Trích
sách Vô Nhất Đại Sư - Hoà Thượng Thích
Thiền Tâm
Tại miền Nam Việt Nam,
từ 1968 tới 1992, có Hoà Thượng Thích Thiền Tâm, ẩn tu trong núi rừng
tỉnh Lâm Đồng, cũng đă "qui y" cho hàng
ngàn rắn độc. Loại rắn vùng này ḿnh có xọc
vàng, kêu là kim xà, và vị cao tăng
được tôn là Vô Nhất Đại Sư, Kim Xà Thánh Giả.
Sau đây là các trích đoạn từ sách "Vô Nhất Đại Sư Thích Thiền Tâm" do Ưu bà di Bảo Đăng biên soạn về vị Hoà Thượng có nhiều huyền thoại lạ lùng nhất, trong các vị cao tăng VN cận đại.
Ḥa Thượng Thích Thiền Tâm, sinh năm 1924, tại làng B́nh Xuân, quận Hoà Đồng, G̣ Công, xuất gia từ năm 13 tuổi. Năm 1964, Hoà Thượng là Viện Trường Sáng Lập Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm. Hoà Thượng Thích Thanh Từ, vị thiền sư nổi danh tại VN hiện nay, và Hoà Thượng Thích Bửu Huệ, lúc đó là hai vị phụ tá của Hoà Thượng Thiền Tâm.
Trong khi điều
hành Phật Học Viện Huệ Nghiêm, Hoà Thượng
Thiền Tâm c̣n giảng dạy Phật pháp tại Phân Khoa
Phật học Viện Đại Học Vạn Hạnh,
làm Giáo thọ tại các ni trường Dược Sư
và Từ Nghiêm, phiên dịch và trước tác nhiều kinh
sách giá trị, hiện vẫn đang được dùng
cho việc tu học.
- Năm 1964-1965: Hoàn thành công việc soạn thuật
bộ sách "Phật Học Tinh Yếu", gồm 3
cuốn 1,2 v 3 dài trên 1,200 trang.
- Năm 1965-1966: Ngài hoàn tất việc biên soạn
quyển "Niệm Phật Thập Yếu" gổm 10
chương, dài gần 400 trang (kể luôn các phần
bổ túc sau nầy, trên 50 trang (1979-1980).
- Năm 1966-1967, Ngài hoàn tất hai quyển kinh sách:
1. Duy Thức Học Cương Yếu, gần 300 trang.
Sách giảng dạy hầu hết các phần quan yếu
trong Bộ Môn Duy Thức Học.
2. Đại Bi Tâm Đà Ra Ni Kinh, c̣n gọi là "Thiên
Thủ, Thiên Nhăn, Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni
Kinh," trên 150 trang. Đây là quyển kinh Mật Tông,
giảng dạy và hiển dương về oai lực
của chú Đại Bi, một thần chú rất phổ
thông đang được dùng trong hầu hết các khóa
lễ hiện nay nơi Phật tự.
Năm 1974, Hoà
Thượng Thiền Tâm xin từ chức Viện
Trưởng Phật Học Viện Huệ Nghiêm, vào núi
ẩn tu giữa hàng ngàn rắn độc. Năm 1992, nhằm ngày 14 tháng
12 dương lịch, Hoà Thượng viên tịch, thọ
68 tuổi.
Ba ngày sau, trong
lễ khai mộ của ngài, mọi người hiện
diện đều trông thấy một đôi kim xà màu vàng
rực rỡ dài khoảng hai thước tây ḅ đến
trước đầu mộ của Đại Sư,
nằm im một chốc, đoạn cất đầu ngó
lên ni sư trưởng tử Thanh Nguyệt, gật
đầu ba lượt. Các h́nh ảnh về đôi Kim Xà
này đều đă được ghi nhận đầy
đủ bằng h́nh chụp và video. . .
Phú An là một thôn nhỏ, nằm
trong Tổng Đại Ninh, thuộc xă Phú Hội, Huyện
Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng (Tuyên
Đức- Đà Lạt). Dân số nơi đây vào năm
1968, chỉ có chừng 50 mươi nóc gia mà trong đó
khoảng 10 nhà là người Kinh (người Việt),
số c̣n lại là của người Thượng (dân
tộc thiểu số).
Đa số nhà
người Kinh th́ ở gần bên quốc lộ Đà
Lạt-Sài G̣n (tức là quốc lộ số 20), c̣n nhà sàn
của người Thượng th́ nằm sâu trong rừng,
cách quốc lộ khoảng chừng 3,4 cây số. Thôn này nằm trên bờ sông Đại Ninh, c̣n
gọi là sông Đa Nhim, v́ ở thượng nguồn
của con sông này trên Đà Lạt, có đập thủy
điện cao thế Đa Nhim. Chiều ngang của
con sông rộng chừng 300 thước, chảy từ
hướng Tây của Ấp, qua hướng Nam Đông-Nam
của vùng Đại Ninh với một gịng nước
ngọt, êm đềm, hiền ḥa và mang nhiều chất
phù sa mầu mỡ đă làm cho đất đai của
vùng nầy, đă từ lâu trở nên vô cùng phong phú...
"Hương Quang
tịnh thất" là nơi của cố Ḥa
Thượng Thích Thiền Tâm ẩn tu không nằm sát ngoài
quốc lộ như đa số nhà của các
người kinh khác trong thôn mà lại là nằm sâu bên trong,
sát với khu vực của người Thượng %97
cho nên muốn vào đến chỗ trụ xứ của
ngài th́ phải đi bộ một khoảng
đường rất xa mất gần cả giờ
đồng hồ mới tới.
Vùng Phú An
này (vào thời gian 1968) đặc biệt là chỗ của
cố Ḥa Thượng tịnh tu, v́ là nơi rừng núi, ít
người lai văng và có lẽ cũng v́ ở gần sông,
suối nên có rất nhiều loại rắn khác nhau.
Theo lời ngài kể lại, th́ trong gần
nửa năm đầu tiên về ẩn tu nơi đây,
ngài gặp nhiều thứ rắn độc khác nhau, to có,
trung b́nh có, nhỏ có. To th́ cỡ bằng cột nhà,
trung trung th́ bằng bắp vế, nhỏ th́ bằng
bắp chân, cườm tay trở
xuống v.v...
Có
đôi lúc sau khi làm vườn xong, đến khi trở vào
thất th́ thấy rắn nó quấn đuôi trên ngạch
cửa, tḥng ḿnh xuống, hả miệng, le lưỡi
thở khè khè. Ban
đầu th́ ngài cũng có ư sợ, chần chờ không dám
bước qua, nhưng rồi nghĩ không lẽ
đứng ở ngoài sân hoài, hay là dùng cây đập
đuổi th́ gây thù oán khó ḷng. Thôi th́ cứ niệm
Phật mà bước ngang qua đại, rủi có bị
nó cắn chết th́ ḿnh cũng quy Tây, càng tốt chớ
sao! Rồi ngài nhiếp tâm niệm Phật và
nghĩ đến phép "từ bi quán" đoạn
nhắm mắt, đi ngang qua cửa. Con rắn
"đánh đu" ḿnh qua bên này, bên kia
chạm vào mặt, vào cổ lạnh ngắt mà ngài vẫn
cứ làm tỉnh bước đi. Đến
khi vào trong thất xong rồi mới mở mắt nh́n
lại th́ nó cũng vừa buông ḿnh ra, rớt xuống
đất nghe một cái đụi rồi ḅ ra ngoài
rừng đi mất.
Lại có lần khác, sáng sớm thức dậy (để
sửa soạn vào khóa lễ)... Vừa bước chân
xuống "đơn" (tức là cái đi-văng
nhỏ, bề ngang khoảng 8 tấc, bề dài khoảng 2
thước rưỡi của người tu) th́ ngài có
cảm giác như là đạp trúng phải vật ǵ tṛn
tṛn và mềm mềm. Ngó xuống, té ra đó là một con
rắn hổ đen thui, to bằng bắp chân đang
nằm khoanh một đống ở dưới chân
giường!
Ngài nghĩ:
- Cha chả, ḿnh đạp trúng nó một cái mạnh như
vậy, chắc nó cắn ḿnh quá.
Liền
niệm A Di Đà Phật năm bảy câu rồi
đứng chết trân tại chỗ chớ không dám nhúc
nhích. C̣n con
rắn kia dù bị ngài đạp trúng mà
nó cũng không có phản ứng ǵ hung hăng hết, y ta
từ từ cất đầu lên, nh́n ngài một hồi
rồi le cái lưỡi đỏ ḷm ra khè khè mấy cái
đoạn nằm im trở lại.
Lúc đó ngài mới
dám bước đi, vừa mở cửa ra vừa
niệm Phật mà bảo với y ta rằng:
- Thôi sáng rồi, đạo hữu cũng nên về đi
để cho thầy c̣n niệm Phật nữa.
Tưởng đâu
nói khơi khơi vậy rồi thôi, không dè y ta
dường như biết nghe nên y mới từ từ
bung ḿnh ra dài cả mấy thước, chầm chậm ḅ
đến cửa một cách êm ái ḥa b́nh, rồi ra ngoài
rừng mất dạng.
Thêm một lần
khác, đêm đó ngài niệm Phật và tŕ chú Đại bi
đến khuya mới xong, vừa bước chân xuống
cầu thang th́ đạp phải lên một đống ǵ
đó đen thui, to tướng, ngài biết chắc là
rắn (quen với mấy người quá xá rồi!)
nhưng cũng làm tỉnh niệm A Di Đà Phật
một hồi, đoạn bước đến bàn viết,
vặn đèn lên cho tỏ để xem th́ thấy một
con rắn quá to (không biết làm sao mà nó lọt vào nhà
được trong khi cửa nẻo đă đóng kín
rồi - sau này mới biết chúng nó là các loại rắn
thần) đang cuộn tṛn một đống bên cạnh
đôi dép của ḿnh. Nó nh́n ngài, ngài nh́n nó.
Hai bên làm thinh ngó nhau một chặp, ngài vừa niệm
Phật vừa hỏi y ta rằng:
- Phải đạo hữu vào đây để nghe kinh,
nghe niệm Phật không? Nếu phải
vậy th́ gật đầu ba cái cho thầy biết đi.
Rắn
ta liền gật đầu 3 cái. Cố ḥa
thượng biết rằng đây là loại rắn linh
cũng ưa tu niệm chớ không có ư ǵ muốn làm
hại ḿnh. Cũng như các lần
trước, ngài mở cửa ra bảo thôi đạo
hữu hăy về đi... và y ta nh́n ngài với ánh mắt
hiền lành rồi từ từ ḅ ra ngoài đi mất.
Từ
đó trở đi, mỗi lần làm vườn hay t́nh
cờ gặp phải các "người bạn dài thọng,
thấy dễ sợ" này th́ ngài niệm Phật cho nó
nghe một hồi, rồi mạnh đường ai
nấy đi, việc ai nấy làm chớ không có xảy ra
chuyện ǵ khác lạ cả.
Biết vùng này có
nhiều loại rắn linh mến mộ tu hành như
vậy nên ngài mới làm pháp "Du già thí thực",
hồi hướng công đức tu niệm của ḿnh
để bố thí đến cho loài rắn và nói rằng
(nói khơi khơi một ḿnh nhưng dùng tâm tưởng và
tác ư cho loài rắn được nghe):
- V́ khác loài nhau, nên
từ nay nếu như quư vị muốn nghe kinh chú và
niệm Phật, v.v... để tu theo
th́ cứ ở ngoài sân chớ đừng có vào trong
thất của thầy nữa.
Sau vài
lần "truyền lịnh" như thế rồi th́
từ đó về sau tuyệt nhiên không c̣n có một con
rắn nào vào trong cốc nữa.
Nơi
miền rừng núi cao nguyên này, thường th́ có rất
nhiều g̣ mối lớn đặc biệt của
miền sơn cước. Chính cái thất mà ngài đang
ở (Phương Liên thất) cũng nằm trên một
g̣ mối lớn. Hầu hết g̣ mối đều
là ổ hang của rắn cả, (rắn làm hang trong đó
để ăn mối) g̣ mối càng
lớn bao nhiêu th́ rắn ở trong đó càng nhiều và
càng to bấy nhiêu.
Như vừa
lược qua, căn tịnh thất của ngài ở
được xây cất trên một g̣ mối lớn
(đă được san bằng) v́ vậy nên có nghĩa là
trên mặt đất th́ cố Ḥa Thượng ở, c̣n
dưới mặt đất là rắn ở. Ḥa
Thượng đă vô t́nh "sống chung ḥa b́nh"
với cả đống rắn độc mà không hay
biết chi hết. Sở dĩ các con rắn này nó không làm
hại chi đến ngài là v́ cứ mỗi tối, khi ngài
niệm Phật, tŕ chú, hoặc lễ bái, sám hối,
tụng kinh v.v... th́ các "y ta"
nằm im ở dưới nền nhà, hoặc là ḅ lên
mặt đất, rồi ẩn h́nh nằm tại chỗ
để nghe và tu theo. (Đây là lư do v́ sao mà khi ngài mới dọn
về - như đă có lược qua trong phần
trước - là ở dưới chân giường, cầu
thang... bỗng nhiên có rắn xuất hiện, con nào con
nấy cũng dài đến cả mấy thước, to
bằng bắp vế, nằm một đống đen
thui trong cốc mà ngài không hiểu v́ sao nó lại vào
thất được, trong khi ngài đă đóng cửa
nẻo kỹ lưỡng hết rồi).
Nhờ tu theo bằng cách "dựa hơi ḥa
thượng" các "ông dài" này dần dần
trở nên linh thông biến hóa được. Do v́ thầm
cảm cái ơn trọng đại đó, cho nên các "y
ta" kính lễ cố Ḥa Thượng như bậc cha,
thầy, c̣n các "y ta" th́ giữ bổn phận
của con, cháu hay đệ tử - V́ thế nên từ
đó về sau các loài rắn này trở nên hiền ḥa -
chẳng những nó không làm cho ngài bực bội hay gây
thương tổn chi, mà trái lại c̣n âm thầm theo
bảo vệ cho "Sư Phụ" nữa.
Sau đây là một
vài chuyện liên hệ mà khi c̣n sanh tiền, cố Ḥa
Thượng đă tự thân kể lại cho ni sư Thanh
Nguyệt và cháu là Đ.Đ. bổn sư Thích Hải Quang
nghe:
Có lần, cố Ḥa
Thượng đang ngồi làm cỏ tranh và xới
đất bên cạnh một g̣ mối lớn ở phía sau
thất (Phương Liên) của ngài - lúc ngài quơ tay ra
sau lưng để cầm cuốc th́ ngài lấy làm
lạ mà nói trong bụng rằng: Ủa, sao bữa nay cái
cán cuốc có vẻ là lạ và bự quá vậy? Ngài quay
đầu ngó lại th́ té ra là ḿnh đang nắm nhằm
cần cổ của một con rắn to bằng bắp
chân người lớn, màu đen có sọc vàng.Rắn ta v́
bị nắm cổ nên hả miệng, le lưỡi ra khè
khè năm sáu tiếng làm cho ngài hết hồn vội vă
buông tay ra và bước lùi lại phía sau, niệm Phật
cả mấy chục câu mới định thần
được. Xong rồi ngài đứng ngó y ta một
lúc và nói rằng:
- Ủa nhà
ngươi ở đâu mà ra đây, nằm sau lưng ta
hồi nào vậy? Thôi hăy đi đi.
Ngài lấy tay xua, khởi ư đuổi đi. Rắn ta cũng ngó ngài một hồi, gật
đầu mấy cái (giống như xin lỗi) rồi ḅ
ra phía sau g̣ mối. Ngài đứng ngó theo
xem nó ḅ đi đâu cho biết nhưng chờ hoài mà
vẫn không thấy tăm hơi ǵ hết, mới nghĩ:
Ủa, bộ nó c̣n nằm gần đây sao mà không thấy ḅ
đi đâu hết vậy ḱa? Ngài đi ṿng
quanh g̣ mối, t́m kiếm mấy lần mà cũng không
thấy y ta đâu hết.
Khuya lại, sau
thời khóa tŕ niệm (gần 4 giờ sáng) ngài đang
ngồi trên ghế bên cạnh bàn viết nghỉ mệt,
định bụng chút nữa sẽ pha
cà phê uống th́ nghe bên ngoài có tiếng gơ cửa. Ngài
lấy làm lạ, trong bụng nghĩ rằng: Ủa,
giờ này c̣n sớm quá mà sao Thượng lại tới gơ
cửa vậy ḱa? (Bởi v́ mỗi buổi sáng mấy
người Thượng ưa tới gơ cửa thất
của cố Ḥa Thượng để hỏi việc làm
như là cuốc đất, phát cỏ hoang và lên giồng
trồng khoai, sắn v.v...
Ngài mới
đứng lên, đi ra mở cửa th́ thấy: bên ngoài,
trước thất của ngài là hai người
Thượng một nam, một nữ, tuổi chừng 50,
dung mạo rất đơn sơ, mặt mũi sần
sùi, da dẻ đen đúa, cả hai đều mặc
quần áo màu chàm trông cũng rất sơ sài, đầu
hơi nhọn, đi chơn đất (không có dép, giày ǵ
hết), bàn tay nhám nhúa giống như có vảy, đang
chắp tay, cúi đầu chào ngài, miệng niệm Nam Mô A
Di Đà Phật.
Ngài nghĩ bụng:
Ủa, hai người Thượng này ở đâu
đến mà thấy lạ mặt, ḿnh ở đây
cũng đă lâu rồi mà chưa quen với hai vợ
chồng này. Ngài hỏi:
- Phải hai vị đến xin việc làm hôn?
Hai người ấy đáp:
- Mô phật, kính bạch Ḥa Thượng không.
- Ủa, vậy chớ có chuyện ǵ cần
không mà gọi cửa tôi sớm quá vậy?
Người đàn ông đáp:
- Bạch Ḥa Thượng, hai vợ chồng con đến
đây để xin lỗi Ḥa Thượng về
chuyện đáng tiếc ban trưa, có đứa cháu
nội đă làm cho ngài giật ḿnh. Xin Ḥa Thượng
từ bi tha lỗi và cho vợ chồng con sám hối.
Cố Ḥa Thượng lấy làm kỳ, nên ngài mới
hỏi:
- Cháu nội của hai vị hả, hồi nào, nó bao nhiêu
tuổi? Tôi nhớ suốt cả ngày hôm qua có gặp
đứa cháu nào đâu!
Người đàn bà đáp:
- Kính bạch Ḥa Thượng, cháu trai của con là
đứa bé hôm qua mặc áo quần đen có sọc vàng
nằm hầu phía sau lưng của ngài lúc ngài làm
vườn đó.
Ngài mới hỏi (mà trong bụng cũng chưa nhớ rơ
ra là ai, bởi v́ đâu có đứa nhỏ nào mặc áo
quần đen, sọc vàng theo hầu sau
lưng ḿnh suốt ngày hôm qua đâu):
- Vậy hả, cháu bé bao nhiêu tuổi?
Người đàn bà đáp:
- Kính bạch Ḥa Thượng, cháu được 95
tuổi!!!
Cố Ḥa Thượng của chúng ta giật ḿnh, sảng
sốt hỏi tiếp:
- Ủa, cháu nội mà được 95 tuổi th́ hai
vị đây bao nhiêu tuổi?
Người đàn ông đáp:
- Dạ con được 842 tuổi và vợ của con
760 tuổi!
Đến đây th́ Ḥa Thượng đă biết rơ
họ là ai rồi, nên ngài mới hỏi tiếp:
- Hai vị ở đâu tới đây?
Người đàn ông thưa:
- Bạch Ḥa Thượng, chúng con ở Huỳnh Xà Thôn
nằm về phía Đông của thôn Phú An này cách nơi
đây khoảng 9 cây số, gia đ́nh con có khoảng
một ngàn người...
Vừa nói tới đây th́ người đàn bà nắm
lấy tay của ông chồng dặt
dặt mấy cái như ra hiệu đừng nên nói
nữa (chắc sợ bị lộ tông tích) làm cho
người chồng mới nói đến câu: khoảng
một ngàn người... th́ làm thinh luôn.
Cố Ḥa Thượng gật đầu nói:
- Thôi hai vị yên ḷng về đi, không sao đâu.
Nghe ngài bảo
như vậy th́ hai vợ chồng người này
đồng chắp tay cúi chào rồi quay
lưng đi ṿng ra sau thất của ngài. Ḥa Thượng
mới nom theo xem họ đi đâu và
làm thế nào cho biết, th́ ngài thấy khi họ ra
đến phía sau rồi, cả hai người
đồng hóa ra hai luồng ánh sáng màu vàng nhạt lớn bằng
cườm tay, bay bổng lên không về hướng
Đông đi mất (giống như ông đi, bà xẹt
vậy).
Do đó nên ngài
biết rằng: Đứa bé 95 tuổi mặc áo đen, sọc vàng là con rắn đen có
vằn vàng ngày hôm qua đă làm cho ḿnh hết hồn! Hai vợ chồng này là rắn chúa (chúa
động). Hang ổ chánh của họ nằm
về hướng Đông của ấp Phú An,
cách đây 9 cây số có tên là "Huỳnh Xà
Động" (động rắn vàng).
Chắc
có lẽ họ mới biết biến h́nh nên dung mạo
c̣n thô sơ chớ chưa đẹp người. Và hơn nữa chắc
mỗi đêm họ ít nhiều ǵ đó cũng có
đến đây nghe kinh và tu theo ḿnh nên
mới có vẻ kính trọng ḿnh và biết chắp tay
niệm Phật như vậy...
. . .
Tiếp theo đây, Bảo Đăng tôi xin
kể hầu cho quư vị nghe thêm một vài chuyện
nữa có liên quan đến hai vị "Kim Xà
Vương" này và "Kim Xà Thánh Giả", Vô Nhất Đại
Sư của chúng ta:
Nguyên gần 10
năm về trước, lúc cố Ḥa Thượng c̣n
nhập thất ở Bến Tre, ngài có quen với một
vị tu sĩ tên là "Ông sư Mỏ Cày". Sở
dĩ gọi là ông sư Mơ Cày v́ vị này tuy có h́nh
tướng một nhà sư Phật giáo, nhưng thật
ra là một người đạo sĩ tu tiên luyện
điển theo phương pháp xuất hồn, địa
danh (tên của vùng đất) nơi ông sư này ở tu
tên Mơ Cày, không ai biết được tên thật của
ổng là chi hết. Ông sư này rất kính
quư cố Ḥa Thượng qua phong cách và đạo hạnh
của ngài, nên thỉnh thoảng cũng có đến
viếng thăm. Ḥa Thượng cũng có chỉ
dẫn thêm cho sư một vài pháp tu bổ túc, v́ vậy mà
sư có một sự mang ơn ở nơi cố Ḥa
Thượng.
Lúc ngài về Sàig̣n và
làm Đốc giáo ở Phật Học Viện Huệ
Nghiêm rồi th́ sư cũng có đến thăm một
lần, đến khi cố Ḥa Thượng ĺa Huệ Nghiêm
để ẩn tu th́ hai đàng biệt nhau. Măi
đến mấy năm sau, sư mới t́m
được lên Đại Ninh (trước sau hai
lần) để thăm cố Ḥa Thượng - và
rồi sư qua đời vào mấy năm sau đó.
Lần đầu
tiên sư lên thăm cố Ḥa Thượng vào năm 1970
(lúc đó th́ ngài không c̣n ở Hương Quang thất nữa,
mà đă dời về thất mới là Phương Liên
tịnh xứ rồi) và được Ḥa Thượng
cho phép ở lại thất của ngài vài ba hôm để
đàm đạo giáo lư và tu tập (Sư thọ giáo
mật tông từ nơi cố Ḥa Thượng).
Qua đêm đầu
tiên, sáng lại sư có thưa với cố Ḥa
Thượng rằng thất của ngài đang ở tu
nằm trên miệng hang của một động rắn
"Kim Xà" rất lớn và xin Ḥa Thượng hăy
cẩn thận v́ đây là các loại rắn thần con nào
con nấy cũng sống trên mấy trăm năm
hết...
Cố Ḥa
Thượng gật đầu, nói với sư là ngài
đă biết việc đó từ lâu rồi và cũng có
kể lại cho sư nghe về vài ba chuyện của các
Kim Xà này.
Qua ngày kế đó,
sư nằm ngủ và xuất hồn ra đi
"thăm" xà động này, khi thức dậy sư
có thưa cùng ngài như sau: Nguyên từ mặt đất của
nền thất Phương Liên đi thẳng xuống
dưới (ḷng đất) sâu 800 thước có một
động rắn lớn, trong đó có khoảng 200
"ông dài" đều sống từ hơn 100 cho
đến gần 1000 tuổi hết. Động này có đường
(hầm) thông qua 3, 4 động khác nữa - Chúa tể
của tất cả các động rắn này là một
đôi Xà Vương (rắn chúa) màu nửa đen, nửa
vàng và đều đă được trên một ngàn
tuổi rồi - Cặp Xà Vương này hiện đang
ở ngay dưới nền thất của cố Ḥa
Thượng cùng với các con cháu, mỗi đêm có
đều nghe ngài niệm Phật, tŕ chú và tu theo cho nên
biết biến hóa và đồng thờ cố Ḥa
Thượng làm thầy để nương theo tu tập.
Sư kể tiếp
rằng, khi sư xuất hồn ra gặp hai vị Xà
Vương động chúa này rồi th́ mấy vị
đó có nhờ sư về thưa lại với ngài là họ
muốn được quy y Tam Bảo cho được
sớm thoát khỏi kiếp rắn, họ cũng nói
rằng trước kia họ chỉ có sống lâu thôi
chớ không biết phương cách tu hành (v́ rắn
lột da cho nên sống lâu lắm), cứ ban ngày th́ ngó
mặt trời, ban đêm th́ ngó theo trăng, sao (tu theo phép
luyện âm dương nhị khí) nên mặc dù sống
hơn cả ngàn năm rồi mà vẫn không sao biến hóa
được. Từ khi cố Ḥa Thượng về
ở đây tu, mấy năm trôi qua cũng nhờ
nương theo oai lực chú ấn và câu niệm Phật
của Ḥa Thượng mỗi đêm, cho nên nay đă
bắt đầu biến hóa được rồi và thân
ḿnh cũng đă đổi từ màu đen ra màu hơi
vàng (tức là từ Hắc Xà vương chuyển dần
sang Kim Xà vương). Hiện thời th́ hai
vị đó đang cùng với các quyến thuộc
đều ẩn h́nh ở tại đây để tu và
ngầm bảo vệ cho ngài là bậc đại sư
của họ.
Ḥa Thượng
gật đầu và nhờ sư xuất hồn ra
chuyển lời lại cho các vị Xà Thần này biết
là hôm sau Ḥa Thượng sẽ truyền phép Tam Quy (Quy Y Phật,
Pháp, Tăng - Tam Bảo) để cho họ
được dự vào hàng Phật Tử.
Hôm sau, Ḥa
Thượng đắp y, hậu ngồi trên pháp ṭa bày
sẵn giữa tịnh thất, tŕ chú và bắt ấn
triệu thỉnh, chỉ đích danh 2 vị Xà Vương
chúa động Huỳnh Xà thôn (với sự hiện
diện của Sư Mơ Cày) gọi về...
Liền sau
đó ngài thấy trước mặt mờ ảo ẩn
hiện ra hai vị xà thần ḅ vào và hiện h́nh ra hai
người một nam, một nữ trong lứa tuổi
khoảng ngoài 60, cả hai đều mặc áo ngắn màu
vàng luốc, quỳ trước mặt chắp tay cúi
đầu phụng mạng.
Ḥa
Thượng mới thuyết Tam Quy cho nghe và kế đó
là quy y cho họ cùng các quyến thuộc, đốt chú
ấn (mà ngài đă vẽ sẵn trên giấy vàng)
để pháp thí cùng rải nước cam lồ xoáy
tịnh, chú nguyện cho họ sau khi thoát kiếp rắn
đều được sanh thiên, y như Phật Pháp tu
hành...
(Kể từ đây
ngoài các đệ tử thuộc về nhơn đạo
ra, ngài c̣n có thêm các đệ tử thuộc về thần
đạo và súc đạo nữa - việc làm này những
tăng ni (lục lục thường tài) chỉ biết
tụng kinh niệm Phật, cầu phước qua ngày,
không ḷng tin, không tu Mật Tông và không có cảm ứng đạo
giao với cảnh giới vô h́nh đều không thể nào
hiểu thấu được cả). Ngoài ra cố Ḥa
Thượng cũng c̣n có quy y cho chư
thần địa phương như thổ thần,
sơn thần, thọ thần v.v... Các vị này cũng
đều đồng nương theo ngài để tu
tập hết...
Đến năm
1974, Sư Mơ Cày có
lên thăm cố Ḥa Thượng một lần nữa và
ở cùng với ngài một tuần lễ - Sư có
thưa cùng với cố Ḥa Thượng mấy
điều sau:
1/- Về t́nh h́nh đất nước vào năm tới
(1975) sẽ có một sự "đổi đời"
rất lớn, vô số người chết... (tức là biến cố tháng 4 năm Ất
Măo 1975).
2/- Sư có xuất hồn ra gặp lại các Xà Thần,
điều đặc biệt nhất mà sư thưa cùng
với cố Ḥa Thượng là cặp Xà Vương
Động Chúa Huỳnh Xà thôn, mấy năm qua nhờ
được quy y Tam Bảo và tu theo phép của ngài
truyền cho (đốt nghi thức tu để pháp thí) khi
trước nên bây giờ đều được
biến hóa linh thông, từ nơi Hắc Xà Vương nay
đă chuyển ra thân Kim Xà Vương (Rắn Chúa màu vàng)
và thường hay biến thành h́nh sư tăng mặc áo
vàng, mỗi đêm đều có đi kinh hành niệm
Phật chung quanh thất của Ḥa Thượng hầu
hạ và bảo vệ cho ngài trong tất cả mọi hoàn
cảnh (để báo đức tôn sư).
Mấy
đêm sau, qua sự trung gian của vị sư Mơ Cày, ngài
mới cho triệu hai vị Chúa Động này về. Đêm đó, cố Ḥa
Thượng chiêm bao, thấy như sau:
Bên ngoài có hai vị, một tăng, một ni đều
mặc áo vàng đi theo sau sư Mơ Cày vào trong thất
quỳ xuống cung kính đảnh lễ. Ngài
hỏi là ai và từ đâu đến?
Hai vị ấy thưa là:
- Bạch tôn sư chúng đệ tử là động chúa
Huỳnh Xà thôn, nghe lịnh triệu thỉnh nên về
phục mạng.
Ḥa Thượng truyền cho đứng dậy th́ thấy
hai vị ấy thân tướng cũng quang minh, thần
sắc sáng sủa, nghiêm chỉnh, trên trán mỗi
người đều có chữ Vạn màu đỏ,
trước ngực mang một xâu chuỗi lóng lánh hào quang.
Ngài hỏi v́ sao hai con lại có được các món pháp
bửu này?
Hai vị ấy thưa:
- Bạch tôn sư, chữ Vạn này là nhờ nơi quy y
Tam Bảo mà có, c̣n xâu chuỗi này là do công tu tập mà thành -
Bất cứ người nào (ư nói là xà thần) ở
gần và tu theo tôn sư 3 năm đều cảm hiện
ra được cả. Trong hàng quyến thuộc của
con hầu hết đều được chuỗi này.
Kể từ khi chúng con có 2 món bửu bối này (chữ
Vạn là một, xâu chuỗi pháp bảo là hai) th́ mỗi
khi chúng con đi dạo chơi đến nơi nào cũng
đều được chư
thần ở địa phương đó kính trọng,
nhường đường và gọi chúng con là Phật
Tử...
Ḥa Thượng gật đầu thuyết
pháp cho nghe cùng khuyến nhắc tu hành. Các
vị ấy đều lạy tạ ơn và biến
mất.
Mấy hôm sau "Sư ông Mỏ Cày" ra về và có
thưa với cố Ḥa Thượng rằng: Lần này là
lần cuối cùng gặp nhau. Sang năm
(1975) sư sẽ dời về vùng núi Thất Sơn
ẩn tu và sẽ tịch vào năm 1980, không c̣n có dịp
gặp lại ngài được nữa.
*** C̣n Ḥa Thượng Thiện Tâm th́ tịch 18 năm sau.
Ngày mở cửa
mả của ngài, hai vị Kim Xà đệ tử này có
đến hiện h́nh ra là hai con rắn màu vàng rực
rỡ ḅ lại trước đầu mộ của ngài một
chốc rồi mới ḅ vào trong đám cỏ tranh và
biến mất, tất cả mọi người hiện
diện trong buổi lễ hôm đó đều thấy rơ
ràng - Bên Việt Nam chỉ trừ có độc nhất
một ḿnh ni sư trưởng tử Thanh Nguyệt (và bên
Mỹ là Đại Đức Bổn Sư Thích Hải
Quang) là biết rơ căn cột của cặp rắn này mà
thôi - ngoài ra không một ai hiểu thấu v́ sao mà lại có
đôi kim xà này xuất hiện đúng vào ngày "mở
cửa mả" của cố Ḥa Thượng - nên
đều có ư nghi ngờ). Đây là chuyện
sau. ***
Sau năm 1975, có một vài vị tăng
sinh của Phật Học Viện Huệ Nghiêm lên
Đại Ninh thăm cố Ḥa Thượng và ngụ
ở ngoài tu viện Hương Nghiêm. Nửa đêm
thức giấc (đi tiểu) ở phía sau (nhà cầu),
sáng dậy nói với mấy thầy nơi tu viện
rằng:
- Cha chả, ông già của tụi ḿnh tu hành tinh tấn ác ôn!
Mấy thầy Tu Viện hỏi:
- Sao biết là ông già tu hành tinh tấn?
Khách tăng trả lời rằng:
- Hồi hôm này lúc 2 giờ khuya, tôi thức dậy đi
tiểu, lúc trở vào, ngó qua bên thất của ông già
thấy ổng vẫn c̣n mặc hậu đi kinh hành
ở ngoài lan can trên lầu thất của ổng, nên
biết rằng ông già tu hành suốt cả đêm, tụi
ḿnh thiệt không bằng.
Thật ra th́
người mặc áo vàng đi kinh hàng chung quanh lầu
đó không phải là ngài đâu, mà chính là một trong hai
vị Kim Xà Vương đệ tử hiện h́nh
tăng tướng đi ṿng quanh thất để
bảo vệ cho "Sư Phụ" của ḿnh
được an lành nghỉ ngơi và tu niệm.
*
Đến đây, trước khi qua một chương
khác, Bảo Dăng tôi xin kể hầu quư vị thêm
một vài chuyện ngắn khác nữa (trong số rất
nhiều chuyện mà Bảo Đăng được nghe
từ nơi Đại Đức bổn sư) như
sau:
Một lần khác,
quư thầy bên Tu Viện (Hương Nghiêm) dọn
đất trồng lúa, bắp - nên gom các cỏ tranh, chà,
bổi vừa mới làm xong... lại thành một
đống lớn để trên g̣ mối gần đó,
đốt bỏ. (Hôm ấy cố Ḥa Thượng ngó qua,
thấy thế ngài mới rầy, bảo là đốt
như vậy lỡ chết côn trùng mang tội - sau này
Đại Đức bổn sư cũng bị ngài
rầy hết mấy lần (về việc tương
tợ như vậy) v́ đốt rác ẩu ở trên g̣
mối).
Khuya lại, sau khóa
lễ (gần 1 giờ sáng) ngài chuẩn bị đi
ngủ th́ nghe có tiếng khóc ở phía trước cửa.
Ban đầu ngài tưởng đâu v́ ḿnh xớn xác nên nghe
lầm, nhưng khi lắng tai nghe kỹ
lại th́ rơ ràng là tiếng con nít khóc chớ không sai
chạy chút nào hết, ngài mới mở cửa ra
đứng bên ngoài nh́n chung quanh để t́m. Đêm đó nhờ có trăng tỏ cho nên chỉ
một chút sau th́ ngài thấy ở dưới gốc mít
phía trước thất có một đứa nhỏ
đang ngồi khóc và có vẻ đau đớn lắm.
Ngài lại gần hỏi con là ai, sao ngồi khóc vậy,
lại đây thầy biểu coi.
Đứa nhỏ
đứng dậy bước ra, đó là một em bé trai
khoảng 5, 6 tuổi gương mặt cũng dễ coi,
mặc áo màu xanh (chắc là rắn lục), lại gần
cố Ḥa Thượng nói con bị phỏng hết cả
lưng, đau rát lắm.
Ngài hỏi v́ sao mà bị như vậy?
Bé đáp:
- Hồi trưa này con đang nằm ngủ th́ bị
lửa ở đâu đốt cháy, v́ ngủ mê nên không hay,
đến khi nóng quá, giật ḿnh thức dậy th́
chạy không kịp nên cả lưng bị phỏng
hết (lửa của mấy thầy đốt g̣
mối, xin tôn sư từ bi cứu độ).
Cố Ḥa
Thượng vừa nghe nói vậy th́ ngài biết
"Bé" này thuộc về giống ǵ rồi, nên ngài có
ḷng thương, dẫn nó vào trong cốc, lấy chung
nước cúng Phật trên bàn thờ xuống tŕ chú "A
Di Đà Cam Lộ Chơn Ngôn" vào nước một
hồi rồi rải lưng của nó, xong ngài mới bảo
bé rằng thôi con về đi, không sao đâu mai sẽ lành.
"Bé" lạy
tạ ơn, ra khỏi cửa rồi biến mất.
Đêm sau ngài nằm
chiêm bao thấy có một người đàn bà chắc là
"má-ḿ" dắt nó đến cám ơn, trong mơ
thấy nó hết khóc rồi và cười nói vui vẻ...
Một câu
chuyện khác:
Nơi cố Phương Liên 2 (có hai thất Phương
Liên, thất 1 là của cố Ḥa Thượng ở -
thất 2 là của ni sư Thanh Nguyệt cất cho thân
phụ ở - C̣n ni sư th́ ở tại thất Bạch
Vân), phía sân trước có một g̣ mối lớn bằng
5, 6 chiếc đệm, trên có tre gai mọc, choán cả
một khoảng đất rộng. Đă mấy lần
ni sư muốn đốn bỏ, dọn dẹp cho có
đất trống để trồng bắp, đậu,
nhưng hễ ai vừa tới gần g̣ mối,
định đốn cây, phát cỏ th́ đều cảm
thấy xây xẩm mặt mày và nhức đầu hết.
Riết rồi mấy người Thượng (làm
mướn) sợ quá, đứng ngoài xa chắp tay xá xá vào g̣ mối thôi, chớ không dám
đến gần nữa. Họ nói chúng tôi
không dám đâu, trong đó có thần thánh ở đừng
đụng chạm đến mà chết...
Mấy năm trôi qua rồi mà g̣ mối cũng không
sao phá được. Đối cùng ni
sư mới đem chuyện này tŕnh lên cố Ḥa
Thượng xin giúp đỡ v́ rất cần đất
trống để trồng trọt hoa màu. Lúc ấy cố
Ḥa Thượng chưa bế quan, nghe vậy nên ngài
mới vào xem tự sự... Sau khi làm phép và chú nguyện
xong rồi, đêm đó ngài nằm mơ, vía thầy đi
vào trong thất Phương Liên 2, lại gần chỗ g̣
mối, chỉ tay vào trong bụi tre, bảo:
- Vị nào trong đó hăy đi chỗ khác ở, để
đất trống cho chư ni trồng trọt, sinh
sống và tu hành.
Nói xong một lát sau th́ ngài thấy từ trong g̣ mối và
bụi tre gai có một con rắn màu đỏ, to bằng
cây cột nhà (chắc là rắn lục lửa) ḅ ra ngoài ngó
ngài một hồi, đoạn gật đầu mấy
cái rồi xuống sông đi mất.
Sáng ra ngài nói cho ni sư nghe và bảo
rằng g̣ mối nay đă phá được rồi...
Trước sự hiện diện của ngài mấy
người Thượng mới dám đến đốn
tre và bang bằng g̣ mối. Bấy giờ mới khám phá ra
một việc hi hữu, ấy là... trong g̣ mối này có
một bụi "Đơn Quy" rất lớn (là
một vị thuốc bắc đặc biệt bổ máu
- bồi bổ tổng quát) rất quư báu, củ to bằng
bắp tay, bắp chân (mấy trăm năm rồi nên
củ mới lớn như vậy) - nhiều đến
nỗi đem về phơi cả mấy chiếc
đệm mới hết.
Cố Ḥa
Thượng nói với ni sư rằng:
- Hèn chi mà không ai phá được cái g̣ mối này hết. Té ra v́ trong đó tàng ẩn vị thuốc quư này
nên mới có rắn thần canh giữ. Đây
cũng là cái duyên của con đó, hăy giữ kỹ mấy
củ đơn quy này mà dùng từ từ. Sau này con c̣n nhờ nó lắm.
Quả thật vậy, nhờ uống đơn quy này mà
ni sư từ từ hết bịnh phong thấp và sốt
rét rừng, sau phát ra tướng mập mạp, hồng
hào tựa như Di Lặc Bồ Tát - Đây là lời
của một Phật tử từ bên Mỹ về
thăm ni sư, khi trở qua kể lại cho Bảo
Đăng nghe như vậy.
.
Ḥa Thượng
THÍCH THIỀN TÂM
Viện chủ Hương Nghiêm Tịnh Viện, Pháp
chủ Phương Liên Tịnh Xứ Mật Tịnh
đạo tràng, tại Đại Ninh, ấp Phú An, xă Phú
Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm
Đồng VN.
Đă an
lành thị tịch văng sanh vào lúc 6g15 sáng ngày 21-11 Âl năm
Nhâm Thân. (Nhằm ngày thứ hai 14-12 dl năm
1992). Hưởng thọ 68 tuổi.
Ngài là một vị
Đại Tăng chói rực phần danh đức,
được xem như là một thánh tăng
đương kim và là con mắt của
Phật giáo Việt Nam trong hiện tại.
Đêm
đó (20 rạng 21), Ḥa Thượng ngồi trước
bàn Phật (ở trên lầu) tŕ niệm suốt buổi. Đến 3 giờ sáng, ngài
biết thời khắc văng sanh sắp đến nên
mở mắt ra, truyền lịnh cho ni
sư trưởng tử triệu chúng vào trong tịnh
thất hộ niệm. Kế đó Ḥa Thượng
bước xuống lầu rửa tay, mặt, nghiêm
chỉnh y hậu xong ngài an tọa vào trên chiếc ghế
nơi mà ngài vẫn thường ngồi để
tịnh niệm thường nhật, tay trái kết ấn
"Di Đà định", tay mặt lần chuỗi
niệm Phật.
Trước mặt
Đại Sư là ni sư trưởng tử và các
đồ chúng nơi Phương Liên tịnh xứ vân
tập đầy đủ. Đồ Tôn là Tỳ Kheo ni Thích Nữ Bảo Đàn thỉnh bức
tượng tranh của đức A Di Đà Thế Tôn
đứng trong vị thế tiếp dẫn đặt
nơi trước mặt ngài. Các môn đồ, pháp
quyến vừa rơi lệ khóc thầm, vừa cất
cao tiếng hộ niệm...
Đại Sư
mỉm cười thốt lời an ủi rằng:
- Hăy b́nh tâm lại, đừng có khóc nữa. Ta
được về Tây là điều hân hạnh, các con
hăy theo đó mà cố gắng niệm Phật. Nếu
được như vậy, ắt một ngày kia sẽ
cùng hạnh ngộ nhau nơi miền An Dưỡng.
C̣n các việc thành, bại, vinh hư trên cơi đời này,
chẳng phải là chỗ quan tâm đến của ta.
Đoạn ngài đọc bài kệ rằng:
Đời ta chí
gởi chốn Liên Tŕ,
Trần thế vinh hư sá kể ǵ.
Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm,
Mừng nay được thấy đức A Di.
Tuyên
xong lời kệ sau cùng này, ngài ngồi yên trên ghế,
nhắm mắt như vào trong định. Đại Chúng
biết chắc Đại Sư sắp sửa quy Tây, nên
đồng cất cao tiếng hộ niệm, mỗi lúc
càng thêm khẩn thiết.
Đến 6 giờ 15 phút (giờ Mẹo) Đại Sư
bỗng mở mắt ra, chắp tay nói:
"Ta đi đây. Đại chúng nên bảo
trọng."
Đoạn nhắm
mắt lại, tay trái ngài vẫn kết
ấn Di Đà Định, tay mặt buông xuôi xuống, xâu
chuỗi từ trên tay ngài rơi xuống chiếu và ngài
lặng im, an nhiên thoát hóa ngay trên bản tọa.
Ni
sư trưởng tử và các môn đồ pháp quyến
cố gắng dằn ḷng xúc động, nén nỗi bi
thương, vẫn để yên di thể ngài ngồi trên
bản tọa như vậy và tiếp tục hộ
niệm thêm hai giờ đồng hồ nữa. Đến 9 giờ sáng
mới cùng nhau nhẹ đỡ pháp thể ngài lên,
đặt nằm ngay ngắn trên đơn (của ngài),
đắp mền lại kỹ lưỡng trông y như
ngài vẫn c̣n đang ngủ vậy.
Toàn thân
của Đại Sư vẫn mềm, ấm, dịu dàng và
dung sắc vẫn hồng hào, tươi nhuận y như
c̣n sống. Đỉnh đầu ngài nóng hực như
tưới nước sôi.
Đại
Sư hưởng thọ tuổi đời
được 68 - Tuổi đạo 48 (Tăng lạp
42).
Về phần
của các chúng nơi Phương Liên Tịnh Xứ th́ sau
khi an pháp thể của Đại Sư ở trên
đơn xong rồi, đồng nhau khấu đầu
lễ tứ bái vĩnh biệt, kế đó đóng
cửa thất của ngài lại, cùng bước ra ngoài
để chuẩn bị lo tiếp các phần hậu
sự...
Đến 9 giờ
30 phút, đại chúng ở ngoài Hương Nghiêm Tịnh
Viện hay tin, đồng nhau kéo vào, dùng đa số và
cường lực phá cửa thất ra "thỉnh
ngang" di thể của ngài đưa thẳng về
chùa...
Lễ di quan, nhập tháp hoàn tất vào khoảng 8 giờ
sáng ngày 25-11 Âl năm Nhâm Thân (18-12-1992 dl) tại Hương
Nghiêm Tịnh Viện.
Đại Sư có
lưu lại một viên NGŨ SẮC KIM CANG NHA XỈ XÁ
LỢI (một răng cấm năm màu c̣n nguyên vẹn)
cứng như kim cương,
được bảo toàn kỹ lưỡng.
Ba ngày sau (21/12 dl
1992), trong lễ khai mộ của ngài, tất cả
mọi người hiện diện đều trông
thấy có một đôi kim xà màu vàng rực rỡ dài
khoảng hai thước tây ḅ đến trước
đầu mộ của Đại Sư, nằm im
một chốc, đoạn cất đầu ngó lên ni sư
trưởng tử Thanh Nguyệt, gật đầu ba
lượt rồi ḅ đi vào trong đám cỏ tranh
gần đó biến mất. Các h́nh ảnh
về đôi Kim Xà này đều đă được ghi nhận
đầy đủ bằng h́nh chụp và video.