đừng nghĩ
đến thời gian, cứ tu hoài tu hoài, không bao giờ
chán, đó là tập theo hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền.
Khó là ở chỗ này. Chúng ta thường chỉ siêng tu
giai đoạn đầu hoặc gặp thuận duyên mới
tu, đụng phải chướng duyên dễ thối chí
nản ḷng, nên đạo nghiệp không xong.
Cũng trong kinh Hoa Nghiêm, nói về hạnh “Tùy thuận
chúng sanh”, Ngài kể lại:
- Trong tất cả các loài, nếu kẻ có bệnh
tôi v́ họ mà làm lương y, nếu ai bị lạc
đường tôi v́ họ mà chỉ cho con đường
chánh, nơi đêm tối tôi v́ họ mà làm ngọn đuốc
sáng, người nghèo thiếu tôi làm cho được của
báu. Bồ-tát lợi ích cho chúng sanh b́nh đẳng như vậy.
V́ sao thế? V́ Bồ-tát nếu có thể tùy thuận chúng
sanh là tùy thuận cúng dường chư Phật… Nếu
làm cho chúng sanh vui mừng chính là làm cho tất cả Như
Lai vui mừng. V́ sao thế? V́ các đức Như Lai dùng
tâm đại bi làm thể. Nhân nơi chúng sanh mà sanh ḷng
đại bi, nhân ḷng đại bi mà phát tâm Bồ-đề.
Nhân nơi tâm Bồ-đề mà thành bậc Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
Như lời Bồ-tát th́ chúng ta không thể thành
Phật khi không có chúng sanh, không gặp thử thách. Cho nên ta
hăy an ḷng vui tu nơi cơi này, v́ chỉ nơi đây mới
có nhiều thắng duyên để cho ta giật ḿnh nh́n lại
chính ḿnh.
Sau Kim Đỉnh là Hoa Tạng Tự, ngôi chùa
xưa nhất tại đây, được trùng tu vào
đời nhà Thanh (1866). Gần đó là Kim Điện và
Ngân Điện. Đứng trên Kim Đỉnh, ngẩng lên
là hư không vô biên, cúi xuống là biển mây vô tận,
như chính đại hạnh đại nguyện của
ngài Phổ Hiền. Tại Hoa Tạng Tự, Ḥa thượng
Thường Chiếu đă thuyết một thời pháp ngắn,
nói về công đức và đại nguyện của Bồ-tát.
Lời sau cùng, Ngài bảo hăy đảnh lễ và
nương vào chính đại hạnh Phổ Hiền
nơi mỗi chúng ta mà lập hạnh tu hành, để
thành tựu viên măn Phật đạo dài lâu.
Đoàn xuống núi. Mười nguyện lớn
của Bồ-tát vẫn c̣n vang măi trong ḷng.
Hư không hữu
tận,
Ngă nguyện vô
cùng…
Ngày
12-5-2007
Trước khi đến thiền viện Bảo
Quang, đoàn đă ghé tham quan Thanh Dương Cung của
Đạo giáo, là một giáo phái bản xứ của Trung
Quốc. Tứ Xuyên là nơi bắt nguồn của Đạo
giáo. Nghe nói cách Thành Đô 6km về hướng tây có một
ngọn núi tên là Thanh Thành. Ngọn núi này có 27 đỉnh, rải
rác nhiều đền đài của Đạo giáo. Nơi
đây vào đầu công nguyên có một đạo sĩ tên
là Trương Đạo Lăng (34-156) đă sáng lập ra
Đạo giáo. Tương truyền Trương Đạo
Lăng là cháu chín đời của Trương
Lương, ban đầu theo Nho giáo nhưng về già học
tiên thuật của Lăo giáo. Ông soạn ra sách “Đạo
Thư” gồm 24 thiên là giáo lư cơ bản của “Thiên
Sư Đạo”. Từ đó động của ông trong
núi Thanh Thành được gọi là Thiên Sư Động.
Giáo lư của Thiên Sư Đạo dựa vào
tư tưởng của Lăo Tử, phối hợp với
bói toán chú thuật và lấy phép phù thủy chữa bệnh
giúp dân. Mỗi khi chữa bệnh, đạo sĩ
được phần lễ tạ năm đấu gạo
nên đạo này c̣n được mệnh danh là “Ngũ
Đẩu Mễ”. Tư tưởng chủ yếu của
Đạo giáo là ngắm nh́n thiên nhiên mà trực nhận ra
quy luật của vũ trụ vạn hữu. Thế nên
tri kiến của Đạo là trực giác từ thiên
nhiên, hành động của Đạo là vô vi, làm mà không tác
ư([1]).
Chúng tôi vào trong thấy các điện đài chính
của Thanh Dương Cung gồm có điện Hỗn
Nguyên, điện Tam Thanh… kiến trúc cũng hao hao giống
các chùa chiền Phật giáo. Cảnh trí yên tịnh, các đạo
sĩ mặc áo dài đen, đầu búi tóc đi đi lại
lại nh́n khách, không biết nói chi!
Với những nơi không phải là trọng
điểm nhắm đến của chuyến hành
hương, chúng tôi chỉ tham quan cho biết và lược
ghi đôi nét hoặc có nơi thông qua.
([1]) Phần này viết theo Mùi Hương Trầm
của Nguyễn Tường Bách.
Thiền viện Bảo Quang nằm ngay trong ḷng
Thành Đô. Đây là thiền viện lớn nhất trong thủ
phủ của tỉnh Tứ Xuyên. Dẫn vào chùa là một
công viên nhiều cây xanh, rải rác những tháp đá thanh tú
được điêu khắc thật tinh xảo. Con
đường lát đá hoa cương sang trọng, sạch
sẽ nằm giữa hai dăy phố cổ thật đẹp.
Bốn chữ thiền viện Bảo Quang hiện ra sau bức
tường màu son
đậm, tạo cho ta cảm giác thiền môn là
chốn không quá gần cũng không quá xa với cuộc
đời.
Kiến trúc chùa cổ rộng lớn thật
đúng với tầm cỡ một ngôi đại già-lam của
Tứ Xuyên. Các điện đường được
phối trí hài ḥa dưới những tàng cổ thụ lâu
năm. Chúng tôi nhận thấy hầu như các thiền viện,
tự viện Trung Quốc thường xây dựng các dăy
điện đường cách nhau bởi một khoảng
sân rộng. Giữa sân là những đỉnh đồng
và lư hương lớn để cho khách thập
phương thắp nhang.
Vào chùa trước tiên là điện Di-lặc, kế
đến có ngôi cổ tháp 12 tầng. Trên tháp phía trước
khắc ba chữ “Quang Minh Tạng”, phía sau là “Xá-lợi Bảo
Tháp”. Kế nữa là Thất Phật Bảo Điện,
thờ sáu vị Phật quá khứ và đức
Thích-ca-mâu-ni. Chung quanh là các dăy nhà dành cho chư Tăng, nhà
khách, nhà ăn… Tương truyền, ngày xưa có một
cư sĩ tị nạn chiến tranh ở vùng này. Ban
đêm ông nằm mộng thấy ngay khu vực tháp hào quang
sáng rực. Ông liền cho đào lên và phát hiện có 12 viên
xá-lợi của Phật. Do đó ông xây tháp này, đặt
tên là tháp Bảo Quang, để thờ phụng xá-lợi
Phật. Nh́n kỹ ta thấy tháp hơi bị nghiêng,
người hướng dẫn viên giải thích rất
vui. Họ bảo khi xây tháp có Tứ thiên vương đến
nâng phụ bốn góc tháp, trong đó có một vị mạnh
quá nên nâng tháp cao hơn các vị kia. Do vậy mà tháp bị
nghiêng như chúng ta thấy hiện tại.
Cảnh trí nơi đây được bàn tay con
người chăm chút khá kỹ lưỡng với những
non bộ, những ṿm cổng uốn cong mỹ thuật.
Thế nên chùa không chỉ dành cho Phật tử đến
bái sám mà c̣n là thắng cảnh cho du khách tham quan. Giữa
ḷng phố chùa trở thành một góc yên b́nh cho bao người
sau một ngày làm việc mệt mỏi. Chiều về ghé
lại chùa, ngồi yên ả một ḿnh trên ghế đá,
dưới cội đại thọ, hít thở thật
sâu, thân tâm lắng dịu, bao lo toan muộn phiền cũng
theo đó vơi đi.
Đặc biệt chùa có La-hán Đường tôn
trí mấy trăm tượng La-hán, diện mạo không vị
nào giống vị nào. Sự khác biệt ấy để
nói lên biệt hạnh của quư ngài. Tất cả đều
sống động hồn nhiên và gần gũi với con
người. Đây thật là một kho tàng nghệ thuật
điêu khắc phong phú. Các chùa Việt Nam cũng có thờ
La-hán, nhưng thường là Thập Bát La-hán (18 vị
La-hán), chớ không nhiều như ở Trung Hoa. Con số ấy
chỉ mang ư nghĩa tượng trưng mà thôi. Thật ra
chư vị La-hán ngay thời Phật c̣n tại thế
đă vô số, nói ǵ đến những vị tu hành chứng
Thánh sau này, an trụ trong mật hạnh, các ngài không cần
đề danh. Mỗi vị có một hạnh tu và
phương pháp giáo hóa riêng. Đa số cuộc đời
các ngài kỳ bí, ẩn hiện khó lường, đến
đi với chúng sanh chớp nhoáng, không lưu lại dấu
vết. Bồ-tát và Thánh tăng thường là như thế.
Trong số 18 vị La-hán thường được
nhắc đến, có Tôn giả Tân-đầu-lô rất gần
gũi với chúng ta. Ngày nay sau buổi thọ trai, khi phục
nguyện, chư Tăng Ni tại các tự viện thường
niệm thỉnh danh hiệu Tôn giả Tân-đầu-lô-phả-la-đọa
chứng trai. Ngài là vị La-hán thứ nhất trong số
18 vị La-hán, được đức Phật thọ kư
ở lại nhân gian giáo hóa chúng sanh. Ngài cùng 1.000 vị
La-hán khác trụ ở Tây Ngưu Hóa Châu. Theo truyền thuyết,
Ngài xuất thân ḍng Bà-la-môn, là một đại thần
danh tiếng của vua Ưu-điền. V́ thích tu nên Ngài
cáo quan vào núi nỗ lực thiền định. Sau khi chứng
Thánh quả, Ngài cưỡi hươu về triều giáo
hóa vua, nhân đó có danh hiệu La-hán Cưỡi Hươu.
Khi Phật c̣n tại thế, nhân một cuộc
đọ sức với ngoại đạo, Tôn giả
dùng thần thông lấy cái bát quư treo trên trụ cao của một
vị Trưởng giả. Sự việc này làm cho ngoại
đạo rất nể phục chư Thánh tăng đệ
tử Phật. Hay tin, chẳng những không khen mà Phật
c̣n quở trách Tôn giả biểu diễn thần thông làm mê
hoặc dân chúng, khiến họ ngộ nhận mục
đích tu học của đạo Phật giác ngộ giải
thoát. Thế Tôn thường khuyên dạy các thầy Tỳ-kheo
nên dùng đạo thông giáo hóa chúng sanh, không nên dùng thần
thông. Chỉ trừ đức Phật hoặc những
trường hợp thật đặc biệt với sự
cho phép của Thế Tôn, các thầy mới được
dùng thần thông. Để răn đe hàng Thánh đệ
tử ghi nhớ việc này, Phật dạy Tôn giả phải
vĩnh viễn lưu lại nhân gian làm phước điền
cho chúng sanh, v́ thế Ngài thường làm bậc ứng
cúng trong các pháp hội như đă nói ở trên.
Một lần ở thời Ngũ Đại,
triều vua Ngô Việt thiết trai, có một Ḥa thượng
tướng mạo gầy ốm, lông mày dài bạc trắng
bay đến, ngồi vào chỗ dành cho khách quư, thọ thực
vui vẻ. Ăn xong, Ngài cho biết ḿnh là Tân-đầu-lô rồi
biến mất. Dưới thời vua A-dục và vua
Lương Vơ Đế, Ngài đích thân hiện đến
giáo hóa, làm tăng trưởng ḷng tin mọi người.
Thời Đông Tấn, ngài Đạo An là bậc cao
tăng phiên dịch kinh điển, thường lo sợ
chỗ dịch của ḿnh không đúng với Thánh ư. Ngài khấn
nguyện xin chư Hiền Thánh hiển lộ để chứng
minh. Tối hôm đó, Ngài nằm mộng thấy một vị
Ḥa thượng lông mày trắng đến nói:
- Ta là Tân-đầu-lô ở Ấn Độ, lấy
tư cách là một Đại A-la-hán, ta bảo chứng những
kinh điển ông dịch đều rất chính xác.
Ngài Đạo An rất vui mừng, từ đó
mới an tâm dịch kinh.
Ngoài ra, c̣n một vị La-hán rất quen thuộc
với chúng ta, mà kinh điển thường hay khen ngợi,
đó là Tôn giả La-hầu-la. Sau khi theo Phật xuất
gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn, Ngài bỏ
dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo
người, nỗ lực tu tập và chứng Thánh quả.
Sau khi thành A-la-hán, Ngài thay đổi hoàn toàn, luôn khiêm cung nhẫn
nhục, không thích tranh căi hơn thua. Pḥng của ḿnh bị
người đến ở, Ngài lẳng lặng vào nhà xí
ngủ qua đêm. Đi khất thực bị bọn côn
đồ ném đá trúng đầu chảy máu, Ngài lặng
lẽ đến bờ suối rửa sạch rồi tự
tay băng bó vết thương. Tín chủ cúng cho Ngài tịnh
thất, ít lâu sau đ̣i lại cúng cho người khác, Ngài
cũng b́nh thản dọn ra khỏi pḥng. Sau khi đă chứng
Thánh quả, Ngài vẫn siêng năng lặng lẽ tu tập.
Đức Phật khen Ngài là Mật hạnh đệ nhất
trong mười vị đại đệ tử và chọn
Ngài vào trong số 18 La-hán lưu lại nhân gian, giáo hóa chúng
sanh.
Xem gương người xưa, ta thảng thốt
nh́n lại ḿnh và hiểu rơ v́ sao cho đến bây giờ
đạo nghiệp vẫn chưa tới đâu. Từ những
chuyện rất nhỏ trong cuộc sống, trong ứng xử,
biểu hiện được một nội tâm sâu lắng
định tĩnh bên trong hay nông cạn vụng về toát
ra cả bên ngoài. Vui buồn từng cử chỉ, cắng
đắng từng lời nói, hơn thua từng việc
nhỏ… đă gây tạo những đau khổ lớn cho
nhau. Tất cả đều v́ bất giác, v́ bản ngă mà
ra. Con người chỉ là hạt cát. Một hạt cát giữa
trùng dương sa mạc th́ cũng chỉ là cát thôi. Có ǵ
phải bận ḷng! Vậy mà ta quên.
Trưa nay, đoàn dùng cơm tại chùa Bảo
Quang rồi sang viếng viện Văn-thù, một trong những
ngôi cổ tự lâu đời của Thành Đô.
Viện Văn-thù cách thiền viện Bảo
Quang không xa. Chùa c̣n có tên là Cổ Đại Thánh Từ Tự,
mặt xây về hướng nam lưng quay về hướng
bắc, đúng theo truyền thống các tự viện lớn
của Trung Quốc. Biển đề trước cổng
chùa ngày nay là bút tích của vua Quang Tự đời nhà Thanh
kính lưu. Đây là một ngôi Phạm vũ của hoàng
gia, thuộc phái Thiền tông, đă có 1.600 năm lịch sử,
được xây dựng vào đời nhà Đường.
Tương truyền Đường Huyền
Tông lúc trốn loạn đến Thành Đô, dân t́nh lúc ấy
thật đói khổ. Ông thấy một nhà sư trong chùa
bố thí cháo cho dân nghèo không sót một ai, nhà vua rất cảm
kích. Sau này khi đă yên vị, vua ra lệnh trích ngân quỹ
quốc gia xây dựng chùa. Ngày xưa đất chùa cả
1.000 mẫu, có tới 96 viện lớn nhỏ. Cuối
đời nhà Minh, chùa bị hủy hoại v́ chiến
tranh, sang đầu nhà Thanh mới được tái thiết.
Do đó kiến trúc chùa ngày nay mang phong cách kiến trúc đời
Thanh và diện tích chỉ c̣n vài sào mà thôi. Khi được
xây dựng lại, người ta đào nền móng lên và thấy
những viên gạch màu xanh lưu ly với đường
nét hoa văn cực kỳ tinh xảo, đáng gọi là giai
phẩm của công nghệ mỹ thuật đời
Đường. Một số c̣n được giữ lại
và trưng bày trong pḥng Trưng bày của chùa.
Đặc biệt tại đây Tam Tạng Pháp
sư Đường Huyền Trang đă lưu lại dịch
kinh trong ṿng 6 năm. Do đó chùa có cả một pḥng
trưng bày triển lăm và bảo lưu số kinh điển
do Ngài phiên dịch. Ngoài ra các tranh ảnh thuyết minh con
đường thỉnh kinh có một không hai và các pháp sự
vô lượng công đức của Ngài thật sinh động.
Trong đó có bức tranh pháp sư Huyền Trang một h́nh
một bóng giữa sa mạc mênh mông cát chảy, bên cạnh
là những chiếc đầu lâu một đi không trở
lại, dưới bức tranh có ḍng chữ “Bất cầu
đắc đại pháp, thệ bất Đông quy nhất
độ”, nghĩa là nếu không cầu được
đại pháp, thề không trở về Đông độ,
đă khiến cho ta phải rùng ḿnh khiếp phục mà
đảnh lễ Đường Tăng bằng cả
thân tâm.
Điện Quan Âm ở giữa có tôn thờ
tượng Bồ-tát Quan Âm cao 7m, được điêu khắc
từ một khúc gỗ cực quư dày hơn 2m, có 4.200
năm tuổi. Hỏi v́ sao có được khúc gỗ quư
này, người ta kể lại khi nạo vét sông lấy
cát, dân làng phát hiện ra nó nằm sâu trong ḷng cát, nên không hề
bị mục nát và màu sắc thật đặc biệt. Họ
báo về chùa, chư sư mới t́m đến xin mua lại
và điêu khắc thành tượng. Vân và gỗ ngày càng lóng
lánh, khiến cho Bồ-tát mỗi lúc mỗi chói tỏa
hơn.
Thật ra, không phải Bồ-tát chói tỏa v́ sắc
tượng bên ngoài mà v́ diệu lực của Ngài.
Thương và không từ bỏ một loài nào, hễ chúng
sanh niệm tưởng đến là Ngài liền ứng hiện.
Trong kinh Pháp Hoa, khi Bồ-tát Vô Tận Ư hỏi Phật rằng
Bồ-tát Quan Âm làm thế nào dạo khắp Ta-bà và
phương tiện của Ngài là ǵ? Đức Phật trả
lời nếu có chúng sanh nào cần dùng thân Phật
được độ thoát, Bồ-tát Quan Âm liền hiện
thân Phật mà nói pháp. Cần hiện thân Trưởng giả,
Cư sĩ, Tể quan, Bà-la-môn được độ
thoát… Ngài liền hiện các thân ấy mà nói pháp. Quan Âm xuất
hiện với 32 ứng hóa thân tương ứng với
32 hoàn cảnh, là tiêu biểu cho mọi t́nh huống kêu cứu
của chúng sanh. Nhẫn đến Bồ-tát có thể v́
chúng sanh mà làm người phu quét đường hay những
thân phận thấp kém nhất trong xă hội này, để
cứu thoát tất cả.
Bồ-tát Quan Âm luôn có mặt bên cạnh chúng ta.
Ngài ở lại Ta-bà măi măi mà chúng sanh không chán, v́ tai Ngài lắng
nghe tiếng nói của chúng sanh, tâm Ngài lắng nhận và thấu
cảm nỗi khổ của chúng sanh, để đến
và chia sẻ, không từ chối một ai. V́ lắng ḷng
nơi trần gian nên giữa Ngài và trần gian không thể
rời nhau được. Đó chính là nguyên nhân Bồ-tát
thường hiện hữu nơi cơi Ta-bà và luôn được
chúng sanh ngưỡng mộ thương kính.
Chẳng những Bồ-tát nghe được mọi
âm thanh của chúng ta, mà tánh nghe này thấu suốt khắp
mười phương Phật. Cho đến những niệm
nhỏ nhiệm nhất của chúng sanh, Ngài đều nghe
được. Phật bảo tánh nghe này không chỉ Bồ-tát
Quan Âm mới có mà tất cả chúng sanh cũng có. Nhưng
Bồ-tát khác chúng sanh v́ Ngài quên trần cảnh nhớ tánh
nghe, c̣n chúng sanh quên tánh nghe nhớ trần cảnh. Cho nên nhĩ
căn của Ngài viên thông, c̣n nhĩ căn của chúng sanh
không thông. Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật đă chọn pháp tu
Nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quan Âm làm pháp tu
căn bản cho hành giả trên đường trở về
bản tâm.
Bồ-tát Quan Âm sử dụng đại bi và
đại trí như hai cánh tay không rời Pháp thân Phật.
Do đó từ tâm của Ngài hiển hiện thành diệu dụng
dưới mọi dạng thức để hóa độ
chúng sanh. T́nh thương của Bồ-tát được
nâng lên đến đỉnh điểm của bi trí tṛn
đầy, vượt qua mọi ngăn ngại, không c̣n
thấy ḿnh và người, cũng không c̣n t́nh thương
để cho và nhận. Đó mới chính là t́nh
thương chân thật. Giống như ánh sáng mặt trời
tỏa chiếu khắp nhân gian, không cần biết nơi
chốn cao thấp. Dù chúng ta quư kính Bồ-tát hay không, Ngài vẫn
thương chúng ta. Thành tựu trí lực này, Bồ-tát Quan
Âm đi vào cuộc đời không chướng ngại,
thân nơi cơi tục mà tâm an trụ cảnh giới Phật.
Có người hỏi nếu niệm danh hiệu
Quan Âm, nhảy vào lửa có cháy không? Cháy chứ. Nhào xuống
biển có ch́m không? Ch́m chứ. Niệm bằng cái tâm loạn
động và cái miệng suông th́ chết chắc! Hành giả
phải niệm bằng tâm thuần tịnh. Tâm tâm
tương ưng với Bồ-tát. Chánh niệm, chánh định,
niệm ngoài sóng thức, niệm đến vô niệm. Quên
hết. Quên cả chính ḿnh th́ không c̣n bị khủng bố,
sợ hăi. Được thế, dù cho xác thân có cháy cũng
chỉ cháy phần huyễn tướng, có ch́m cũng chỉ
ch́m năm uẩn bốn đại, bấy giờ hành giả
nhập được Pháp thân bất diệt, vĩnh viễn
vượt ngoài sự sống chết. Như vậy không
phải Bồ-tát đă cứu thoát ḿnh đó sao? Quan Âm diệu
trí lực, hay cứu khổ thế gian, chính là đây vậy.
Đảnh lễ Bồ-tát Quan Âm trước khi
rời Viện Văn-thù, chúng tôi cảm thấy một
chút an ḷng khi chợt nhớ đến hai vị Đại
Bồ-tát luôn ở bên ḿnh, trong từng niệm từng niệm
bi trí tṛn đầy.
Tứ Xuyên là xứ của danh trà. Cho nên ngành du lịch
Trung Quốc nhất định phải đăi khách cho bằng
được những chung trà đặc sản. Ghé vào một
quán trà Thành Đô, đoàn được mời vào căn
pḥng ấm áp. Ở đây, chủ chỉ rót và khách chỉ
uống, chớ không đối ẩm, càng không phải trà
thiền hay trà đạo như ở Nhật Bản.
Uống trà như uống… rượu. Đây,
Trúc Diệp Thanh một chung, mời. Thanh Sơn Lục Thủy
một chung, mời. Lan Quư Nhân một chung, mời. Thế
là Vương trà, Hồng trà, hoa nhài, Ô Long, Long Tỉnh… nối
nhau xếp hàng chào khách. Uống một hơi mười mấy
chung th́… hết biết. Vô phân biệt. Chẳng c̣n nhớ
nổi vị nào là đậm, nhạt, thơm, ngon, đắng,
chát… Thật hay. Nhưng tiếc là không có chung trà Triệu
Châu năm xưa, để cho khách uống phải tỉnh
mộng, nhớ lại việc bổn phận của ḿnh.
Nhà tu th́ không được say bất cứ thứ
ǵ trên đời, kể cả say trà. Cho nên chúng tôi uống
xong quên tuốt hết. Lối tiếp thị của Trung
Quốc quả là rất có phong cách, nhưng Tăng Ni Việt
Nam dường như chỉ quen uống trà xanh, trà Phật,
cây nhà lá vườn b́nh thường thôi. Song để
đáp lại tấm thịnh t́nh nơi đất khách, Phật
tử trong đoàn đă mua khá nhiều trà cúng dường
quư Thầy cô hoặc đem về tặng thân hữu gọi
là chút quà Trung Hoa.
Riêng chúng tôi xin gửi đến Thành Đô – Tứ
Xuyên chung trà của thiền sư Huyền Quang – Việt Nam
như là chút đạo t́nh cho một lần hội ngộ.
Phú quư phù vân tŕ vị
đáo,
Quang âm lưu thủy
cấp tương thôi.
Hà như tiểu ẩn
lâm tuyền hạ,
Nhất tháp tùng
phong, trà nhất bôi.
Dịch:
Giàu sang mây nổi
đến dần dà,
Ngày tháng trôi nhanh chẳng
đợi mà.
Chi bằng tiểu
ẩn([1]) nơi rừng suối,
Một giường
gió mát, một chung trà.
Ḥa thượng
Thanh Từ dịch
([1]) Tiểu ẩn là ở nơi rừng núi,
trung ẩn là làm quan nhỏ, đại ẩn là ở triều
đ́nh.
Một chung trà này, chẳng thích lắm sao!
Giă từ Thành Đô, chúng tôi lên tàu. Chắc chắn
đêm nay sẽ rất tỉnh v́ một hỗn hợp trà
c̣n ấm trong bụng.
Ngày
10-5-2007
Ăn sáng xong, đoàn đáp chuyến bay đi
Thành Đô vào lúc 8 giờ sáng. Sân bay Thành Đô nhỏ
hơn sân bay Quảng Châu. Thành Đô là thủ phủ của
tỉnh Tứ Xuyên. Đoàn đến Trung Quốc vào đầu
mùa hè, nên nhiệt độ Tứ Xuyên lúc này khoảng 80C –
150C. Ở đây quanh năm sương mù nên ta có cảm
giác mát dịu hao hao như Đà Lạt. Nếu là mùa
đông chắc sẽ lạnh hơn nhiều.
Tứ Xuyên là tỉnh đông dân, khoảng 120 triệu
dân, có diện tích hơn nửa triệu cây số vuông, lớn
gấp rưỡi Việt Nam. Đây là tỉnh có địa
thế rất hiểm trở, h́nh ḷng chảo, núi non vây
quanh tứ bề. Phía nam là cao nguyên Vân Nam, phía đông bắc
tiếp giáp với Thiểm Tây, phía đông là rặng Vu
sơn, phía tây là Thanh Hải – Tây Tạng. Ngày xưa nơi
đây là vùng biên địa hạ tiện, đất
đai khô cằn. Đến thế kỷ IV trước
công nguyên mới được người Hán đến
khai khẩn.
Khách đến Tứ Xuyên th́ không thể không nhớ
tới nước Thục ngày xưa của Lưu Bị.
Sử Trung Quốc ghi rằng đầu công nguyên (năm
67) vua Hán Minh Đế là người đầu tiên ngưỡng
mộ Phật pháp và cho truyền bá đạo Phật trong
xứ sở này. Đó là thời Hậu Hán. Sau gần 200
năm, con cháu của Minh Đế là Hiến Đế lên
ngôi, bị Đổng Trác và Tào Tháo chuyên quyền lấn hiếp.
Trong tôn thất nhà Hậu Hán có một người tên
Lưu Bị, làm nghề dệt chiếu, đóng dép.
Đau ḷng v́ cơ nghiệp nhà Hán, ông kết nghĩa cùng
Quan Vân Trường, Trương Dực Đức dấy
quân pḥ vua giúp nước. Song có thể nói đại nghiệp
của ông thành tựu là nhờ vào thiên tài Khổng Minh Gia
Cát Lượng (181-234). Quân sư Gia Cát Lượng giúp
Lưu Bị chiếm được vùng đất Thục,
nay là tỉnh Tứ Xuyên, đóng đô ở Thành Đô.
Bấy giờ Tào Tháo giữ đất Trung Nguyên
gọi là nước Ngụy, c̣n Tôn Quyền dựng nước
Ngô. Đó là ba vùng đất to lớn, chia Trung Quốc ra
thành thế chân vạc, mỗi người hùng cứ một
phương và luôn ŕnh rập ḍm ngó nhau. Không biết v́ chí lớn
muốn thống nhất giang san một cơi hay v́ ḷng tham
không đáy của con người mà trận đồ
đẫm máu Tam quốc Ngụy, Thục, Ngô kéo dài suốt
60 năm, để lại cho hậu thế tác phẩm Tam
Quốc Chí chưa khô ḍng huyết lệ, quá đau
thương để cho người sau phải ngậm
ngùi.
Chịu bao biến đổi thăng trầm, bể
hóa cồn dâu, Tứ Xuyên bây giờ không c̣n là biên địa
hạ tiện nữa mà trở thành một trong những tỉnh
gần trung tâm rất phát triển của Trung Quốc.
Lưu Bị có c̣n nằm trong thành Bạch Đế, cung Vĩnh
An mà ngắm Tứ Xuyên ngày nay, chắc hẳn sẽ thấy
vui? Bài học lịch sử nào cũng có kẻ thắng
người bại, nhưng rồi tất cả đều
trở thành thiên cổ, tro tàn xương lạnh,
tương sinh tương diệt theo quy luật vô thường.
Có chăng chỉ c̣n lại khí tiết, phẩm chất,
đạo đức của người anh hùng. Song những
thứ ấy cũng không sao sánh được với cái
lẽ chân thường, hư ngưng tịch lặng. Con
người chỉ là một chút duyên sinh theo nghiệp tạm
đến, thuận ḍng tạm đi, sao để thân tâm
chịu nhiều khổ lụy như thế!
Hăy xem Thượng sĩ Tuệ Trung nước
ta, một tướng lĩnh chung vai sát cánh với vua Trần,
với dân tộc trong những ngày đất nước gặp
cơn binh biến, đă có thái độ đến đi
trong cuộc đời bằng cái tâm của người sống
đạo, đẹp và tỏa sáng hơn cả vầng
trăng: “Đói th́ ăn chừ cơm mười
phương góp, mệt th́ ngủ chừ nơi chẳng
quê hương… Buông bốn đại chừ đừng nắm
bắt, tỉnh một đời chừ thôi chạy
quàng”. Được thế là do Thượng sĩ tu thiền,
liễu đạt nguồn tâm, sống tự do, chết tự
tại, không ǵ có thể buộc ràng. Cho nên Ngài đă bất
tử, đă sống măi trong ḷng đất Việt, trong
ḷng Tăng Ni, Phật tử và dân tộc Việt Nam, không
tính kể thời gian.
Đường từ phi trường đến
Thành Đô khá tốt. Những mảng dây leo dọc bờ
đá ở hai bên đường man mác xanh lẫn trong
sương mờ, làm cho Tứ Xuyên mù tỏa lại càng mù
tỏa hơn. Mặt trời lên muộn, đă gần 11
giờ trưa mà vẫn chưa thấy nắng. Dân ở
đây bảo có hôm mặt trời ngủ quên th́ Tứ
Xuyên cũng trùm mây mà ngủ luôn suốt ngày đêm. Thật
ra, vùng b́nh nguyên đất đỏ này như cái ḷng chảo
nằm chính giữa, chung quanh núi non bao phủ, nên khí hậu
lạnh và ẩm quanh năm, hiếm khi thấy nắng ấm
trời trong.
Vào Thành Đô, dùng trưa xong là đoàn đi ngay
đến Lạc Sơn. Đây là một thị trấn
nhỏ nhưng lại có đức Phật rất lớn
- Lạc Sơn Đại Phật. Diện tích Lạc
Sơn là 12.800km2, có 3.600 dân và hơn 3.000 năm lịch sử.
Thời Nam Bắc triều gọi đây là Gia Châu, thời
Nam Tống gọi là Gia Định, đến đời
Thanh gọi là Lạc Sơn và tên này được dùng luôn
cho tới nay. Người ta bảo ở đây nổi tiếng
là “Nhất Sơn, Nhị Phật, Tam Giang”. Nhất sơn
là Nga My sơn, Nhị Phật là Đại Phật, Tam
giang là ba ḍng Mân giang, Thanh Y giang và Đại Độ hà hợp
lưu tại Lạc Sơn. V́ thế nó trở thành đô
thị được nhiều du khách văng lai.
Chúng tôi phải đi bộ một đoạn
đường khá xa (khoảng 3km) và đẹp dọc bờ
Mân giang trước khi được đảnh lễ
Như Lai. Nước sông hắt lên làm dịu bớt cái
hanh nắng mùa hè. Cảm ơn hàng cây xanh bên đường
phe phẩy một chút gió và bóng mát tỏa râm là món quà tặng
lữ khách phương xa. Mới đến Trung Quốc
có hai ngày, cho nên ai cũng c̣n đủ sức, đi rất
khỏe. Xem ra đây mới chỉ là khúc đầu của
bản dạo bộ, đi bộ, lội bộ cho tới
chạy bộ của chúng tôi suốt 14 ngày tại Trung Quốc.
Hết lên đường lại xuống đường,
muốn dừng cũng không sao dừng được. Các
tay nhiếp ảnh trong đoàn vẫn c̣n rất thư thả
nhắm, ngắm, bấm… thật vui vẻ.
Truyền thuyết kể về sự ra đời
của đức Phật nơi đây khá hay. Lạc
Sơn là chỗ nhập lưu của ba ḍng Mân giang, Thanh Y
giang và Đại Độ hà. Do vậy chỗ này nước
xoáy, sóng dữ, sẵn sàng lật đắm ghe thuyền bất
cứ lúc nào. Ḍng thủy triều nơi đây trở thành
mồ chôn của bao nhiêu khách thủy hành. Bấy giờ có
một vị tăng hiệu là Hải Thông không chịu
được thảm cảnh ấy, ngài quyết chẻ
núi lấp sông. Và kỳ tích hơn là chính ngọn núi
được chẻ ấy sẽ tạc thành tượng
của đức Đại Phật Lạc Sơn. Ngài chọn
một vách đá lưng dựa vào núi Lăng Vân, mặt
nh́n ra đúng chỗ hợp lưu của ba ḍng sông trên, rồi
quyên góp ḷng hảo tâm của nhiều người, chung vai
góp sức để thực hiện tâm nguyện trên. Viên
quan địa phương bấy giờ thấy Ngài có tiền
của, nổi ḷng tham nhũng nhiễu đ̣i chia. Ngài
cương quyết không cho và nói đó là số tiền của
bá tánh, nếu của riêng th́ Ngài sẵn ḷng. Viên quan không
tha, xin thử mắt đại sư, nào ngờ Ngài móc mắt
đưa ngay. Sự việc đó làm cả người lẫn
thần sông phải kinh sợ. Thế là ngài Hải Thông bắt
đầu xây dựng công tŕnh này vào năm 713 đời
nhà Đường.
Công tŕnh chưa xong th́ Đại sư đă theo
Phật. Do tâm hạnh và bi nguyện của Ngài quá lớn,
quá cảm động ḷng người nên chiêu cảm nhiều
tăng sĩ tự nguyện noi theo, tiếp tục công
tŕnh cho tới ngày hoàn thành. Thật đáng khâm phục, 90
năm sau tức năm 803, Đại Phật Lạc
Sơn viên măn tỏa sáng và trở thành tượng Phật
được điêu khắc từ đá lớn nhất
thế giới với chiều cao 71m. Mặt Phật rộng
10m, mắt ngang 3,3m, tai dài 7m, vai rộng 24m, trên bàn chân đứng
hơn 50 người, thế ngồi an nhiên vững chăi. Quả
xứng với câu “Sơn thị nhất Tôn Phật, Phật
thị nhất ṭa sơn” (núi là một vị Phật, Phật
là một ngọn núi). Kể từ đó ngọn Lăng
Vân được kiến tạo thành một quần thể
hang động với rất nhiều chư Phật và Bồ-tát.
Đức Phật ngự trên một ṭa núi
đá, uy nghi hùng tráng trước sông nước như vậy
th́ nước sông nào dám nổi cơn cuồng nộ? Cho
nên từ đó ḍng sông biến đổi hoàn toàn, đá từ
núi đổ xuống đă lấp bằng những chỗ
xoáy sâu, chế ngự được các ḍng chảy hỗn
loạn. Người dân yên tâm trên những chuyến thuyền
qua lại. Đến đây, hầu như ai cũng hướng
về Đại Phật cúi đầu chấp tay cung kính
đảnh lễ và không quên tưởng nhớ đến
công đức của đại sư Hải Thông.
Đoàn đi đường ṿng lên chùa Lăng
Vân. Chùa nằm ở vị trí ngang đầu mặt Đại
Phật. Cảnh trí già-lam u nhă thanh tịnh. Kiến trúc
đẹp, ṿm mái các điện đài chạm trổ sắc
sảo, thanh nét, tạo cho khách cảm giác nhẹ nhàng
tươi mát. Đứng trên cao nh́n xuống ta thấy rơ
hai con đường hẹp ở hai bên đức Phật,
xây thành cấp thang dẫn từ chân Đại Phật lên
núi Lăng Vân. Thiện nam tín nữ có thể nhiễu quanh
theo bên phải ba ṿng (nếu đủ sức) rồi
đứng lại cung kính đảnh lễ Như Lai mà
thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài ít bệnh ít năo
chăng? Chúng sanh ở đây dễ độ chăng?” Nếu
đức Phật gật đầu th́ xem như kẻ ấy
có duyên với Đại Phật lắm. Du khách cũng có
thể dùng thuyền theo ḍng Mân giang đến ngay dưới
chân tượng, lễ Phật rồi lên chùa chiêm ngưỡng
Như Lai.
Chúng tôi ngồi nơi lầu chuông nh́n xuống
ngă ba sông, chỗ hợp lưu ba ḍng Mân giang, Thanh Y giang và
Đại Độ hà bây giờ, con nước thật
hiền ḥa, lững lờ quanh những cồn cát nổi
vân. Ai biết được nó đă hung tợn như thế
nào trước đây những ngh́n năm? Ai dám bảo
không có ǵ thay đổi theo ḍng thời gian? Chỉ có điều
các pháp đổi thay tốt hơn hay xấu hơn mà thôi.
Tất cả đều tùy tâm lưu chuyển. Nếu
không phải là từ tâm, đại tâm như đại
sư Hải Thông và chư sư tiếp nối th́ liệu
ḍng sông có được như ngày nay chăng? Cho nên
trước tiên phải chuyển cái tâm ḿnh đă, lo ǵ không
hết khổ, được vui. Tâm có Phật ngự th́
hết sợ, như Lạc Sơn Đại Phật với
Tam giang đầu hợp vậy.
Chiều xuống nhanh, tiễn chân chư tăng
Việt Nam là những chung trà ấm của Lăng Vân Tự
và nụ cười hiền của Sư Trụ tŕ. Mong
ngày gặp lại.
14/09/2007
Chuyến tàu K6 đi Tây An lăn bánh vào lúc 20h52
phút. Đây là chuyến tàu đầu tiên của đoàn,
để từ đó những tuyến tàu kế tiếp
nhau lưu lại trong chúng tôi nhiều ấn tượng hỏa
xa… xuất hạn mồ hôi. V́ là lên và xuống tàu ở một
sân ga giữa chừng, nên thời gian dành cho hành khách rất
ít, khoảng 5 phút – 8 phút, có chỗ chỉ 3 phút.
Đoàn lại đông, đa số là người
lớn tuổi, hành lư nhiều, cho nên việc đi tàu lửa
trở thành kỷ niệm nhất. Có người về
đến nhà, nhắc lại chuyến đi không nhớ
ǵ cả ngoài chuyện đi tàu lửa. Nhưng lần này
vẫn c̣n thong thả, chưa có ǵ đáng nói lắm. Lần
gần cuối cùng kia, mới biết thế nào là chạy
đua với tàu lửa.
Từ Thành Đô đến Tây An nh́n trong bản
đồ chỉ chừng một đốt tay, mà tàu chạy
suốt đêm không thấy tới, Trung Quốc quả thật
là một đất nước bao la. Đêm nay nghỉ lại
trên tàu. Nằm lắc lư trong toa, nh́n ra những cánh
đồng mênh mông, những đồi, những núi, những
làng mạc ẩn khuất gần xa… chập chờn mờ
tỏ trong đêm, chúng tôi chợt nhớ lại bài pháp của
Ḥa thượng Ân sư.
- Có một con tàu kỳ lạ gồm nhiều
toa, nhiều hạng nhưng không có người lái. Nó tự
chạy đều đều tiếp nối liên tục từ
phố thị ra biển khơi với một vận tốc
thật chậm. Trên đó vô số người bị lính
áp tải lên những toa khác nhau, từ hạng tốt
đến hạng xấu. Hành khách đều có mang theo
hành lư riêng. Tuy chung một con tàu nhưng họ rất khác
nhau. Có người ngủ vùi, có người mê say ăn uống,
có người vui đùa thâu đêm, có kẻ ẩu đả
v́ những canh bạc đỏ đen… Bao nhiêu cảnh
tượng chen lấn giành giâït miếng ăn giấc ngủ
liên tục xảy ra, mặc cho con tàu lăn bánh đưa
họ ra trùng dương.
Trải qua quăng đường dài vạn dặm,
hương thơm cỏ lạ, kỳ hoa dị thảo
dàn trải trước mắt. Nhưng cũng có lúc con tàu
chạy ngang qua những cánh rừng thâm u, cảnh tượng
ma quái ghê rợn, hoặc chui vào ḷng núi băng giá, âm khí ngột
ngạt… Nơi nào vừa ḷng thích ư, hành khách mong cho con tàu chạy
chậm lại để thỏa ḷng thưởng thức.
Nơi nào nghịch ḷng trái ư, họ muốn con tàu lướt
nhanh. Song ác nghiệt thay, con tàu lạ kỳ ấy vẫn
không thể nào lùi chậm hay tiến nhanh theo ḷng người.
Đường xa đắm cảnh khiến cho
đa số hành khách trên tàu quên rằng đoạn
đường cuối cùng sẽ là biển khơi. Vui
thú, đam mê theo những h́nh ảnh đẹp, có người
nhảy bổ ra ngoài và chết mất. Đau ḷng hơn,
nhiều cảnh tranh giành lấn hiếp, xô đẩy nhau
đă khiến họ quăng đồng loại ḿnh xuống
vực thẳm ven đường. Trong số đó, rất
ít người c̣n lại trên tàu, biết rằng số phận
ḿnh sẽ rơi xuống biển sâu, họ không chạy
theo ngoại cảnh, mà âm thầm lặng lẽ ngồi kết
từng mảnh cao su lại với nhau thành chiếc phao, mặc
t́nh những kẻ chung quanh cười chê.
Rồi cũng đến lúc đại
dương hiện ra trước mặt. Những ai quên
đi số phận của ḿnh, bấy giờ hốt hoảng
kêu la cầu cứu, van nài con tàu dừng lại. Nhưng
quy luật ấy không thể thay đổi được.
Nó đâm nhào xuống biển, kết thúc cuộc hành tŕnh
dài vô vị, vô lư kia. Chỉ những người không chạy
theo huyễn duyên, không màng chuyện hơn thua phù phiếm,
họ đă có sẵn chiếc phao, để khi con tàu lao
xuống biển, họ trầm tĩnh nương chiếc
phao lên bờ b́nh an vô sự.
Câu chuyện được hợp pháp như sau:
Bọn lính áp tải người lên tàu ví cho nghiệp lực
dẫn chúng ta thọ sanh vào các cơi. Các toa tốt xấu dụ
cho tùy phước hay tội mà chúng ta sanh ra trong gia đ́nh,
xă hội, hoàn cảnh thuận nghịch, sang hèn khác nhau. Cảnh
vật bên ngoài là ngũ trần. Hiện tượng diễn
ra bên trong là tam độc, bát phong… Sự vận chuyển
liên tục không dừng là ḍng thời gian. Điểm khởi
và điểm đến dụ cho sanh tử, chúng ta ai cũng
sinh ra và cuối cùng lại chết đi. Nếu người
tỉnh giác th́ không ch́m đắm trong biển vô minh, được
lên bờ giải thoát. Ngược lại, kẻ si mê quên
đi việc sống chết vô thường đang theo
đuổi ḿnh từng phút từng giờ th́ hẳn phải
trầm luân nơi biển khổ.
Bài pháp ấy là một bài pháp sống đă đi
theo chúng tôi trong suốt cuộc hành tŕnh, như một hồi
chuông cảnh tỉnh, như một ánh đuốc soi
đường, hướng đạo kẻ lữ hành
không lạc vào mê lộ tử sinh.
Ngày
13-5-2007
Khoảng 12h30 phút, đoàn đến Tây An. Nhiệt
độ khoảng từ 16oC – 29oC, rất quen. Nghỉ
trưa xong, chúng tôi đến chùa Từ Ân và tháp Đại
Nhạn bằng xe ô tô. Tây An là thủ phủ của tỉnh
Thiểm Tây và cũng chính là cố đô Trường An của
các triều Chu, Tần, Hán, Tùy, Đường, Minh… trước
sau có đến 10 triều đại chọn nơi
đây là trung tâm kiến thiết kinh đô, trải dài
hơn 1.100 năm. Xe chạy qua cổng thành cổ xưa tạo
cho ta cảm giác kính cẩn rụt rè như kẻ thứ
dân bước vào cổng nhà quan lớn. Chung lâu và Cổ
lâu sừng sững trong thành càng làm tăng thêm vẻ uy nghi
đường bệ của một thời cố đô
cổ đại. Bóng mát của hai hàng cây ngô đồng
được rắc lên chút sắc chiều hoàng hôn, làm
cho lối dẫn vào Tây An như một đường ngầm
xanh thẳm, lấm tấm điểm nắng hồng. Cổ
kim giao hưởng tạo nên một dáng dấp Tây An hôm
nay. Đẹp và cổ kính.
Chu vi thành 11km, chung quanh có 4 cửa, người ta
đào hào sâu bên ngoài để giữ thành. Đồng thời
làm thêm một con đường bao quanh thành rộng đến
150m, hai bên đường trồng cây ngô đồng và cây
du. Ngày nay Tây An có khoảng 3 triệu dân. Thành Trường
An đời nhà Đường to lớn kỳ vĩ
hơn thành Trường An đời nhà Hán gấp bội.
Từ sau đời Đường, kinh đô các triều
đại khác chuyển về phía đông. Đời Minh
đổi Trường An thành Tây An. Ngày nay chúng ta thấy
tường thành và lâu thành hoàn chỉnh như vầy đều
là kiến trúc của đời nhà Minh.
Nhà khảo cổ Hạ Tân Thành cho biết thành
Trường An đời Đường là thiết kế
tinh tế nhất của Trung Quốc, là một kinh đô
cổ đại có bố cục cân đối. Nam – Bắc
8,4km; Đông – Tây 7,9km; với tổng diện tích 81,48km2.
Vào thế kỷ thứ VIII, IX Trường An được
xem là kinh đô lớn nhất thế giới. Đông tây
nam bắc thành Trường An được thiết kế
thẳng góc giống như một bàn cờ. Thành Lạc
Dương, thành Bắc Kinh sau này đều mô phỏng
theo quy cách ấy.
Thành Trường An đời Đường có
tới 12 cổng thành, chớ không phải chỉ 4 cổng
như bây giờ. Trong đó, nổi tiếng nhất là cổng
Khai Viễn nằm ở phía tây. Chính nơi đây
Đường Huyền Trang đă xuất phát, thực hiện
một cuộc Tây du dài 5.000 dặm, để sau này Phật
giáo Trung Quốc có được một kho tàng kinh điển
đồ sộ chưa từng thấy. Có thể nói cổng
Khai Viễn chính là khởi điểm ở phía đông của
con đường tơ lụa. Con đường mà không
biết truyền nhân nào đă t́m ra từ đầu công
nguyên, để từ đó mở lối cho các cao tăng
Ca-diếp Ma-đằng, Trúc Pháp Lan, An Thế-cao,
Cưu-ma-la-thập, Pháp Hiển, Bồ-đề Đạt-ma,
Huyền Trang và vô số những tăng sĩ khác
đưa Phật giáo vào Trung Quốc.
Trường An v́ thế đă trở thành cuốn
sử vẫn chưa khép của một dân tộc có 6.000
năm văn hiến, trải qua nhiều thăng trầm
biến đổi. Thành Trường An vào đời
Đường có dân số khoảng 1 triệu người,
diện tích bao bọc thành khoảng 85km2. Các đời sau
do chiến tranh phá hoại, Trường An dần dần bị
suy thoái. Đến đời Minh, khu vực thành tŕ thu hẹp
lại chỉ c̣n 30,2km2. Nhưng đến thế kỷ
XX, Trường An đă thành Tây An và hoàn toàn đổi mới,
với tổng diện tích lên đến gần 100km2,
vượt rất xa thành Trường An huy hoàng nhất
trong lịch sử của thời Thịnh Đường.
Và có lẽ sống nơi một thành phố từng là cố
đô của nhiều đời vua chúa, nên người dân
thành Tây An ngày nay vẫn c̣n phưởng phất đôi nét
phong lưu nhàn nhă, giữa một ḍng sống cuộn chảy
theo nền văn minh thời đại tiến nhanh
như thác lũ.
Chúng tôi đến Tây An là v́ nơi đây có
Đường Huyền Trang, một Tam Tạng Đại
pháp sư, danh xưng và công đức bất hư truyền.
Cùng với ngài Cưu-ma-la-thập, Đường Huyền
Trang đă đi vào lịch sử Phật giáo Trung Quốc
như một ngôi sao Bắc đẩu, sáng chói và vĩ
đại nhất trong sự nghiệp dịch thuật
kinh điển, với một tŕnh độ văn
chương trác tuyệt và nội dung chuẩn xác. V́ thế
điểm thăm viếng đầu tiên của đoàn
là chùa Từ Ân nằm phía tây thành phố Tây An, ngôi chùa
Đường Tăng trụ tŕ đầu tiên và phiên dịch
kinh điển, từ chữ Phạn ra chữ Hán và
ngược lại.
Chùa Từ Ân được vua Đường
Cao Tông lập ra để báo ân cho mẹ. Đây là một
ngôi chùa hoàng gia, thời đó cực kỳ tráng lệ và rộng
lớn, thường dân không được vào. Ngày nay diện
tích chùa đă thu hẹp lại nhiều mà vẫn c̣n thấy
rộng. Người ta bảo đến Tây An mà không
thưởng ngoạn các kiến trúc đời Đường
th́ đành ḷng sao được! Chùa Từ Ân và tháp Đại
Nhạn là những di sản quư báu c̣n lại mang kiến
trúc thời ấy, đến bây giờ vẫn không hề
thuyên giảm giá trị mỹ thuật lẫn kỹ thuật
của một thời Thịnh Đường.
Tại Quang Minh Đường, nổi bật những
bức tranh đồng, tranh gỗ miêu tả lại cuộc
đời và thuyết minh con đường thỉnh kinh
của ngài Huyền Trang thật sinh động, với những
nét vẽ và điêu khắc cực kỳ sắc sảo,
đă làm cho khách chiêm ngưỡng hết ḷng khâm phục
Đường Tăng. Riêng bức chân dung Ngài mang giày cỏ,
lưng đeo giá kinh bằng gỗ, phía trên giá hơi nghiêng
về phía trước và có treo một cây đèn dầu lạc
là thường thấy nhất ở những tự viện
thờ Ngài. Bức tranh này khiến cho nhiều người
xúc động. Cây đèn trước giá kinh có công dụng
tỏa ra ánh sáng dù chỉ leo lét thôi, cũng đủ thắp
lên ngọn tâm đăng và niềm tin cho Đường
Tăng tiến lên trên hoang lộ dày đặc hiểm họa
và tối tăm.
Ngài Huyền Trang thế danh là Trần Huy, sinh
năm 602 tại Hà Nam. Năm thứ ba đời
Đường Thái Tông (629), Ngài chỉ mới 27 tuổi,
hăy c̣n rất trẻ mà đă quyết chí vượt mọi
khó khăn nguy hiểm rời Trường An sang Tây Vực
thỉnh kinh. Một ḿnh qua sa mạc Gobi dài non 500km, tới
nước Cao Xương. Rồi leo núi Thông Lănh cao 7.200m
trong dăy Thiên sơn, tiến theo con đường tơ lụa
tới Thiết Môn sơn, một nơi rất ư hiểm
trở. Từ đây Ngài theo hướng đông nam qua nhiều
nước nhỏ, rồi ṿng qua Đại Tuyết
sơn vào Tây Trúc. Trải qua hơn 5.000 dặm đường
đầy gian nan nguy khốn, ngày đêm chịu đói khát
trên những vùng cát cháy, tay vin núi tuyết, chân đạp
trên đỉnh cô phong, chỉ v́ một tâm nguyện muốn
Phật pháp được lưu bố rộng khắp
dài lâu trên đất nước Trung Hoa, làm lợi lạc
quần sanh.
Chiến thắng mọi nguy khốn gian nan đối
với người tu vẫn chưa là điều đáng quư,
chiến thắng chính ḿnh mới là chiến công oanh liệt
nhất. Và ngài Huyền Trang đă hoàn toàn chiến thắng
trên cả hai trận tuyến ấy. Sau 16 năm xa quê,
năm 645 Ngài trở về Trường An và đă thành một
cao tăng 45 tuổi, đi gần 30.000km, qua 128 nước,
đem về cho Trung Quốc 657 bộ kinh, chưa kể
nhiều vật quư khác và niềm kính phục vô biên của
thời nhân cũng như hậu thế.
Về tới Trường An, một tháng sau, ngài
Huyền Trang bắt tay ngay vào việc phiên dịch toàn bộ
kinh điển đă mang về từ Thiên Trúc. Công việc
này được thực hiện đại quy mô và liên tục
trong suốt thời gian dài 19 năm, dưới sự tài
trợ của triều đ́nh. Ngài tổ chức một
ban dịch thuật chuyên môn, có tŕnh độ giáo điển
uyên thâm và vốn liếng ngoại ngữ dày dặn. Ngài mời
các vị cao tăng thông cả Hoa ngữ lẫn Phạn ngữ
hợp tác. Phương pháp dịch thuật của Pháp
sư Huyền Trang rất khoa học và chu đáo,
được chia làm 10 khâu: phiên dịch chính, chứng nghĩa,
chứng văn, sao chép, ghi nhận, xuyết văn, tham dịch,
san định, nhuận văn, Phạn suy([1]). Nhờ thế,
các dịch phẩm được soát đi soát lại nhiều
lần nên khá chính xác. ([1]) Phạn suy: Đối chiếu bản
dịch với chữ Phạn.
Những bộ kinh khó nhất, ư nghĩa thâm sâu nhất,
ngài Huyền Trang trực tiếp phiên dịch. Ngài làm việc
siêng năng miệt mài vô cùng. Hằng ngày dịch kinh cho
đến khuya, canh ba mới ngủ, canh năm lại dậy.
Thái độ làm việc rất nghiêm túc cẩn thận,
không hề lơi lỏng chút nào. Thật là tấm
gương sáng cho chúng ta noi theo. Tại Ấn Độ,
môn học sở trường của Ngài là Duy Thức. V́ vậy
về đến Trung Quốc, Ngài thu lượm tinh hoa của
các bộ Đại luận thuộc tông Duy Thức, chuyển
sang Hán ngữ để tên là “Thành Duy Thức Luận”, tổng
cộng 10 quyển. Do đó Pháp sư Huyền Trang cũng
chính là Tông chủ Pháp tướng tông tại Trung Quốc.
Tới năm 663, Ngài dịch được 600
quyển. Ngoài ra, Ngài c̣n để lại cho hậu thế
bản dịch Đạo Đức Kinh từ tiếng
Hoa ra tiếng Phạn, giới thiệu triết học
Trung Quốc với Ấn Độ. Bản Đại Thừa
Khởi Tín Luận cũng từ Hoa ngữ ngược về
Phạn ngữ, v́ nguyên bản chữ Phạn ở Ấn
Độ đă thất lạc từ lâu, trong khi Trung Quốc
c̣n giữ được bản chữ Hán. Soạn một
quyển ngữ pháp Phạn, giản lược mà sáng sủa
và chính xác. Viết bộ Đại Đường Tây Vực
Kư gồm 12 quyển, chép những điều mắt thấy
tai nghe trong suốt hành tŕnh thỉnh kinh. Bộ sách này là tài
liệu rất quư cho các nhà khảo cổ Ấn Độ
và Trung Á về sau, đă được dịch ra nhiều
thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Nhật, Đức, Việt
Nam… đă giúp cho các học giả Ấn sửa lại nhiều
điểm sai lầm trong lịch sử của họ khoảng
thế kỷ thứ VII.
Năm 664, giữa hương trầm quyện tỏa,
bản kinh Bát-nhă vừa được dịch xong, tâm nguyện
đă viên măn, thấy sắp đến giờ từ biệt,
Ngài lên chùa lễ Phật lần cuối rồi ngồi kiết-già
an nhiên thị tịch. Chúng nhân đầm đ́a rơi lệ,
thương tiếc quư kính một bậc Tam Tạng Pháp
sư vô tiền khoáng hậu của Trung Quốc, đă v́
lưu truyền Thánh giáo nơi đời mà quên cả thân
mạng. Thánh cữu của Ngài có cả triệu người
ở Trường An và dân tứ xứ đến cung tiễn.
Báo thân Ngài tuy theo ḍng duyên sinh tạm đến tạm
đi, nhưng công đức và chân thân Bồ-tát th́ măi măi
không hư hoại và cửu trụ nơi đời, hiện
ra muôn ngàn ứng hóa thân giáo hóa chúng sanh cho đến ngày
thành tựu Phật quả.
Tháp Đại Nhạn nằm trong khuôn viên chùa Từ
Ân do Ngài dựng lên để chứa kinh. H́nh dáng ngôi tháp
này không giống phần lớn các ṭa tháp cổ của
Trung Quốc mà phỏng theo h́nh dáng các tháp Phật ở Ấn
Độ. Điều này thầm nói lên tấm ḷng luôn
tưởng nhớ và tri ân của Pháp sư đối với
các bậc thầy đă hết ḷng chỉ dạy Ngài trên
đất Phật. Tháp Đại Nhạn cao 64m, gồm 7
tầng, toàn bộ làm bằng gạch nung chắp ghép lại
mà thành. Tháp đă trải qua hơn ngàn năm sương
gió, từng bị rung chuyển qua bao nhiêu lần động
đất, đến nay vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.
Không biết có phải do tâm kiên cố sắt đá, không ǵ
lay chuyển nổi của Đường Tam Tạng chiêu
cảm nên chăng?
Bên ngoài khách ngẩng đầu lên nh́n những
phiến đá xanh trên các bậu cửa đều thấy
có khắc tượng Bồ-tát. Đường nét thật
ưu mỹ ấy ắt phải từ tay của các nhà
điêu khắc diệu thủ. Đường lên tháp là một
cầu thang gỗ h́nh trôn ốc. Qua mỗi tầng chúng ta
đều có thể nh́n ra xa tứ phía qua các khung cửa sổ,
cảnh sắc thật tuyệt. Toàn bộ thành phố Tây
An nằm ngoan hiền bên dưới Nhạn tháp. Có cả
một quảng trường thủy canh với hàng ngh́n
ṿi nước nhảy múa nhịp nhàng, điệu nghệ
như một vũ khúc nghê thường. Lên đến tầng
cao nhất, tầm mắt ta có thể nh́n rơ dăy Chung Nam
sơn uốn lượn quanh co, nơi đây viên lăng của
hoàng tộc các đời Hán, Đường yên nghỉ và
dăy Bắc sơn cũng thấp thoáng ẩn hiện xa xa. Bất
chợt ḷng khách nghe da diết cái điệu cổ hoài
hương của một cánh nhạn lưng trời.
Cúi đầu niệm ân và đảnh lễ Thánh
tượng Tam Tạng Pháp sư trước khi ra về,
chúng tôi không quên ngoảnh lại một lần cuối
để nh́n thật kỹ, nhớ thật sâu ánh mắt
của Ngài, trong đó gửi gắm biết bao nhiêu điều
chưa nói mà người sau phải tự nhận hiểu
và tiếp nối cho tṛn ân đức vô biên của cổ
nhân.
Ai ngàn xưa du hóa,
Ai ngàn sau hành
hương,
Thấy chăng
trong nhịp hoằng dương,
Bóng người hộ
pháp lồng khuôn Phật-đà.
Trúc Thiên
Nói về Pháp sư Huyền Trang th́ không thể
không nhắc đến Phật giáo thời Đường.
Có thể khẳng định rằng triều Đường
là thời đại hoàng kim của Phật giáo nói chung và
Thiền tông nói riêng. Phật giáo cực thịnh như vậy
một phần nhờ các hoàng đế tôn sùng, ngưỡng
mộ và hết ḷng ủng hộ Phật pháp, một phần
nhờ có sự xuất hiện của các bậc cao
tăng, thiền sư đương thời, trong đó
có Lục Tổ Huệ Năng, mặt trời thiền
phương Nam.
Ngài Huyền Giác (665-713) là một trí thức Phật
giáo đời Đường, sau này trở thành một
thiền sư xuất cách, với tác phẩm Chứng
Đạo Ca như là viên ngọc quư trong rừng thiền
Nam Năng, văn tài cũng như Đường Tăng.
Pháp sư và Thiền sư đều tỏa ra những vầng
quang sáng ngời, cứu kính tuy không khác, nhưng
phương tiện chẳng đồng đường.
Ngài Huyền Giác đă đến với Lục Tổ Huệ
Năng, như là tuyệt lộ của cuộc hành tŕnh ḍ
dẫm t́m bến đỗ, sau bao năm tháng hoang mang giữa
mê và ngộ, mơ hồ giữa tri thức và trực giác.
Thiền sư đă kể lại khúc nôi ấy trong Khúc ca
Chứng Đạo:
Ta sớm bao
năm chuyên học vấn,
Từng viết sớ
sao t́m kinh luận,
Phân biệt danh
tướng măi không thôi,
Vào biển đếm
cát tự chuốc hận.
Quả đáng bị
Như Lai quở trách,
Châu báu của
người có ích ǵ?
Lâu nay đắng
đót rơ công suông,
Uổng bấy làm
thân phong trần khách.
Thật vậy, ngài Huyền Giác vào chùa tu từ tấm
bé, học tập kinh luận Phương đẳng và
chuyên ṛng thực tập phép Chỉ Quán của tông Thiên Thai
đến mức nhuần nhuyễn. Một tông phái nổi
tiếng lừng lẫy không chỉ ở thời
Đường mà kéo dài măi về sau. Nhưng cuối cùng
Ngài ngộ ở kinh Duy-ma. Với vốn kiến thức
Phật pháp uyên bác, dày dặn như vậy mà đi t́m Lục
Tổ Huệ Năng, vốn không biết một chữ ấn
chứng cho th́ thật là làm đảo lộn mọi chuyện.
Thế nhưng, cuộc trắc nghiệm không khoan nhượng
giữa Lục Tổ Huệ Năng với ngài Huyền
Giác, trơn dường băng, bén dường gươm
đă cho ta thấy nhà thiền chỉ quư vô tâm, chỉ nhận
trực giác, trực ngộ, chớ không luận bàn việc
sắn b́m:
Huyền Giác đi quanh Tổ ba ṿng, xong chống
tích trượng đứng. Tổ nói:
- Phàm là Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám
muôn tế hạnh. Đại đức từ đâu
đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?
- Sanh tử là việc lớn, vô thường mau
chóng lắm.
- Sao chẳng thể nhận cái lư “vô sanh”, cái nghĩa
“không chóng”?
- Thể tức “vô sanh”, thấu vốn “không
chóng”.
- Đúng vậy! Đúng vậy!
Huyền Giác bèn đầy đủ oai nghi bái tạ,
giây lát xin cáo về.
Tổ hỏi:
- Về chóng thế sao?
- Vốn chẳng phải động, há có mau
chóng?
- Ai biết chẳng phải động?
- Đúng là tại nhân giả sanh phân biệt.
- Ông thật đă thấu cái ư vô sanh.
- Vô sanh há có ư sao?
- Không ư th́ ai phân biệt?
- Phân biệt cũng chẳng phải ư.
Tổ bảo:
- Tốt lắm! Hăy nán lại một đêm.
Một đằng chẳng biết một chữ,
một đằng chữ nghĩa vun đầy. Cởi bỏ
hết hai bên, không c̣n mau chậm, thẳng đó tiến vào
đất thật, thấy thẳng biết thẳng th́ tổ
tổ tương phùng, tâm tâm tương ưng, chẳng
phải do ư thức vọng sanh phân biệt. Đă thế
th́ Lục Tổ mời thiền sư Huyền Giác nghỉ
lại một đêm. Cho vui. Thiền tông thời Đường,
từ Lục Tổ nối tiếp về sau chia thành
Năm tông Bảy phái, phát triển rực rỡ ở Trung
Hoa, khai ngộ không biết bao nhiêu kẻ mê mờ, thức
tỉnh muôn vạn người trên hoang lộ tử sinh.
Không chỉ Trung Hoa mà ḍng thiền Việt Nam cũng
trực chỉ như vậy, nhưng cách tiếp người
của các thiền sư Việt Nam nhẹ nhàng tế nhị
hơn so với thiền sư Trung Hoa. Ḥa thượng Trúc
Lâm nói “thiền dạy người tu một cách thực tế,
t́m lại “bản lai diện mục” của ḿnh. Bởi
quá thực tế nên người ta không hiểu nổi. Con
người là hướng ngoại, con người là cầu
xin, con người là ỷ lại. Ở đây thiền
đập tan ba tánh ươn hèn ấy. Ba tánh ấy đă
chôn vùi chúng ta từ vô lượng kiếp. Chúng ta phải
cương quyết quả cảm đập nát chúng,
để rồi chúng ta t́m lại bộ mặt thật của
chúng ta. Chúng ta là chủ nhân của chúng ta từ vô lượng
kiếp. Chúng ta phải khôi phục lại quyền năng
của ông chủ bản hữu nơi chính ḿnh. Đó là
chúng ta tu thiền”.
Mang theo lời dạy của Ân sư, chúng tôi lại
tiếp tục lên đường.
Xe đưa đoàn tham quan một ṿng thành phố
Tây An vào buổi tối trước khi về khách sạn
nghỉ ngơi. Khung thành Tây An đến ban đêm mới
tự khẳng định về cái sắc màu hoàng triều
một thuở của ḿnh. Đèn và đèn, bao bọc toàn bộ
khung thành, nhưng không biết có bảo vệ nổi cho
con người măi măi b́nh yên, thoát khỏi ṿng tay của tử
thần hay không? Ánh sáng phát ra từ những lỗ châu mai
trên khung thành làm cho ta như c̣n nghe đâu đây tiếng vọng
canh đổi phiên gác của người lính già năm
xưa. Ôi! Sương gió và thời gian, bể hóa cồn
dâu. Rồi ra ngh́n năm thiên tử đi về đâu?
Để cho Đường Tăng vẫn c̣n đứng
đây dơi mắt trông chờ các đấng quân vương
hồi đầu thị ngạn… Trong lặng lẽ thiên
thu!
Ngày
14-5-2007
Sáng nay đoàn được hướng dẫn
đến thăm lăng mộ Tần Thủy Hoàng, nằm
ở phía đông thành phố Tây An. Huyệt mộ khổng
lồ này được phát hiện vào năm 1974. Đến
nay Trung Quốc tu sửa thành một khu triển lăm rộng
lớn với tổng diện tích hơn 16.000m2. Trong mộ
có đến 6.000 tượng binh mă tùy táng bằng đất
nung, bày thành thế trận hào hùng dũng mănh trấn giữ
lăng mộ. Tướng sĩ, binh lính, chiến mă đều
to lớn bằng người thật, ngựa thật.
Viện bảo tàng Binh Mă Dũng được
chia ra làm ba phần:
1. Địa Cung: Đây là cung điện của
nhà vua dưới ḷng đất. Chúng tôi đứng trên lầu
quan sát và nghe thuyết minh về ngôi mộ chính của Tần
Thủy Hoàng. Trên bản đồ có một ngọn đồi,
đó chính là nơi chôn thi thể nhà vua. Cho tới ngày nay,
người ta vẫn không dám khai quật chỗ này, v́ nghe
đồn trong mộ có cả một hồ thủy ngân với
những máy móc hại người. Ngoài ra truyền thuyết
c̣n nói nếu đào ngôi mộ ấy lên th́ Trung Quốc sẽ
chia năm xẻ bảy và có nội chiến. Có lẽ
đây là chút ân huệ c̣n lại cho một ông vua mạnh nhất,
hung hăn nhất, xa xỉ nhất và cũng có công nhất
trong việc thống nhất Trung Quốc thời cổ
đại. Ông cầm quyền chưa tới 15 năm mà
làm cho đất nước thay đổi hẳn, thống
nhất về mọi mặt, mở mang thêm bờ cơi, thiết
lập chế độ trung ương tập quyền và
trở thành đế quốc lớn thời thượng
cổ.
2. Binh Mă Dũng: Đây là quần mộ quân lính của
vua Tần. Tất cả những tướng lănh và binh
lính bằng đất nung được đào lên từ một
nơi gần mộ Tần Thủy Hoàng, người ta
đem đến đây trưng bày triển lăm trong một
căn nhà như một sân vận động lớn của
quốc gia.
3. Phần này đang được khai quật.
Trong đó, ta thấy có các nhà khảo cổ và nhân công c̣n
đang đào xới.
Sử ghi lại trong một cuộc kinh lư, Tần
Thủy Hoàng đă bị Trương Lương thuê vơ sĩ
đón đường ám sát hụt ở Bác Lăng Sa. Đến
cuộc kinh lư sau, năm 210 ông bị bệnh chết ở
dọc đường. Người ta phải ngầm
đưa thi thể ông về Hàm Dương, sau đó mới
công bố cho dân biết và an táng trong một ngôi mộ do
chính ông ra lệnh xây sẵn ở Ly Sơn. Trong mộ chứa
rất nhiều châu báu, có bản đồ 100 con sông, trên
đó sông Hoàng Hà, sông Dương Tử và Biển Đông
đều bằng thủy ngân. Hầm mộ ngày đêm
được thắp đèn đốt bằng dầu
cá, một loại cá đặc biệt giống h́nh người.
Quan tài hạ rồi, người ta nấu đồng
để gắn phần mộ và đặt một cái
máy, hễ có kẻ nào lén vào đào mả th́ sẽ bị
những mũi tên từ tứ phía bắn ra, tự động
giết hết những ai dám cả gan động đến
mộ phần của Thủy Hoàng. Tương truyền
lăng này do 700.000 người xây cất trong nhiều
năm. Đủ biết vua Tần đă chu đáo cho việc
sống chết của ḿnh như thế nào.
Khi sống ông tự xưng là Hoàng đế, v́ vậy
lúc chết cũng muốn làm Thiên tử âm phủ. Ông
đâu hay rằng cả ngàn năm sau, cái triều đ́nh
dưới ḷng đất ấy với cung tên, khí giới
và thế trận dữ dội đă bị khai quật và
trở thành Viện Bảo tàng Binh Mă Dũng, phơi bày ra
ánh sáng những ǵ ông muốn vĩnh viễn chôn kín trong ḷng
đất. Tần Thủy Hoàng quả là một ông vua
đă muốn th́ làm, đă làm th́ phải được, chỉ
có điều không biết quân vương có nắm rơ hai chữ
“vô thường” là một định luật mà cho dù thiên
tử cũng không thể nào thay đổi được!
Nếu ông sớm hiểu điều đó, có lẽ dân
đen không phải chịu cảnh lầm than, khổ sở
đến tận cùng như vậy.
Chỉ ngôi mộ thôi mà đă vận dụng sức
người sức của đến như thế, nói ǵ
những công tŕnh khác. Người ta kể lại, gần
kinh đô ông cho xây cung A Pḥng là một cung điện mùa hè
trên bờ sông Vị. Phải dùng 700.000 tù nhân để cất,
chở đá từ các núi phương Bắc xuống, chở
gỗ từ các rừng phương Nam lên. Chưa hết,
trong một khoảng mà bán kính dài trên trăm cây số chung
quanh kinh đô, c̣n xây thêm 270 cung điện nữa. Bao nhiêu
châu báu, nhạc công và vũ nữ của lục quốc,
ông gom về đó để làm vui tai mắt cho ḿnh. Cuối
đời Tần, khi kinh đô bị chiếm và đốt,
ba tháng sau ngọn lửa mới tắt.
Đáng kể nhất là Vạn Lư Trường
Thành. Ba trăm ngàn chiến sĩ với không biết bao
nhiêu tội nhân, quan lại phạm lỗi, nho sĩ không
tuân lệnh đốt sách… phải chịu khổ sai trong
một miền rừng núi trùng điệp, mù mịt cát bụi,
mùa đông lạnh buốt xương, mùa hè nóng bỏng da.
Trong dân gian c̣n truyền lại nỗi khổ của nàng Mạnh
Khương thương nhớ chồng bị bắt
đi xây thành. Nàng đi bộ mười ngàn dặm để
thăm chồng. Đến nơi th́ chồng nàng đă chết
rồi, chung quanh chỉ có rừng núi và đá. Không biết
t́m xác chồng ở đâu, nàng tuyệt vọng khóc mấy
ngày mấy đêm, khóc tới nỗi chính cái thành cũng phải
mủi ḷng. Tại thành ấy không biết bao nhiêu người
bỏ mạng, không biết bao nhiêu lời thán oán, bao nhiêu
nước mắt của phu dân khổ sai. Họ hận
ông. Núi oan cừu kia sẽ trút xuống thần thức
trong giờ phút ông lâm chung, thật đáng lo sợ lắm
thay!
Trước khi rời lăng mộ Tần Thủy
Hoàng, chúng tôi muốn gởi lại ông một bài thơ sám
hối của Đại vương A-dục (vua Ấn
Độ) trong trận chiến Kalinga thuở nào:
Kalinga ngày nào máu lửa
hóa sen ṭa!
Kalinga lau đi ḍng
nước mắt.
Hỏi làm chi ai c̣n
ai mất?
Bạo chúa giờ
đâu?
Đây chỉ có
Chuyển Luân Vương.
Bạo chúa là ai?
Đây chỉ có
đau thương.
Đây chỉ có một
tâm hồn ray rứt,
Quằn quại giữa
muôn niềm đau ấm ức.
Vương gục
đầu cắn lệ nuốt trong sương.
Vương,
Suốt một
đời ngang dọc ngọn trường thương,
Uy vũ lệch
nghiêng trời đất,
Đầu lâu rắc
nẻo biên cương.
Mà hôm nay,
Khi chiến thắng
hồi loa vừa ngây ngất,
Núi xương máu
vút trời lên chất ngất.
Vương gục
đầu cắn lệ nuốt trong sương.
Và chùa xa chuông vẳng
tiếng du dương…
Mà tiếng vọng
cứ triền miên trong gió rít,
Như giục giă,
như chan ḥa, như quấn quưt,
Như nức lên từ
giữa khối hư không,
Hồn ai kêu ơi
ới giữa mông lung,
Như chuỗi máu
nhiễu dài trong bóng tối.
Vương nắm
đôi tay, tay đầm những máu.
Vương ôm hồn
gục xuống giữa hoang vu,
Và chùa xa chuông vẳng
tiếng vi vu…
Đầu gục
trên niềm hối tiếc,
Tay buông nhẹ hết
triều nghi.
Chắp lại một
lời tha thiết:
“Con nguyền sám hối
quy y.
Gươm giáo
đó sẽ là chuông là tượng,
Thân tâm này sẽ là
bát là y.
Con thành kính dâng lên
niềm tin tưởng,
Trên khung trời tạc
lại nét từ bi”.
Nam Mô Phật Bổn
sư Thích-ca-mâu-ni.
Trúc Thiên.
Không biết Tần Thủy Hoàng có vui nhận
chăng?
Buổi chiều theo chương tŕnh của công
ty Du lịch, đoàn được đưa đến
tham quan Hoa Thanh Cung. Đây là nơi Dương Quư Phi chung sống
với vua Đường, nên không phải là điểm
tham quan chính của Tăng Ni. Chúng tôi dạo qua một vài
nơi rồi ngồi nghỉ mát trong những nhà thủy tạ
quanh khu vực, chờ Phật tử tham quan xong th́ đi.
C̣n về vua Đường và Quư Phi, sách sử bên ngoài nói
đến rất nhiều. Ở đây xin lược qua.
Tối nay đoàn lên tàu đi Thái Nguyên và dĩ
nhiên là nghỉ đêm trên tàu. Chúng tôi chỉ nhắm mắt
thôi chứ không ngủ.
16/09/2007
Ngày
15-5-2007
Từ Thái Nguyên đoàn đến thị trấn
Đài Hoài bằng ô tô mất đến bốn năm tiếng.
Thị trấn Thái Nguyên có hơn 2 triệu dân, là một
thành phố của kỹ nghệ thép và hóa học, v́ gần
Đại Đồng là nơi có nhiều mỏ than
đá. Đất đai vùng này khô cứng, xe chạy qua những
dăy núi loang lổ đang được khai thác để lấy
than.
Đường đến Đài Hoài nhỏ, nhiều
đoạn dợn sóng nhấp nhô. Xe chạy trên lộ mà
tưởng như đi trên sông. Hoài nghĩa là ôm trong ḷng.
Đài Hoài là một thung lũng có độ cao 1.700m nằm
chính giữa, chung quanh được bao bọc bởi
năm ngọn núi. Thị trấn này có các sắc dân: Hán,
Mông Cổ, Tây Tạng, Thác Bạt v.v… chung sống vui vẻ
với nhau. Trước đây vài năm, đường
vào Ngũ Đài sơn rất khó đi, nhưng bây giờ
đă được xây dựng khá tốt, xe chạy
tương đối dễ dàng. Khách hành hương đến
Trung Quốc, nhất là Tăng Ni Phật tử đều
không thể không đến Ngũ Đài sơn đảnh
lễ Bồ-tát Văn-thù, v́ đây là đạo tràng của
Ngài.
Ngũ Đài sơn được xem là quần
thể danh sơn lớn nhất trong “tứ đại Phật
sơn” của Trung Quốc, nằm ở phía đông bắc
huyện Ngũ Đài, cách Thái Nguyên, thủ phủ tỉnh
Sơn Tây khoảng 200km. V́ năm ngọn núi này cao chót vót,
trên đỉnh không có rừng cây, đất dàn trải ra
như năm cái đài nên gọi là Ngũ Đài sơn.
Năm ngọn ấy là: Vọng Hải phong ở phía
đông, Quải Nguyệt phong ở phía tây, Cẩm Tú phong ở
phía nam, Hiệp Đầu phong ở phía bắc và Thúy Nham
phong ở trung tâm. Trong đó ngọn Hiệp Đầu
phong cao nhất 3.058m. Riêng ngọn chính giữa c̣n được
gọi là Thanh Lương sơn.
Danh xưng Thanh Lương sơn gắn liền
với một câu chuyện truyền kỳ. Tương
truyền vào thời thượng cổ, Ngũ Đài
sơn là khu vực có khí hậu khắc nghiệt khác
thường. Mùa đông nước đóng thành băng, mùa
xuân cát bay đất lở, mùa hạ cực kỳ nóng bức.
V́ thế, nông dân không thể trồng trọt cày cấy ǵ
cả. Để giải trừ khổ nạn này, Bồ-tát
Văn-thù đến Long cung cầu viện, mượn về
một tảng đá tên là Yết Long Thạch. Sau khi Bồ-tát
ném tảng đá xuống th́ cả khu vực bỗng nhiên
mát mẻ, trong lành quanh năm. Từ đó người ta gọi
tảng đá thần kỳ ấy là Thanh Lương Thạch
và xây dựng chùa Thanh Lương để thờ.
Khác với Nga My sơn diễm lệ như ngọc
bích, Ngũ Đài sơn cao xưa như những ṭa cổ
sái. Một bên xanh biếc quanh năm, một bên tuyết trắng
bốn mùa. Nếu như Nga My sơn là ngọn núi của Bồ-tát
Phổ Hiền, của đại hạnh, của t́nh
thương vô tận th́ Ngũ Đài sơn là ngọn núi
của Bồ-tát Văn-thù, của đại trí, của tuệ
giác vô biên. Hai đặc điểm dường như
tương phản này thật ra không phải trái ngược
nhau mà là bổ sung cho nhau để đi đến cái toàn
thể viên dung. V́ vậy nhà Phật bảo t́nh
thương mà không có trí tuệ th́ dễ vướng vào hệ
lụy buộc ràng. Trí tuệ mà không có t́nh thương th́
“t́nh dữ vô t́nh” đồng thành cỏ úa, làm sao trở
thành ruộng phước cho chúng sanh gieo trồng công đức,
làm sao viên thành Phật đạo?
Khách viếng Ngũ Đài trước phải
đi qua vùng gió, cát và những ngọn núi trọc, không một
bóng người luôn cả bóng cây. Những thung lũng cát ở
hai bên đường sẵn sàng xoáy thành cơn lốc kéo
dài đến tận chân núi, khi có một luồng gió mạnh
thổi ngang. Mà gió ở đây th́ có dư. Gió lồng lộng.
Vừa gió vừa lạnh. Chúng tôi tạm xuống xe một
chút, có vị đă đi xiêu vẹo trong gió. Các tà áo tràng, áo
nhật b́nh của chư Tăng Ni bay phần phật,
cơ hồ con người cũng bị gió cuốn
đi. Nếu không có ô tô, mà đi bộ đến Ngũ
Đài sơn để đảnh lễ Bồ-tát
Văn-thù, th́ đây quả là một cuộc thử thách
không nhỏ. Phải hết ḷng chí thành chí thiết, chịu
khổ chịu khó lắm mới đi nổi. Nhớ lại,
ngày xưa làm ǵ có ô tô, chỉ có ngựa. Mà nếu như
phi nước đại trên một con tuấn mă nào đó
lên non t́m Bồ-tát th́ khó coi quá! Có lẽ v́ thế Bồ-tát
Văn-thù đă chọn nơi này làm trú xứ của Ngài
để thử ḷng người chăng?
Trong tác phẩm Mùi Hương Trầm, nhà văn
Nguyễn Tường Bách có kể lại, ông đă biên dịch
câu chuyện của một vị Lạt-ma tên Yahden. Vị
này mất sáu tháng để đi từ Tây Tạng đến
Ngũ Đài sơn chiêm bái ngài Văn-thù. Trên đường
đi sư hết ḷng tụng niệm và thiền định
liên tục. Cuối cùng sư leo lên được 108 bậc
thang để đến Bồ-tát Đỉnh. Vừa lên
gần đến đỉnh th́ gặp một người
ăn xin cụt chân, người đó nói với sư:
“Huyền diệu thay, cái một trong thiên h́nh vạn trạng”.
Yahden mở túi xách lấy một ít tiền cho kẻ ăn
xin. Người ấy nói tiếp: “Huyền diệu thay,
cái thiên h́nh vạn trạng trong cái một. Thứ ít ỏi
này, ta không thèm lấy của ngươi đâu. Ta đ̣i
ngươi cả trái tim!”. Yahden vừa biết người
đó là ai, tức th́ hóa thân Bồ-tát biến mất. Yahden
mở mắt thật lớn nh́n quanh và nhảy như bay
lên những bậc cuối. Thoảng trên hư không, sư
chỉ c̣n nghe tiếng chuông chùa văng vẳng trong mây.
Rơ ràng Bồ-tát Văn-thù muốn chúng ta đến
với Ngài bằng cả trái tim, hiến dâng Ngài bằng cả
trái tim, nhận ra Ngài bằng cả trái tim và tin ở Ngài cũng
bằng cả trái tim.
Thật bất ngờ sau khi đi qua đoạn
đường tưởng chừng heo hút khô khao ấy, lại
là một vùng cao nguyên xanh mát với bạt ngàn thông xanh màu mạ.
Chỉ mới đến Đài Hoài thôi mà đă thấy những
núi là núi. Chúng gối đầu lên nhau ngủ yên trong mây và
tuyết. Nh́n lại đoạn đường đă
đi qua phía sau, ta cứ tưởng là một ḍng sông uốn
lượn trên những dăy núi liên hoàn, hùng vĩ. Xe chạy
bên núi này th́ thấy con đường xa xăm bên núi nọ.
Chạy tới núi nọ lại thấy con đường
thấp thoáng bên núi kia. Quảng đại cao thâm quá núi
ơi!
Từ đây trở lên, đúng là cảnh giới
của Bồ-tát Văn-thù rồi, thật đáng cho những
ai bền ḷng thật dạ đi t́m Ngài. Cổng tam quan
đón khách từ bên ngoài thị trấn nổi bật bốn
chữ “Ngũ Đài Thánh Địa” như xua đi bao nỗi
nhọc nhằn trên đoạn đường xa đoàn
đă đi qua. Thị trấn Đài Hoài hiện ra với
những ṭa biệt thự, khách sạn thật sang trọng
và tấp nập những khách hành hương, làm cho ta hết
sức ngạc nhiên. Chúng tôi đến đây trời
đă xế chiều, không kịp lên núi nữa. Cho nên nghỉ
lại khách sạn tại Đài Hoài, sáng mai sẽ lên Bồ-tát
Đỉnh đảnh lễ Ngài Văn-thù. Nhiệt độ
giảm dần từ 25oC ở Thái Nguyên đến 10oC khi
vào đến Đài Hoài.
Đêm nằm trong một khách sạn không phải
là chỗ của ḿnh, càng làm cho nhà tu nhớ thật nhiều
về chốn non thâm:
Chiều ráng mây về
nhưng chửa hợp,
Núi xa dăy dăy, biếc
trùng trùng.
(Thường ái mộ
vân quy vị hợp,
Viễn sơn vô hạn
bích tầng tầng.)
Thiền sư Hải
Ấn Tín
BỒ TÁT ĐỈNH - CHÙA HIỂN THÔNG - CHÙA THÁP
VIỆN
Ngày
16-5-2007
Núi non Trung Quốc không phải chỉ hùng vĩ,
nó c̣n là suối nguồn của thơ văn, của nghệ
thuật và của các nhà ẩn tu. Những bức tranh thủy
mặc chúng ta thường thấy không hề là sự
hư cấu của các họa sĩ. Chúng đúng thực
như thế, với mây, với núi và với những mái
chùa tí hon trên đỉnh tuyết vươn ḿnh tới trời
xanh.
Về lịch sử của Ngũ Đài sơn,
tài liệu của các nhà khảo cổ Trung Quốc cho biết:
Vào năm Vĩnh B́nh thứ 10 (Đông Hán năm 58-75 sau công
nguyên), vua Hán Minh Đế cử một phái đoàn sang Tây
Trúc thỉnh kinh, phái đoàn đă thỉnh được
hai vị sư Ấn Độ là Ca-diếp Ma-đằng
và Trúc Pháp Lan về Trung Quốc, ở tại chùa Bạch
Mă để giảng pháp và dịch kinh. Vài năm sau, hai vị
tăng này đi qua vùng Ngũ Đài thấy nơi đây
có phong cảnh giống như núi Linh Thứu bên Ấn
Độ, nên hai Ngài tâu lên nhà vua. Vua Hán Minh Đế liền
cho xây dựng chùa Linh Thứu tại đây. Như vậy
chùa Linh Thứu ở Ngũ Đài sơn có cùng một thời
với chùa Bạch Mă ở Lạc Dương. Ngoài ra c̣n rất
nhiều chùa khác được kiến tạo trong các triều
đại kế tiếp. Riêng đời nhà Đường,
nơi đây đă có trên 300 ngôi chùa, viện lớn nhỏ.
Ngũ Đài sơn là nơi phát triển Phật
giáo từ lúc sơ khai, nên các chùa ở đây cũng chịu
ảnh hưởng bao cuộc thăng trầm của Phật
giáo Trung Quốc. Vào những triều đại nhà vua sùng
bái đạo Phật th́ nhân dân được khuyến
khích xây cất, tu sửa thêm các tự viện. Nhưng vào
những triều đại nhà vua không kính tín Tam bảo th́
họ nghe lời dèm pha của các cận thần dị
giáo, hạn chế sự truyền đạo của Phật
giáo, có khi ra lệnh đập phá chùa, tịch thu chuông và
đồ đồng để đúc tiền.
Trong lịch sử Trung Quốc có bốn cuộc
pháp nạn, người ta gọi là “tam Vơ nhất Tôn”, trong
đó cuộc pháp nạn thứ ba xảy ra vào năm 840
Tây lịch, thời vua Đường Vũ Tông là lớn
nhất. Vua vốn thích đạo Lăo, nghe lời sàm tấu
của Tể tướng Lư Đức Dụ và đạo
sĩ Triệu Quy Chân, cho Phật giáo là tôn giáo của bọn
man di Tây Vực, người Hán không nên theo. Nhà vua ra lệnh
đốt chùa, không cho Tăng Ni tu, sung công tượng
vàng, tịch thu tất cả pháp khí bằng đồng
đem đúc tiền. Nhiều ngôi chùa ở Ngũ Đài
sơn bị phá hủy. Năm 846, vua Vũ Tông chết,
Tuyên Tông lên thay. Vua này kính tin Tam bảo nên cho phục
hưng đạo Phật trở lại.
Ngoài bốn cuộc pháp nạn trên, c̣n hai cuộc
pháp nạn sau này nữa, đó là cuộc pháp nạn do quân
đội Nhật Bản chiếm đóng Sơn Tây và cuộc
Cách Mạng Văn Hóa, gây thiệt hại vô cùng to lớn
cho Phật giáo Trung Quốc. Ngày nay, tại đây c̣n chừng
50 ngôi chùa cổ, kiến lập sau thời Đường
vẫn giữ được nét cổ kính trang nghiêm. Nhiều
chùa c̣n bảo lưu được những tượng cổ
và di vật thờ tự quư giá.
Hệ thống chùa viện ở đây quá nhiều,
nhưng tựu trung theo hai phái chính:
1. Phái Phật giáo Đại thừa, gồm các
chùa: Hiển Thông Tự, Thanh Lương Tự, Tháp Viện
Tự, Vạn Phật Các, Thù Tượng Tự…
2. Phái Phật giáo Mật tông, gồm các chùa: Bồ-tát
Đỉnh, La-hầu Tự, Từ Phước Tự, Quảng
Hóa Tự, Thất Phật Tự…
Sử liệu ghi lại nơi đây ngày xưa
các thiền sư ẩn tu rất nhiều. Ngài Trừng
Quán từng ở chùa Hoa Nghiêm soạn Hoa Nghiêm Kinh Sớ.
Ngài Bát-tư-na cũng có trụ núi này. Rất nhiều vị
danh tăng đến đây như ngài Bất Không xây chùa
Kim Các, chùa Ngọc Hoa… trở thành trung tâm của Mật
giáo. Ngài Pháp Chiếu dựng chùa Trúc Lâm tu tập niệm Phật
Tam-muội. Các vị cao tăng ngoại quốc như
sư Viên Nhân người Nhật Bản, sư Từ Tạng
người Cao Ly, ngài Phật-đà-ba-lợi người
Kế-tân cũng đến đây học đạo.
V́ thời gian quá ít, chúng tôi không thể tham bái hết
số chùa viện của Ngũ Đài, nên chỉ đi một
ít chùa chính, tiêu biểu thôi.
Sáng sớm, trước khi lên Bồ-tát Đỉnh,
xe đưa chúng tôi tham bái Thù Tượng Tự (chùa có
tượng Văn-thù). Trong chùa có Đại Văn-thù
Điện thờ Bồ-tát Văn-thù. Trên hồng chung tại
điện Văn-thù có khắc tên các vị Trụ tŕ, các
thiền sư từng tu tập ở chùa này. Chúng tôi vào
đảnh lễ Bồ-tát và nhớ tới lời Ḥa
thượng Trúc Lâm kể lại:
Thuở xưa, Bồ-tát Văn-thù là con thứ ba
của vua Vô Tránh Niệm, tên là Vương Chúng. Do cúng
dường đức Phật Bảo Tạng và phát nguyện
độ sanh nên được hiệu là
Văn-thù-sư-lợi. Phật Bảo Tạng thọ kư
cho Ngài sau này sẽ thành Phật ở thế giới thanh tịnh
Vô Cấu Bảo Chỉ, hiệu là Phật Văn-thù (kinh
Bi Hoa). Văn-thù-sư-lợi cũng gọi là Mạn-thù-thất-lị,
dịch nghĩa là Diệu Đức, Diệu Cát Tường.
V́ thấy rơ Phật tánh, mọi đức đều tṛn
đầy, không sự ràng buộc nào chẳng dứt, nên gọi
là Diệu Đức. Ngài là vị Bồ-tát đă thấu
tỏ Phật tánh, đầy đủ ba đức: Pháp
thân, Bát-nhă, Giải thoát. Bồ-tát hằng đem ba đức
ấy giác ngộ chúng sanh. Ngài là hiện thân của căn
bản trí, cho nên trong hàng Bồ-tát, Ngài là thượng thủ.
Tượng của Ngài thường có những
biểu tướng:
- Tay phải cầm kiếm sắc bén biểu thị
trí đức. Dùng trí tuệ sáng suốt phá tan tất cả
vô minh tăm tối. Ánh sáng trí tuệ soi đến đâu,
bóng tối tan đến đó. Như dũng sĩ cầm
kiếm bén xông pha giữa trận mạc, kiếm lia đến
đâu th́ đầu giặc rơi đến đấy.
Sức mạnh của trí tuệ mănh liệt như thế.
- Tay trái cầm hoa sen xanh biểu thị đoạn
đức. Đối với tự thân cũng do sức
trí tuệ dứt sạch mọi ô nhiễm tham ái, như
hoa sen trong bùn mà không nhiễm bùn. Đó là viên thành đoạn
đức.
- Chiếc áo giáp mang trên người Ngài là giáp nhẫn
nhục. Nhờ nó nên các mũi tên thị phi không xâm phạm
vào thân tâm. Nó che chở cho Bồ-tát vẹn toàn tâm từ bi.
Bọn giặc sân hận oán thù không thể nào xúc năo
được hạnh nguyện của Bồ-tát. Thiếu
chiếc giáp nhẫn nhục, Bồ-tát không thể nào thành
tựu được tâm Bồ-đề.
- Bồ-tát cỡi trên sư tử, v́ sư tử
biểu thị công năng trí tuệ. Sư tử là chúa
sơn lâm, một tiếng rống của nó muôn thú đều
nép phục. Bồ-tát do trí tuệ viên măn hay thuyết pháp
phá dẹp tất cả tà thuyết. Một khi chánh pháp vang
lên, mọi tà thuyết đều ẩn náu. Như một
phen sư tử rống lên th́ muôn thú đều kinh hồn
tán đởm.
(Thâm ư qua h́nh tượng Phật, Bồ-tát – TS.
Thanh Từ)
Chúng ta thờ phụng, đảnh lễ Bồ-tát
Văn-thù là để hướng về trí tuệ sẵn
có nơi ḿnh, dùng thanh gươm sắc bén ấy chặt
đứt lưới tham ái, vượt ra khỏi bể
khổ trầm luân. Chỉ có trí tuệ mới đủ
công năng cứu vớt chúng sanh ra khỏi ṿng nghiệp
báo luân hồi mà thôi. Cho nên Phật giáo chủ trương
“Duy tuệ thị nghiệp”, nghĩa là chỉ có trí tuệ
mới là sự nghiệp. Với tinh thần ấy chúng
tôi tiến lên đỉnh Văn-thù bằng… xe ô tô!
Ngày trước, khách hành hương muốn lên Bồ-tát
Đỉnh phải đi bộ từ trị trấn
Đài Hoài lên quần thể các tự viện trước,
sau đó leo 108 bậc thang mới tới Bồ-tát Đỉnh.
Có lẽ bây giờ đi dễ quá, nên ít ai được
gặp Bồ-tát, chỉ đảnh lễ tôn tượng
của Ngài mà thôi. Nói như vậy cũng không đúng. Bởi
v́, thật ra Bồ-tát có mặt trên khắp nhân gian, trong mọi
ngơ ngách hang hẽm của cuộc đời, chớ không
phải chỉ ở Ngũ Đài sơn, nhưng v́ tâm
chúng ta chưa đủ thiện lành nên không nhận ra
được Bồ-tát đó thôi.
Thiện Tài đồng tử khi đảnh lễ
cầu Bồ-tát Văn-thù chỉ giáo về Bồ-tát hạnh,
Ngài đă dạy:
- Này thiện nam tử! Nếu có chúng sanh phát tâm
vô thượng Bồ-đề, đây là việc rất
khó. Đă có thể phát Bồ-đề tâm rồi lại cầu
Bồ-tát hạnh, việc này càng khó gấp bội. Này thiện
nam tử! Nếu muốn thành tựu nhất thiết chủng
trí, thời phải quyết định cầu khẩn thiện
tri thức. Cầu thiện tri thức chớ có mỏi
lười. Thấy thiện tri thức chớ có nhàm đủ.
Thiện tri thức có dạy bảo điều chi đều
phải tùy thuận. Nơi thiện xảo phương tiện
của thiện tri thức chớ thấy lỗi lầm.
(kinh Hoa Nghiêm)
Thế là từ đó, Thiện Tài bắt đầu
cuộc hành tŕnh đi t́m thiện tri thức. Đi trong
tinh thần tùy hỷ, không lười mỏi, không thấy
đủ, luôn kính trọng và không thấy lỗi lầm của
các bậc thuận cũng như nghịch hạnh tri thức.
Đi từ núi cao tới rừng sâu, vào trong biển lớn,
qua phố chợ, đến thành ấp tụ lạc, khắp
mọi hang cùng ngơ cụt… để t́m học và thân cận
các bậc thiện tri thức. Các ngài là những Bồ-tát,
những Tỳ-kheo, những thiện thần, những Dạ-xoa,
La-sát, những nam, những nữ, những sang, những
hèn, những già, những trẻ… tất cả, Thiện
Tài đều cúi đầu cung kính cúng dường, một
ḷng cầu đạo Bồ-tát. V́ vậy, cuối cùng
đồng tử mới vào được lầu các Di-lặc,
đảnh lễ Bồ-tát Di-lặc và được chỉ
dạy. Sau đó Ngài bảo Thiện Tài hăy quay lại với
Bồ-tát Văn-thù, cầu giáo huấn để tiếp tục
đi cho hết đạo lộ Bồ-tát của ḿnh.
Đọc đoạn kinh Hoa Nghiêm trên th́ biết
chư Bồ-tát luôn có mặt bên cạnh chúng ta, trong mỗi
sát-na hiện sinh này. Nhưng chính chúng ta lại cô phụ
quư ngài. Trong đời sống thường nhật ta vẫn
thường có thái độ trọng phú khinh bần. Ta chỉ
cúi đầu chắp tay với các bậc tôn trưởng,
hoặc khép nép trước những ai có uy thế, giúp
người ta thương, bỏ kẻ ta ghét. Với
người, một chút trung ngôn đă nổi sân, đôi lời
nghịch nhĩ đă tái sắc, tâm Bồ-đề dễ
thối chuyển khi gặp cảnh trái ư nghịch ḷng.
Đâu ngờ đó chính là hiện thân của Bồ-tát giữa
cuộc đời. Do vậy chúng ta không hạnh ngộ Bồ-tát
bao giờ. Ngày nào, theo bước chân Thiện Tài, chúng ta
đi vào khắp nhân gian, trải ḷng học đạo với
tất cả muôn loài, có lẽ ngày ấy ta sẽ đón nhận
được nguồn hạnh phúc lớn nhất trên
đời, là gặp lại Bồ-tát Văn-thù nơi chính
ḿnh.
Từ xa, Bồ-tát Đỉnh hiện ra với
một quần thể kiến trúc đền điện rất
lớn, chớ không phải nhỏ xíu như ta thấy
dưới núi. Chùa có hơn 430 pḥng ốc và lâu các, chiếm
một diện tích là 27.000m2. Ngoài cổng chùa có bức
tường chạm nổi chín con rồng phun nước
rất hoành tráng. Xe chạy ṿng ra ngă sau, v́ thế chúng tôi
lên chùa từ ngă sau. Qua các dăy nhà Tăng Ni, tham quan cái nồi
đồng tại nhà bếp, đường kính 1m7, sâu
1m3. Nồi này hồi xưa dùng để nấu thức
ăn cho Tăng Ni tại đây. Ngày nay vẫn dùng để
nấu cháo bố thí cho bá tánh vào những ngày lễ lớn
của Phật giáo.
Đoàn ṿng lên phía trước là đến
Văn-thù Điện. Khoảng sân trước Văn-thù
Điện khá rộng. Nơi đây hăy c̣n tấm hoành
đá đề bốn chữ “Ngũ Đài Thánh Cảnh”
do vua Khang Hy đề tặng. Các bia đá cổ xưa dựng
đứng ngoài sân thật trầm lặng, cứng cỏi
theo màu thời gian. Chư Tăng Ni và Phật tử vào lễ
Bồ-tát Văn-thù. Tất cả đều xúc động
và vô cùng sung sướng, thật không ngờ có ngày ḿnh lên tới
đỉnh Văn-thù! Nhưng gặp Bồ-tát hay không c̣n
tùy tâm, tùy duyên của mỗi vị. Truyền thuyết về
tượng Bồ-tát Văn-thù ở đây được
kể lại như sau:
Đời nhà Đường, năm Trinh Quán thứ
5, có vị Trụ tŕ hiệu Pháp Vân, muốn tạc tượng
đức Văn-thù. Sư liền mời một nhà
điêu khắc tên là An Sinh tới tạc. An Sinh hỏi
Sư muốn tạc tượng như thế nào, Sư
không đáp được. An Sinh cố tưởng tượng
ra Bồ-tát và ngày đêm chăm chỉ tạc. Tạc ra 6
pho tượng, nhưng pho nào cũng bị nứt hay găy.
An Sinh liền ăn chay, ǵn giữ thân tâm thanh tịnh, rồi
quỳ xuống khẩn cầu “Con cầu xin Bồ-tát, con
đă tạc nhiều tượng Phật, nhưng chưa
bao giờ bị thất bại như vầy. Hôm nay con chí
thành khấn nguyện, cúi xin Ngài thị hiện cho con
được thấy tận mắt, để con tạc
tượng Ngài thật đúng và thành tựu viên măn”. Nguyện
xong, ông ngẩng đầu lên, thấy hào quang rực rỡ,
trong hào quang hiện ra đức Văn-thù cỡi kim
sư. Lát sau, Ngài bay lên không trung biến mất. An Sinh mừng
rỡ, y theo h́nh tướng đă thấy mà tạc tượng
Ngài.
Tượng do An Sinh tạc ra đặt ở ngọn
đồi phía bắc của Đại Hoa Nghiêm tự. Ngọn
đồi được đặt tên là Văn-thù
đài, rồi xây cất tự viện gọi là Bồ-tát
Thị Hiện Các vào đời nhà Tống. Sang năm Vĩnh
Lạc thứ nhất đời nhà Minh, đổi tên là
chùa Đại Văn-thù, dân gian gọi nôm na là chùa Bồ-tát
Đỉnh. Lúc đầu chùa theo phái Đại thừa
chính thống, sang năm Đồng Trị thứ 13 đời
nhà Thanh, chùa đổi sang phái Lạt-ma.
Hữu cảm tất ứng, điều này
xưa nay luôn như thế. Hăy hết ḷng phụng sự
chúng sanh là cúng dường chư Như Lai, là hành hạnh Bồ-tát.
Đây là lời Phật dạy. Trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ-tát
Di-lặc đă tán thán Bồ-tát Văn-thù với Thiện
Tài đồng tử như thế này:
- Này Thiện nam tử! Văn-thù-sư-lợi có
hạnh quảng đại, nguyện vô biên, xuất sanh tất
cả Bồ-tát, công đức không thôi dứt.
Văn-thù-sư-lợi thường làm mẹ của vô
lượng chư Phật, làm Thầy của vô lượng
Bồ-tát, giáo hóa thành tựu vô lượng chúng sanh…
Bồ-tát Văn-thù là mẹ của chư Phật,
là Thầy của vô lượng Bồ-tát v́ Ngài là căn bản
trí. Nếu không có trí này dẫn đạo làm sao chư Phật
và Bồ-tát thành tựu được quả vị của
các Ngài. Thật ra, Bồ-tát Văn-thù là một vị cổ
Phật, bằng hóa thân của một vị Bồ-tát, Ngài
đến với chúng sanh để khai mở trí tuệ
chân thật sẵn có nơi tất cả muôn loài. Chúng ta
phát tâm tu hành cũng là nhờ nguồn trí tuệ này thúc
đẩy. Trong suốt quá tŕnh tu hành, người con Phật
mỗi mỗi đều đi theo sự chỉ đạo
của trí tuệ chân thật th́ sẽ được chuyển
hóa, dần dần dứt sạch ba nghiệp và đi đến
thành tựu viên măn Bồ-đề. Cho nên nói Bồ-tát
Văn-thù giáo hóa thành tựu vô lượng chúng sanh.
Vâng lời Bồ-tát Di-lặc, Thiện Tài đồng
tử quay trở lại t́m Bồ-tát Văn-thù và được
Ngài áp tay lên đầu mà chỉ dạy:
- Lành thay! Này Thiện nam tử! Nếu rời tín
căn th́ tâm yếu kém, lo sợ ăn năn nên công hạnh
chẳng tṛn đủ, thối thất tinh cần. Nơi
một thiện căn sinh ḷng trụ trước, với
chút công đức đă cho là đủ, chẳng thể
phát khởi hạnh nguyện, chẳng được thiện
tri thức nhiếp thọ, chẳng được Như
Lai ức niệm, chẳng biết pháp tánh như vậy,
công hạnh như vậy… không thể biết hết, biết
nhiều, biết rơ, biết tột nguồn cội, hướng
nhập giải thoát, chứng biết và chứng đắc
giải thoát. Tất cả những điều trên đều
không thể được.
Với tinh thần Hoa Nghiêm, hành giả khi phát tâm
cầu vô thượng Bồ-đề th́ tín căn là yếu
tố quan trọng nhất. Tin cái ǵ? Tin ḿnh có khả
năng thành Phật. Tin tuyệt đối như vậy.
Trong câu chuyện của Lạt-ma Yahden ở trên, Bồ-tát
đ̣i vị sư “cả trái tim”, trái tim đó chính là ḷng
tin này. Do tin mới tha thiết cầu đạo, mạnh
mẽ tiến đạo. Do tin mới chuyên cần và quyết
chí tu hành tới nơi tới chốn. Do tin nên Thiện Tài
mới có thể trải qua cuộc hành tŕnh đi t́m 53 vị
thiện tri thức đầy gian nan, mà ḷng không hề nhàm
mỏi. Trên đạo lộ đi đến giác ngộ
giải thoát, chúng tôi vẫn thường tự nhủ
ḷng, hăy giữ lấy nhịp đập của trái tim Bồ-tát
mà lên đường, mà thắp sáng niềm tin, thành tựu
đại nguyện vô cùng.
Trong nhà thiền, có câu chuyện liên hệ tới
Bồ-tát Văn-thù khá kỳ lạ:
Thiền sư Văn Hỷ (280-899) lên Ngũ
Đài sơn ở chùa Hoa Nghiêm, sang lễ bái hang Kim Cang, gặp
một ông già dắt trâu đi, mời Sư vào chùa. Đến
chùa, ông gọi: Quân Đề! Có đồng tử: Dạ,
ra đón. Ông già thả trâu, dẫn Sư vào trong, Sư nh́n
thấy nhà cửa đều hiện sắc vàng. Ông già ngồi
trên giường, chỉ cái đôn bảo Sư ngồi.
Ông già hỏi:
- Vừa ở đâu đến?
Sư thưa:
- Ở phương nam đến.
- Phương nam Phật pháp thế nào?
- Đời mạt pháp Tỳ-kheo ít giữ giới
luật.
- Chúng nhiều ít?
- Hoặc ba trăm, hoặc năm trăm.
Sư hỏi lại:
- Ở đây Phật pháp thế nào?
- Rắn rồng lẫn lộn, phàm thánh chung ở.
- Chúng nhiều ít?
- Trước ba ba, sau ba ba.
Đồng tử dâng trà và tô lạc, Sư dùng
vào cảm thấy tâm ư sảng khoái.
Ông già đưa chung pha lê lên hỏi Sư:
- Phương nam lại có cái này chăng?
Sư thưa:
- Không.
- Hằng ngày lấy cái ǵ uống trà?
Sư không đáp được. Thấy bóng mặt
trời xế chiều, Sư hỏi:
- Tôi xin nghỉ lại một đêm ở đây
được chăng?
Ông già bảo:
- Ông c̣n chấp tâm chẳng được nghỉ.
- Tôi đâu có chấp tâm.
- Ngươi đă thọ giới chưa?
- Thọ giới đă lâu.
- Ngươi nếu không chấp tâm đâu cần
thọ giới.
Sư từ tạ trở xuống. Ông già sai
đồng tử tiễn chân.
Sư hỏi đồng tử:
- Trước ba ba sau ba ba, là nhiều ít?
Đồng tử gọi:
- Đại đức!
Sư ứng thanh: Dạ!
Đồng tử bảo:
- Ấy nhiều ít?
Sư lại hỏi:
- Đây là chỗ ǵ?
Đồng tử đáp:
- Đây là chùa Bát-nhă trong hang Kim
Cang.
Sư buồn bă, biết ông già
đó là Văn-thù mà không thế nào gặp lại được.
Sư đảnh lễ Đồng
tử xin một câu khi từ biệt. Đồng tử
nói kệ:
Diện thượng vô sân cúng
dường cụ
Khẩu lư vô sân thổ diệâu
hương
Tâm lư vô sân thị trân bảo
Vô cấu vô nhiễm thị chân
thường.
Dịch:
Trên mặt không sân là cúng dường
Trong miệng không sân xuất diệu
hương
Trong tâm không sân thật trân bảo
Không nhơ không nhiễm ấy
chân thường.
Nói xong, Quân Đề và chùa đều
ẩn, chỉ thấy trong mây năm sắc Văn-thù
cưỡi Kim Mao sư tử qua lại, chợt có cụm
mây trắng từ phương đông bay qua che lấp.
Niên hiệu Hàm Thông năm thứ ba
(862), Sư đến Hồng Châu lại viện Quan Âm yết
kiến Ngưỡng Sơn. Qua câu nói, Sư liền khế
ngộ bản tâm. Ngưỡng Sơn cử Sư xung chức
Điển tọa.
Sư nấu cháo, thường thấy
Văn-thù hiện trên nồi cháo. Sư lấy cây giầm
quậy cháo đập, nói:
- Văn-thù tự Văn-thù,
Văn Hỷ tự Văn Hỷ.
Văn-thù nói kệ:
Khổ hồ liên căn khổ,
Điềm qua triệt đới
điềm.
Tu hành tam đại kiếp,
Khước bị lăo tăng hiềm.
Dịch:
Dưa đắng gốc vẫn
đắng,
Dưa ngọt rễ cũng ngọt.
Tu hành ba đại kiếp,
Lại bị lăo tăng đ̣n.
Thiền sư Trung Hoa – HT. Thanh Từ
Ngài Văn Hỷ khi chưa ngộ, Bồ-tát hiện
trước mặt cũng không biết. Khi ngộ rồi,
chẳng cần t́m Bồ-tát vẫn cứ đến. Ngày
trước c̣n kẹt chấp nên bị đuổi xuống
núi. Bây giờ đă rỗng thông nên chẳng chút quan ngại.
Bồ-tát hiện ra bên ngoài đâu bằng Bồ-tát nơi
chính ḿnh. Bất cứ h́nh ảnh hay niệm tưởng
nào hiện lên đều không phải là ḿnh, đều phải
phá dẹp. Cho nên thiền sư nói “Văn Hỷ tự
Văn Hỷ”. Đó chính là quan yếu then chốt của
nhà thiền. Tuy nhiên, con đường thẳng tắt này
rất trơn. Hành giả phải khiêm tốn, cẩn thận,
coi chừng té.
Ḷng ta bất an v́ vương vấn măi điều
ǵ là kẹt chấp, là si ám th́ dù ở cảnh thiền môn
nghiêm tịnh, nửa đêm cũng cuốn gói ra đi.
Đó là đă bị đuổi xuống núi rồi. Giữa
ḍng đời uế trược không một chỗ dung
thân. Chỉ tại ḿnh không thắp lên ngọn đuốc
trí tuệ, nên không thể an trụ trên đất Phật
mà thôi, chớ có Bồ-tát nào lại xua đuổi chúng
sanh. Tâm điên đảo hỗn loạn với tham sân si dẫy
đầy, đă đốt sạch hết lâu đài trí tuệ
và từ bi trong ta rồi, ḿnh trở thành kẻ cùng tử
lang thang. Nghĩ như vậy, thật đau xót trong ḷng.
Chúng tôi tiếp tục tiến lên Đại Hùng
Bảo Điện. Hai bên Chánh điện là lầu chuông, lầu
trống. Từ sân chùa nh́n xuống, cả thị trấn
Đài Hoài ch́m lặng trong một vùng núi non tĩnh mịch.
Những đỉnh tuyết mênh mông xen lẫn giao ḥa giữa
đất trời. Nổi bậc nhất là Đại Bạch
Tháp, trắng muốt giữa nền trời xanh thẳm.
Và chùa và điện… ngh́n năm c̣n đó khói hương
ngát tỏa.
Hương giới, hương định và
hương tuệ,
Hương giải thoát, giải thoát tri kiến,
Đài mây sáng rỡ trùm pháp giới,
Cúng dường Tam bảo khắp mười
phương.
Nh́n thẳng ra phía trước, cổng tam quan bằng
gỗ được dựng lên từ năm Khang Hy thứ
53 đời nhà Thanh. Đường nét chạm trổ rất
công phu, mỹ thuật. Mái tam quan ba tầng lợp ngói vàng.
Ngay giữa cổng có bức hoành với bốn chữ “Linh
Phong Thắng Cảnh” do chính vua Khang Hy cẩn bút. Sau đó
là 108 bậc thang nổi tiếng của Bồ-tát Đỉnh.
Mỗi bậc đá là một nấc thang đỡ chân
muôn vạn người lên t́m Bồ-tát. Từ vua quan đến
thứ dân, từ tăng đến tục… đă nối
nhau trên con đường thướng sơn, t́m lại
nguồn ánh sáng của đại trí vô biên.
Theo 108 bậc thang đá, chúng tôi lần xuống
chùa Hiển Thông.
Chùa Hiển Thông là ngôi chùa lớn nhất và cũng
cổ xưa nhất ở Ngũ Đài sơn. Cổng
chính của chùa rất nguy nga, trông tựa như cổng
hoàng cung, chiều ngang khoảng 10m, chiều sâu 4m hay 5m, phía
trên có bốn chữ vàng “Đại Hiển Thông Tự”, nổi
bật trên nền màu xanh.
Chùa xây vào năm thứ 11, niên hiệu Vĩnh B́nh
(năm 68 sau công nguyên), đời vua Hán Minh Đế và
được đặt tên là Đại Linh Thứu Tự.
Sang đến đời Đường, hoàng đế
Vơ Tắc Thiên đă cúng chùa bộ kinh Hoa Nghiêm, do đó chùa
được đổi tên là Đại Hoa Nghiêm Tự.
Đến triều Minh (1576 TL), chùa đổi tên là Vĩnh
Minh Tự. Sau này vua Thuận Trị nhà Thanh trùng tu lại
và đặt tên là Đại Hiển Thông Tự.
Chùa tọa lạc trên 4 mẫu đất, gồm
200 pḥng, chia làm ba phần: phần giữa là các điện
thờ, hai bên là các dăy nhà thiền. Từ ngoài vào trong có 7
dăy điện: Tiền Điện, Đại Văn-thù
Điện, Đại Hùng Bảo Điện, Vô Lượng
Điện, Thiên Bát Văn-thù Điện, chùa đồng
và Hậu Điện. Hầu hết những ngôi điện
này được tu sửa lại hoặc xây cất thêm
vào đời nhà Minh, nhà Thanh.
Bước vào bên trong, đón khách là những cội
tùng già cả ngàn năm tuổi. Bóng rợp mát sân chùa, tàn phủ
xanh mái ngói. Sống trong ngôi đại già-lam cổ kính nên
chúng cũng uy nghiêm, cứng cỏi lạ thường. Thật
đáng gọi là “núi dựng, tùng già ôm bóng cả”. Thích quá,
chúng tôi quanh quẩn dưới bóng tùng măi và thật luyến
tiếc khi phải tiếp tục đi vào bên trong.
Đại Văn-thù Điện và hai căn nhà
bát giác nằm hai bên được xây vào năm Khang Hy thứ
46 đời nhà Thanh. Mỗi căn dựng một bia
đá trắng cao 3m, rộng 1m. Tấm bia bên trái có bút tự
của vua Khang Hy. V́ vậy người ta gọi đây là
Khang Hy Bi. Nhà vua có nét chữ xuất thần, rất đẹp,
lại ngưỡng mộ Phật pháp, nên trong các ngôi cổ
tự lớn, nổi tiếng của Trung Quốc đều
có bút tích của ông. Tấm bên phải không có chữ,
người ta gọi là Vô Tự Bi. Tại Văn-thù Điện
có câu đối nói về Pháp thân và Văn-thù rất hay:
Pháp thân vô khứ vô lai, trụ tịch oai nghi bất
động,
Đức tướng phi không phi hữu, ứng
tùy cơ dĩ hằng châu.
Dịch:
Pháp thân không đi không đến, trụ trong oai
nghi bất động,
Đức tướng chẳng có chẳng không, ứng
hiện tùy cơ cùng khắp.
Kế đến là Đại Hùng Bảo Điện.
Sân giữa Đại Hùng Bảo Điện và Văn-thù
Điện có một cái đồng hồ bằng đá, dùng
ánh sáng mặt trời để xem giờ. Qua Vô Lượng
Điện, đến Thiên Bát Văn-thù Điện. Sau
điện này là một sân rộng. Khách bước lên khoảng
10 bậc thang nữa th́ tới ngôi điện bằng
đồng. Ngôi điện này có từ thời nhà Minh,
năm Vạn Lịch thứ 38. Trước điện có
bia đá khắc bốn chữ “Thanh Lương Diệu
Cao”. Đây là bút tự của Đại sư Diệu
Phong, Ngài là thầy của mẹ vua Vạn Lịch.
Ngôi chùa bằng đồng đen này nặng
50.000kg, có nhiều mái cong, ngang 5m, cao 8m, dựng trên 4 cột
đồng vuông cạnh. Kiến trúc thật độc
đáo. Giữa điện có tượng đồng Bồ-tát
Văn-thù cao 1m. Hai bên có hai bảo tháp nhỏ cũng bằng
đồng. Xung quanh vách điện gắn hàng ngàn tượng
Phật đúc nổi bằng đồng. Trước sân
điện có năm bảo tháp lại cũng bằng
đồng, tượng trưng cho năm ngọn núi của
Ngũ Đài sơn. Trong số năm bảo tháp này, chỉ
có hai cổ tháp h́nh bát giác là đúc từ đời nhà
Minh. Mỗi cổ tháp có 13 tầng, cao 7m, đường
kính 1m. Trên các mặt tháp đều chạm nổi tượng
Phật. Ba ngôi tháp c̣n lại mới được tạo
nên, thay thế vào tháp cũ đă bị phá hủy thời
Cách Mạng Văn Hóa.
Viếng chùa đồng nơi đây, ḷng chợt
nhớ về Chùa Đồng trên núi Yên Tử ở quê nhà.
Chùa Đồng nước ḿnh tuy không to lớn và tuyệt
mỹ như Trung Quốc, nhưng ở đó có Tổ
sư Việt Nam. Các ngài chọn cuộc sống đạm
bạc của sơn tăng, “ăn rau răm, nhai hạt dẻ,
uống nước suối, vui cảnh núi rừng đă
quen, ḷng nhẹ như mây nổi” (thiền sư Đạo
Viên). Và cao đẹp nào hơn h́nh ảnh của Điều
Ngự Giác Hoàng – Sơ Tổ Trúc Lâm: ăn rau ăn trái, vận
giấy vận sồi, nửa gian lều quư nửa thiên
cung, ba miếng ngói yêu hơn lầu gác… Chừng ấy cũng
đủ làm ấm ḷng những đứa con xa nhà, mong
ngày trở về.
Ra khỏi chùa Hiển Thông, đoàn được
hướng dẫn sang chùa Tháp Viện.
Ngày xưa chùa Tháp Viện là một phần của
chùa Hiển Thông, về sau tách ra. Bốn chữ “Sơn Vân
Thủy Nguyệt” trên bức hoành trước cổng, làm
cho chùa như bàng bạc lẫn trong mây, nước,
trăng, núi, thấp thoáng ẩn hiện giữa tầng
không.
Trong chùa Tháp Viện có hai ngôi tháp: Đại Bạch
Tháp thờ xá-lợi đức Phật Thích-ca, Văn-thù
Phát Tháp thờ tóc của ngài Văn-thù. Ngoài ra c̣n có hai ngôi
điện lớn: Đại Từ Duyên Thọ Điện
và Tàng Kinh Điện.
Năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Minh Thành Tổ
cho tu sửa Đại Từ Duyên Thọ Tháp và lập một
ngôi chùa đặt tên là chùa Tháp Viện. Sang năm Vạn Lịch
thứ 7 (1579), vua nhà Minh lại tu sửa ngôi tháp, ba năm
sau khánh thành và đổi tên là Thích-ca-mâu-ni Xá-lợi Tháp. Sau
này v́ màu trắng nổi bật của tháp, thời nhân gọi
là Đại Bạch Tháp. Nghe nói trước đời nhà
Nguyên ngôi tháp này xây bằng đá, sau đó người ta
xây ngôi tháp lớn hơn trên nền cũ theo kiến trúc của
phái Lạt-ma, cao 56m4. Tầng dưới của tháp là
điện thờ đức Phật Thích-ca, hai bên là
tượng Văn-thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng.
Chung quanh hành lang điện là 120 bánh xe chuyển pháp luân kiểu
Tây Tạng. Đỉnh tháp có h́nh hồ lô, mạ vàng, cao
5m, chung quanh có treo 252 cái linh đồng, ngân nga đong
đưa trong gió trong mây.
Về truyền thuyết xá-lợi Phật
Thích-ca trong Đại Bạch Tháp được kể
như sau:
Vào năm 200 trước công nguyên, vua A-dục của
Ấn Độ thống nhất được quốc
gia. Nhà vua rất sùng tín đạo Phật nên nghe nói xá-lợi
Phật chôn dưới tám ngôi chùa. Nhà vua cho đào lên, phân
chia trong 84.000 bảo tháp nhỏ, làm bằng ngũ kim hay ngọc
quư, rồi phân sang nhiều nước. Theo truyền thuyết
th́ Trung Quốc nhận được 19 bảo tháp nhỏ
ấy. Bảo tháp xá-lợi trong Đại Bạch Tháp là một
trong 19 bảo tháp kể trên.
Văn-thù Phát Tháp h́nh dáng cũng giống Đại
Bạch Tháp nhưng nhỏ hơn, chỉ cao 6m thôi, song có
huyền sử rất hay. Ngày xưa, trong một ngày đại
lễ tại chùa Hiển Thông, nhân dân tới dự rất
đông. Trong số đó có một thiếu phụ mang thai,
tay phải bồng đứa con nhỏ, tay trái dắt
đứa con lớn, theo sau là một con chó nữa. Bà thấy
mọi người đều cúng dường nhưng bà
không có tiền, nên tự cắt mái tóc dài của ḿnh cúng
dường Tam bảo. Sau lễ cúng dường là lễ
thọ trai. Mọi người đều được
phân phát thức ăn, nhưng v́ số lượng đông
quá nên vị chia thức ăn múc phần cho chư tăng
đầy đủ, c̣n phần của bá tánh kém hơn.
Đến lượt thiếu phụ, vị ấy
chỉ múc cho hai phần, v́ nghĩ đứa nhỏ bồng
trên tay c̣n bú sữa mẹ nên không ăn. Thiếu phụ xin
thêm hai phần nữa, một cho đứa con đang bồng
và một cho con chó. Vị chia thức ăn cũng chiều
ư. Nhưng không thôi, thiếu phụ lại xin một phần
nữa cho đứa con c̣n trong bụng. Vị chia thức
ăn chịu hết nổi liền lớn tiếng đuổi
thiếu phụ đi. Thiếu phụ nói:
- Dù đứa trẻ chưa sinh ra nhưng vẫn
là một chúng sanh, tại sao không cho nó ăn?
Vị kia đáp:
- Bà ngoan cố lắm, đă đành đứa trẻ
là một chúng sanh, nhưng ai ăn phần đó.
Thiếu phụ nói:
- Tôi không nhận tất cả các phần ăn nữa,
v́ đứa con trong bụng không được ăn. Như
thế cho b́nh đẳng.
Nói xong, thiếu phụ bước ra khỏi
pḥng ăn. Liền khi ấy, hào quang chói tỏa khắp một
vùng, thiếu phụ biến thành Bồ-tát Văn-thù, hai
đứa trẻ biến thành hai đồng tử, con chó
biến thành kim sư. Nhă nhạc vang lừng, Bồ-tát cỡi
mây bay vào hư không. Dân chúng bấy giờ quỳ mọp xuống
lạy rồi xúm nhau chạy ra khỏi pḥng, ngẩng lên
không trung van xin Bồ-tát hăy quay trở lại, nhưng
đă muộn mất rồi. Từ đó mái tóc của Ngài
được lưu giữ và xây tháp thờ phụng.
Đồng thời chùa luôn luôn giữ đúng tục lệ
là khi cúng dường thức ăn, phải cung cấp
đầy đủ thức ăn cho chư tăng cũng
như bá tánh. Bất cứ ai có lời thỉnh cầu ǵ,
đều không được từ chối. Phong tục
đó c̣n giữ đến ngày nay.
Phía bắc của Đại Bạch Tháp là Tàng
Kinh Điện gồm hai tầng. Phía trên vua Khang Hy đề
tặng bốn chữ “Đại Tàng Kinh Các”. Giữa Tàng
Kinh Điện có một giá sách thật lớn, thật lạ,
bằng gỗ xoay chuyển được. Xưa nay chúng
tôi chưa từng thấy giá sách như vậy. Thật là
di vật cổ xưa. Giá sách có hai tầng, cao 11m. Mỗi
tầng chia làm 33 ngăn dọc, mỗi ngăn chia làm nhiều
hộc để chứa kinh. Chu vi tầng trên 11m, chu vi tầng
dưới 7m. Giá sách này có thể chứa hơn 20.000 quyển
kinh. Nhưng ngày nay để bảo vệ giá sách cổ
đă xưa cũ, người ta chứa kinh trên tầng
hai của Tàng Kinh Các. Rất tiếc đoàn không được
phép vào đây tham quan. Trước giá sách thờ tôn tượng
đức Đại Nhật Như Lai, đức Tỳ-lô-giá-na.
Chung quanh là tượng chư vị Bồ-tát.
Ngôi Từ Thọ Điện nằm bên trái Đại
Bạch Tháp, do vua Vạn Lịch nhà Minh xây dựng để
cầu thọ cho mẹ vào năm 1573. Bên trong cũng thờ
đức Phật Thích-ca và chư vị Bồ-tát.
Chùa viện tại Ngũ Đài sơn c̣n rất
nhiều, nhưng thời gian đă hết. Chúng tôi phải
xuống núi cho kịp chuyến tàu tối nay. Ngoảnh lại
nh́n Đại Bạch Tháp một lần nữa và bỗng
thấy đức Phật hiện ra trong ḷng. Tuy không
được tận mắt chiêm ngưỡng xá-lợi
Thế Tôn, nhưng chúng tôi tin chắc những hạt ngọc
ấy rất tỏa sáng, măi tỏa sáng. Bởi v́ xá-lợi
là kết tinh của quá tŕnh tu tập không chỉ một
đời mà rất nhiều đời của đấng
Như Lai. Xả huyễn thân, ĺa huyễn cấu, nhưng
tinh tủy của các bậc Thánh nhân do công đức phát
sinh, nên đă cô đọng lại thành những hạt ngọc
bất hoại, trong suốt, óng ánh hơn cả pha lê.
Thế Tôn khép nhẹ đôi mắt mà vẫn không
quên thương tưởng chúng sanh nơi đời, gởi
lại trần gian những hạt ngọc của niềm
tin, của t́nh thương và tuệ giác vô biên. Cho dù Ngài có
để lại hay không để lại xá-lợi th́ những
người con Phật cũng hết ḷng tin tưởng
Như Lai, tin tưởng giáo pháp của Như Lai, tin
tưởng Tăng-già của Như Lai. Bởi v́ chính thọ
mạng của Phật pháp trải qua 2.551 năm nơi thế
gian này, ngày thêm sáng tỏ thêm lan rộng trong đời, quá
đủ để khẳng định đức Phật
và chư Thánh đệ tử đă tu tập, đă thành tựu
viên măn giác ngộ giải thoát, đă giáo hóa chúng sanh đạt
nhiều lợi ích thiết thực, cho nên Phật pháp mới
được truyền thừa nối nắm tới ngày
hôm nay. Kết quả ấy, nguồn an lạc vô biên ấy
c̣n chói tỏa hơn muôn ngàn vầng hào quang rực rỡ.
Đại hạnh đại phúc nào khiến chúng ta trở
thành Thích tử của Như Lai! Và như thế, chúng ta
không có con đường nào khác ngoài con đường của
đức Phật đă đi.
Xe xuống núi, chúng tôi ngưỡng vọng lên Bồ-tát
Đỉnh, đảnh lễ đức Văn-thù một
lần nữa. Dễ hồ trong đời có lần thứ
hai ta trở lại nơi đây. Dễ hồ trong cuộc
sanh tử triền miên, có lần thứ hai ta trở lại
Ta-bà với hiện thân ngày hôm nay. V́ vậy chỉ mong chúng
ta luôn nhớ niệm danh và hằng giữ Bồ-tát trong
trái tim của ḿnh, với niềm tin rằng ta sẽ thành
Phật. Sức mạnh và khả năng giác ngộ có thể
từ đó mà tăng lên rất nhiều.
Kính lạy Bồ-tát,
Chúng con xin nguyện vâng lời Ngài sẽ theo chân
Thiện Tài đi vào chốn nhân gian, cầu học với
thiện tri thức giữa cuộc đời bằng tinh
thần vô úy, vô ưu. Nguyện diệu đức của
Ngài măi là ngọn đuốc trí tuệ soi đường
chúng con đi cho trọn cuộc hành tŕnh. Ngưỡng mong
Bồ-tát chứng tri cho ḷng thành của chúng con.
19/09/2007
Ngày
17-5-2007
Chúng tôi đến sân ga Trịnh Châu vào lúc 6h30 phút
sáng. Trịnh Châu là thủ phủ của tỉnh Hà Nam. Nhiệt
độ ở đây giống như Việt Nam, 17oC –
30oC. Sau khi ăn sáng và tạm nghỉ ngơi một chút,
đoàn tham quan một ṿng thành phố Trịnh Châu trước
khi viếng chùa Thiếu Lâm. Thành phố Trịnh Châu khá sầm
uất, xe cộ qua lại tấp nập. Đây là trung tâm
văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh Hà Nam, diện
tích 74.462km2, dân số khoảng 6 triệu người. Trịnh
Châu được mệnh danh là “Lục Thành Trung Nguyên”, tức
thành phố cây xanh của Trung Nguyên và là một thành phố
cổ. Sạch và mát là nét tiêu biểu của Trịnh Châu,
rất dễ gây thiện cảm ban đầu cho du khách.
Hơn 3.500 năm trước, thành phố này
đă là cố đô của vương triều nhà
Thương, sớm nổi tiếng về kỹ thuật
luyện đồng xanh và gốm sứ. Thế kỷ XI
trước công nguyên thuộc Tây Chu, Vua nhà Chu phong đất
này cho người em tên Quản Thúc, gọi là Quản Quốc.
Thời Xuân Thu, nơi đây là đất của Đại
phu Tử Sản, thuộc Trịnh Quốc. Đến
năm 583, Tùy Văn Đế đổi lại là Trịnh
Châu và tên này được dùng luôn cho tới ngày nay.
Lướt qua một ṿng thành phố Trịnh
Châu xong, xe hướng thẳng về chùa Thiếu Lâm thuộc
Tung sơn. Đây là tổ đ́nh của thiền tông Trung
Hoa, là linh hồn của “giáo ngoại biệt truyền”, là
đỉnh cao của Tổ sư thiền với Thiếu
Lâm diệu quyết “chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật”. Và sau cùng là quê hương của Vơ lâm Bắc
đẩu.
Song song với “Tứ đại danh sơn”, Trung
Quốc c̣n có năm rặng núi thiêng khác được gọi
là Ngũ Nhạc. Đó là Thái sơn ở phía đông thuộc
tỉnh Sơn Đông, Hoa sơn ở phía tây thuộc tỉnh
Sơn Tây, Hành sơn ở phía nam thuộc tỉnh Hồ
Nam, Hằng sơn ở phía bắc thuộc tỉnh Sơn
Tây và Tung sơn ở trung tâm thuộc tỉnh Hà Nam.
Trung Nhạc Tung sơn cách Lạc Dương khoảng
50km về phía đông nam, đỉnh cao nhất 1.440m. Chùa
Thiếu Lâm nằm dưới chân ngọn Ngũ Nhũ,
núi Thiếu Thất cách Bắc thành 15km thuộc huyện
Đăng Phong tỉnh Hà Nam. Núi Thiếu Thất là ngọn
phía tây của Tung sơn. Để tỏ ḷng chí thành
ngưỡng mộ Phật pháp và rất mực tôn quư bậc
cao tăng của Thiên Trúc, vua Hiếu Văn Đế
đă cho xẻ núi cất chùa Thiếu Lâm cúng dường
cho thiền sư Phật-đà, vị tăng người
Thiên Trúc đến Trung Quốc vào năm 495 đời Bắc
Ngụy.
Lúc thiền sư Phật-đà c̣n tại thế,
ở phía Tây của chùa có xây tháp xá-lợi, phía sau tháp có xây
Phiên Kinh Đài. Không bao lâu có ngài Lặc-na-ma-đề đến
chùa phiên dịch kinh luận. Niên hiệu Kiến
Xương thứ 3 (527), Tổ Bồ-đề Đạt-ma
đến chùa này ngồi xoay mặt vào vách chín năm, sau
đó gặp và truyền pháp cho ngài Huệ Khả, sáng lập
Thiền tông. Sử gọi ngài Đạt-ma là Sơ Tổ
của Trung Thổ, Thiếu Lâm được gọi là Tổ
đ́nh. Từ đó kẻ tăng người tục
đến học đạo rất đông, thiền pháp
thịnh hành.
Về sau, đệ tử của ngài Phật-đà
là ngài Tăng Trù trụ tŕ. Sau do pháp nạn hủy Phật
của Vơ Đế thời Bắc Chu khoảng năm
572-577 nên già-lam bị phá hủy. Vào thời vua Tĩnh Đế
khoảng năm 579-580, chùa được phục hưng lại,
đặt tên là chùa Trắc Hộ với 120 vị tăng
tu học tại đây. Thời vua Văn Đế đời
Tùy, vua ban sắc phục hồi tên cũ của chùa (có thuyết
nói vua Văn Đế đổi tên chùa là Trắc Hộ,
đời Đường phục hồi tên chùa là Thiếu
Lâm). Đến những năm 614-616, ngoài linh tháp, c̣n lại
toàn bộ chùa đều bị sơn tặc phá hủy.
Đầu đời Đường, tăng
chúng chùa Thiếu Lâm có công giúp vua Đường Thái Tông
khai quốc, từ đó nơi đây mở rộng thêm
môn quyền thuật. V́ vậy thiền tông và vơ thuật
Thiếu Lâm rất nổi tiếng, được lưu
truyền rộng răi chẳng những ở Trung Quốc mà
c̣n lan sang các quốc gia khác trên thế giới. Vua Cao Tông,
Vơ hậu Tắc Thiên đều rất sùng kính đạo
Phật, nên ra lệnh chỉnh đốn tu sửa các
già-lam. Về sau trải qua các cuộc chiến loạn thời
Ngũ Đại cuối đời Đường, chùa dần
dần suy vi.
Năm 1245 đời Nam Tống, ngài Tuyết
Đ́nh Phước Hữu vâng lệnh vua Thế Tổ
đời Nguyên coi sóc chùa, xây dựng lại tự môn,
đệ tử của Sư là ngài Linh Ẩn Văn Thái
cùng các vị Cổ Nham Phổ Tựu, Tức Am Nghĩa
Nhượng, Thuần Chuyết Văn Tài nối nhau trụ
tŕ, đều làm hưng thịnh Thiền tông. Đến
năm 1735 đời Thanh, chùa được trùng tu.
Chùa Thiếu Lâm vào thời Ngũ Đại cuối
đời Đường thuộc về tông Lâm Tế. Từ
đời Kim, đời Nguyên về sau chùa trở thành
đạo tràng của tông Tào Động cho đến nay.
Năm 1929, bọn quân phiệt Phùng Ngọc Tường,
Phàn Chung Tú xua quân cướp sạch, chùa gần như bị
phá hủy toàn bộ. Năm 1932, các vị Lâm Sâm, Đới
Truyền Hiền, Đỗ Nguyệt Sinh trùng tu lại. Diện
tích bây giờ trên 30.000m2. Trong chùa hiện c̣n các kiến
trúc: Sơn môn, nhà khách, đ́nh Đạt-ma, điện Bạch
Y, điện Địa Tạng, điện Thiên Phật.
Điện Thiên Phật c̣n gọi là Tỳ-lô Các, bên trong có
bích họa 500 vị La-hán lễ Phật Tỳ-lô-giá-na
đời Minh, rộng khoảng hơn 300m2. Trong điện
Bạch Y có quyền phả chùa Thiếu Lâm đời Thanh
và bích họa 13 vị tăng cứu vua Đường. Am
Sơ Tổ, am Nhị Tổ đều ở gần
đó. Trong chùa c̣n bảo tồn nhiều thạch khắc,
nổi tiếng có “Tần Vương Cáo Thiếu Lâm Tự
Chủ Giáo Bi”, “Vơ Hậu Thị Thư Bi”, “Linh Vận thiền
sư Công Đức Tháp Minh”, “Tức Am thiền sư Bi”.
Xem ra lịch sử già-lam cũng lắm nỗi
thăng trầm, cũng chung ḍng biến đổi theo vạn
pháp duyên sinh. Song mà tánh thể của nó vốn không tăng
không giảm, không được không mất. Tánh Không vô
cùng nên duyên khởi của các pháp cũng vô cùng. Linh hồn
Thiếu Lâm Tự không nằm trên những mái ngói hết cũ
lại mới, mà nằm trong tâm của thiền tăng.
Tâm thiền tăng th́ không bờ mé, tùy cơ ẩn hiện,
tùy duyên lưu hóa, chớ có bao giờ mất đâu. Cho nên hôm
nay Tăng Ni, Phật tử Việt Nam mới hữu duyên
về thăm chốn Tổ, thăm lại chiếc nôi thiền
tông thuở nào.
Chúng tôi không ngờ đường vào chùa Thiếu
Lâm lại rộng lớn thênh thang như vậy, nói ǵ
đến toàn khu vực! Thật là giang san một cơi!
Người ta bảo xưa kia tổng diện tích của
chùa lên đến 55km2, do nhà vua ban cho. Cả một ṭa Tung
sơn sừng sững xanh biếc, cũng sắc lạnh
như mắt biếc Hồ Tăng! Núi ở đây thật
ra không cao, nhưng uy thế rất mạnh. Mạnh và hùng.
Cứng cỏi, uy nghi. Đón khách là tượng đá một
đại sư đang trong thế thượng vơ “Chào!”.
Ai yếu bóng vía chắc sẽ hết hồn, riêng chúng tôi
cũng cảm thấy sợ sợ, lo mà dọn dẹp
thân tâm. Nếu không, lộn xộn sư cho một đạp
xuống núi th́ hết mong quay về Tổ vực đạo
tràng.
Đoàn đến chùa Thiếu Lâm không gặp tuyết
như Nhị Tổ Huệ Khả mà gặp nắng. Nắng
và gió. Nắng chan chát. Gió rát da. Th́ ra chuyện nóng lạnh ở
đâu cũng có. Xuống xe đi bộ một đỗi,
chúng tôi thấy hiện ra cổng tam quan bằng đá
đồ sộ, trên khắc bốn chữ “Tung Sơn Thiếu
Lâm”, dọc hai bên cột đá có đôi câu đối:
Nhất vi độ Trường giang tu tŕ cửu
tải,
Lưỡng sơn tuế cổ tự tham bái thập
phương.
Dịch:
Một cành lau vượt Trường giang, chín
năm ngồi tu tŕ,
Hai đỉnh núi ṭa cổ tự, mười
phương đến tham bái.
Nét chữ mạnh như thế núi, chi tiết
hoa văn mang phong cách rất Thiếu Lâm Tự, không giống
bất kỳ ngôi chùa nào đoàn đă đi qua. Hai bên là hai
dăy nhà dài rộng, mái ngói này liên tiếp mái ngói kia, uốn
cong lớp lớp, kiến trúc hoành tráng, tuyệt mỹ. Tiếng
vơ sinh luyện tập vang dội, xem ra Thiếu Lâm ngày nay rất
khí thế trong vơ thuật.
Bất kể mặt trời đang đổ
hào quang, cả đoàn vui vẻ đứng tại đây
ghi h́nh lưu niệm và mừng đă tới chùa rồi.
Nhưng không, chưa tới đâu cả. Đường
vào chùa Thiếu Lâm vẫn c̣n thăm thẳm. Đoàn lại
lên xe điện đặc biệt của khu vực, chạy
một mạch thật sướng trên đường nhựa
mênh mông, giữa một phong cảnh Thiếu Lâm chỉ có ở
Trung Quốc. Thế nhưng, vẫn chưa xong, mặc dù
xe đă đi dùm một đoạn đường khá xa,
nhưng sau đó chúng tôi lại phải tiếp tục
đi bộ một đỗi nữa mới tới cổng
sơn môn.
“Thiếu Lâm Tự”, bút tích của vua Khang Hy trên cổng
sơn môn, lặng lẽ an nhiên dưới một rừng
thiền mát rượi. Cái nắng hồi năy làm như cũng
biết ngán uy vũ thiền môn. Nó trốn đâu mất
tiêu, c̣n lại là một không gian rợp bóng đại thọ
trên 1.500 năm tuổi. Quả là một sự tương
phản khó lường. Trong và ngoài sơn môn, đâu là ranh
giới rơ ràng mà nóng bức và mát dịu thay đổi
đến không ngờ! Chuyển một đường
gươm, xoay ngàn thế trận, không biết có dính dáng
ǵ đến tâm và cảnh của thiền tăng chăng?
Đây rồi chốn Tổ năm xưa. Nơi
mà hơn 1.000 năm trước nguồn pháp an tâm từ
Tây sang đă rót vào tâm tủy Nhị Tổ Huệ Khả
và chảy măi tới hôm nay. Vào điện Phật đảnh
lễ Thế Tôn xong, chúng tôi t́m đến đ́nh Đạt-ma
ngay. Chính tại nơi này, ngài Huệ Khả đứng
ngoài tuyết chặt tay dâng lên cầu Sơ Tổ truyền
pháp an tâm, nên c̣n gọi là đ́nh Lập Tuyết. Thiền
tông từ Trung Hoa truyền vào Việt Nam theo hai nhánh, Tổ
Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Tổ Vô Ngôn Thông. Cả hai nhánh
này đều bắt nguồn từ đây. Cho nên chùa Thiếu
Lâm với Sơ Tổ Đạt-ma không chỉ là cội
nguồn của thiền tông Trung Hoa mà c̣n là cội nguồn
thiền tông của các nước được chư Tổ
nơi này truyền sang như Cao Ly, Nhật Bổn, Việt
Nam… V́ vậy Tăng Ni tu thiền về đây cũng là về
chốn Tổ thiền tông.
Thiền tông Việt Nam được chư Tổ
Trung Hoa truyền sang, chư Tổ nước ta đă
đón nhận, lănh hội và ứng dụng ḥa điệu
với bản sắc của dân tộc Việt Nam. Không
đánh hét như Lâm Tế, không ngũ vị quân thần
như Tào Động, mà đơn giản, nhẹ nhàng, thi
vị nhưng vẫn giữ cốt lơi là trực chỉ
đúng theo bản môn của Tổ Bồ-đề Đạt-ma
chỉ dạy. Thử xem một đoạn thơ rất
cũ nhưng lại luôn luôn mới của Sơ Tổ Trần
Nhân Tông:
Ở đời vui đạo hăy tùy duyên,
Đói đến th́ ăn mệt ngủ liền,
Trong nhà có báu thôi t́m kiếm,
Đối cảnh không tâm, chớ hỏi thiền.
Đó chính là đặc điểm của thiền
tông Việt Nam.
Thật xúc động trước tôn tượng
Sơ Tổ, chư Tăng Ni đồng quỳ xuống,
đảnh lễ và tưởng niệm đến ân
đức Tổ sư:
Tổ Bồ-đề Đạt-ma là vị Tổ
thứ 28 của Ấn Độ, nhưng giữ địa
vị Khai Tổ trong lịch sử thiền tông Trung Quốc.
Ngài vốn tên là Bồ-đề Đa-la, vị hoàng tử
thứ ba của vua Hương Chí nước Nam Thiên Trúc.
Sau khi vua cha băng hà, Ngài quyết chí xuất trần, cầu
xin Tổ Bát-nhă Đa-la độ làm đệ tử xuất
gia và truyền giới cụ túc cho. Tổ Bát-nhă Đa-la
hoan hỷ, sau đó đổi tên Ngài lại là Bồ-đề
Đạt-ma. Dưới cơ phong cao vót của Tổ
sư, Ngài phát minh được đại sự, trở
thành vị Tổ thứ 28 của Ấn Độ. Một
hôm, Tổ Bát-nhă Đa-la gọi Ngài đến dạy:
“Ngươi tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung
Hoa mới là nhân duyên lớn”.
Vâng lời tổ Bát-nhă Đa-la, ngày 21 tháng 9
năm Canh Tư Ngài đến bến Quảng Châu, sau khi
đă lênh đênh trên thuyền ngót ba năm. Trước
tiên Ngài gặp vua Lương Vơ Đế, nhưng không hợp
duyên. Sau sang nước Ngụy, lên ngọn Tung sơn, ở
chùa Thiếu Lâm, chín năm ngồi nh́n vách, không nói một
câu. Đợi đến khi ngài Huệ Khả lên núi, đứng
tuyết, chặt tay, cầu pháp an tâm. Tổ chấp nhận
và từ đó ra sức nhồi nặn Huệ Khả thành
một khối, để sau trở thành Nhị Tổ thiền
tông Trung Hoa.
Ngày 05 tháng 10 năm Bính Th́n (536), triều vua Hiếu
Minh Đế đời Hậu Ngụy, Ngài bị ngộ
độc lần thứ sáu mà không tự trị, v́ thấy
hóa duyên đă hết. Năm lần trước cũng bị
ngộ độc nhưng Tổ không chết v́ Ngài có khả
năng tự hóa giải. Trước khi tịch Ngài trao bốn
quyển kinh Lăng-già lại cho Nhị Tổ, dặn ḍ
thi thiết:
- Ta có bộ kinh Lăng-già gồm bốn quyển,
trong đó Phật nói chỗ tột pháp yếu, giúp cho chúng
sanh khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật, nay ta
trao cho ngươi. Ta từ Nam Ấn sang đây đă
năm phen bị thuốc độc mà không chết, v́ thấy
xứ này tuy có khí đại thừa mà chưa ứng hợp,
nên ta lặng lẽ ngồi lâu đợi chờ. Nay đă
truyền trao xong, có thủy ắt phải có chung vậy.
Nói xong, Ngài trao kệ:
Ngô bổn lai tư độ,
Truyền pháp cứu mê t́nh.
Nhất hoa khai ngũ diệp,
Kết quả tự nhiên thành.
Dịch:
Ta sang đến cơi này,
Truyền pháp cứu mê t́nh.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái tự nhiên thành.
Xong rồi, Ngài từ biệt tăng chúng đi
đến chùa Thiên Thánh ở Vơ Môn. Ở đây đúng ba
hôm, Ngài ngồi an nhiên thị tịch, nhằm ngày mồng
9 tháng 10 năm Bính Th́n, niên hiệu Đại Thông năm thứ
2 nhà Lương (529 TL). Nhục thân Tổ được
nhập tháp tại chùa Định Lâm núi Hùng Nhĩ. Vua phong
Ngài hiệu Viên Giác thiền sư, tháp hiệu Không Quán.
Sau, vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn
Độ về, gặp Ngài tại núi Thông Lănh, tay xách một
chiếc dép, đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi:
- Thầy đi đâu?
Ngài đáp:
- Về Ấn Độ.
Ngài lại nói thêm:
- Chủ ông đă chán đời rồi.
Tống Vân ngẩn ngơ, từ giă về triều.
Đến nơi th́ vua Minh Đế đă băng. Hiếu
Trang Đế lên ngôi. Vân đem việc ấy tâu lại,
vua ra lệnh mở cửa tháp giở quan tài ra, quả
nhiên là quan tài không, chỉ c̣n một chiếc dép. Vua sắc
đưa chiếc dép về thờ tại chùa Thiếu
Lâm. Đến đời Đường, niên hiệu Khai
Nguyên năm thứ 15 (728), môn đồ lại dời chiếc
dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Tổ Bồ-đề Đạt-ma có bài kệ:
Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền,
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật.
Dịch:
Chẳng lập văn tự,
Ĺa ngoài giáo lư,
Chỉ thẳng tâm người,
Thấy tánh thành Phật.
Bài kệ này được xem là ch́a khóa đột
nhập vào cửa Không, thẳng đến đất thật,
không qua địa vị thứ lớp.
Một điều trọng yếu mà hành giả
tu thiền phải nắm được, đó là dưới
cửa Tổ sư không chứa một vật. Các ngài luôn
đánh phá, dẹp sạch, nhổ đinh tháo chốt. Mục
đích của Tổ không phải là đưa ra những
kiến giải sắn b́m, những tư tưởng uyên
áo để chúng ta dùi mài rồi chết cứng trong ấy.
Giáo lư và phương tiện thi thiết của người
xưa nhằm tháo gỡ chứ không phải chôn sống
hành giả. Cho nên chư Tổ rất ngại chúng ta bị
giam hăm trong cái bẫy rập của cổ nhân. Do vậy Tổ
Bồ-đề Đạt-ma chẳng lập văn tự
mà chỉ thẳng vào tâm.
Tâm ở đâu? Tâm chân thật không có chỗ
nơi, mà hiển hiện qua sáu căn. Thân th́ vô thường,
tâm lại chân thường, tuy trái ngược nhưng khéo
nương nhau để nhận ra con người chân thật,
là bổn phận của thiền tăng. Con người ấy
không ǵ khác ngoài chân tâm sáng suốt, có năng lực biến
sự sống này trở thành diệu dụng. Người
nào có khả năng vận dụng được tâm chân
thật, biến sáu căn thành sáu đạo thần quang
th́ có thể lập tức nhận ra đức Phật
ngay nơi ḿnh, có thể diện kiến Bồ-đề
Đạt-ma mà không cần đến Thiếu Lâm Tự.
Cho nên người tu thiền phải chấm dứt
ngay mọi sự t́m cầu bên ngoài. Bởi v́ nơi chúng ta
đă tự đầy đủ hết rồi. Nói như
thế không có nghĩa là ta từ bỏ sự t́m kiếm
bên ngoài để bắt đầu một sự t́m kiếm
bên trong. Bên trong có ǵ, ngoài một tổ hợp sắc chất
nhơ nhiễm! Ĺa trong và ngoài để chỉ là một
người chân thật, không cần khoác lên lớp áo nào,
dù là lớp áo của thiền tăng. Đỉnh cao của
thiền tăng chính là vô sự tăng, vô tướng
tăng. Con người vô sự th́ không c̣n dính mắc vào một
lư thuyết, một giáo pháp, một đường lối
nào… Chánh pháp c̣n không thể được, huống là phi
pháp! Đă vô tướng tăng th́ xá chi chiếc thân
năm uẩn bèo bọt, mà ta phải lận đận cả
đời chăm chút, để cuối cùng cũng chỉ
là nắm đất bên mồ xanh. Xin được đối
xử với thân tứ đại như là một sự
biết ơn, chớ không phải là tất cả. Chỉ
cần nhớ lại như thế, ḷng cũng thấy nhẹ
nhiều. Tâm theo đó an vui.
Chư tăng tiếp tục vào tham quan thiền
đường, trai đường bên trong. Chư Ni và Phật
tử không được vào, v́ đây là môn quy của chùa
Thiếu Lâm. Rất hay. Mong sao trong ngoài đều nhất
như, th́ Thiếu Lâm thật xứng đáng là Tổ
đ́nh thiền tông muôn thuở. Chư Ni và Phật tử ở
bên ngoài xoay lại quán sát ngôi nhà của ḿnh.
Rất quư khi chúng tôi được biết tại
chùa Thiếu Lâm hiện có trên 280 vị tăng đang tu học
và hành thiền. Công phu thiền định của chư
sư vẫn tốt. Không ǵ vui và hạnh phúc hơn khi
Tăng già ḥa hợp dưới ánh sáng trí tuệ. Chùa Thiếu
Lâm quả thật xứng đáng là chiếc nôi của thiền
tông Đông độ. Là con cháu trở về chốn Tổ,
chúng tôi cảm nhận như trở về nhà, thiền
phong một thuở dâng tràn. Cảnh núi chùa non, bóng thiền
tăng in dấu trải sơn ngàn.
Mặc thế sự đảo điên,
Làm tăng chỉ có nhàn.
Cách chùa Thiếu Lâm 500m về phía tây c̣n có Tháp Lâm
là một quần thể tháp lớn nhất Trung Quốc.
Vườn và tháp đều rất cổ, đánh dấu
chư Tổ đă có mặt tại đây rất lâu và thiền
tông được xiển dương thịnh hành. Tổng
cộng gồm 250 ngôi mộ tháp lớn nhỏ. Kiến
trúc mộ tháp nơi đây mang phong cách đủ các thời
đại, xa nhất là niên hiệu Trinh Nguyên thứ 7 (791)
đời Đường, gần nhất là niên hiệu
Gia Khánh thứ 8 (1803) đời Thanh. Trong đó phần lớn
là tháp gạch, chỉ một ít tháp đá, từ một tầng
đến bảy tầng, cao từ 15m trở xuống. Mỗi
tháp đều có niên đại chuẩn xác, được
ghi chép tỉ mỉ, tạo h́nh cũng phong phú đa dạng.
Có thể nói đây là nơi tham quan thưởng thức về
nghệ thuật thư pháp, điêu khắc cổ tháp nổi
tiếng qua các thời đại của Trung Quốc hiện
nay.
Tháp Lâm là di tích chứng tỏ chùa Thiếu Lâm
đúng là tổ đ́nh của thiền tông xưa cũng
như nay. Cuộc hành hương về Thiếu Lâm Tự
được khép lại tại Tháp Lâm. Và h́nh ảnh
người tráng sĩ chặt tay thuở nào trên Tung
sơn, với một đao kiên quyết đứt đoạn
sợi dây sống chết, rũ áo phong trần, bước
lên một cơi thênh thang, đă tiễn chân chúng tôi đi.
Người xưa bảo:
Muốn giăng bắt phượng hoàng lưới
diệu,
Chớ noi theo chim chóc chí hèn.
Đà buông câu ḱnh ngạc lưỡi thần,
Đừng sợ lụy ễnh ương phận
nhỏ.
Thượng sĩ Tuệ Trung
Chiều Lạc Dương đẹp lắm. Bởi
v́ đây là xứ sở của hoa mẫu đơn, mà c̣n
là cố đô của 13 triều đại Trung Quốc, bắt
đầu từ triều đại nhà Hạ, sau này là các
triều Thương, Đông Chu, Đông Hán, Tào Ngụy, Tây
Tấn, Bắc Ngụy, Tùy, Đường, Hậu
Lương, Hậu Tấn… Như vậy Lạc
Dương là cố đô được xây dựng sớm
nhất, của nhiều triều đại nhất trong lịch
sử Trung Quốc cổ đại.
Hân hạnh hơn nữa, Lạc Dương c̣n
là điểm xuất phát phía đông của con đường
tơ lụa. Từ đây, Trung Quốc mở rộng sự
giao lưu với các nước Trung Á, Bắc Phi và Châu Âu,
thúc đẩy và nâng cao sự phát triển nền kinh tế,
văn hóa, chính trị của Trung Quốc. Đặc biệt
con đường huyết mạch này đă đưa ḍng
chảy Phật giáo từ Ấn Độ vào xứ sở
có trên 2.500 năm lịch sử Khổng - Lăo, làm thay đổi
rất nhiều đến nền tảng triết học
và thăng hoa đời sống tâm linh cũng như nền
văn minh của người dân bản xứ. Ngày nay tổng
diện tích là 15.208km2, trong đó nội thành chiếm 544km2,
dân số 16.400.000 người, nội thành chỉ có
1.460.000 người. Lạc Dương bây giờ
được đoạt giải thành phố ưu tú của
Trung Quốc, thành phố vườn hoa cấp quốc gia,
thành phố có sức thu hút nhất của Trung Quốc. Con
đường Lạc Dương là con đường
đáng nhớ nhất trong suốt chuyến hành
hương Trung Quốc. Xe chạy trên một đại lộ
thênh thang, đầy hoa, đầy không gian, không cần chạy
nhanh, không phải chen lấn với ai. Nét đẹp một
thuở cố đô của Lạc Dương vẫn không
phai nḥa, có thể chỉ thay đổi đôi chút
đường nét giữa xưa và nay thôi. Gió nhẹ, trời
mát, thời tiết ấm áp.
Xe đưa chúng tôi đến Long Môn Thạch Quật,
đây là kho báu nghệ thuật điêu khắc đá của
hoàng gia, một trong ba hang động nổi tiếng nhất
của Trung Quốc. Hai hang động c̣n lại là động
Đôn Hoàng ở Mạc Cao Cam Túc và động Vân
Cương ở Đại Đồng Sơn Tây.
Quần thể hang động ở núi Long Môn
phía tây, núi Hương sơn phía đông, nằm sóng đôi
giữa đôi bờ Y hà, cách huyện Lạc Dương tỉnh
Hà Nam 14km về phía nam. Có tận mắt xem qua mới thấy
quả thật đây là một thạch quật kỳ vĩ,
tuyệt vời. Chỉ mới đối diện trước
cổng vào Long Môn động thôi mà đă choáng ngợp rồi.
Đoàn đến Long Môn vào buổi tối cho nên không thể
nào tả hết được cái sắc nước
hương trời của Long động. Hai ngọn Long
Môn sơn và Hương sơn lấp lánh soi ḿnh dưới
muôn ngàn ánh đèn ảnh hiện trên ḍng Y hà. Chiếc cầu
nối đôi bờ đông tây trở thành chiếc cầu
vẽ, rực rỡ ảo diệu bởi nét cọ hoa
đăng. Đèn trên núi chiếu xuống sáng choang. Gió
dưới sông thổi lên mát rượi. Đoàn xoay qua rồi
lại xoay lại, chụp h́nh không cần nhắm.
Bên đây Long Môn sơn đứng nh́n qua bên kia
Hương sơn chỉ c̣n thấy núi và non, nước
và đêm. Tất cả đều chùn xuống, nhường
lại cho ánh sáng Hương Sơn Tự, tỏa chiếu
lấp lánh từ những dăy đèn chạy suốt toàn bộ
quần thể điện đài của già-lam, tạo
thành một kiệt tác cổ tự về đêm, độc
nhất vô nhị giữa nền trời đầy sao và
ánh đèn. Đố ai vẽ được bức tranh
này? Biết dùng từ ǵ ở đây bây giờ? Đẹp,
chưa đủ. Lạ, chưa hết. Tuyệt, chưa
xứng. Thôi không tả cho rồi, để dành khách trùng
phùng tự hân thưởng.
Năm 493, Ngụy Hiếu Văn Đế nhà Bắc
Ngụy dời đô từ Đại Đồng Sơn
Tây về Lạc Dương và bắt đầu công tŕnh
Long Môn Thạch Quật nhân tạo này. Công tŕnh trải qua
các triều Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Bắc
Tề, Tùy, Đường, Ngũ Đại, Bắc Tống,
Kim cho đến cuối đời Thanh. Trong đó số
tượng tạc vào thời Bắc Ngụy chiếm khoảng
30%, đời Đường 60%, các đời khác khoảng
10%. Riêng đời Đường, hoàng đế Vơ Tắc
Thiên rất tôn sùng đạo Phật nên Long Môn Thạch Quật
đă được thổi vào một luồng sinh khí nghệ
thuật hang đá lên đến đỉnh cao. Các tác phẩm
xuất sắc gồm chùa Phụng Tiên, chùa Tiềm Khê,
động Vân Phật… nhất là quần thể tượng
Phật Tỳ-lô-giá-na trong chùa Phụng Tiên, điêu khắc
tinh xảo, đường nét uyển chuyển, mạnh mẽ
như thật, là một trong những tác phẩm tiêu biểu
cho nền nghệ thuật điêu khắc đời
Đường. Nhưng đáng tiếc, trải qua những
cuộc pháp nạn của Phật giáo Trung Quốc, không ít
pho tượng Phật bị mất tay, mất chân, mất
đầu, tệ hơn nữa là mất cả toàn thân.
Có thể nói các hang động vĩ đại,
nổi tiếng của Trung Quốc nếu không phải là
giới hoàng gia hay thượng lưu chủ tŕ kiến tạo
th́ không ai có thể làm nổi. “Nhất tướng công
thành vạn cốt khô” (một vị tướng thành công,
muôn ngàn người chết khô). Điều này xưa nay vẫn
vậy. Ngắm nh́n thạch quật mà nhớ thương
hàng ngàn người thợ mỏ và vô số nghệ nhân.
Qua những tấm bia và sử sách lưu lại, th́ đối
tượng tham gia công tŕnh này bao gồm cả triều
đ́nh, quư tộc, thương hội dân gian và luôn cả
các thường dân.
Hai giới lao động trí óc lẫn lao động
tay chân đều vắt hết sức lực, cống hiến
toàn bộ khả năng của ḿnh cho di sản hang động
này. Họ đă ngủ núi, ăn núi, sống núi và chết
núi. Không phải một ngày mà một đời. Không phải
một đời mà nhiều đời. Chịu bao nhiêu
gian khổ từ đời cha đến đời con:
thiết kế, phác thảo, khắc họa, đập
đá, đục đá, tạc đá, gánh đá… Đem mồ
hôi và cả xương máu để làm nên sự nghiệp
cho đất nước, cho đạo pháp, cho nền
văn hóa của dân tộc. Công đức thật vô lượng.
Trăm năm sau, ngh́n năm sau, hậu thế đứng
trước những tác phẩm được nhồi nặn
bằng cả trái tim và khối óc của muôn ngàn con người,
xin cúi đầu khâm phục và vô cùng trân trọng. Là hậu
bối, xin tạc dạ tri ân.
Núi non Long Môn thuộc loại đá hoa Đại
Lư, cửa hang có h́nh dáng như cái cổng nên gọi là Y Khuyết
Thạch Quật. Trong hang động này, người
xưa điêu khắc những bệ thờ và tượng
Phật nên c̣n gọi là “Long Môn Khám” hay “Y Khuyết Phật
Khám”. Cả công tŕnh Long Môn Thạch Quật với hai dăy
núi, kéo dài từ đông sang tây có trên 2.345 hang đá, ngót 40
ṭa tháp Phật, hơn 2.800 tấm bia đá, cả 100.000 pho
tượng Phật. Trong đó, tượng lớn nhất
cao 17,14m; tượng nhỏ nhất chỉ cao 2cm. Các động
được chú ư nhiều nhất như động Cổ
Dương, động Tân Dương, động Y Khuyết
c̣n gọi là động Liên Hoa, Thạch Quật Tự…
trong đó động Cổ Dương được
đào khoét xây dựng sớm nhất, có nhiều tượng
Phật nhất.
Chùa Phụng Tiên là hang đá lộ thiên, quy mô tráng
lệ, chia làm hai lớp trong và ngoài. Lớp trong rộng
38m, sâu 23m. Lớp ngoài rộng 36m, sâu 14m, là hang động
nổi tiếng nhất về nghệ thuật hang động
đời Đường. Ở giữa vách sau có khắc
tượng Phật Lô-xá-na ngồi, cao khoảng 16m, h́nh
dáng trang nghiêm, từ dung tỏa sáng, nụ cười thấm
đượm từ bi, nhưng ngày nay hai tay và hai chân
đă bị hư hoại, ṭa sen cũng xém tàn. Hai bên đức
Phật có hai vị Bồ-tát và hai vị Thánh tăng đứng
hầu cao hơn 11m, đường nét rất sống
động tinh xảo. Chung quanh c̣n rất nhiều tượng
long thần, hộ pháp, kim cương lực sĩ… với
sắc khí mạnh bạo. Ngoài ra c̣n rất nhiều động
trên khắp Long Môn sơn cũng như Hương sơn.
Bước lên tới đỉnh chùa Phụng
Tiên đảnh lễ đức Phật và chư vị Bồ-tát
mới thấy con người ḿnh quá bé bỏng, chẳng
là ǵ cả. Long động trải qua trên 400 năm điêu
khắc, đă ưu mỹ với tất cả sự
hoành tráng kỳ vĩ nhất. Vậy mà vẫn bị phá hủy.
Trên cao nh́n xuống ḍng Y hà, đức Phật và ḍng sông
đều tĩnh mịch, trầm lặng. Tất cả
như tỏa sáng. Đóa sen hoa đăng dưới mặt
nước Y hà, đong đưa theo thủy triều, dâng
lên cúng dường chư Như Lai, mà cũng là hiến tặng
cho đời.
Núi đá đă được xẻ, Phật
đá đă được tạc, nhưng bản tâm biết
khắc vào tảng đá nào? Chỉ có ở trong ḷng. Lặng
lẽ mà thường biết. Yên ổn thường trụ,
như vậy mới không buồn, không đau ḷng khi thấy
tôn nhan Như Lai trang nghiêm thù diệu dường ấy mà
chúng sanh đă chặt mất tay, mất chân. Có tượng
bị chặt luôn cả đầu! Như Lai cũng không
nói ǵ. Khi tượng được kiến tạo sùng
bái, đức Phật không v́ thế mà vui. Khi tượng
bị phá hủy, đức Phật không v́ thế mà buồn.
Mặc cho mưa dầm nắng dội, mặc cho ḷng
người đổi thay. Chư Như Lai muôn đời,
ngh́n đời, muôn ngh́n đời chỉ thế thôi.
Tại đây, trong lúc mọi người đang
xuưt xoa trầm trồ thạch động, hướng dẫn
viên Lưu Chí Huy pha tṛ bằng một câu đùa khá duyên:
- Kính thưa quư Thầy cô, quư Thầy cô thấy
di sản Long Môn Thạch Quật của Trung Quốc
đáng khâm phục quá, phải không ạ? Vâng. Thật ra,
trong đời này “không có việc ǵ khó, chỉ sợ túi
không tiền, đào núi và lấp biển, không làm nổi th́
thôi”. - Cười.
Cảm ơn anh hướng dẫn viên trẻ
đă cho chúng tôi một trận cười sảng khoái. Suốt
chuyến đi, ngoài phần thuyết minh tường tận
về nhiều lĩnh vực nơi đoàn đi qua, anh
đă tặng chúng tôi những câu dí dỏm như vậy.
Ngày nay Long Môn Thạch Quật đă lừng danh
là một Viện Bảo Tàng nghệ thuật điêu khắc
đá. Đây không chỉ là sự thể hiện của
văn hóa Phật giáo, đồng thời c̣n phản ảnh
nét thời thượng về chính trị, kinh tế,
văn hóa thời bấy giờ. Hang động này đă
được UNESCO công nhận là Di sản thế giới
vào tháng 11 năm 2.000.
Ḥa thượng Thường Chiếu nói: - Chúng
ta đủ duyên lành, về đến nơi đây đảnh
lễ Thế Tôn, chiêm bái vô số tượng Phật và
chư vị Bồ-tát trên vách đá như vầy. Thật
là một điều hy hữu. Tuy nhiên, các pháp có tướng
do duyên hợp, dù to lớn bền chắc tới đâu cũng
phải tan hoại. Có người gầy dựng nên cũng
có người phá hủy đi. Có người phá hủy
đi, cũng có người gầy dựng lại. Đó
là lẽ thường thôi. Song quư nhất là cái tâm. Tâm chân thật
này không ai phá hủy được, cho nên ngày nay chúng ta mới
từ Việt Nam xa xôi cách trở, về đến Long Môn
Thạch Quật đảnh lễ tham bái chư Phật.
V́ vậy, mong tất cả chư huynh đệ hăy nhận
và sống với tâm chân thật của ḿnh, để chúng
ta trở thành như những đóa sen lấp lánh dưới
kia, tươi tắn vươn lên giữa ḍng sông mê, cúng
dường mười phương đấng Điều
Ngự. Đó cũng là lời kết cho buổi tối
chiêm bái Long Môn Thạch Quật của đoàn.
Vui biết mấy!
Ở ngoài ṿng luân chuyển.
Vọng nh́n đêm,
Từng giờ phút đi qua.
Niết-bàn ư?
Mau xem nước trôi xa,
Và trên kia,
Đôi mắt Phật-đà,
Đôi mắt mi ngưu vương,
Đang ngắm hoa.
Vĩnh cửu,
Biết bao là!
Ngày 18-5-2007
Chùa Bạch Mă là chiếc nôi đầu tiên của
Phật giáo Trung Quốc. Tương truyền vào năm 67
trước công nguyên, Hán Minh Đế nằm mộng thấy
“người vàng” phát ra ánh sáng rực rỡ, từ
phương tây tới. Nhà vua cho đoán mộng mới hay
có Thánh nhân xuất hiện ở phương tây. Vua sai sứ
giả là Thái Âm và Thái Cảnh dẫn theo 18 tùy tùng sang Tây Vực
để cung thỉnh tượng Phật. Đoàn sứ
giả đi mới nửa đường, không ngờ gặp
được hai Phạm tăng dùng ngựa trắng chở
cả tượng lẫn kinh, men theo con đường
tơ lụa đến Trung Quốc. Sứ giả đón
tiếp hai Ngài rất trọng hậu.
Vua Hán Minh Đế liền cho xây chùa lấy hiệu
là Bạch Mă để tưởng nhớ đến công
lao của các con ngựa trắng. Hai ngài Ma-đằng và
Trúc Pháp Lan được thỉnh ở tại đây
để dịch kinh và thuyết pháp. V́ thế chùa Bạch
Mă là ngôi chùa xưa nhất tại Trung Quốc, được
kiến lập vào năm 68, cách Lạc Dương 12km về
hướng tây. Ngày nay trên bức hoành đá ngoài cổng
chùa, c̣n ghi rơ “Bạch Mă Đệ Nhất Cổ Sát”. Tại
đây bộ kinh “Tứ Thập Nhị Chương”
được dịch ra trước nhất, mở đầu
cho kho tàng giáo điển đồ sộ của Trung Quốc
về sau.
Ngày nay đến chùa, hai con ngựa trắng bằng
đá cao 1,8m; thân dài 2,2m vẫn c̣n đứng hầu ngoài sảnh
đường, gần tháp mộ hai thầy. Cổng tam
quan khiêm tốn, trầm lặng, cất giữ bên trong một
quá khứ thiền môn có nhiều Thánh tăng đă lưu dấu
tại đây, thắp lên ngọn chánh pháp vi diệu. Chùa
xưa in dấu cũ, in cả bóng dáng thần tăng trên
từng trang kinh gỗ. Rương đựng kinh
được cất giữ trong chùa đến nay vẫn
c̣n, khách thập phương vẫn thường đến
đây đốt hương cúng dường. Nghe nói
rương kinh thường phóng ra ánh sáng làm rực rỡ
cả điện Phật, cho nên kẻ tăng người
tục đến kính lễ giống như lễ chân dung
Phật.
Chùa Bạch Mă lưng hướng bắc, mặt
hướng nam, đúng theo quy cách truyền thống của
tự viện cổ đại Trung Quốc. Chùa được
xây theo kiểu h́nh chữ nhật, tổng diện tích
60.000m2. Trước chùa là một đại sảnh rất
rộng. Các cơ sở của chùa đi theo trục chính
nam bắc, tổng cộng có các điện lớn: Thiên
Vương Điện, Đại Phật Điện,
Đại Hùng Bảo Điện, Bi Lư Các… hai bên có lầu
chuông, lầu trống, Trai đường, Khách đường,
Thiền đường, Pháp Bảo đường, Tàng
Kinh Các… tất cả kiến trúc trên được xây theo
thế tả hữu đối xứng, bố cục hoàn
chỉnh ngăn nắp.
Hai ngài Ca-diếp Ma-đằng và Trúc Pháp Lan từng
ở đây dịch kinh. Hai bên cổng chùa là tháp mộ của
hai ngài. Chúng tôi quỳ xuống trước tháp, ngậm
ngùi khi thấy cỏ xanh chen lấn mọc kín trên đỉnh
tháp. Màu thời gian làm phai màu cổ tháp, khiến cho tất
cả đều trở thành cổ điệu thiên thu,
trường cửu mà thiên di.
Phía đông nam chùa có một ngôi chùa h́nh tháp tên
Đông Bạch Mă, c̣n gọi là chùa Tề Vân do vua Trang Tông
thời Hậu Đường (923-925) kiến tạo. Ngôi
chùa h́nh tháp này có 9 tầng bằng gỗ. Vào đời Tống
năm 1126, tháp bị chiến tranh thiêu hủy. Đến
năm 1175, thời Kim có vị tăng là Ngạn Công xây dựng
lại. Năm 1798, đời Thanh có vị tăng là Niên
Lăng lại trùng tu thêm. Hiện c̣n một ngôi tháp bằng
gạch cao 13 tầng.
Chùa Bạch Mă ra đời quá lâu, chịu nhiều
binh lửa hủy hoại, nên đă qua bao lần trùng tu.
Đời Đường, đời Tống, đời
Nguyên, đời Minh đều có sự trùng tu và phục
chế. Trong đó phải kể đến đạo tâm
của nữ hoàng đế Vơ Tắc Thiên đối với
chùa. V́ rất tôn sùng Tam bảo, nên bà đă đưa chùa Bạch
Mă đi vào thời kỳ hoàng kim nhất vào đời
Đường. Thời Ngũ Đại, các vị
tăng Thiền tông đă tới đây hoằng hóa. Cuối
thời Kim, chùa này là nơi hoằng giáo của các vị
sư tông Hoa Nghiêm, thính chúng rất đông, pháp sự nhiều
đời thịnh hành. Thời Tào Ngụy có các vị cao
tăng là Khương Tăng Khải, Đàm Đế, Bạch
Diên; thời Tây Tấn có ngài Trúc Pháp Hộ; thời Bắc
Ngụy có ngài Đàm-ma-lưu-chi, Phật-đà-phiến-đa;
đời Đường có Phật-đà-la-đa v.v…
đều từng ở chùa này dịch kinh. Có thể nói từ
thời Bắc Ngụy trở xuống, chùa Bạch Mă là
trung tâm Phật giáo thời Bắc Triều. Năm 1928, chùa
bị bọn quân phiệt Phùng Ngọc Tường phá hủy.
Năm 1931, chùa được các vị hộ pháp là Đới
Quư Đào và các vị văn nhân Đỗ Nguyệt Sinh v.v…
trùng tu kiến tạo. Đến năm 1972, Thủ tướng
Chu Ân Lai cho trùng tu lại lần cuối cùng, được
xem là quy mô nhất.
Dù trải qua một lịch sử nhiều
thăng trầm như vậy, nhưng chùa Bạch Mă ngày
nay vẫn trang nghiêm thanh tịnh. Hàng cổ thụ già cỗi
vẫn nghiêng ḿnh che chở từng nếp ngói cũ
xưa. Lan-nhă thiền viên, cảnh yên, ḷng lặng. Trước
tôn tượng hai bậc đại Phạm tăng, chúng
tôi quỳ xuống thắp lên nén tâm hương, tưởng
niệm công đức của hai Ngài và ôn lại vài đoạn
trong kinh “Tứ Thập Nhị Chương”:
Phật hỏi vị Sa-môn:
- Mạng người sống chừng bao lâu?
- Thưa, trong vài ngày.
- Ông chưa hiểu đạo.
Phật lại hỏi một vị khác:
- Mạng người sống chừng bao lâu?
- Thưa, trong một bữa ăn.
- Ông cũng chưa hiểu đạo.
Lại một vị Sa-môn khác nữa:
- Mạng người sống chừng bao lâu?
- Thưa, trong một hơi thở.
Phật khen:
- Ông mới là người hiểu đạo.
Đoạn kinh tuy ngắn nhưng quá siêu tuyệt,
quá hàm dung, quá khẩn thiết để thức tỉnh
nhân sinh. Ta c̣n chần chừ ǵ nữa, sao không lên đường!
Trong tinh thần? Thượng sĩ.
Buông bốn đại chừ đừng nắm
bắt,
Tỉnh một đời chừ thôi chạy
quàng.
Nên nhớ phải thuận ḍng chánh pháp mà đi,
giữ ở trung đạo, đừng tấp qua tấp
lại hai bên bờ mà vướng lụy vào thân. Mang giày nhẫn
nhục, mặc giáp tinh tấn chính là dùng tinh thần đại
vô úy mà thành tựu sự nghiệp đại giải thoát.
Tu tập các hạnh không phải để trốn tránh phiền
năo, mà chính là xông thẳng vào chỗ ma quân để công phá
chúng. Nhanh lên. Thời gian không cho hẹn. Đây là những
điều Phật dạy trong kinh Tứ Thập Nhị
Chương. Bộ kinh này tuy ngắn gọn, nhưng súc
tích, chứa đựng giáo lư uyên thâm, khẩn thiết
đối với hành giả tu Phật. Đôi khi chỉ một
hai câu Phật dạy mà cả đời chúng ta tu vẫn
chưa xong.
Thêm một nén hương tưởng nhớ thâm
ân của hai bậc Thánh tăng, đă v́ chúng mê t́nh mà vượt
muôn dặm đường xa đến đây, đem ánh
sáng Phật pháp đến Trung Hoa, lưu truyền pháp bảo
lại nơi đời. Chúng tôi thành tâm đảnh lễ
trước cổ tháp hai Ngài lần cuối trước
khi lên xe ra về.
Bạch Mă Tự! Chùa xưa c̣n dấu cũ.
Buổi chiều, đoàn được
đưa đi tham quan phủ Khai Phong. Nơi đây nổi
tiếng không phải chỉ v́ thành xưa miếu cổ,
cung kiều dạ nguyệt in trên mặt nước hồ
thu, mà v́ có Bao Thanh Thiên. Nhưng phải nói phố cổ
Khai Phong đẹp quá, nhất là Vương gia trang soi ḿnh
trên hồ Thiên Bá Vương Phủ. Thật ra, kiến
trúc cổ của Trung Quốc cần được bảo
lưu, bởi v́ nó rất có mỹ thuật, có hồn và có
cả nền văn minh cổ đại trong đó nữa.
Toàn bộ quần thể điện đài trong
phủ đều được làm bằng gỗ quư hiếm.
Cả bức tượng Bao Công cao lớn tôn trí tại
Thanh Tâm Lâu cũng được tạc từ gỗ. Khu vực
rất rộng, phối trí cân xứng, cây cảnh tuy không
nhiều nhưng khéo bày trí nên khá bắt mắt du khách.
Đứng trên lầu cao nh́n xuống toàn bộ phủ Bao
Công vẫn đường bệ uy nghi khí phách, lẫm liệt
oai phong như tính cách Bao Thanh Thiên ngày ấy.
Đến phủ Khai Phong th́ không thể không nhắc
tới Bao Công một chút, mặc dù sách sử, báo chí cho tới
phim ảnh… mọi h́nh thức văn hóa nghệ thuật
đă nói đến ông quá nhiều. Bởi v́ phẩm chất
của ông là nguồn sáng tác của họ, là thần tượng
của công lư, là ngôi sao sáng không chỉ để nhân dân
Trung Quốc ngưỡng mộ, mà cả thế giới cũng
khen ngợi, kính trọng về một quan ṭa thanh liêm, chánh
trực và thiên tài phá án của ông. Đời sau khó có ai qua
nổi ông.
Bao Chửng tên chữ là Hy Nhân (999-1062), người
đất Hợp Ph́ Lư Châu thời Bắc Tống, nay
thuộc tỉnh An Huy. Năm Thiên Thánh thứ 5 (1027), ông
đậu Tiến sĩ. Vào thời Nhân Tông, làm quan Ngự
sử giám sát, ra sức luyện tập quân sĩ, chọn
lựa tướng tài, củng cố việc pḥng bị
biên cương, chống lại giặc Khiết Đan.
Sau làm quan Đăi chế Thiên Chương các, Trực học
sĩ Long Đồ các, Khu mật Phó sứ. Lúc làm Tri phủ
Khai Phong, chấp pháp nghiêm minh, không sợ cường quyền
quư tộc, liêm khiết công chính nổi tiếng triều
đ́nh.
Sách ghi Bao Chửng là vị quan ṭa pháp trị
nghiêm minh, đoán án sáng suốt như thần. Một lần
nọ, có kẻ lén cắt lưỡi trâu của người
láng giềng, chủ trâu đến huyện đường
báo án. Bao Chửng bảo chủ trâu rằng: “Ông về nhà
giết trâu luôn đi, rồi mang thịt ra chợ bán”. Theo
pháp luật Bắc Tống quy định, người nào
tự ư giết mổ trâu cày sẽ bị phạt nặng.
Trong lúc chủ trâu đang bán thịt ngoài chợ, có người
đến nha môn huyện tố giác chủ trâu tự ư mổ
thịt trâu cày. Bao Chửng nghiêm mặt hỏi người
tố giác: “Ngươi đă lén cắt lưỡi trâu của
người ta, giờ lại đi tố giác nữa là
sao?”. Kẻ đó nghe xong run sợ, tự khai tội trạng
của ḿnh.
Lúc làm Tri phủ Khai Phong, Bao Chửng đă cải
cách Viện Tố tụng tại đây. Trước kia,
hai bên thưa kiện không được trực tiếp
đến pháp đường tường thuật, v́ vậy
t́nh trạng thiên vị v́ cảm t́nh riêng tư hay v́ những
lư do khác xảy ra rất nghiêm trọng, dẫn đến
thi hành án oan là chuyện thường. Bao Chửng không chấp
nhận như thế. Ông mở rộng cửa chính nha môn,
cho phép hai bên tố tụng được tường thuật
trực tiếp lời khai của ḿnh. Từ đó giảm
bớt nạn lừa dối giấu giếm của quan lại,
nâng cao chất lượng và hiệu lực xử án.
Sau khi nhậm chức, Bao Chửng lấy bản
thân làm phép tắc, đứng giữa triều cứng cỏi,
không sợ quyền thế, nghiêm trị tất cả những
ai phạm pháp, cho dù người đó thuộc gia tộc
quyền quư hay hoàng thân quốc thích, gia quyến của các
đại thần đương triều. Có một số
đại thần được nhà vua sủng ái, hà hiếp
chiếm đoạt tài sản của dân, Bao Chửng cũng
không tha. Do vậy chỉ cần nhắc đến tên ông,
tất cả đều hoảng sợ. Uy tín và phẩm
cách đạo đức của ông lúc bấy giờ rất
cao, ngay cả phụ nữ hay trẻ con cũng đều
truyền tụng ông. Người dân đương thời
xem ông như là vị thiện thần của họ.
Một đức tính cao đẹp nữa của
Bao Chửng là sự trong sạch, khiêm tốn trong cuộc
sống và ứng xử với mọi người. Có lần
làm Tri châu Đoan Châu, nơi này nghiên mực nổi tiếng
nhất nước, thuộc hàng cống phẩm thượng
hạng. Lúc trước, quan lại nơi đây thường
mượn danh nghĩa tiến cống triều đ́nh, mà
trưng thu cống phẩm gấp nhiều lần, để
dành vào việc riêng. Bao Chửng chỉ nghiêm chỉnh chiếu
theo số lượng cống phẩm đặt làm, thậm
chí cho đến lúc ông măn hạn quan, cả bản thân cũng
không có đến một cái nghiên mực.
Tuy phú quư hiển đạt, nhưng trong cách
ăn mặc và vật dụng thường dùng, không khác ǵ
với dân thường. Không những như vậy, ông c̣n
nghiêm khắc dạy dỗ con cháu: “Con cháu đời sau có
làm quan, nếu phạm vào tội tham ô th́ sống không
được về nhà, chết không được chôn
trong vùng mộ của tổ tiên. Nếu không nghe lời ta
th́ không phải là con cháu của ta”.
Gần ngh́n năm nay, Bao Chửng là nhân vật lịch
sử có sức lôi cuốn, sự tích của ông được
mọi người truyền tụng không ngớt. Với
tư cách một vị quan thanh liêm, chấp hành luật
pháp nghiêm minh, Bao Chửng trở thành hóa thân của một
vị quan lại toàn mỹ trong con mắt nhân dân Trung Quốc.
Ông c̣n là nhân vật nổi tiếng vượt thời
đại, danh đức của Bao Chửng gắn bó gần
gũi với lương dân hơn bất cứ nhân vật
lịch sử nào của Trung Quốc. V́ vậy đền
thờ của ông quanh năm ấm áp, khói hương nghi
ngút. Đây là nơi đáng tự hào của người
dân phủ Khai Phong, mỗi khi có du khách thăm viếng,
chiêm ngưỡng.([1])
Vẫy tay giă từ Khai Phong phủ và Bao Thanh
Thiên, chúng tôi không quên gởi đến ông niềm kính trọng,
thán phục. Ông rất xứng đáng ngủ yên trong ḷng phố
cổ này với miếu cổ thành xưa và t́nh cảm
chân thành nhất, đậm đà nhất, quư trọng nhất
của nhân dân Trung Quốc dành cho ông.
Xe chạy quanh bờ hồ Bao Công và hồ Thiên
Bá Vương Phủ một lần nữa trước khi
đưa đoàn ra ga Trịnh Châu đi Thượng Hải.
Phố cổ Khai Phong với mây trời man mác làm cho chúng
tôi nhớ tới phố cổ Hội An ở quê nhà quá. Phố
cổ Việt Nam chắc chắn là nhỏ hơn phố cổ
Trung Quốc nhiều. Nước ḿnh nhỏ th́ phố cũng
nhỏ, chớ sao! Nhưng hai tiếng Hội An đủ
để ta thấy cuộc sống b́nh yên trong ḷng phố
hiền ḥa, nên thơ, nơi hội tụ của những
sự an lành.
Hội An đáng nhớ v́ Hội An có chùa. Chùa ở
ven đô như ṿng tay Tam bảo che chở cho ḷng phố.
Chùa c̣n là chốn tâm linh cho con người t́m về sau những
lúc dong ruổi đường dài. Chúc Thánh, Phước
Lâm, Vạn Đức, Pháp Bảo… từ lâu đă trở
thành hơi thở của người dân phố Hội. Một
ngày của phố bắt đầu bằng tiếng chuông
chùa và kết thúc cũng bằng tiếng chuông chùa. Như vậy
quen rồi. Tiếng chuông đă trở thành hồn phố,
ngân dài theo năm tháng đi vào ḷng phố, là chứng nhân
bao đời cho ḍng chảy Phật giáo ở mảnh
đất “sông Hoài cửa Đợi”. Đất Hội
An từng in dấu chân của chư Tổ Trung Quốc
sang hoằng dương chánh pháp, ngài Thạch Liêm, ngài Minh
Lượng, ngài Minh Hải… có mặt nơi này ngay từ
những ngày tháng Hội An c̣n rất trẻ. Chùa mang hồn
xưa và là hồn nay của phố. Cho nên người
đi xa, vẫn thương nhớ lắm quê nhà.
Đất khách muôn trùng sao nhỏ hẹp,
Quê nhà một góc nhớ mênh mông…
([1]) Viết theo quyển “100 danh nhân có ảnh
hưởng đến lịch sử Trung Quốc” của
Vương Tuệ Mẫn.
Chiều nay theo đúng chương tŕnh, đoàn
phải có mặt tại sân ga Trịnh Châu trước giờ
lên tàu một tiếng. Thời gian lên tàu chỉ có 5 phút, v́
đây là trạm giữa tuyến. Hướng dẫn viên
giới thiệu một cửa hàng táo đặc sản tại
Trịnh Châu trước khi rời Hà Nam Trung Quốc, và
thông báo đoàn chỉ được ghé vào 10 phút thôi.
Mười phút đă trôi qua, vẫn bặt vô âm
tín. Rồi hai mươi phút, ba mươi phút, năm
mươi phút… bà con lục tục kéo ra với lỉnh kỉnh
những túi, những giỏ, những thùng, cơ man là táo.
Táo bánh, táo kẹo, táo nước, táo khô… Ngồi trên xe, quư
thầy thở dài. Đầy ḿnh trên dưới thôi là táo,
vận chuyển sao đây để lên tàu? Nhưng dù sao cũng
c̣n cười nổi, tại v́ vui quá, phen này tha hồ
ăn táo! Chỉ có điều bên nữ nặng nghiệp
mua sắm bao nhiêu th́ bên nam lănh đủ hậu quả bấy
nhiêu. Quư cô xách không nổi, buộc ḷng quư thầy trẻ và
các Phật tử nam phải xách phụ. Khó mà tưởng
tượng nổi cái cảnh tay xách, nách mang, đầu
đội này. Chưa biết rồi sẽ ra sao khi lên tàu?
Xe dừng lại tại sân ga, cả đoàn
đang loay hoay với bao nhiêu là đồ đạc. Mỗi
vị hai vali, một xách tay và cái đăy đeo trên vai… là ít.
Ngay khi ấy hướng dẫn viên hớt hải chạy
ra, dùng loa kêu to:
- Nhanh lên, quư Thầy cô ơi. Tàu đă ghé sân ga rồi,
chỉ c̣n 5 phút nữa thôi.
- Chuyện ǵ vậy?
- Không biết.
- Không cần biết.
- Một hai ba… chạy.
Thế là đoàn quân xung trận, khí thế
như vương. Không cần kiểm vé, không cần kiểm
quân, không cần cửa nẻo, tháo tung mọi rào cản
trong sân ga, mạnh ai nấy chạy. Đến nước
này th́ bặt đường ngôn ngữ, dứt chỗ tâm
hành.
Quư thầy trẻ và Phật tử nam chạy bọc
phía sau, nh́n thấy quư cô lớn tuổi thở dốc v́ mớ
hành lư nặng quá, không chạy được, đă hối:
- Bỏ đồ lại hết, chạy đi.
Thế là bên nam lại nặng nợ thêm nữa.
Tiếng hướng dẫn viên vẫn tiếp tục thúc
ở phía trước, phía sau, chặng giữa, liên hồi:
- Nhanh lên! Nhanh lên quư Thầy cô ơi. Chỉ c̣n 3
phút nữa thôi, 2 phút nữa thôi, 1 phút nữa thôi.
- Lên toa nào?
- Toa nào cũng lên.
… Và con tàu lăn bánh.
Cả đoàn không c̣n ai biết tới ai. Lạc
thầy, lạc bạn, lạc vali… Thầy thị giả
Ḥa thượng Thường Chiếu mặt mày buồn
hiu, thốt không nên lời “Thầy ơi! Thầy đâu mất
rồi?”. Có ai ngờ, cái giây phút đệ tử hồn
xiêu phách lạc ấy, Sư phụ đă an nhiên tĩnh tọa
trên… toa!
Cuộc t́m kiếm người và vật để
đưa về đúng toa của ḿnh sau đó mới là
gian nan. Vé tuy cầm trong tay nhưng không ai biết ḿnh
đang đứng ở đâu? Bấy giờ phải xin
lỗi hành khách mà luồn lách qua những toa ngồi nằm
đông ken người ta. Không có chỗ đứng, nói ǵ
chuyện đẩy vali trên tàu, nên chúng tôi phải đội
vali trên đầu mà đi. Lại c̣n không biết nói tiếng
Hoa, càng làm kinh dị thêm cho người ta. Ai cũng nh́n
ḿnh như người hành tinh lạ mới xuống. Trải
qua hai tiếng đồng hồ sau mới t́m đủ cả
người và hành lư.
Lạy Phật, tuy chúng con có ham vui, ham mua đồ
nhưng chắc cũng biết tu chút đỉnh nên Phật
độ, cuối cùng không thiếu một ai trên tàu. Thầy
tṛ hạnh ngộ. Huynh đệ sum vầy. B́nh yên vô sự.
Thật hú vía!
Có người hỏi thầy quay phim:
- Sao thầy không quay cảnh này?
- Máy đâu mà quay?
- Ủa! Vậy chớ máy của thầy đâu?
- Ai biết. C̣n được cái mạng đứng
đây là quư lắm rồi.
Tả lại tâm trạng của chúng tôi ngay lúc ấy
như thế nào? Vui quá, không đúng. Buồn quá, không
đúng. Khỏe quá, không đúng. Mệt quá, không đúng. Chỉ
biết lên tàu. Đúng! Nhưng không phải biết với
tâm thanh tịnh, mà biết với tâm sợ rớt lại
sân ga. Không toan tính, không muộn phiền, không so đo, không ỷ
lại, không lười nhác. Tự thân mỗi vị chánh
tâm, nhất ư… lên tàu. Xem ra hai cái tâm này cũng rất gần
nhau, chỉ cách một lớp giả ngă thôi. Ước ǵ
ḿnh xé được lớp này nữa là xong. Phải
chăng v́ thế thiền sư Huyền Giác đă nói:
Vô minh thật tánh tức Phật tánh,
Huyễn hóa không thân tức Pháp thân.
Bao giờ ḿnh đối đầu với sanh tử
cấp bách như vậy, tu mới quyết liệt. C̣n bây
giờ vẫn tà tà… Nghĩ lại cái thảm cảnh rớt
lên rớt xuống tại sân ga, mới hiểu v́ sao Phật
không cho phép chúng ta dần dà năm tháng. Để nước
tới trôn mới nhảy, nhất định là không kịp
rồi. Chỉ tha cho một lần này thôi.
Lên tàu được rồi, qua cơn cấp
bách rồi. Mọi người im lặng thở. Thở
được rồi tới nói. Từng cơn đột
biến của vọng tưởng cộng hưởng, cũng
cao trào không kém. Cứ kiểu này không biết tới bao giờ
mới thành Phật đây?
Không sao. Chạy thêm vài trận nữa, biết
đâu chừng… ngộ ra!
22/09/2007
Ngày
19-5-2007
Tàu đến Thượng Hải vào lúc 6h30 phút.
Ăn sáng và nghỉ ngơi lấy lại sức xong, chúng
tôi được đưa đến thăm viếng
chùa Ngọc Phật. Thượng Hải là trung tâm kinh tế
lớn nhất của Trung Quốc và là cảng khẩu nổi
tiếng quốc tế, nên nó là thành phố trực thuộc
trung ương, diện tích 6.340km2. Nam bắc dài 120km,
đông tây dài 100km, dân số 13 triệu.
Thành phố ở vào vị trí trọng điểm
tuyến bờ biển bắc nam tại vùng đông bộ
Trung Quốc, đây là ḥn châu sáng nơi cửa biển với
ḍng Trường giang, tuyến giao thông hoàng kim của thành
phố cảng. Là một thành phố lớn nhất nước,
giàu chỉ thua Bắc Kinh th́ dĩ nhiên hào nhoáng, hoa lệ với
những khu chung cư mới được thiết lập,
cao 70, 80 tầng, sánh vai ngang tầm với những thành phố
văn minh trên quốc tế.
Đoạn bờ sông Hoàng Phố kéo dài 2km từ
cầu Bạch Độ đến đường Diên An
Đông được gọi là bến Thượng Hải,
ḥn ngọc về đêm của Trung Quốc, cực kỳ
diễm lệ. Đứng tại đây nghe mát lạnh v́
nước dưới sông thổi lên. Tàu thuyền lớn
nhỏ, đủ dáng đủ cỡ, lộng lẫy sang
trọng, lững lờ trên sông như một hội hoa
đăng. Những ṭa nhà cao tầng san sát có phong cách kiến
trúc khác nhau chính là trụ sở lănh sự quán, tổng hội,
các công ty, ṭa soạn do các nước đến đây
năm xưa đă thiết lập.
Tháp truyền h́nh Đông Phương Minh Châu nổi
bật giữa nền trời đầy sao và ánh đèn của
Thượng Hải, làm lóa mắt người dân quê vốn
không quen đặt chân đến những chỗ này. Tháp
được khởi công vào ngày 30-07-1991 và hoàn thành vào ngày
01-10-1994, cao 468m, là tháp cao nhất tại châu Á và đứng
hàng thứ ba trên thế giới. Lộng lẫy kiêu sa giữa
thành phố hoa đăng về đêm. Trăm hoa đua nở
khiến Thượng Hải trở thành bảo tàng kiến
trúc đa quốc gia. Thật là phồn hoa đô hội có
khác!
Vào những năm 90 của thế kỷ XX,
Thượng Hải đă và đang vươn ḿnh lớn
dậy trong một sức trẻ, khỏe và đầy tiềm
năng. Một loạt các cơ sở hạ tầng mới
xây dựng tại khu vực phố Đông đă liên tiếp
mọc lên và đưa vào sử dụng, trong đó có
đường hầm qua sông Hoàng Phố dài 2km là lạ nhất
đối với chúng tôi. Khi xe chạy trên đoạn
đường này, có vị trong đoàn thắc mắc sao
không thấy nước trên đầu? Ngộ hơn, có vị
lại lo đường hầm mà lủng, nước sẽ
tràn vào, chạy không kịp, chết hết cho mà coi!
Tuy tiếng tăm về một Thượng Hải
như vậy, nhưng nhà tu chúng tôi cũng chỉ hữu
duyên với những mái chùa. Cho nên phải về chùa thôi.
Đời sống tâm linh của người dân Thượng
Hải cũng chính là những mái ấm già-lam. Chùa Ngọc
Phật, chùa Tịnh An, chùa Long Hoa… lúc nào cũng
hương khói nghi ngút.
Chùa Ngọc Phật là ngôi chùa nổi tiếng vùng
Giang Nam, nằm trên đường An Viễn, thuộc quận
Phổ Đà. Đặc biệt trong chùa có hai pho tượng
Phật ngồi và nằm làm bằng ngọc trắng, ngọc
xanh được thỉnh về từ Myanmar. Chùa
được kiến tạo vào năm 1918, kiến trúc
mang phong cách đời Tống, kết cấu hài ḥa,
đường nét nhu nhuyến. Theo thứ tự trục
giữa của chùa là điện Thiên Phật, Đại
Hùng Bảo Điện, lầu Ngọc Phật. Kiến
trúc hai bên là Ngọa Phật Đường, Quan Âm Điện
và Trai đường.
Năm thứ 8 vua Quang Tự đời Thanh
(1882), Pháp sư Huệ Can ở Phổ Đà sơn đi
tham bái Ngũ Đài sơn, Nga My sơn. Sau đó đi luôn
qua Tây Tạng, Ấn Độ, Myanmar. Ngài được
sự giúp đỡ và tài trợ của Hoa kiều địa
phương, đă xẻ núi đá lấy ngọc, tạc
thành năm pho tượng Phật ngọc. Pháp sư dùng
thuyền thỉnh các tượng Phật về Phổ
Đà sơn. Khi đi ngang vùng Thượng Hải th́ gặp
băo to nên phải lên bờ tạm trú. Băo tan, Pháp sư chuyển
tượng Phật lên thuyền th́ thấy quá tải,
nước tràn vào không thể đi được. Thế
là dân Thượng Hải bảo ḿnh có duyên với Phật,
nên thỉnh cầu pháp sư để lại đây hai
tượng. Đó là một tượng Phật ngọc
ngồi và một tượng Phật ngọc nằm. Pháp
sư hoan hỷ, v́ thế ngôi chùa Ngọc Phật này mới
ra đời.
Trước kia chùa ở thị trấn Giang Vĩnh,
cách Thượng Hải 70km. Đến năm 1918 Thượng
Hải xảy ra chiến tranh, chùa bị hủy hoại.
Để bảo vệ hai tượng Phật, dân chúng tạm
thỉnh về nhà thờ phụng. Sau đó, t́nh h́nh ổn
định, họ xây chùa ở ngoại ô cũng lấy
tên Ngọc Phật Tự rồi thỉnh hai Ngài về
chùa. Không ngờ chẳng bao lâu vùng ngoại ô ấy biến
thành trung tâm thành phố với chi chít nhà cửa lầu
đài như ngày nay. Đủ thấy tốc độ
phát triển của Thượng Hải nhanh chóng như thế
nào.
Chúng tôi được hướng dẫn vào
đảnh lễ hai tượng Phật ngọc này. Quả
là chất liệu ngọc nguyên thanh rất đẹp và
sáng. Nghệ thuật điêu khắc tinh tế, đường
nét thanh tú, dáng Phật an nhiên, nghi dung siêu thoát, sáng đẹp
lạ thường. Tượng Phật ngồi cao 1,92m, nặng
hơn 1 tấn. Những tủ thờ ở hai bên cũng
là nơi an trí Đại Tạng kinh, hơn 7.000 quyển,
khắc bằng gỗ đời Thanh. Căn điện
phía tây là Ngọa Phật Điện, thờ tượng
Phật nằm dài 96cm. Đây là tượng lúc Phật nhập
Niết-bàn, đôi mắt khép lại trên một khuôn mặt
hiền từ vô bờ.
Chỉ hai tượng này đủ để nói
lên cả cuộc đời Như Lai. Tu hành, giáo hóa chúng
sanh và an nhiên thị tịch. Tất cả đều an
lành, thanh thoát và rất gần gũi với con người,
mang dáng dấp con người, chớ không phải loài khác.
Chiêm ngưỡng bất cứ tượng Phật nào,
chúng ta cũng thấy diện mục Như Lai luôn sáng, vui
và hiền. Làm Phật th́ phải như vậy. Chớ tối,
buồn và không hiền như ḿnh th́ không ai thèm tạc
tượng đâu. Cho nên muốn hoàn mỹ như đức
Phật trước tiên phải dọn dẹp bên trong cái
đă. Trừ sạch cáu bẩn rồi, ánh sáng trí tuệ tự
nhiên chiếu tỏa. Chuyện này ai cũng biết,
nhưng không phải ai cũng làm được. Điều
này tùy thuộc vào ḷng chí thành và sự quyết tâm của mỗi
chúng ta.
Rời chùa Ngọc Phật, chúng tôi viếng chùa Tịnh
An. Sau đó dùng trưa. Buổi chiều dành thời gian cho
quư Phật tử đi phố Nam Kinh mua sắm, v́ Thượng
Hải nổi tiếng là thiên đường mua sắm
mà. Tối tham quan bến Thượng Hải cho biết.
Một ngày đă trôi qua. Đêm nay nghỉ lại
Thượng Hải. Ḷng cũng chỉ hướng về
núi cao rừng thẳm, nơi ẩn thân của những nhà
tu, không quen với phố thị người đông.
Ngày 20-5-2007
Ngày và đêm hôm nay được nghỉ trọn
vẹn trên tàu. Đoàn rời Thượng Hải vào lúc
9h50 phút sáng để đi Thiều Quan, về thăm non
nước Tào Khê.
Ngày
21-5-2007
Tàu lửa đến Thiều Quan vào lúc 5 giờ
sáng. Vừa nh́n thấy hai chữ Tào Khê trên tấm biển
to tại sân ga, trong ḷng chúng tôi đă rộn lên. Đây là
điểm chiêm bái cuối cùng nhưng lại là điểm
chánh yếu nhất trong chuyến hành hương lần
này của đoàn. – Nam Hoa Thiền Tự – tức chùa Bảo
Lâm ngày trước, nơi có thờ nhục thân Lục Tổ
Huệ Năng và cũng là ngôi già-lam Ngài lưu trú lâu nhất,
36 năm. Từ đây, suối nguồn Tào Khê bắt đầu
tuôn chảy.
Nghĩ cũng hay, đầu tiên từ chùa Quang
Hiếu - Quảng Châu tỉnh Quảng Đông - nơi Lục
Tổ xuất gia, chúng tôi đi một ṿng qua 5 tỉnh: Tứ
Xuyên, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Thượng Hải, cuối
cùng lại trở về Nam Hoa Thiền Tự ở Thiều
Châu, chùa Lục Dung ở Quảng Châu, là những nơi Lục
Tổ đă từng lưu dấu. Chung nhi phục thủy.
Một ṿng tṛn thủy chung với Lục Tổ.
Chùa ở núi Nam Hoa, c̣n gọi núi Lục Tổ,
núi Bảo Lâm, núi Nghi Phụng, cách huyện Phước
Giang tỉnh Quảng Đông Trung Quốc khoảng 35km về
phía Nam, do ngài Tam Tạng Trí Dược, một vị
tăng Thiên Trúc, xây dựng vào đời Lương Vơ
Đế năm 502, với tên gọi là Bảo Lâm. Vào khoảng
năm 713-741, chùa được xây dựng rộng thêm, vua
ban sắc đặt tên chùa là Trung Hưng, Pháp Tuyền.
Đến đời vua Tống Thái Tổ mới đổi
tên là Nam Hoa. V́ Lục Tổ Huệ Năng trụ tŕ chùa
này, phát triển thiền Nam tông, nên tín đồ gọi
chùa là Tổ đ́nh.
Hiện nay, trong chùa vẫn bảo tồn
được nhục thân của Lục Tổ và các di vật
như ca-sa Thiên Phật đời Đường, b́nh bát,
vớ, đá đeo lưng, tích trượng sắt… tất
cả đă trở thành vật báu của Thiền tông.
Trong chùa có vô số thạch bản (bản khắc bằng
đá). Ở phía Bắc chùa có tảng đá để lễ
lạy gọi là Bái Thạch, trên bái thạch này c̣n in rơ dấu
đầu gối. Tương truyền đây là phiến
đá mà Lục Tổ thường quỳ lễ Phật.
Đại Hùng Bảo Điện rất huy hoàng, kim thân Phật
trong điện cao đến 6,4m. Ngoài 500 pho tượng
A-la-hán, vật báu chùa này c̣n có bộ kinh Hoa Nghiêm viết bằng
bột vàng do vua Anh Tông nhà Minh ban tặng.
Về tới đây như về tới quê cha
đất tổ. Mừng ra nước mắt. Trong ḷng
nao nao khó tả. Lúc ở tại quê nhà, chúng tôi không dám nghĩ
có ngày ḿnh sẽ được đến chùa Nam Hoa đảnh
lễ nhục thân Lục Tổ, nhưng h́nh ảnh, cuộc
đời và công đức của Tổ chúng tôi đă tôn
quư rất lâu trong ḷng rồi. Và bản kinh Pháp Bảo
Đàn cứ như là toàn thân xá-lợi của Ngài luôn hiện
diện trong tâm, nhắc nhở chỉ dẫn những
đứa con xa xôi ráng nương theo đây mà tu.
Bây giờ đến tận nơi rồi càng tin
sâu, tin chắc hơn nữa một Lục Tổ Huệ
Năng có thật, đă tu chứng và từng bước
d́u dắt chúng nhân cùng tu. Nam Hoa Thiền tự không phải
là một cái chùa mà là cả một ṭa núi cổ. Càng vào sâu
càng thấy thiền vị siêu thoát. Huyền sử kể
rằng: - Năm xưa, Tổ bắt đầu giáo hóa ở
chùa Pháp Tánh, sau về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê. Thấy
chùa nhỏ hẹp không đủ để dung nạp
đồ chúng, Tổ đă gặp cư sĩ Trần Á
Tiên và nói: “Lăo tăng đến đàn việt để
xin một miếng đất bằng cái tọa cụ
được chăng?” Khi thấy tấm tọa cụ của
Tổ, Á Tiên vui vẻ gật đầu không cần suy nghĩ.
Bấy giờ Tổ tung tấm tọa cụ ra bao trùm hết
bốn cảnh Tào Khê, lại có bốn vị thiên
vương hiện thân ngồi trấn bốn hướng,
nên có ngọn núi được đặt tên núi Thiên
Vương. Trần Á Tiên kinh hăi liền thưa với Tổ:
- “Nay con mới biết pháp lực vô biên của Đại
sư, vậy xin được hỷ cúng hết số
đất này”. Mỗi lần đi dạo, nơi nào cảnh
trí xinh đẹp, Tổ đều dừng nghỉ, tất
cả 13 chỗ, sau này trở thành 13 lan-nhă. Kể từ
đó chùa Bảo Lâm trở thành tổ đ́nh của thiền
tông phương Nam, với cả ṭa núi Nam Hoa, c̣n gọi là
núi Lục Tổ, núi Tào Khê. Chúng tôi thật không ngờ! Huyền
sử chẳng hề ngoa.
Thiếu Lâm Tự và Nam Hoa Thiền Tự, cả
hai đều là tổ đ́nh của thiền tông với bạt
ngàn rừng núi, nhưng hai thiền cảnh hoàn toàn khác nhau.
Nếu như Thiếu Lâm Tự hùng và mạnh, thiền
phong lẫm liệt và uy thế thượng vơ toát hẳn
ra ngoài th́ Nam Hoa Thiền Tự trầm lắng, sâu kín, ẩn
dật hun hút bên trong. Hai ngôi đại già-lam mang tính cách của
hai bậc Tổ sư, với thân thế, hạnh nguyện
và phương tiện độ sanh dị biệt
nhưng cứu cánh không khác.
Thật là thú vị khi biết ra Tổ Bồ-đề
Đạt-ma vốn là một hoàng tử, c̣n Lục Tổ
Huệ Năng chỉ là người tiều phu đốn
củi. Vậy mà hai Ngài đă đi chung đường,
ngồi chung ṭa, sống chung nhà, ấn chung tâm và nối thạnh
ḍng thiền chung một cơi. Vậy th́ ai dám bảo nghèo
không ngộ đạo, dốt không sáng đạo, thân thế
bất hạnh không chứng đạo? Tất cả những
điều ấy chẳng dính dáng ǵ đến cái điền
địa này cả. Mà không chừng thân thế như Lục
Tổ lại càng dễ gần gũi chúng sanh hơn. Tại
v́ quần chúng b́nh dân đa số cũng nghèo, cũng ít chữ,
cũng ở vùng sâu vùng xa, không ai đoái hoài tới, không ai
khai thị dùm cho biết là họ cũng có thể thành Phật.
Chưa bước vào chùa, chỉ mới ở
ngoài cổng thôi đă thấy tầm cỡ của Nam Hoa
Thiền Tự không thể xem thường. Sảnh
đường rộng lớn bao la với những tháp
đá xung quanh thanh lịch đến lạ. Trong suốt cuộc
hành hương vừa qua, chúng tôi chưa thấy tháp đá
nơi nào đẹp như tháp đá ở đây. Cổng
tam quan cũng bằng đá trắng uy nghi ṿi vọi với
bốn chữ “Nam Hoa Thiền Tự”, mở ra bên trong một
“Đạo Tràng Bảo Lâm”, không biết bây giờ có giống
như những ǵ lịch sử đă ghi!
Đoàn bước qua Tào Khê Môn liền thấy y
bát nhũ vàng do người sau tạo ra với kích thước
lớn, được trưng bày giữa sân trong một
khuôn kiếng khoảng 3m2. Đây chính là h́nh ảnh vật
biểu tín cho sự truyền thừa của 33 vị Tổ
sư Ấn Hoa, mà cũng là đầu mối tranh giành,
đă đưa đẩy Lục Tổ trôi giạt khổ
sở trong suốt 16 năm trường, có khi mạng sống
nguy hiểm như chỉ mành treo chuông. Cho nên Tổ Bồ-đề
Đạt-ma đă dặn ḍ Nhị Tổ kỹ lưỡng:
- Ngươi ǵn giữ pháp y này, nếu gặp
tai nạn đem ra làm vật biểu tín th́ sự giáo hóa
không bị trở ngại. Hai trăm năm sau khi ta diệt
độ, y bát này dừng lại không truyền nữa, v́
lúc đó Phật pháp đă thịnh hành.
“Một hoa nở năm cánh” của Sơ Tổ
Bồ-đề Đạt-ma tới Lục Tổ Huệ
Năng, thời gian đă đủ 200 năm. Y bát không
được truyền nữa đúng như lời
Sơ Tổ đă huyền kư, nên bảo vật biểu tín
này đă nằm yên tại Nam Hoa, không c̣n là mối tranh giành
và gây hiểm họa cho thiền gia nữa. Lục Tổ
là vị sau cùng đă hứng chịu tất cả sóng gió
để giữ ǵn mạng mạch thiền tông cho tới
ngày hôm nay. Một hoa năm cánh đến Lục Tổ
đă phát triển thành năm tông bảy phái: Lâm Tế, Tào
Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhăn. Đến cuối
đời Tống, tông Lâm Tế lại chia ra hai phái: Hoàng
Long và Dương Kỳ, đă từng giữ lấy địa
vị đứng đầu trong các tông, trở thành ḍng
thiền chánh của Phật giáo Trung Quốc. Cho nên Lục
Tổ là vầng dương sáng chói trên bầu trời thiền
tông. Ḍng Tào Khê chẳng những truyền rộng ở
Trung Quốc mà c̣n lan sang các nước lân cận, phía
đông truyền đến Triều Tiên, Nhật Bản.
Thời cận đại phát triển và ảnh hưởng
tới Âu Mỹ. Nói đến Lục Tổ th́ nói hoài cũng
được, nói hoài không thấy chán. Nhưng khoan, để
tham quan tiếp cái đă.
Kế đến là ao phóng sanh, tới Thiên
Vương Điện, Đại Hùng Bảo Điện,
lầu chuông, lầu trống… Trong lầu chuông có quả
Nam Hoa Văn Chung rất nổi tiếng, đúc bằng đồng
đỏ vào đời Tống, nặng 6.000 cân, tiếng
chuông đóng sớm chiều vang xa đến mười mấy
dặm. Trước điện chùa có tháp sắt,
tương truyền ngày xưa chứa xương rồng,
nhưng đến nay xương đă thất lạc
trong nạn binh hỏa.
Chuyện là vầy: Thời Tổ c̣n sinh tiền,
trước chánh điện có một cái ao, có con rồng
thường xuất hiện làm kinh động cả rừng
núi. Ngày nọ, rồng hiện ra vô cùng to lớn, sóng gió dữ
dội, mây đen mù mịt, môn nhân thảy đều kinh
hăi. Thấy vậy, Tổ cầm cái bát đến bảo:
- Ngươi giỏi hiện to, mà có thể thu nhỏ
được chăng? Nếu thu nhỏ được mới
đáng khen ngợi! Rồng kia nghe thế liền thu nhỏ
lại, rồi lại hiện to lên, lượn lên lượn
xuống, lượn qua lượn lại trên ao. Tổ
bèn bảo: - Ngươi nếu giỏi nữa th́ chui vào
b́nh bát của lăo tăng xem sao? Rồng cậy tài thần
thông quảng đại, ngại ǵ không chui vào. Thế là
xong, Lục Tổ lấy nắp đậy b́nh bát lại,
thu phục rồng vào đó, thuyết pháp cho nghe. Rồng
liền bỏ xác, lưu lại bộ xương dài 7 tấc.
Lục Tổ bảo chúng lấy đá lấp luôn ao ấy.
Đoàn tiếp tục tiến vào bên trong. Và
đây rồi điện Tổ hiện ra trước mắt
với bốn chữ “Tổ Ấn Trùng Quang” mạ vàng
sáng chói. Bên trong Nhục thân Lục Tổ ngự giữa
điện. Hai bên là nhục thân của hai thiền sư,
ngài Hám Sơn (1546-1623) và ngài Đan Điền (1535-1614). Tất
cả Tăng Ni chúng tôi đều trang nghiêm pháp phục, y
hậu chỉnh tề, đồng một lúc quỳ xuống,
cảm xúc dâng trào, đảnh lễ Tổ sư và có vị
đă… khóc.
Cung kính ngưỡng bạch Tổ,
Chúng con đă về… Tất cả đều nghẹn
ngào, mừng được tận mắt chiêm ngưỡng
toàn thân xá-lợi của Tổ, nhưng lại tủi phận
cho ḿnh lắm nỗi. Ngài đă vĩnh viễn bất hoại,
đă vĩnh viễn dừng lại, đă vĩnh viễn
thoát ly, trong khi chúng con vẫn c̣n bèo dạt mây trôi, cô thân viễn
xứ, chẳng biết đâu là bến bờ?
Và tiếng chuông. Và khói hương. Và nghi ngút trầm
tư lan tỏa…
Tổ họ Lư (638-713), phụ thân tên Hành Thao,
mẫu thân họ Lư, quê quán ở Phạm Dương. Về
sau bị đổi đến Tân Châu (nay là huyện Tân
Hưng tỉnh Quảng Đông). Thuở bé Ngài đă mồ
côi cha, theo mẹ dời đến Nam Hải, bán củi
độ nhật. Tương truyền Ngài chẳng biết
chữ, nhưng khi gánh củi ngang qua một cái quán, nghe chủ
quán tụng kinh Kim Cang, tâm liền chấn động. Sau
đó Ngài được sự ủng hộ của các thiện
hữu, học tṛ Tổ Hoàng Mai, tạo duyên giúp cho tuổi
già của mẹ Ngài được yên ổn. Nhờ thế
Ngài mới có thể thu xếp lên đường t́m đến
pháp hội Đông Sơn, cầu pháp với Ngũ Tổ
Hoằng Nhẫn.
Nhân duyên vào đạo nhanh như vậy, mặc
dù chưa từng được thọ học kinh luận,
đủ biết căn khí và trực giác của Ngài không
phải tầm thường. Cho nên cuộc khảo hạch
ban đầu giữa hai thầy tṛ cũng là cuộc gặp
gỡ tri âm tri kỷ:
- Ngươi từ phương nào đến, muốn
cầu vật ǵ?
- Đệ tử là dân Tân Châu thuộc Lănh Nam, từ
xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, chớ
không cầu ǵ khác!
- Ông là người Lănh Nam, lại là kẻ quê mùa,
làm sao kham làm Phật?
- Người tuy có nam bắc, nhưng Phật
tánh vốn không có nam bắc. Thân quê mùa này cùng với Ḥa
thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh
đâu có sai khác.
Câu trả lời ấy đă ngầm đem
đến cho Ngũ Tổ cái tin vui lớn nhất trong
đời. Người mà Ngài trông đợi lâu nay đă
đến rồi. Rơ ràng cái trực giác kỳ diệu nhất
của Lục Tổ đă đánh bật mọi kiến
giải tầm thường, phủi sạch hết những
lớp vay mượn bên ngoài, trả Ngài lại vị trí
nguyên bản của ḿnh. Không c̣n Ngũ Tổ ngồi
trước một gă nhà quê, cũng không c̣n người tiều
phu đốn củi đứng trước một Ngũ
Tổ với thiền trượng chuông bảng vây quanh.
Chỉ có Phật và Phật thôi. Ngũ Tổ thầm nhận
nhưng giả vờ không quan tâm lắm, bảo Ngài xuống
nhà trù giă gạo. Chỗ trơn trợt này, kẻ hành
khước trong nhà thiền ít ai vượt qua được.
Nhưng một khi đă qua được th́ không c̣n
ngăn ngại, không c̣n sợ hăi. Có thể bước vào
nhà ḿnh rồi.
Tám tháng im lặng giă gạo ở nhà bếp, không
có một lời với Thầy, vậy mà con người ấy
trở thành Đệ lục Tổ sư, nối nắm mạng
mạch thiền tông Trung Hoa, qua bài kệ “vô nhất vật”:
Bồ-đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài.
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai.
Dịch:
Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi nhơ.
Đêm hôm đó, Ngũ Tổ đă khéo léo gọi
Lục Tổ vào phương trượng, riêng dạy bản
kinh Kim Cang, tới đúng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm”, Lục Tổ hoát nhiên triệt ngộ. Y bát
đă có người truyền trao, Ngũ Tổ không giữ
lại làm ǵ nữa. Giữa lúc canh khuya vắng lặng, mọi
người không hay biết, Ngũ Tổ truyền pháp
đốn giáo và y bát cho Lục Tổ, nói: - “Ngươi là
vị Tổ đời thứ sáu, khéo tự hộ niệm,
rộng độ chúng hữu t́nh, truyền khắp đời
sau, không khiến cho đoạn tuyệt”. Ngay trong đêm
đó, h́nh ảnh hai thầy tṛ đưa nhau qua sông, đă
trở thành giai thoại cảm động nhất trong nhà
thiền. Ân Phật Tổ, nghĩa sư đệ, thắm
thiết vượt thường t́nh. Ánh sao lung linh giọi
xuống bến đ̣ Cửu Giang, Ngũ Tổ bảo Lục
Tổ lên thuyền, rồi tự cầm tay chèo. Ngài Huệ
Năng thưa:
- Thỉnh thầy ngồi, để con chèo.
- Để thầy đưa con đi.
- Khi mê th́ Thầy độ, ngộ rồi con tự
độ.
- Đúng thế! Đúng thế! Về sau Phật
pháp do con mà được thạnh hành. Con đi an vui, nỗ
lực hướng về phương Nam, không nên nói pháp sớm,
sẽ gặp tai nạn. Con đi ba năm, thầy sẽ
qua đời.
Tưởng nhớ tới đây, chúng đệ
tử nào mà chẳng rơm rớm lệ. Thiền sư
Hoàng Bá nói “Sở dĩ Ngũ Tổ trao pháp cho Lục Tổ
là v́ Lục Tổ lặng lẽ mà hợp đạo, thầm
kín mà hội được diệu nghĩa Như Lai” (Truyền
Tâm Pháp Yếu).
Sau đó để tránh sự bức hại do
được truyền thừa y bát, Tổ đă ẩn
náu trong làng thợ săn ở Tứ Hội, trải qua một
thời gian dài mới đến chùa Pháp Tánh xuất gia, rồi
về Tào Khê khơi ḍng mạch nguồn thiền đốn
giáo.
Vào niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, đời
Đường Huyền Tông, ngày mồng 1 tháng 7 năm Quư
Sửu (713), Tổ họp đồ chúng bảo rằng:
“Tôi đến tháng 8 muốn ĺa thế gian, các ông có nghi nên
hỏi sớm, tôi v́ các ông phá nghi cho, khiến dứt hết
mê t́nh. Nếu tôi đi rồi, sau không có người dạy
các ông”. Ngài Pháp Hải… nghe Tổ nói thảy đều
rơi lệ, chỉ có ngài Thần Hội thần t́nh bất
động. Tổ rất khen vậy. Ngài Pháp Hải đảnh
lễ hỏi:
- Sau khi Ḥa thượng nhập diệt, y pháp sẽ
trao cho người nào?
Tổ bảo:
- Tôi ở chùa Đại Phạm nói pháp cho đến
nay, sao chép để lưu hành, gọi là kinh Pháp Bảo
Đàn. Các ông ǵn giữ, truyền trao cho nhau, độ các
quần sanh. Chỉ y nơi lời nói này gọi là chánh pháp,
chớ chẳng trao y. Bởi v́ các ông tín căn đă thuần
thục, quyết định không c̣n nghi ngờ, kham nhận
được đại sự.
Đến ngày mồng 8 tháng 7, Tổ bảo:
- Tôi muốn trở về Tân Châu, các ông hăy chóng sửa
sang thuyền chèo.
Đại chúng đều buồn bă, cố cầm
Tổ ở lại. Tổ bảo:
- Chư Phật xuất hiện c̣n phải thị
tịch Niết-bàn, có đến ắt có đi, lư vẫn
thường nhiên. H́nh hài của tôi đây đă có chỗ
trở về.
Chúng nhân thưa:
- Thầy đi bao giờ trở về?
- Lá rụng về cội, trở lại không hẹn
ngày.
- Chánh pháp nhăn tạng truyền trao cho người
nào?
- Người có đạo đức th́
được, người không tâm th́ thông.
Đến ngày mồng 3 tháng 8 niên hiệu Tiên
Thiên (713 DL), Tổ bảo đồ chúng:
- Các ông ở lại an vui. Sau khi tôi diệt độ,
chớ làm theo thế gian khóc lóc như mưa, nhận lễ
vật điếu tang, thân mặc hiếu phục, chẳng
phải là đệ tử của tôi, cũng không phải
là chánh pháp. Chỉ biết tự bản tâm, thấy tự
bản tánh….(lược). E các ông trong tâm mê, không hiểu ư
tôi nên dặn ḍ như vậy, khiến các ông thấy tánh.
Sau khi tôi diệt độ, y theo đây tu hành như ngày tôi
c̣n sống. Nếu trái lời tôi dạy, giả sử tôi
c̣n ở đời, cũng không có lợi ích ǵ!
Đến canh ba Tổ ngồi ngay thẳng, bảo
đệ tử rằng: “Tôi đi nhé!”, rồi im lặng
mà hóa. Khi ấy mùi hương lạ đầy cả thất.
Có một mống trắng ṿng giáp đất. Trong rừng
cây cối đều biến thành màu tang, cầm thú kêu vang
bi thương. Đến tháng 11, đồ chúng ba quận
Quảng, Thiều, Tân đua nhau tới đón nhục thân
Tổ, không giải quyết được mới thắp
hương khẩn nguyện “Khói hương bay về chỗ
nào là Tổ về chỗ ấy”. Khi ấy khói hương
bay thẳng về Tào Khê. Thế là thần khám được
thỉnh về thờ phụng ở Tào Khê.
Quan huyện Thiều Châu dâng sớ tâu về triều,
vua sắc chỉ dựng bia, ghi lại đạo hạnh
của Tổ sư lưu lại nơi đời: “Tổ
sư trải qua 76 xuân thu, 24 tuổi được truyền
y, 39 tuổi mới thế phát, thuyết pháp độ sanh
37 năm, đệ tử nối pháp 43 vị, người
ngộ đạo chẳng kể xiết. Tín y của Tổ
Bồ-đề Đạt-ma truyền, áo Ma-nạp cùng bát
báu vua Trung Tông ban, tượng của Phương Biện
đắp và tất cả đạo cụ thảy đều
lưu giữ vĩnh viễn tại Đạo tràng Bảo
Lâm, để lưu truyền cùng với quyển kinh Pháp Bảo
Đàn, tỏ bày tông chỉ của Tổ sư, hưng
long Tam bảo, lợi ích quần sanh.”
Đến đời Hiến Tông, vua truy tặng
Tổ sư danh hiệu Đại Giám Thiền sư,
nơi tháp tặng bốn chữ “Nguơn Ḥa Linh Chiếu”.[1]
Đức Lục Tổ Huệ Năng hơn 40
năm thuyết pháp hành hóa, thành tựu giác ngộ giải
thoát, để lại nhục thân cho đời, là ḥn ngọc
vô giá về thân giáo, đưa ánh sáng thiền tông lên đến
tuyệt đỉnh, soi chiếu vào tâm thức vô lượng
chúng sanh, đánh thức nguồn trí lực sẵn có của
muôn loài. Chùa Nam Hoa trở thành Thánh địa Phật giáo
phương Nam. Tào Khê trở thành ḍng thiền đốn
giáo tiêu biểu cho mặt trời Phật phương Nam.
Vương Duy làm bài minh ghi chép về công đức của
Lục Tổ như sau:
- Đạo đức trùm khắp, tiếng
tăm vang dội. Những kẻ quê mùa cả đời
không biết Phật, các nước biên địa xa
xăm đều mong mỏi thấy dung mạo của thiền
sư. Kẻ đứng ngoài cửa, kẻ ngồi bên
giường, đều quên thân ḿnh trước lời dạy
của cao tăng.
(Toàn Đường Văn – Vương Hữu
Thừa Tập)
Khói trầm đă lan xa mà mùi hương vẫn
c̣n phưởng phất không phai. Nh́n thấy bốn tượng
đại đệ tử đứng hầu nhục thân
Tổ: thiền sư Pháp Hải, thiền sư Hoài Nhượng,
thiền sư Hành Tư, thiền sư Thần Hội, mà
thương mà kính, mà cảm trọng ân đức một
bậc Thầy đă truyền trao giới thân huệ mạng
cho chúng nhân, bằng cả cuộc đời tu hành, để
lại thân tâm trân bảo, trong suốt tựa lưu ly.
Ḍng thiền Việt Nam được lănh hội
từ các đại đệ tử của Lục Tổ
mà làm sống lại bao nhiêu con người tưởng chừng
như đă chết đi. Trôi theo duyên cảnh, hướng
ngoại t́m cầu, là lối cũ muôn đời của
chúng sanh. Từ pháp an tâm của Sơ Tổ đến bản
tâm không một vật của Lục Tổ, đă giúp cho
hành giả Việt Nam xoay trở lại ḿnh và biến nó
thành việc bổn phận duy nhất trong đời. Tu
thiền không phải chỉ có ngồi. Chỗ mật dụng
công phu thật ra Tổ đă chỉ rơ “Ngoài ĺa tướng
tức là thiền, trong chẳng loạn tức là định.
Ngoài thiền trong định, ấy gọi là thiền
định” (kinh Pháp Bảo Đàn). Nếu như diệu
quyết của Tổ Bồ-đề Đạt-ma là trực
chỉ nhân tâm và Lục Tổ dạy lấy vô niệm làm
tông th́ ngày nay Ḥa thượng Ân sư của chúng tôi cũng
không ra ngoài tông chỉ ấy, luôn nhắc nhở Tăng Ni
buông hết các duyên, biết có chân tâm. Biết đến
bao giờ tự nhiên chân tâm hiện tiền th́ viên măn công
phu. Dĩ nhiên đường c̣n dài, nhưng niềm tin th́
không thiếu. Theo lời Phật dạy “Tất cả
chúng sanh đều sẽ thành Phật” th́ thật là tràn
đầy hy vọng… Với tấm ḷng thiết tha.
Tại điện Lục Tổ, thầy Tri khách
đă vui vẻ chào đón chư Tăng Ni Việt Nam. Chúng
tôi lễ Tổ và cúng dường xong, Thầy đố
đoàn một câu: “Trên đời này cái ǵ cần nhất
và cái ǵ không cần nhất?” Rồi tự đáp thay chúng
tôi: - “Trên đời này trí tuệ cần nhất và phiền
năo không cần nhất”. – Cười. Càng ngẫm nghĩ
câu nói càng hay. Chúng tôi đă đem ngữ thoại này về
Việt Nam và xin được tặng đến tất
cả bạn lữ hữu duyên, như một món quà chốn
Tổ.
Đoàn tiếp tục tiến ra sau núi. Đây rồi
Cửu Long Tuyền c̣n gọi là Trác Tích Tuyền. Ḍng nước
trong mát nổi tiếng từ lâu, đến bây giờ mới
vốc được một ngụm rửa mặt. Mát lịm,
thật là khỏe. Mới biết pháp lực nan tư ngh́
của Tổ. Chuyện kể, một hôm Tổ muốn giặt
lá y đă được truyền trao nhưng chung quanh
không có suối tốt. Tổ ra sau chùa khoảng năm dặm,
thấy trên núi cây cối xanh tươi, khí tốt xoay
quanh, Ngài cắm cây tích trượng sâu xuống đất,
nước liền phún lên theo tay Ngài, chứa lại thành
cái ao, Ngài liền quỳ gối giặt y trên đá.
Suối Trác Tích bây giờ chắc không thiên nhiên
như hồi đó rồi, tại v́ được tô
điểm nhiều quá. Chúng tôi không thấy ḍng suối, mà
thấy ba ṿi nước phun thẳng ra ngoài. Ṿi chính giữa
lớn nhất, hai ṿi hai bên nhỏ hơn. Nước trong
vắt, mát lạnh. Cái ao chắc cũng không phải cái ao
năm xưa Tổ đă quỳ trên đá giặt y, ao bây
giờ thành ao hoa văn với nhiều họa tiết liên
hệ tới Lục Tổ và đạo tràng Bảo Lâm. Thật
lạ, trên núi mà có ḍng suối chảy bất tận suốt
cả bốn mùa. Thật là chánh báo y báo theo nhau, Phật
pháp nhiệm mầu.
Đoàn tiếp tục tham bái Tam Bảo Phật,
ngũ bá La-hán, điện ngài Tam Tạng Trí Dược,
trên đề chữ Bảo Lâm Đạo tràng Khai sơn Tổ
sư. Tương truyền vào đời nhà Lương,
Đại sư Trí Dược từ Tây Thiên Trúc đến
Tào Khê. Sư uống nước ở đây cảm thấy
ngọt thơm, không khác Tây Thiên. Sư bảo dân làng Tào Hầu:
“Nên lập ở đây một cảnh chùa. Sau 170 năm, có
vị Vô thượng Pháp Bảo diễn pháp tại
đây, người được đạo nhiều
như cây rừng, nên đặt tên là chùa Bảo Lâm”. Vị
quan địa phương Thiều Châu thuở ấy là Hầu
Kỉnh Trung dâng biểu kể tự sự như trên. Vua
liền ban tên chùa Bảo Lâm, là ngôi già-lam đầu tiên vào
đời nhà Lương.
Lẩn quất giữa một rừng cổ thụ
Nam Hoa là những miếu cổ, điện đường
vắng lặng, càng đi càng thấy hun hút, ngh́n năm in
dấu rêu phong cô tịch. Chúng tôi vào đảnh lễ pháp
tượng Hư Vân Lăo Ḥa thượng (1840-1959) và chiêm bái
tháp Xá-lợi của Ngài, thấy có ghi ḍng chữ
Đương Đại Thiền Tông Thái Đẩu (Thái
sơn – Bắc đẩu) Hư Vân Lăo Ḥa thượng. Nam
Hoa Thiền Tự thật là Thánh địa, hội tụ
những bậc cao đức kỳ tích, cốt cách siêu
phàm, danh vang bốn biển.
Sau đó, đoàn được hướng dẫn
tới Tự Tạng Pháp Bảo, nơi lưu giữ bảo
vật 1.500 năm qua. Đoàn tận mắt chiêm bái h́nh
tượng Phật, Bồ-tát, La-hán, pháp khí qua các thời
Bắc Tề, Tống, Đường, Minh, Thanh… trong
đó có hai pháp khí là làm rung động chúng tôi nhất:
Một, là viên đá Lục Tổ mang vào lưng
khi giă gạo dài khoảng 3 tấc, nặng 4 kg, hơi cong,
một đầu bằng, một đầu dẹp. Lục
Tổ mang cục đá này là mang cả một ư chí, nghị
lực và ḷng quả cảm cương quyết cầu làm
Phật, chớ không phải mang một gánh nặng, cho nên
mang tới lở lưng mà Tổ vẫn không thấy
đau. V́ vậy Ngài mới được Ngũ Tổ ngợi
khen “người cầu đạo quên ḿnh đến thế
ư?”. Ngũ Tổ càng hài ḷng, càng đẹp dạ, càng
tin cậy vào một ngày mai của ḍng thiền Tây sang.
Hai, cây tích trượng bằng sắt nặng 35
cân (tàu), cao khoảng 2m. Chứng tích một thời hóa duyên
với năng lực diệu dụng phi thường của
Lục Tổ. Chúng tôi chỉ nhấc thử lên một chút
xíu thôi c̣n không nổi, nói chi cầm dọng xuống đất
thành ḍng suối! Lục Tổ do có công phu và công đức
nên Ngài sử dụng dễ dàng. Diệu dụng là năng
lực phi thường của một bản tâm đă thuần
tịnh. Điều này không thể biết được
khi chỉ nói suông.
Thầy Tri khách tiếp đoàn tại Nam Hoa Thiền
Tự rất nhiệt t́nh, sẵn ḷng đưa chúng tôi
đi mọi nơi, lại c̣n biếu đoàn 30 bộ kinh
Kim Cang, 30 bộ kinh Pháp Bảo Đàn, chữ Hán. Tào Khê Phật
Học Viện, Thiền đường, Trai đường…
Nơi đâu cũng rộng lớn với kiến trúc vừa
hiện đại vừa cổ kính mang phong cách đặc
sắc của Trung Quốc. Cảnh trí th́ khỏi phải
nói rồi. Nam Hoa Thiền Tự là ngôi chùa thứ tư ghi
đậm ấn tượng đối với chúng tôi
trong chuyến hành hương này, xứng đáng là Tổ
đ́nh Tào Khê. Nghe nói hiện tại ở đây có 300 vị
tăng đang tu học, nhưng theo pháp môn nào th́ chúng tôi
không biết chính xác? Kể cũng lạ!
Trước khi ra về, Thượng tọa
Thông Phương đại lao Ḥa thượng Trưởng
đoàn đến vấn an sức khỏe Phương
trượng chùa Nam Hoa đă 86 tuổi và quyến luyến
từ giă thầy Tri khách, không quên gởi lời cảm niệm
tri ân, v́ thời gian không cho phép nữa rồi. Chúng tôi xá
chào, mong ngày gặp lại.
Đạo tràng Bảo Lâm - Nam Hoa Thiền Tự,
linh hồn của suối nguồn Tào Khê măi măi sẽ là
nơi hướng về của muôn người, vạn
người từng ngưỡng vọng Tổ sư. Và
bát. Và y. Và nhục thân Bồ-tát vĩnh viễn an nhiên hằng
tại trên cơi đời, trong tâm mỗi chúng nhân.
Chúng tôi định vẫy tay một lần sau cuối
với chùa Nam Hoa trước khi xe lăn bánh, nhưng bỗng
nhớ lại câu nói thật nhẹ của Lục Tổ
vào cái giây phút sau chót “Tôi đi nhé!”, chợt rùng ḿnh. Nên thôi.
Nào có đến đi ǵ…
Đoàn quay về Quảng Châu. Đêm nay là đêm
cuối nghỉ tại Trung Quốc. Ngày mai sẽ thăm
chùa Lục Dung trước khi trở về Việt Nam.
[1] Đoạn nói về tiểu sử Tổ ở
đây, lược trích trong kinh Pháp Bảo Đàn.
Ngày
22-5-2007
Chùa Lục Dung ngày xưa, lúc Tổ đến
đây ở một thời gian là ngôi chùa quê vắng vẻ,
chớ không màu sắc thị tứ như thế này. Thời
gian thay đổi, cảnh vật cũng đổi thay. Nếu
như bây giờ chắc là Tổ không chịu ở
đâu. V́ Ngài thích yên ở nơi núi rừng thanh vắng.
Sở dĩ gọi Lục Dung v́ đại thi
hào Tô Đông Pha khi đến thăm, thấy chùa có 6 cây
đa. Trung Quốc gọi cây đa là cây dung, nên đặt
tên là chùa Lục Dung. Chùa cũng đă được vinh dự
đón bước chân của Sơ Tổ Bồ-đề
Đạt-ma đến trụ tŕ và truyền đạo một
thời gian. Chùa giữa ḷng thành phố th́ nhất định
là không như chùa núi rồi. Ồn và chật hẹp
hơn. Các điện cũng giống như tất cả
các chùa: Thiên Vương Điện, Đại Hùng Bảo
Điện, Tổ Điện, Trai đường, Pháp
đường… Ngoại trừ các cây đa có tuổi thọ
trên ngàn năm tỏa râm bóng mát cho sân chùa, c̣n lại là những
cây kiểng nhỏ nằm xinh xắn trong khoảng sân cũng
nhỏ, đủ để khách hành hương văng lai thắp
hương cúng Phật. Tham quan một ṿng và lễ Phật,
lễ Tổ xong, đoàn ghé vào gian hàng pháp khí bên ngoài chùa. Lại
nghiệp cũ… mua sắm.
Rồi cũng đă đến lúc kết thúc chuyến
đi. Mười bốn ngày qua nhanh, chưa kịp thở
sau những khúc chạy bộ. Tới phút cuối, lưu
luyến, quư mến th́ đă hết giờ. Phi trường
là nơi gặp gỡ và cũng là nơi chia tay. Có khác chi
đâu cơi phù trầm, cũng là nơi hết chia tay lại
gặp gỡ của chúng sanh từ vô thủy kiếp
đến nay. Không biết nên vui hay nên buồn? Nhưng
đă là thiền sinh th́ không được lôi thôi, nhiều
lời. Cứ lên đường. Vui vẻ. Mai này sẽ gặp
lại.
- Ở đâu?
- Xứ Phật.
Trung Quốc với một phần châu lục,
núi non hùng vĩ và biển hồ mênh mông, cộng thêm lịch
sử một Hán tộc lâu đời, hiển nhiên trở
thành một đất nước cổ xưa và rất lớn
trên thế giới. Về sơn xuyên hồ hải th́ tự
nó là một tác phẩm trời cho, không cần phải bắt
thang lên thiên đường t́m kiếm non Bồng tiên cảnh
làm chi. Đây là một đất nước với những
con người có những giấc mơ kỳ lạ, họ
phải để lại cho đời những công tŕnh vĩnh
cửu, những tuyệt tác thiên thu, đồng một lúc
có thể xây dựng chất ngất và phá hủy tận gốc
như Tần Thủy Hoàng với Vạn Lư Trường
Thành và việc đốt sách, chôn sống học tṛ. “Ngu
Công dời núi” không hề là chuyện đùa với họ,
xưa cũng như nay. Bây giờ tới công tŕnh xây dựng
đập thủy điện Tam Hiệp cũng làm cho nhân
loại bàng hoàng không kém. Hiện tại Trung Quốc bao gồm
một lục địa khổng lồ vươn dài từ
Đông Hải đến phía tây tận các nước cộng
ḥa của Liên Xô cũ, từ miền b́nh nguyên Hoàng Hà đến
cao nguyên Tây Tạng.
Trung Quốc có một nền văn hoá trải
qua năm sáu ngàn năm, người nay không sao ḍ tới
đáy. Hai nền tảng gốc sâu rễ chắc của
nền văn hóa Trung Quốc lại là Khổng giáo và Lăo
giáo. Khổng giáo lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm
đạo đức để phụng sự xă hội,
xây dựng cuộc sống nhân bản. Lăo giáo t́m hiểu
cái gốc của vũ trụ và muôn vật, rồi thuận
theo đó mà ứng xử. Hai nền tảng giáo lư ấy
những tưởng đủ để bổ sung cho nhau
một thế giới quan, nhân sinh quan hoàn thiện và hầu
như họ không c̣n ǵ để nghĩ đến nữa.
Thế nhưng không ngờ Phật giáo lại đến với
Trung Quốc.
Từ đầu công nguyên đến nay những
2.000 năm, Phật giáo Trung Quốc với những trú xứ
Bồ-tát trên những đỉnh mây quanh năm tuyết phủ,
những hang động trở thành kho báu không chỉ của
quốc gia mà của cả thế giới. Trong đó chỉ
toàn Phật và Bồ-tát. Từ bắc đến nam du khách
đều có thể hành hương được cả,
v́ chùa chiền Phật giáo không vắng thiếu bất kỳ
chỗ nào. Nhiều tới mức kinh lạ! Sự xuất
hiện của các bậc Thánh tăng nước ngoài
đă làm cho Phật giáo Trung Quốc rực rỡ hơn
bao giờ hết. Đó là các ngài Ma-đằng, Trúc Pháp Lan,
An Thế-cao, Phật-đồ-trừng, Cưu-ma-la-thập,
Bồ-đề Đạt-ma… đă bắt đầu mở
lối cho các bậc Thánh tăng trong nước về sau,
thắp sáng ngọn đuốc tuệ, truyền
đăng tục diệm đến muôn đời. Đó
là các ngài Pháp Hiển, Huyền Trang, Nghĩa Tịnh, Huệ
Năng… Và những cuộc hành hương bất tận của
hàng triệu, hàng tỷ con người trên thế giới
cũng bắt nguồn từ suối nguồn vi diệu ấy.
Đạo Phật tuy đến sau đạo Khổng
và đạo Lăo, nhưng đă nhanh chóng khơi mạch nguồn
tâm và ḥa nhập vào đời sống tinh thần của
dân tộc này, để cuối cùng đạo Phật chiếm
một địa vị rất cao trong ḷng nhân dân có tín
ngưỡng Trung Quốc. V́ thế xứ sở này trở
thành non nước của Bồ-tát và Tổ sư, với
một nền văn hóa Phật giáo cũng sâu xa không kém.
Được như vậy là v́ giáo lư Phật-đà hội
đủ ba yếu tố khế lư, khế thời và khế
cơ. Điều này đức Phật đă dạy
như thế.
Giáo lư nhà Phật c̣n thích hợp với con người
bất luận là xứ sở nào, v́ h́nh ảnh lư tưởng
của Bồ-tát. Đó là những con người giác ngộ
nhập thế, đi vào cuộc đời, đau nỗi
đau nhân sinh, sống cái sống nhân sinh, thấu hiểu
tâm t́nh của nhân sinh… mới có thể đến gần họ
mà vỗ về, chia sẻ và đưa họ ra khỏi
nơi tăm tối, trở về với ánh sáng. H́nh ảnh
Bồ-tát thơng tay vào chợ cứu độ mọi người,
không từ bỏ một ai, rất thích hợp với
đầu óc thực tiễn của người Trung Quốc.
Thú vị hơn, thiền tông c̣n mạnh mẽ
đập tan mọi h́nh thức câu nệ, cố chấp,
cứu con người thoát khỏi ṿng xiềng xích vô lư do
họ tự đặt ra, rồi lệ thuộc ngược
trở lại nó, mà chịu khổ triền miên từ
đời này sang đời khác. Chấm dứt hướng
ngoại, xoay lại chính ḿnh để tự nhận và sử
dụng nguồn năng lực nội tại vốn có, là
sức mạnh vĩ đại nhất, mà Lục Tổ
và rất nhiều thiền sư Trung Quốc đă thành tựu
viên măn. Tuy nhiên, ngày nay bóng dáng thiền tăng với chân
tinh thần hành thiền của Tổ sư thuở xưa
th́ hiếm thấy, cũng là một điều đáng tiếc.
Song linh hồn của thiền tông th́ khó mà nói được.
Hang sâu núi thẳm của Trung Quốc vẫn c̣n trùng trùng vạn
vạn. Muôn pháp thiên di, tùy duyên mà bất biến.
Do đó có thể nói, đến với Trung Quốc
là trở về với thế giới tâm linh nằm sẵn
nơi chính ḿnh. Hun hút, sâu thẳm và không có điểm cùng