
Tỉnh Việt
Đông, núi Đảnh Hồ, thầy Sa-môn Thích Hoằng
Tán Tại Tham chú giải.
Kẻ môn nhân, thầy Tỳ-kheo hiệu Khai Huưnh làm lời
kư.
Ḥa Thượng
Thích Khánh Anh dịch
![]()
Quyển
Thượng
LỜI TỰ VĂN QUI SƠN CẢNH SÁCH
Giải thích từ câu, lời kư
Sanh tử cũng là việc lớn, v́ cơn vô
thường (chết) chóng mau! Thế, người học
đạo, với mỗi giờ, mỗi phút phải
lấy đó làm điều nhớ lo.
Ôi! Ngày tháng dễ trôi qua, bằng chẳng
nhắc nhở lại cho th́, khi c̣n sống chẳng tu,
đến lúc chết đem chi theo!?
Khốn nỗi, cứ mải miết theo cái
thói đê hèn là, đă tham của cải, lại tham
uống ăn, thực là khá hổ!
Chạnh v́ tệ đoan ấy mà, buộc
phải chép văn Qui Sơn Cảnh Sách đây ra
đời vậy.
Tại núi Đảnh Hồ(1), Tổ Tại
Tham Ḥa thượng, Ngài khắp nêu đạo mầu,
dạy bảo người đến học, cặn
kẽ rất hậu, chỉ vẽ đủ điều.
Chợt một bữa nọ, đại chúng
thỉnh cầu Tổ sư (Hoằng Tán) vạch chỉ
tông thú của văn Qui Sơn Cảnh Sách.
Tổ Sư dùng cái trí huệ vô ngại phân rành,
thỏa măn được ḷng khát vọng của
đại chúng.
Nhân đó, đại chúng lại yêu cầu
Tổ Sư chia ra từ khoa giải thích từ câu, làm cho ư
chỉ văn Cảnh Sách được rỗng suốt.
Đối với văn Cảnh Sách, vô luận
bực thượng triết hay trung lưu, đều có
thể noi theo tu học, để đồng đến
nơi đạo quả.
Người đệ tử bực
thượng túc(2) của Tổ Sư là ông Thạch
Tiễn Khai Huưnh, ghi những lời của Tổ Sư
giảng diễn ngày trước, đem chú kư nơi sau
mỗi bài. Như gấm thêm hoa, tựa dầu giúp sáng.
Thế là sách đây cả có sự lợi ích
cho kẻ hậu học nên chẳng phải việc
nhỏ vậy.
Phàm những người đọc sách đây
như thấy được Tổ Qui Sơn mà, cũng
như thấy được Tổ Tại Tham Ḥa
thượng cùng với Tổ Qui Sơn dầu khác
miệng mà đồng tâm, năng xét đến “hết
sức v́ người” của Phật Tổ từ
trước, để cùng đại chúng khuyên nhủ,
nhắc nhở nhau.
Thuở xưa ngài Đại An thiền sư nói “Ta ở
tại Qui Sơn suốt ba mươi năm từng
chăn con thủy cổ ngưu(3), nay nó biến làm con
lộ địa bạch ngưu(4), thường ở
trước mặt, trọn ngày bày sờ sờ,
đuổi cũng chẳng đi(5)”. Đấy, thực
khá gọi năng tự siêng gắng lấy ḿnh ấy
vậy.
Ta nguyện vọng cho cả người học
đạo trong thiên hạ đều lấy cái yếu sách
của ngài Đại An thiền sư(6) đó để
tự sách phát lấy tinh thần của ḿnh.
Đệ tử Quảng Duệ
Viết tại chân núi Phong Ngu, tỉnh Hắc Long Giang, tháng
Chạp, năm Canh Tư (1660), niên hiệu Thuận Trị (vua
Thế Tổ), năm thứ 17 nhà Thanh.
CHÚ THÍCH
1. Núi Đảnh Hồ: Vị trí tại phủ Đoan
Châu, nay là huyện Cao Yếu, tỉnh Quảng Đông. Trên
đảnh núi có cái hồ, khi trời tạnh nắng
hễ có luồng mây bao vận trên hồ th́ mưa;
đương lúc trời mưa mà có luồng mây vần
phủ trên hồ th́ tạnh nắng, nên gọi là
Đảnh Hồ Sơn, hoặc Đảnh Hồ Tự
và Khánh Vân Tự.
2. Thượng túc: Là danh từ mỹ xưng
đối với đệ tử của người.
Kinh Phật Thuyết Vô Úy Nữ nói “Bọn đây
đều là đệ tử thượng túc (đệ
tử lớn) của đức Thích-ca Như Lai”.
Vương Bột Văn chép “Với bực thượng
túc của Thiền sư, tay lănh tụ trong pháp môn”.
3. Thủy cổ ngưu: Con trâu đen
dưới nước, tức ám chỉ cái vô minh.
Thủy: nước, bắc phương nhâm quí thủy, kư
sắc hắc, nên thủy là nước màu đen, chỉ
cho vô minh hắc nghiệp mà, gọi là con trâu đen,
tức cũng là cái vọng tâm. Lại nước cũng
ám chỉ là sông mê, bể khổ.
4. Con lộ địa bạch ngưu: Con trâu
trắng (c̣) trên bờ, tức tượng trưng cái giác
tánh. Địa: đất, tức giác ngạn. Lại,
cổ ngưu dùng nghĩa là kẻ đă cát ái từ thân,
xuất gia bạch nghiệp chơn tu, như nói rằng
cổ ngưu, bạch ngưu.
5. Đuổi cũng chẳng đi:
Người xưa, một lần chứng là chứng măi,
một lần đắc là đắc luôn, không hề lui
mất, v́ vô minh đốn tận, giác tánh siêu nhiên, nên nói
trọn ngày bày sờ sờ trước mặt,
đuổi cũng chẳng đi.
6. Đại An thiền sư: Sách Truyền
Đăng Lục nói “Ông Đại An thiền sư,
người ở phủ Phước Châu, đến
yết kiến Tổ Bá Trượng rằng “Người
học đạo, muốn biết Phật th́, phải
như thế nào là đúng?” Tổ dạy “Giống hệt
cỡi trâu t́m trâu”. Sư hỏi “Sau khi biết rồi
như thế nào?” Tổ dạy “Như người
cỡi trâu về đến nhà”. Sư hỏi “Thỉ chung
giữ ǵn làm sao?” Tổ dạy “Tỷ như mục
đồng cầm roi, dây chăn coi đó, chẳng cho nó
xâm phạm lúa mạ của người ta”. Từ đó,
Sư đă lănh hội được diệu chỉ,
lại chẳng phóng ư rông t́m. Ngày nọ, Sư lên giảng
đường tự trần rằng “Đại An này,
ở tại núi Qui ba mươi năm, đói th́ ăn
cơm của Qui Sơn, đại tiện trên chỗ
phẩn của Qui Sơn, chẳng học thiền của
Qui Sơn, chỉ giữ coi một con thủy cổ
ngưu, nếu trâu nó đi lệch đường vào rau
cỏ, th́ kéo nó ra, hoặc nó xâm phạm lúa mạ của
người th́ quất roi, tập luyện đă lâu, khá
thương đời sống của nó. Mà nay nó biến
hóa ra con bạch ngưu trên đất g̣, thường
ở trước mặt, trọn ngày bày sờ sờ, dù
đánh đuổi nó cũng chẳng chịu đi
đâu”.
Con trâu là ư thức và sáu căn. Dây và roi là
giới cấm. Coi trâu là giữ giới. Nghĩa là
chẳng cho sáu căn và ư thức trú trước xâm
phạm nơi lúa mạ sáu trần và tham lam phân biệt
chấp trước này nọ…
BIỂU HUYỀN KHOA, MỤC
I- Đề mục phân hai:
I.A- Nhân
I.B- Pháp
II- Bổn văn phân hai:
II.A- Trường hàng
II.B- Trùng tụng
II.A- Trường hàng phân hai:
II.A.1- Giáo giới
II.A.2- Thị pháp
II.A.1- Giáo giới phân chín:
II.A.1.a- Nghiệp nhân quả khổ.
II.A.1.b- Sanh lăo bệnh tử.
II.A.1.c- Sanh diệt thời tốc.
II.A.1.d- Vi tục nhập đạo.
II.A.1.e- Danh lợi thất đạo
II.A.1.h- Khải thị tam học.
II.A.1.k- Bất tu học quá.
II.A.1.l- Nghiệp quả thời thục
II.A.1.m- Sách lệ khuyến tu
II.A.2- Thị pháp phân ba:
II.A.2.a- Đạo hạnh
II.A.2.b- Thiền giáo
II.A.2.c- Kiết khuyến
II.A.2.a- Đạo hạnh phân sáu:
II.A.2.a1-Lập hạnh
II.A.2.a2- Trừng giới
II.A.2.a3- Cầu đạo
II.A.2.a4- Trạch hữu
II.A.2.a5- Kiết hối
II.A.2.a6- Tiềm tu
II.A.2.b- Thiền giáo phân hai:
II.A.2.b 1.Thiền học
II.A.2.b 2.Thiền lư
II.A.2.b1- Thiền học phân hai:
II.A.2.b1a- Thị pháp
II.A.2.b1b- Tán miễn
II.A.2.b2- Thiền lư phân hai:
II.A.2.b2a- Thị giáo
II.A.2.b2b- Giới miễn
II.A.2.c- Kiết khuyến phân năm:
II.A.2.c1- Khải phát
II.A.2.c2- Thị giáo
II.A.2.c3- khuyến miễn
II.A.2.c4- Hiển thị nhân quả
II.A.2.c5- Tự hành hóa tha
II.B- Trùng tụng phân ba:
II.B.1- Phiêu tụng đề
II.B.2- Tụng giáo giới
II.B.3- Tụng thị pháp
II.B.2- Tụng giáo giới phân mười một:
II.B.2.a- Hoán sắc
II.B.2.b- Thời tiết
II.B.2.c- Sanh diệt
II.B.2.d- Lưu chuyển
II.B.2.e- Ái thủ hữu
II.B.2.h- Hư sanh không lăo
II.B.2.k- Vô minh hoặc
II.B.2.l- Khái thời mạng tốc
II.B.2.m- Hiện nhân hậu quả
II.B.2.n- Nhân quả sở do
II.B.2.o- Tuần hoàn bất tức
II.B.3- Tụng thị pháp phân bảy:
II.B.3.a- Y sư
II.B.3.b- Trạch pháp
II.B.3.c- Liễu vọng
II.B.3.d- Qui chân
II.B.3.e- Tương vong
II.B.3.h- Tịch chiếu
II.B.3.k- Song dẫn
QUI SƠN CẢNH
SÁCH
Thích nghĩa
từ câu và lời kư
QUYỂN
THƯỢNG
Tỉnh Việt Đông, núi Đảnh Hồ,
thầy Sa-môn Thích Hoằng Tán Tại Tham chú giải.
Kẻ môn nhân, thầy Tỳ-kheo hiệu Khai
Huưnh làm lời kư.
Sắp giải thích văn Cảnh Sách đây,
phân làm hai khoa lớn: Sơ, giải thích đề mục.
Thứ, giải thích bổn văn.
GIẢI THÍCH ĐỀ MỤC
Phân làm hai:
A- NHÂN
B- PHÁP
A- NHÂN, LÀ TỔ QUI SƠN
Đề mục có bốn chữ là Qui Sơn
Cảnh Sách. Hai chữ Qui Sơn là người năng nói;
hai chữ Cảnh Sách là pháp bị nói. Nhân, th́ dùng tên núi làm
xưng hô; pháp, th́ lấy văn Cảnh Sách làm danh mục.
Với người mà dùng tên núi để
xưng danh là như thế, vị trí núi đây ở
về phía Tây Bắc quận Trường Sa, nhân Tổ
Sư Linh Hựu trú tŕ tại đó, người
đời v́ tôn trọng Tổ, nên không dám gọi là Linh
Hựu mà tôn xưng là Qui Sơn.
Pháp húy của Tổ Sư là Linh Hựu, họ
ngoài đời là họ Triệu, người xuất thân
tại đất Trường Khê, vịnh Phước
Châu (Phước Kiến).
Năm lên mười lăm tuổi, xả
tục xuất gia. Năm lên hai mươi tuổi thụ
giới cụ túc. Chuyên tinh nghiên cứu các kinh điển
Tiểu thừa, Đại thừa.
Năm lên hai mươi ba tuổi, qua tỉnh
Giang Tây, tham yết Tổ Bách Trượng Đại Trí
Hoài Hải thiền sư. Vừa một phen thấy,
Tổ Bách Trượng cho vào tịnh thất hầu
Tổ, thành thử được ở đầu lớp
tham học.
Bữa nọ, lúc đứng hầu bên Tổ
Bách Trượng, Tổ bảo Linh Hựu bươi ḷ
lấy lửa; Linh Hựu bươi rồi thưa
rằng không có lửa.
Tổ Bách Trượng tự đứng
dậy đi bươi sâu tận đáy ḷ, có đặng
chút lửa, gắp dở cao lên mà bảo rằng “Sư nói
rằng không có lửa, chớ cái này là thứ ǵ?”
Sư Linh Hựu nhân đó mà được giác
ngộ vào cái lư “không trung diệu hữu”, liền làm
lễ để kính tạ và tŕnh bày cái chỗ vừa giác
ngộ ấy.
Tổ Bách Trượng dạy phân rằng
“Đấy là mới tạm thời mà đă chia
đường mê giác rồi.” Kinh nói “Muốn biết
nghĩa Phật tánh, phải xem thời tiết nhân duyên,
hễ nhân duyên đă đến như mê chợt ngộ,
dường quên thoạt nhớ, mới biết là vật
sở hữu (Phật tánh) của ḿnh, chẳng từ ai
cho được”. Nên Tổ Sư nói(1) “Ngộ liễu
đồng vị ngộ” (Ngộ rồi đồng
chưa ngộ(2)), v́ không tâm cũng không pháp, chỉ là không
c̣n các cái tâm phân biệt, nào là phàm, nào là Thánh, tâm pháp vô phân
biệt ấy, xưa nay nguyên vẫn sẵn đủ.
Chừ Sư đă được thế, khéo tự
giữ ǵn lấy”.
Sau đó, sư Linh Hựu sung lên chức
Điển tọa.
Bấy giờ, có nhà cư sĩ, họ Tư
Mă(3), tu hạnh đầu- đà(4), từ tỉnh Hồ
Nam đến viếng Tổ Bách Trượng và tŕnh bày
rằng “Vừa rồi, con ở tỉnh Hồ Nam, có t́m
đặng một quả núi, tên là Đại Qui, là
chỗ ở của một ngàn năm trăm người
thiện tri thức, v́ địa linh tất sanh nhân
kiệt như thế”.
Tổ Bách Trượng hỏi “Lăo tăng qua trú
tŕ đó được không?”
Tư Mă Đầu Đà thưa “Chẳng
phải chỗ Ḥa thượng ở”.
- Sao thế?
- Dẫu Ḥa thượng ở đó, đồ chúng không
đủ một ngh́n, v́ Ḥa thượng là người
xương (già), mà núi kia là thịt (trẻ).
Tổ Bách Trượng bảo thị giả
kêu Thủ tọa(5) đến hỏi Tư Mă Đầu
Đà rằng “Với núi kia, người này thế nào?”
Tư Mă Đầu Đà yêu cầu thầy
Thủ tọa tằng hắng mấy tiếng và đi vài bước
thử coi, rồi Tư Mă Đầu Đà nói “Chẳng
thể đặng, v́ nhân cảnh không xứng nhau”.
Tổ Bách Trượng lại sai Đạo
Hầu kêu Điển tọa(6) đến và hỏi…,
Tư Mă Đầu Đà mới thấy lần
trước nhất, bèn nhận ngay rằng “Đấy,
chính là ông chủ của Qui Sơn”.
Đến tối, Tổ Bách Trượng kêu
sư Linh Hựu vào tịnh thất phú chúc rằng “Ta có
bổn phận hóa duyên tại chốn này, c̣n Qui Sơn kia
là thắng cảnh, Sư phải đến đó để
nối dơi tông môn của ta, rộng độ lớp
hậu học”.
Sư Linh Hựu vâng lời, qua trú tŕ nơi Qui
Sơn.
Núi đây đảnh cao chót vót, cây mọc
chần vần, suối hang sâu tột, chu vi ước có
mấy ngh́n trăm dặm, làm hang ổ cho các loài thú dữ
như gấu, beo, cọp, đây ít có dấu người.
Hằng ngày sư Linh Hựu chỉ bạn cùng
vượn, khỉ. Mỗi bữa lượm trái cây
tượng lật(7) (cây keo su) rụng để ăn
thay v́ cơm cháo. Măi thế trải qua sáu, bảy năm
nhân dân ở làng gần núi ấy lần lần nghe
biết, hiệu triệu nhau một số đông
người, tự động lên núi, cùng kiến thiết
thành ngôi chùa, cúng dường tổ Linh Hựu.
Do đó, hóa đạo của Ngài truyền
khắp trong thiên hạ quanh vùng, lớp thiền học
rần rộ. Bèn lập thành một tông Qui Ngưỡng.
Tổ sư Linh Hựu, Ngài khắp nêu chánh giáo
hơn mười năm, số người
được ngộ đạo nhiều không kể
xiết, số được nhập thất(8) hơn
bốn mươi người.
Khi thị tịch súc miệng, rửa tay,
ngồi kiết già mà tịch một cách vui tươi,
nhằm ngày mùng 9 tháng Giêng, năm đầu Thái Trung
thứ 7(9), đời Đường.
Tuổi sống theo đời là tám mươi
ba; tuổi tăng lạp(10) là sáu mươi bốn. Ngôi
tháp xây dựng nơi gộp đá phía nam Qui Sơn. Vua
Đường sắc tặng là Đại Viên Thiền
Sư. Sắc tặng ngôi tháp là Thanh Tịnh.
Kư: Truyện chép Tổ Sư Linh Hựu trú tŕ
nơi Qui Sơn đă lâu, tự biết(11) tiền thân
đă làm nhà Tăng thụ tŕ kinh Pháp Hoa tại chùa làng
Việt Châu. Năm Tổ Sư thị tịch cách với
năm Như Lai diệt độ là một ngh́n tám trăm
năm.
Họ Tư Mă Đầu Đà, là người
trong tâm chứa cái tông trực chỉ thiền(12); ngoài thân
đủ cái gương nhân luân, gồm thông suốt phép
địa lư, nên các nơi sáng lập chùa viện,
đều nhờ ông chỉ điểm cho.
Thủ tọa, tức là ngài Hoa Lâm Ḥa
thượng(13).
B- PHÁP, LÀ VĂN CẢNH SÁCH
Hai chữ Cảnh Sách, chính là cái tông chỉ
của một bộ luật này. Cảnh, là cảnh
tỉnh kẻ chưa giác ngộ. Sách, là sách tấn
người hậu học.
Nhân v́, đương thời (mạt pháp,
đời Đường), Tổ Qui Sơn đại
sư, Ngài thấy người chân tu lần mỏn, hiu
quạnh, sự t́nh tệ ngày càng bành trướng, bởi
hành vi của chư Tăng phần nhiều đồng
thói hèn tục, v́ đă tham của, lại tham ăn mà
trễ nải, lười biếng, không có cái chí cương
quyết lướt tới. Thành thử Tổ, Ngài chép
văn Cảnh Sách đây, để hiểu dụ, giác
ngộ, khuyên miễn cho học giả lo tiến bộ.
Kư: Xét các kinh, luận, hoặc dùng riêng tên
người mà làm tên sách; hoặc dùng riêng tên pháp làm tên kinh;
hoặc dùng luôn cả nhân pháp làm đề mục. Chừ
văn Cảnh Sách đây là lấy cả nhân (Qui Sơn) và
pháp (Cảnh Sách) hiệp lại làm danh đề.
Hai chữ Qui Sơn là do người đời
sau để thêm, chứ phi Đại sư tự
đặt. Theo lệ thường đồ chú thuật,
th́ với dưới đề mục, để riêng
biệt cái danh của tác giả, mà ở đây lại
đem cái danh của tác giả để ngay vào trong
đề mục nên nói lấy nhân và pháp làm danh đề
là Qui Sơn Cảnh Sách.
II. GIẢI THÍCH BỔN VĂN
Phân làm hai:
A- VĂN TRƯỜNG HÀNG
B- VĂN TRÙNG TỤNG.
II.A- TRƯỜNG HÀNG
Phân làm hai:
1. Giáo giới
2. Thị pháp
II.A.1- Giáo giới
Phân ra làm chín:
a- Nghiệp nhân quả khổ.
b- Sanh lăo bệnh tử.
c- Sanh diệt thời tốc.
d- Vi tục nhập đạo.
e- Danh lợi thất đạo
h- Khải thị tam học.
k- Bất tu học quá.
l- Nghiệp quả thời thục.
m- Sách lệ khuyến tu.
II.A.1.a- Nghiệp nhân khổ quả
Xét Nghiệp buộc chịu thân, chưa
khỏi hữu h́nh hữu lụy.
Câu trên, nói rơ cái nghiệp nhân. Câu dưới, nói
rơ các khổ quả. Đấy là chỉ ra cho biết
rằng nghiệp nó buộc lấy cái tướng (cái thân)
khổ.
Nghiệp(14), thuộc về đời quá
khứ; khổ; thuộc về đời hiện tại.
Rằng, trong cái thời tạo nhân có sự ràng buộc nên
chi trong thời chịu quả tất phải khổ
lụy. Mà cái lụy phi chỉ một điều, nên nói
chúng khổ.
Chúng khổ, nói hẹp th́ có ba khổ, tám
khổ; nói rộng th́ có cả tám vạn bốn ngh́n các
khổ trần lao.
Số là, bởi chúng phàm phu nó không rơ
được tự tâm của nó, sanh khởi những
quan niệm mê hoặc, tạo tác bao điều nghiệp
chướng, như thập ác và thập thiện hữu
lậu. Do v́ cái nghiệp (mười thiện, mười
ác) ấy nó cột buộc nơi thần thức (đă
mang lấy nghiệp vào thân), nên khó khỏi những khổ
lụy của thân h́nh phần đoạn sanh tử.
Tổ Thiên Thai Trí Giả nói “Tất cả
những tâm niệm hành động hữu vi, thường
bị những bệnh hoạn, khổ lụy của pháp
vô thường nó biến đổi làm ép ngặt, nên
gọi là khổ.”
Luận Trí Độ nói “Vô lượng chúng sanh
có ba món khổ về cái thân là lăo khổ, bệnh khổ và
tử khổ; ba món tâm khổ là tham lam, sân hận và si mê;
ba món khổ về đời sau là địa ngục,
ngạ quỷ và súc sanh.”
Kinh Pháp Cú chép rằng: Xưa có bốn sư tân
học Tỳ-kheo tranh luận về sự khổ của
đời
- Sự dâm dục nó làm khổ năo cho
người.
- Cơn đói khát nó làm ép ngặt thân thể.
- Chứng sân nhuế nó làm rối loạn tâm thần.
- Điều hoảng hồn nó làm cho người phải
e sợ.
Cùng nhau đua giành phải chăng. Phật
dạy rằng “Các sư tranh luận như thế là
chẳng xét thấu nghĩa của khổ. Đây cái thân nó
làm gốc cho các khổ, cái nguồn của mọi
điều hoạn nạn! Vậy, phải cầu
chứng quả tịch diệt, ấy là rất vui!”
Kư: Luận sở dĩ có ra muôn điều
lụy là gốc ở nơi cái thân; mà sở dĩ sanh ra
cái thân là do nơi cái nghiệp nó buộc lấy; cái
nghiệp lại do nơi phiền năo mà có; v́ phiền năo vô
minh hoặc(15) mà tạo tác ra các hạnh nghiệp; v́
bởi cái nghiệp ấy nó trói buộc chúng hữu t́nh,
nên chẳng đặng giải thoát, thành thử bị
xuống lên ba giới, qua lại sáu đường,
để chịu các điều khổ lụy của
mỗi mỗi thân h́nh.
Thế là, nhân nghiệp tạo đời
trước mà chịu cái thân đời nay,
đương có thân đời nay lại tạo ra cái
nghiệp cho đời sau nữa, tất nhiên, hễ
hữu thân là hữu khổ, hữu h́nh là hữu lụy!
Đức Lăo Tử cũng nói “Ta có cái khổ
hoạn lớn, v́ ta có cái thân. Nếu ta không thân, th́ có lo
chi”.
Muốn được không thân, cần
đặng không tâm, tâm nó làm cái dụng cho nghiệp,
nghiệp nó theo cái duyên mà sanh, nếu tâm không sanh khởi
một vọng niệm ǵ hết th́ cả khổ hoạn,
hệ lụy đều mất.
Nên Triệu Luận nói “Muôn điều lụy
nảy bày, gốc ở nơi vọng tưởng, đă
dẹp được vọng tưởng rồi, th́
vạn lụy đều thôi”.
Rằng tam khổ: 1-Khổ khổ, là cái
gốc của khổ (cái thân). 2-Hoại khổ, là cái
khổ của sự biến hoại.
3-Hành khổ, là cái khổ của hành chuyển.
Nghĩa là, chúng sanh bẩm thụ lấy cái thân phần
đoạn của hữu lậu ngũ ấm, tánh cách nó
thường thường ép ngặt, thế là khổ
rồi, lại cùng tương ương nhau với cái
khổ thụ(16), tức là trên cái khổ (cái thân) gia thêm
nhiều khổ khác nữa, nên nói là khổ khổ. Nếu
đến thời cái tướng vui (lành mạnh sức
khoẻ) nó bại hoại, th́ cái tướng khổ (lăo
bệnh) nó liền đến, nên gọi là hoại
khổ. Cái pháp hữu lậu th́ bốn cái hành tướng
(sanh, trụ, dị, diệt) nó trôi dời (biến
chuyển sanh diệt) luôn luôn, không hề an ổn
được, nên nói là hành khổ.
Rằng bát khổ, nghĩa là 1-Khổ về khi
sanh. 2-Khổ về khi lăo. 3-Khổ về khi bệnh.
4-Khổ về khi tử.
5-Đương thương yêu mà cảnh
ngộ buộc phải biệt ly là khổ về sanh ly.
6-Đương thù oán mà phải đối đầu
gặp nhau là khổ. 7-Mưu cầu sự ǵ cũng
bất thành là khổ.
8- Thân ngũ ấm nó lừng lẫy đủ
mọi khổ. Nghĩa là các cái khổ chánh như sanh, lăo,
bệnh, tử và đông nhiều khổ phụ
đều tụ hội dồn trong một cái thân, nên
gọi là ngũ ấm thành (đụng) khổ.
Rằng phần đoạn, bởi tâm c̣n
chấp nơi pháp tướng chẳng quên, nên Bậc Thanh
văn, Duyên giác, Bồ-tát c̣n phải thụ lấy cái
khổ của thân biến dịch sanh tử, v́ là nhân di
quả dịch; c̣n chúng lục phàm th́ bị cái bệnh ái
kiến(17) nó che phủ, không rơ cảnh giới là hư
vọng (cho căn thân, khí giới là vật chất
thực có), nên sanh khởi kiến hoặc, tư hoặc,
mà tạo những nghiệp của thân tam, khẩu tứ,
và ư tam để rồi thụ lấy các khổ của
thân phần đoạn sanh tử.
Rằng phiền năo, nghĩa là những cái pháp
hôn phiền, làm cho tâm thần (ư thức) năo loạn, cùng
với tâm làm phiền muộn, khiến cho tâm phải năo
loạn; nói hẹp th́ tam độc, thập ác, nói rộng
th́ một trăm lẻ tám điều phiền năo, cho
đến tám vạn bốn ngh́n các cửa trần lao.
Cửa trần lao, tức là muôn điều khổ lụy
vậy.
II.A.1.b- Sanh, lăo, bệnh, tử
Bẩm chịu cha mẹ thể vóc, mượn
các duyên chung nên thân này.
Câu trên nói rơ cái gốc sắc thân. Câu
dưới nói rơ mượn duyên hợp thành. Hai câu ấy,
tổng quát thuộc về cái pháp sanh khởi (chúng sanh
tự tạo kho), tức là cái nguyên thỉ muôn khổ
lụy đấy.
Bẩm tức bẩm thụ. Thể vóc, tức cái sắc
thân tứ đại. Từ thuở đầu tiên một
niệm điên đảo(18) lẫn lộn vào hai
điểm cấu uế là bạch tinh của cha, xích
huyết của mẹ để tổ hợp họp
lại thành cái thân thể của con, nên nói là “thể vóc”.
Mượn các duyên, mượn là tạm
mượn, cũng là nương nhờ.
Các duyên, tức bốn đại, sáu căn, và mười
hai nhân duyên.
Kinh Viên Giác nói “Bốn duyên mượn lẫn
với nhau hợp lại bằng cách giả dối thành
thân có sáu căn. Trong thân có sáu căn là mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ư. Bốn đại là địa,
thủy, hỏa và phong; với đất, nước,
lửa, gió nơi ngoài vũ trụ, hiệp lại thành
thân thể.”
Rằng tứ đại, tức đất,
nước, lửa, gió là bốn nguyên chất là
đặc, lỏng, ấm và hơi. Cả bốn
đại ấy, thể nó đều khác nhau, không có cái
tánh chắc thực, cũng chả thành chủ tể, mà
chỉ hay tự ḥa hợp làm thân. Ắt nhờ nơi cái
nhân (mười ác, mười thiện) đời
trước và các nhân duyên(19), ba việc mà thành thân thể.
Trái lại, th́ sắc thân không thành được nếu
chẳng đủ các duyên.
Mười hai nhân duyên, là nói “Bởi có cái
đây nên mới có cái kia, cái đây sanh khởi nên cái kia
mới sanh khởi.” Nghĩa là, từ cái vô minh duyên qua cái
hành, hành duyên qua thức, thức duyên qua danh sắc, danh
sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên
thụ, thụ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu,
hữu duyên sanh, sanh duyên lăo tử mà sanh khởi ra lắm
điều ưu bi khổ năo. Với cái khổ uẩn
(sắc thân) trọn lớn như thế, là bởi
nhiều nhân duyên tích tập lại mà sanh thành.
Song, mười hai pháp ấy, lần lựa hay
chiêu cảm lấy kết quả, nên nói là nhân, lẫn nhau
cậy mượn mà có, nên bảo là duyên, hễ nhân
với duyên tiếp tục nhau th́, đường sanh
tử cứ qua lại măi không biết đến đâu là
bờ mé!
Bằng phá được cái vô minh rồi th́,
chẳng c̣n sanh khởi cái thủ, cái hữu… nữa,
thế, đều dứt hết sanh tử của hai
mươi lăm hữu (loại) cả tam giới. Chính
chỗ bảo rằng đây (vô minh) không nên kia (hành) không,
đây diệt nên kia diệt. Là nói từ cái vô minh diệt
th́, cái hành diệt… nhẫn đến cái lăo tử
diệt, tức cả những ưu bi khổ năo, cái
“khổ ngũ uẩn” trọn lớn chứa nhóm từ
nhiều đời đều diệt hết.
Kư: Thân thể con người do mượn các
duyên tổ thành, nên chi, hễ duyên hiệp lại th́
hiện khởi lên làm sanh, c̣n duyên tan ră th́ diệt mất
làm tử.
Bởi thế, tất cả các pháp, pháp nào
cũng đều tùy theo nhân duyên chẳng tự có, mà
hễ nhân duyên đă sanh khởi nên chẳng không. Đă theo
các duyên mà có, nên trong cái pháp (thân thể) ấy, không có
phần tự chủ chắc thực thường c̣n.
Sách Chỉ Quán nói “Ngay nơi cái thân thể
của ta, từ đầu đến chơn, nào lóng, nào
đốt, mỗi mỗi xét cho kỹ, hẳn không
thấy có cái ta chủ tể th́, chỗ nào có người
và cả chúng sanh? Bởi cái nghiệp là (mười
thiện, mười ác) làm cơ quan, mượn nhau làm
nhóm ngũ uẩn luống không chủ tể đó thôi, v́
theo các duyên sanh khởi nên chẳng có phần tự
chủ.”
Mười hai nhân duyên, cũng tên mười
hai duyên khởi, lại tên mười hai duyên sanh. Nghĩa
là, nguyên trước không có thân thể mà, theo các duyên kia nên
có sanh ra ḿnh vóc, th́ gọi là nhân, sẵn có mỗi phần
mà theo cái nhân kia sanh khởi, th́ gọi là duyên.
1-Vô minh tức là tối tăm, nghĩa là,
bị cái vọng hoặc phiền năo là tham, sân, si… của
đời quá khứ, nó phủ che lấp cái chân tánh
(Phật tánh), không c̣n thấy biết rơ hiểu ǵ cả.
2-Hành hành tức là hành nghiệp, nghĩa là,
tại nơi đời quá khứ cái thân và cái khẩu làm
và nói ra tất cả những nghiệp hoặc thiện
hay bất thiện. Hai chi vô minh và hành ấy là cái nhân
của đời quá khứ.
3-Thức thức tức là cái thức tâm.
Nghĩa là, do cái nghiệp mê hoặc (thiện và ác) của
quá khứ nó lôi cuốn khiến cho cái thức ấy gá vào
mẫu thai, chỉ trong một sát-na (thời gian rất
ngắn), nhiễm cái ái làm giống, nạp cái tưởng
nên thai(20), tức thời, cái nghiệp thức nó lẫn
lộn với hai điểm tinh, huyết của cha
mẹ, tổ hợp thành một điểm, lớn
bằng hột đậu, trụ trong bào thai, cùng ḥa
hợp nhau với ba sự này: một là cái mạng căn,
hai là cái hơi ấm (dục hỏa), ba là cái thần
thức. Trong đó có cái báo phong(21), cái bào thai nương
theo báo phong (hơi thở), đó gọi là cái thọ
mạng(22). Tinh của cha, huyết của mẹ ra
đồng thời rập một nhịp th́ nó chẳng
hôi chẳng rữa, tên là noăn (ấm, lửa dục(23)),
trong đó (tinh huyết) cái tâm ư (của đứa con) tên
là thức. Ba sự (tinh, huyết, thức) như thế,
nếu thiếu một cái nào th́ cái bào thai ấy rục
hư, không thành trụ được. Đó là cái vị
trí bảy ngày đầu tiên của thai nhi ở trong
mẫu thai, tên là Ca-la-ra, nghĩa là cái trạng thái nó
giống như vết sữa đặc; từ đó
về sau, cái thai nó theo nơi hơi thở ra vào của
mẹ mà nó cũng ph́nh lên xẹp xuống, cứ mỗi
bảy ngày th́ cái thai nó biến triển một lần.
Sách Chỉ Quán nói “Khi mà con người đi đầu
thai, thần thức mới bắt đầu hợp cùng
tinh huyết, cái khối “tinh huyết thức” dính nơi
chỉ máu như sợi tơ ở cái rún của mẹ, v́
cái rún liên lạc qua để duy tŕ cái thai ấy. Nghĩa
là cái rún nó làm cái nguồn cho các ruột già, ruột non và cái
bao tử, trong khi cái thai nhi c̣n ở nơi mẫu thai,
lấy cái rún của mẹ, để nhỏ giọt vào
cái rún của con, nên mẹ ăn uống chi, sinh tố từ
nơi rún thấm vào để tư dưỡng cho con,
hơi thở cũng thế. Đứa con khi ở trong
thai vẫn nương hơi thở của mẹ, nên
lời tục nói “Nó ỷ hơi mẹ nó”.
4-Danh sắc, Danh là tâm, v́ tâm nó chỉ có cái danh
tự, chớ không có cái h́nh chất. Sắc là sắc
chất, nghĩa là từ sau khi gá vào thai bào của mẹ,
đến tuần thứ năm, tên là h́nh vị, v́
bấy giờ, đă nảy các căn h́nh, như mắt,
tai, mũi, lưỡi, tay, chơn đều phân biệt,
thế gọi là sắc; lấy tinh huyết của cha
mẹ làm thân căn chủng, thần thức (tâm) lẫn
ở trong đó, nên nhập chung lại xác và hồn,
gọi là danh sắc.
5-Lục nhập, nghĩa là từ ngày vào
mẫu thai về sau, đến tuần thứ sáu, tên là
phát-mao-trảo-xỉ vị. Đến tuần thứ
bảy tên là cụ-căn vị, nghĩa là sáu căn
đều mở trương ra, có cái tác dụng tiếp
xúc với sáu trần, nên gọi là lục nhập.
6-Xúc, tức là xúc đối, nghĩa là, từ
ra khỏi mẫu thai nhẫn đến cái thời gian
khoảng ba, bốn tuổi, cả sáu căn mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ư, tuy tiếp xúc với sáu
trần sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mà
chưa được mấy rơ biết nảy ḷng tưởng
là khổ là vui ǵ, nên gọi là xúc.
7-Thụ, tức là lănh nạp, nghĩa là,
từ khi năm, sáu đến mười hai, mười
ba tuổi, sáu căn xúc đối với sáu trần,
liền biết nạp thụ các sự tốt xấu
trước cảnh, mặc dù đă hiểu rơ phân
biệt, song cũng chưa mấy sanh khởi cái tâm tham ái
dâm nhiễm.
Năm món trên là cái quả của hiện
tại.
8-Ái, ái tức là tham ái, nghĩa là, từ cái
thời gian mười bốn, mười lăm
đến mười tám, mười chín tuổi, mới
thực là ham thích mỗi mỗi đồ vật tốt
đẹp, và các cảnh dâm dục, nhưng hăy có thể
rộng khắp ra để theo dơi t́m ṭi, nên gọi là Ái.
9-Thủ, thủ là t́m lấy, nghĩa là, từ
hai mươi tuổi về sau, cái ḷng tham ái càng thạnh,
đối với năm cảnh trần sắc, thanh,
hương, vị và xúc, biết rong ruổi cả bốn
phương để t́m kiếm, nên gọi là Thủ.
10-Hữu, hữu là hậu hữu, v́ nhân
quả chẳng mất, nghĩa là, nhân v́ t́m lấy các
cảnh, tạo ra nghiệp thiện hay nghiệp ác, đă
có chứa chất những nghiệp ấy rồi nó
sẽ lôi cuốn đi thụ sanh để chịu
quả trong ba hữu là Dục giới, Sắc giới và
Vô sắc giới.
Ba cái chi trên đây là cái nhân của hiện
tại.
11-Sanh, sanh tức là đi thụ sanh, nghĩa
là, đời nay ta tạo nghiệp thiện hay nghiệp
ác của thân, khẩu, ư th́ nghiệp ấy nó dẫn đi
qua đời sau phải thụ sanh trong lục đạo
giữa tam giới.
12-Lăo tử, lăo là cái thân căn đă già như
trái cây chín muồi. Tử là cả các căn đều
hư hoại. Nghĩa là, với đời sau, đă
thụ sanh ra đến thời kỳ mà thân ngũ ấm
già muồi, gọi là Lăo; đă chín muồi rồi th́
phải hoại diệt, nên gọi là Tử.
Hai món ấy là cái quả của đời
vị lai.
Cả mười hai chi trên là cái pháp sự
của nhân quả ba đời tuần hoàn chẳng
dứt. Do v́, cái vô minh và hành làm “nhân” từ đời quá
khứ nên chiêu cảm lấy các cái thức, danh sắc,
lục nhập, xúc, thụ làm “quả” cho đời
hiện tại; kế đó, v́ do cái quả ấy, lại
sanh khởi cái ái, thủ, hữu làm “nhân” cho đời
hiện tại; v́ do cái nhân ấy, lại chiêu cảm
lấy cái quả sanh lăo tử cho đời vị lai.
Ôi! Trong thời chịu quả lại tạo ra
nhân, bởi có nhân lại phải chịu quả, ba
đời cứ tiếp tục nhau luôn, không hề
ngớt dứt, tỷ như cái vành bánh xe lăn tṛn, nên nói
rằng luân hồi.
Tuy là, bốn đại giúp giữ, mà
thường trái nghịch nhau.
âu trên giả họp, v́ lấy bốn
đại làm thân; câu dưới quai thuận, v́ khí
huyết bất điều, như thủy thạnh,
hỏa suy, phong cường, địa nhược, nên nói
là tương vi.
Nguyên con người bao lăm lấy bốn nguyên
chất tế bào là địa, thủy, hỏa, phong bên
ngoài để hợp tập lại thành lập thân
thể, cùng giúp giữ nhau để chấp tŕ sanh
mạng, sống ở một thời kỳ bao nhiêu
tuổi đó.
Song, với trong thời gian ấy, nó thường
thường khi thuận, khi nghịch lẫn nhau hễ
một đại chẳng được điều ḥa
th́ sanh ra một trăm lẻ một chứng bệnh;
nếu bốn đại đều chẳng điều
ḥa th́ bốn trăm lẻ bốn chứng bệnh
đồng thời đều làm đau đớn.
Nói đại ấy, nghĩa là bốn pháp
đây, không chỗ nào chẳng có nó, thể nó khắp
cả các phương sở, khu vực, nên gọi là
Đại.
Vạn sự, vạn vật đều do
tứ đại tổ họp thành tượng thành h́nh.
Ở bên ngoài (vũ trụ) th́ là đất, nước,
núi, sông. Ở nơi trong (căn thân) th́ làm tứ chi, bách
hài(24). Bốn đại tụ lại th́ làm sanh, tán ra th́
làm tử. Khi sống th́ làm đặc, lỏng, ấm,
hơi trong thân thể; khi chết th́ làm đất,
nước, lửa, gió ngoài khí giới.
Thế, trong ngoài dù khác, mà tứ đại
chẳng lạ ǵ nhau.
Những thứ mà tánh chất cứng là
thuộc về địa đại, như tóc, lông, móng,
răng, da, thịt, gân, xương…. Các thứ đây
chẳng tự ḥa hợp được, nếu chẳng
mượn thủy đại.
Những thứ tánh chất lỏng, ướt
thuộc về thủy đại, tức là nước
mắt, nước miếng, đồ khạc nhổ,
nước tinh dịch(25), nước tiểu tiện…,
mấy thứ đây, nếu chẳng mượn
địa đại th́ liền tan chảy.
Thứ có tánh chất nóng th́ thuộc về
hỏa đại, tức là noăn khí(26) trong thân
người. Ôn độ này nếu chẳng mượn
phong đại không thể tăng trưởng
được.
Thứ có tánh diêu động th́ thuộc về
phong đại, tức hơi thở ra vào, và sự
động chuyển của thân thể, nếu chẳng có
cái phong đại này th́, thi thể không cựa quậy, làm
lụng ǵ được.
Song, bốn đại ấy, tánh cách nó riêng
vốn không bệnh hoạn chi; duy v́ các duyên tập hợp
lại, hoặc cái này tăng phần cái nọ giảm,
thạnh suy, xung khắc với nhau, thành thử bệnh
hoạn do đó phát sanh.
Nên chi, hễ địa đại tăng
phần th́, nó làm cho cái thân thể phải trầm
trọng. Thủy đại mà tích ứ lại th́, nó trái
với b́nh thường, v́ sổ mũi nước,
khạc nhổ. Hỏa đại thạnh th́, đầu
và hông nóng ngăn. Phong đại nổi động th́
hơi thở kḥ khè. Tức là những chứng bệnh
trầm trọng (thuộc địa đại), đàm ấm
(thuộc thủy đại), hoàng nhiệt (thuộc
hỏa đại) và khí phát thuộc phong đại.
Do bốn bệnh gốc ấy, mà nảy ra
nhiều bệnh chi tiết, kể có bốn trăm lẻ
bốn chứng bệnh. Nghĩa là, phong bệnh một
trăm lẻ một chứng, hoàng bệnh một trăm
lẻ một chứng, bệnh đàm ấm có một
trăm lẻ một chứng, bệnh tổng tập(27)
có một trăm lẻ một chứng.
Với các chứng bệnh hoạn như
thế, không giờ nào chẳng có, nên nói “thường trái
nghịch nhau”.
Kư: Đại Luận nói “Mượn bốn
đại làm thân, mà nó thường xâm hại nhau, nên trong
mỗi mỗi đại đều sanh khởi ra một
trăm lẻ một món bệnh.
Bệnh hàn lănh có hai trăm lẻ hai chứng,
v́ thủy đại, phong đại phát khởi. Bệnh
viêm nhiệt có hai trăm lẻ hai chứng, v́ địa
đại, hỏa đại phát khởi.
Bệnh thuộc hỏa đại th́ hiện
cái tướng nóng; bệnh thuộc địa đại
th́ hiện tướng chắc (bỉ ngảnh), bởi
tướng chắc, nên vật thực khó tiêu, khó tiêu nên có
thể phát sanh bệnh nhiệt.
Huyết, nhục, gân, cốt, mạch, tủy…
thuộc về phần địa đại; trừ ra cái
bệnh nghiệp báo(28). Tất cả pháp (bệnh
chứng) đều bởi nhân duyên (nguyên nhân) ḥa hợp mà
phát sanh thành chứng bệnh.
Sách Phụ Hạnh nói “Người mà tứ
đại chẳng điều nhuận là hành dịch (lao
động) không giờ khắc (quá độ), như
ỷ mạnh dạn gánh vác quá sức, xông pha khi quá
lạnh quá nóng, nhiệt độ bên ngoài nó giúp cho hỏa
đại bên trong, hễ hỏa thạnh th́ phá thủy,
thế là tăng hỏa bệnh. Cơn lạnh rét bên ngoài
nó trợ thủy đại, hễ thủy tăng th́ nó
hại hỏa, thế là bệnh thuộc về thủy.
Phong bên ngoài nó xúc động cho phần khí bên trong, khí
(hơi thở) nó thổi nơi hỏa đại, lửa
nó nóng động nơi thủy đại, thế là
bệnh thuộc về phong đại.
Hoặc ba đại kia đều tăng lên
bằng cách đồng phần th́ làm hại cho địa
đại gọi là bệnh đẳng phần; hoặc
thân phần tăng lên (quá ph́) th́ hại cả ba
đại (thủy, hỏa, phong) cũng gọi là bệnh
đẳng phần, thuộc về địa bệnh.
Ăn uống không chừng đỗi, chẳng
hợp cách vệ sanh, cũng có thể sanh bệnh, như
gừng, quế, ớt là vật vị cay độc th́ nó
tăng cho bệnh thuộc về hỏa; mía, mật
vị nó ngọt lạnh th́, nó tăng cho thủy
đại (thủng nước). Ăn trái thơm, trái khóm
nhiều th́, nó tăng cho bệnh phong; ăn nhiều
dầu mỡ chất nhớt th́ nó tăng cho địa
đại tức bệnh trầm trọng; ăn dưa
vàng (bí ngô, bí rợ) nhiều th́ nó làm trợ duyên cho bệnh
nhiệt (bệnh ṭng khẩu nhập), tức là ăn
những vật thực không yên lành mà sanh ra bệnh.
Người xưa nói “Bệnh bởi miệng
vào, họa từ miệng ra”. Đây gọi thế
chăng?!
Cơn vô thường (chết), già, đau
chẳng cho người hẹn.
Câu trên, rơ ba cái tướng khổ; câu
dưới, rơ rằng không phần làm chủ. Ba cái
tướng ấy vốn không, với trong đó t́m ra,
nguyên chẳng có ta th́, có chi làm tự chủ đặng,
để tự ư ḿnh cùng đó hẹn ḥ. Trừ chăng
người đă thức tâm đạt bổn (minh tâm
kiến tánh) rồi, mới có thể làm chủ hẹn ḥ
được, kêu bằng “sanh tử tự do”. C̣n
những kẻ mê muội th́ chẳng biết ǵ cả, v́
vẫn cũng “túy sanh mộng từ”.
Vô thường: không thường c̣n bền
bỉ ǵ, nghĩa là, nguyên trước vốn không mà nay in
tuồng như có, nhưng có bằng cách giả tạm mà
rốt lại cũng không, tức là một sát-na cũng
không đ́nh trú v́ mỗi niệm, mỗi niệm, biến
đổi luôn luôn, nên bảo là vô thường.
Từ ra khỏi mẫu thai, đến lớn
(ba mươi tuổi), đến già (sáu mươi
tuổi), đến bệnh, đến lúc sanh mạng cùng
tận, mà trong chặng giữa đều mỗi niệm
trôi dời, ư thức chẳng hề an trụ, nên nói là vô
thường, mà nó cũng là cái tên khác của cái chết
đấy!
Lăo: Già, các căn muồi mẫn già nua, thân h́nh
khô khan, nhan sắc tiều tụy, tinh thần lú lẫn,
tóc bạc mặt nhăn, nghĩa là sắp chết
chẳng c̣n bao lăm nữa.
Bệnh: Bốn đại đều chẳng
điều ḥa, do đó, lần hồi sanh ra bốn
trăm chứng bệnh, thân lực b́ quyện, ăn
uống không tiêu, tinh thần sút kém, khi ngồi lúc dậy
nhờ người nâng đỡ, nên gọi là bệnh.
Vô thường, tức là tử, bằng theo
thứ lớp nương nhau của pháp hệ th́, cái
tử ở rốt sau (như sanh, lăo, bệnh, vô
thường), mà nay đây để vô thường ở
đầu câu là, v́ thể nó phổ biến hết
thảy suốt trùm cả các pháp sanh, lăo, bệnh, tử,
phải vậy.
Kư: H́nh luôn luôn chẳng trụ, ư niệm
niệm không dừng, gọi là vô thường. Kinh nói
“Sức của vô thường quá lớn, chóng kíp hơn núi
lở, nước lên”. Chiết Luận nói “Có ba thứ vô
thường 1-Mỗi niệm hoại diệt. 2-Vừa ḥa
hợp rồi ly tán. 3-Sự vật chi chi, rốt cũng
vô thường như thế.”
II.A.1.c- Sanh diệt thời tốc
Sớm c̣n tối mất, sát-na đời khác.
Câu trên, nói về đời hiện tại; câu
dưới, rằng đời sau. Hai câu ấy đều
giải thích về nghĩa của vô thường; văn
dưới kia, lại dùng các vật sương, móc
để tỷ dụ cho rơ thêm.
Rằng sát-na là thời giờ cực kỳ
ngắn và chóng. Nghĩa là người mà đến khi
sắp thở hơi cuối cùng, để xả mạng
sống th́, chỉ ở trong một sát-na rốt sau,
tức là cái ngày mà sáu căn hoại diệt, lúc thần
thức dời ĺa là, cái thời mà nghiệp thức nó
bỏ cái xác cũ, riêng thụ cái thân mới khác.
Thức, tức là thức thứ tám tên là
A-lại-da. Khi người ta chết th́ thức này ở
rốt sau mới ĺa xác, khi đi đầu thai th́ nó
đến trước nhứt, nghĩa là, chỉ trong
một sát-na, thức ấy bị hít lẫn vào tinh
huyết của cha mẹ, kết tinh trụ trong thai
tạng, để rồi cũng vẫn làm cái căn cho
sanh tử và, là cái nguồn cho khổ quả.
Kư: Thức có tám món 1-Nhăn thức. 2-Nhĩ thức.
3. Tỷ thức. 4-Thiệt thức. 5-Thân thức. 6-Ư
thức. 7
Mạt-na thức. 8-A-lại-da thức.
Ví như sương xuân, móc sớm, chốc lát
liền không.
Câu trên lập dụ cái thể vô thường;
câu dưới giải thích cái tánh vô thường. Do v́
sương móc hễ gặp ánh nắng của mặt
nhật th́ liền tiêu tan, thể nó chẳng bền
chắc mà tánh nó cũng vô thường.
Thí như, là lập lời tỷ huống. Thúc
hốt: chốc lát, tức tạm có rồi không.
Kư: Hai câu bổn văn đây là, để
giải thích hai câu “Triêu tồn tịch vong…” trên kia là, chung
rơ cái thời giờ quá chóng. Thúc hốt: rất chóng quá phi
ư nghĩ toan kể ǵ kịp đặng.
Sách Tông Cảnh nói “Tuy sống trăm tuổi,
dường một sát-na, in tuồng làn sóng sắp nhào
khơi, ví tợ ánh thừa hầu khuất núi, ví
đốm lửa đánh đá nháng, như bóng ngựa
trước song (cửa sổ) nhanh, là móc sớm
đọng đầu ngọn cỏ, đèn mọn chong
giữa gió dông, cây c̣i cọc nơi mé sông, luồng chớp
nháng ḷa con mắt. Đó, thân mạng người mong manh vô
thường như thế, vẫn ắt đọa
nơi u đồ, nếu chẳng gặp được
chánh pháp.
Cây vực, dây giếng, đâu được
lâu dài!
Câu trên, chỉ ra cái thể của thân mạng,
câu dưới giải rơ nghĩa của kiếp sống.
Ôi! Cây mọc nơi mé sông, phi dài năm, hai chuột cắn
dây, há lâu thuở!
Kinh Đại Tập nói “Xưa có một
người, v́ sợ tránh hai con voi say, bện dây đùng
đeo xuống giếng, dưới đáy giếng có ba
con độc long hà hơi trương móng, người
liền nắm dây ṭn ten ở lưng chừng; trên
miệng giếng có hai con chuột đen và trắng
cắn dây sắp đứt. Chung quanh có bốn con
độc xà muốn cắn nhả nọc độc.
Người ngửa mặt trông lên, thấy hai thớt voi
đă tới sát miệng giếng, lo sợ vô cùng không
chỗ nương gá!
Chợt có con ong mật bay đến,
để năm nhỏ mật vào miệng, người
ấy nuốt mật rồi, quên hẳn điều nguy
sợ(29).
Chừ, đem hai con voi say để tỷ
cơn sanh tử. Dây là dụ cái mạng căn; vào
giếng là ví cơn vô thường; hai con chuột(30) là
dụ nhật nguyệt; bốn rắn thí tỷ tứ
đại; ba rồng là ví tam độc; năm nhỏ
mật là dụ ngũ dục lạc. Tam độc, là cái
nguyên nhân ba ác đạo, nên hễ dây mà đứt, tức
có cái hoạn nạn đọa lạc!
Kư: Bổn văn có hai câu, để giải rơ
một câu “Bất dữ nhân kỳ”, đấy là chỉ
cho người đều biết cả năm, tháng, ngày,
giờ rất chóng qua (ngày tháng như thoi, người
dễ già).
Thân căn dường cây đứng mé sông, gió
nghiệp một khi thổi đến, phi sức mạnh
nào có thể tŕ giữ vững được; mạng
sống như dây ḅ trong giếng, ngày tháng mỗi kém ṃn qua,
khiến người không nhớ biết. Cây đứng
nơi ngàn sông, là tỏ cho biết rằng năm tuổi
chẳng dài lâu; dây giếng, là ví rằng ngày tháng chóng mau.
Rằng dây giếng, là cái dây nó mọc ḅ tḥng
nơi bên giếng; hoặc nói rễ cây nó đan vào ḷng
giếng, nghĩa là cái giếng khô trên g̣ nổng.
Ngài La-Thập pháp sư nói “Thuở xưa có
người tội phạm, sợ tội h́nh vượt
ngục trốn chạy. Nhà vua truyền thả voi say
rượt theo, tội nhân sợ quưnh tự gieo ḿnh
xuống giếng khô…”
Tam độc là tham lam, sân hận và si mê. Tam ác
đạo là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Ngũ dục: năm điều ưa muốn,
tức sắc đẹp, tiếng tốt, chất
thơm, mùi ngon, thân ưa cảm xúc sự sang trọng, sung
sướng. Hoặc có chỗ dùng tài, sắc, danh,
thực, thùy làm ngũ dục. Nghĩa là, chúng sanh say mê
nơi chút vui ngũ dục đó mà, trọn quên các khổ
rất hiểm nguy của sanh tử!
Niệm niệm chóng mau.
Niệm, là cái vọng niệm nơi tâm sanh
diệt của phàm phu, nghĩa là, niệm trước
chưa diệt, niệm sau tiếp sanh, mỗi niệm
cứ sanh diệt măi như thế. Tỷ như đèn
cháy tim, lửa cháy đến đâu tim tàn đến
đó, măi thế chẳng ngừng; với cái hiện
tượng sanh diệt quá chóng mau như thế, phi
bực đủ huệ nhăn th́ chẳng thấy.
Kư: Đấy là nói rơ cái “niệm” quá nhanh, là
bởi vọng niệm, nên sanh diệt măi chẳng hề
tạm đ́nh, chớ như chân tâm th́, vẫn
thường trụ không dời đổi.
Trong một sát-na, hơi thở tắt rồi,
tức là đời sau.
Tiếng Phạn là Ksana (sát-na), đây rằng
một niệm, tức là cái thời gian cực kỳ
ngắn mau.
Luật Tăng-kỳ nói “Hai mươi niệm
làm một thuấn (nháy mắt), hai mươi thuấn, kêu
là một đờn chỉ (khảy móng tay).
Luận Câu-xá nói “Trong một cái đờn
chỉ của tráng sĩ, có sáu mươi lăm cái sát-na”.
Song, có đại niệm, tiểu niệm, trong
một đại niệm, có chín mươi cái sát-na, trong
một cái sát-na có chín trăm cái sanh diệt.”
Trên đây nói một sát-na đó, tức là cái
tiểu niệm.
Tức, là hơi thở ra hít vào, cái hơi
thở ấy, gọi là cái mạng sống, nghĩa là, dùng
một thời kỳ làm tuổi thọ, giữ liền
được cái sanh thân nói rằng mạng. Trong một
thời kỳ giữ liền hơi thở chẳng
dứt, nên gọi hơi thở ra vào là thọ mạng.
Chuyển tức là hơi thở ra rồi mà không hút vào
lại nữa, nên nói tắt thở, tức là mạng
chung. Đấy, chỉ ở trong khoảng một sát-na,
tức là khi thức thứ tám nó bỏ thân tiền ấm
để đi thụ cái thân hậu ấm.
Ở đây, chẳng nói cái trung ấm là,
hễ nói lên cái trước, cái sau th́ có kiêm cái trung ấm rồi.
Lại, tuổi của thân trung ấm, hoặc
chậm hoặc mau không nhất định hễ chậm
th́, chỉ bốn mươi chín ngày là măn kỳ, v́ đi
đầu thai; c̣n mau th́, rất chóng hơn tâm niệm, nó
liền xả thân trung ấm mà thụ thân hậu ấm.
Lai sanh: Đời sau, tổng quát lục
đạo, v́ tùy theo sở hành thiện nghiệp, ác
nghiệp như thế nào mà, phải thụ quả báo sanh
ở vào chỗ nấy.
Kư: Hai câu của bổn văn đây, tức
giải thích nghĩa của một câu “sát-na dị thế”
(sát-na đời khác) nơi văn trên kia. Văn đây, nói
rơ sát-na là rất chóng kíp.
Hành mười thiện bực thượng,
được sanh lên thiên đạo; hành mười
thiện bực trung sanh lại giữa nhân loại; hành
thập thiện bực hạ sanh ở cơi A-tu-la.
Hành thập ác hạng nặng, đọa ở
địa ngục; hành thập ác hạng vừa, sanh làm
ngạ quỷ; hành thập ác hạng nhẹ đọa làm
súc loại.
Thuấn là con mắt nháy động.
Thân trung ấm, là con người khi mạng
chung, sau cái lúc mà hơi thở ra hút vào dứt hẳn,
thức thứ tám rời thân tiền ấm (tử thi),
liền hóa sanh ra thân trung ấm, h́nh bằng con nít ba
tuổi của nhân gian, ở giữa hư không, mắt
của nó chỉ thấy mịt mờ mà thôi, ăn
hưởng hơi hương để sống.
Dầu ở cảnh giới tối tăm, v́
nghiệp chướng khiến thế, nhưng chỉ
với chỗ nào có duyên, nó liền thấy cái ánh sáng
dục hỏa của giống đực giống cái
(sẽ làm cha mẹ nó) đương giao hội hành dâm,
tùy ư niệm của nó tức th́ đến liền,
nạp lấy cái tưởng điên đảo(31), trong
một sát-na, thức nó hút lẫn vào hai điểm
bạch tinh, xích huyết của cha mẹ (thân trung ấm
diệt) mà tổ thành thân hậu ấm.
Hoặc kẻ sắp làm cha mẹ của nó
không giao hội, v́ bệnh duyên hay chuyện chi khác, hoặc
địa phương đi thụ sanh của nó chưa
ổn định th́, cái thân trung ấm của nó, mỗi
bảy ngày phải chết một lần, rồi hóa sanh trở
lại (để đợi chỗ có duyên giao hội),
nhẫn đến bốn mươi chín ngày, ắt
quyết định được gá sanh. Nên chẳng
sớm th́ chầy, không ngoài bảy lần bảy ngày(32).
Bằng như, nghiệp duyên của thân trung
ấm đă định hoặc sanh làm chúng sanh ở cơi
người, cơi trời, hoặc đọa làm chúng sanh
ở loài quỷ, loài súc th́, chỉ trong một sát-na, nó
bỏ thân tiền ấm, thụ thân trung ấm, xả thân
trung ấm, thụ thân hậu ấm. Trong thời gian
xả thụ như thế, chóng hơn cái chớp sáng, phi
cái tâm nhăn của phàm phu thấy xét được mà, duy có
Phật mới thấy biết kịp.
Thế sao? Yên lặng bỏ trống qua.
Hà năi như hà vi: Thế sao, mần răng!?
Cũng là lời hỏi giằn gạn lại và, cũng
là lời thừa tiếp văn trên chuyển qua văn
dưới. Do v́ trên, chỉ thị ra cho biết
điều quá hoạn của sanh tử, cơn vô
thường vội gấp! Đến dưới,
khiến cho giác ngộ rằng đă xả tục nhập
đạo, y nơi pháp tu hành, kỳ cho ra khỏi luân
hồi.
Yến nhiên như là an nhàn vô sự; là có ư chung
lại bảo rằng sáng bóng (ngày đêm, giờ phút) nhanh
chóng, sanh mạng của người là vô thường!
Cớ sao? Trọn ngày, chỉ cốt lấy ăn no, tâm vô
dụng vào giới định huệ ǵ mà, mải cứ
yên rảnh, ăn rồi ngồi không, bỏ luống qua
ngày, chẳng toan tiến lên, để hầu giải thoát
sanh tử ư!?
II.A.1.d- Vi tục nhập đạo
Đối với cha mẹ, đă chẳng dâng
mùi ngon ngọt, sáu thân hẳn đă xa ĺa.
Câu trên, thiếu về nghĩa phản bộ sú
lại(33); câu dưới, thiếu về nghĩa kính ḥa.
Phụ mẫu là thiên địa(34) của
kẻ làm con.
Kinh Thi(35) nói “Thương thương cha
mẹ, khó nhọc sanh ta, muốn trả ơn ấy,
trời cao chẳng tột!”(36).
Kinh nói “Người có cúng dường cha mẹ
đặng vô lượng phước”.
Phật dạy “Đối với con cái, cha
mẹ có công tăng ích rất lớn, v́ bú sú chắt chiu,
tùy thời dưỡng dục, thân thể trưởng
thành. Dẫu có người, vai hữu cơng cha, vai tả cơng
mẹ, trải đủ trăm năm ỉa đái trên
lưng, không có ḷng giận. Bốn việc cúng dâng(37) không
cho chậm thiếu, làm con được thế, hăy
chẳng đủ trả ơn sâu của cha mẹ”.
Người con muốn báo ân, cần khuyên cha
mẹ đối với các pháp nhân quả của Phật,
Pháp, Tăng, như chưa tín ngưỡng, phải
khởi ḷng tin, hoặc đă tin rồi, khuyên càng tăng
trưởng; như chưa giữ tịnh giới, khuyên
thụ tŕ giới; hoặc có ḷng rít tham, khuyên tu bố thí;
như có ngu muội, khuyên tu trí huệ, khiến ở an
lành, để tự sửa tánh. Làm con được
vậy, mới bảo báo ân một cách chân thật.
Lục thân: 1-Cha. 2-Mẹ. 3-Anh. 4-Em trai. 5-Vợ.
6- Con, là sáu nghĩa thân.
Lại nói: 1-Cha. 2-Con. 3-Anh em con nhà túng
phụ(38). 4-Anh em con nhà túng tổ (39). 5-Anh em con nhà tằng
tổ(40). 6-Anh em trong cả họ.
Khí ly: bỏ ĺa, kinh nói “Người thụ
giới xuất gia Bồ-tát, đă xả ly sáu nghĩa
thân, chẳng ghi chẳng nhớ, siêng tu đạo
hạnh, v́ để được mau thành quả
Bồ-đề, hầu cứu độ thất tổ
cửu huyền.”
Kư: Cam chỉ là món ăn rất ngon. “Hăy c̣n
chẳng đủ trả ơn của cha mẹ” đó, là
dù có kính nuôi, không trái sắc mặt của cha mẹ(41)
chăng nữa, cũng không thể đem tinh thần
của cha mẹ để siêu lên cơi trên đặng.
Muốn lợi ích cho thần linh cả nhiều
đời th́, ắt phải khuyên cha mẹ thọ ngũ
giới, tŕ tịnh trai, lo tu phước huệ.
Như người con đă xuất gia rồi,
mà cha mẹ nghèo thiếu không thể tự sống
được; Phật dạy “Người làm con về
khuyên cha mẹ phát khởi ḷng tín ngưỡng, trao cho tam
quy, ngũ giới, nhiên hậu người con đi
khất thực để cúng dường”.
Tổ Nam Sơn nói “Người chân chánh
xuất gia là, sợ bốn oán thù(42) nhiều khổ, chán
ba cơi đều vô thường, từ biệt t́nh chí bi
của lục thân, hy sinh ḷng đắm sâu nơi ngũ
dục. Đó, xuất gia được như thế,
mới gọi là chơn xuất gia. Thế th́, nối
thạnh ḍng Tam Bảo, độ thoát cả tứ sanh,
lợi ích rất sâu, công đức vô lượng.”
Đă không tài trị an việc nước,
lại chấm dứt nối dơi nghiệp nhà.
Câu trên là thiếu giúp nước ơn dân; câu
dưới là thiếu thờ nhà con nối.
Người xuất gia làm Thích tử là, bỏ
sự đẻ nuôi nối thờ thay v́ nối thạnh
giống họ Tam Bảo(43), dù tợ hồ có thiếu
sự trung hiếu. Song, lo lập thân hành đạo,
để rồi đem đức giải thoát báo đáp
ơn mẹ cha; thuyết pháp khuyến thiện, để
rồi phổ biến tu tŕ, tự nhiên giúp dân nước.
Đó, báo đức như thế, tưởng không chi
bằng. V́ trung hiếu trên tinh thần đạo
đức, cả pháp giới chúng sanh, chứ chẳng
chỉ một cha nhà, vua nước.
Thuở xưa, Tống Văn Đế bảo
ông Hà Thượng Chi rằng “Ước được
cả nước đều thấm nhuần thuần
thục Phật hóa th́, trẫm được ngồi yên
để hưởng phước thái b́nh”.
Hà Thượng Chi thưa rằng “Vả
chăng, trong làng chừng trăm nhà, có mười
người thụ tŕ ngũ giới th́, mười
người ấy được hiền lành; một thành
ấp chừng ngh́n gia đ́nh, có trăm người tu hành
thập thiện th́, trăm người đó ḥa thuận.
Nghĩa là, người mà có thể làm được
một việc lành th́ bỏ được một
điều ác; hễ cá nhân bỏ một điều ác th́
chánh quyền dẹp được mọi luật h́nh.
Tại nơi nhà khỏi một luật h́nh th́, nơi
nước nghỉ luôn vạn điều luật h́nh.
Đấy là cái ư chỉ rất rơ về
chỗ bảo rằng “Ngồi yên trên ngai mà tạo nên
cảnh huống thái b́nh đó vậy”.
Kư: Văn trên, nói rơ về nghĩa trái với
hiếu trung của tục đế; văn dưới,
nói rơ về nghĩa thuận với đạo đức
của chân đế.
Xa ĺa nơi làng xóm, cạo tóc vâng đức
thầy.
Câu trên ĺa tục đế, câu dưới vào
đạo đế.
Miến: xa, nghĩa là xa ĺa nơi hương
tục, hướng đến cảnh vô vi(44), tức là
hy sinh gia đ́nh mà tiến nơi phi gia thất (chùa
chiền).
Xuống tóc vâng thầy bỏ cái dung nghi ngoài
tục, dẹp cái tốt đẹp trong đời,
giống hệt Như Lai, v́ đủ cái đức
tướng viên đảnh phương bào của
Phật; vâng chịu mạng lệnh của đức
thầy, v́ theo thầy để chịu học
đạo, đấy chính là cái quy thức nhập
đạo, cái hồng phạm xuất thế.
Kư: Người thế tục họ dùng râu tóc
để trau tria cho thêm vẻ đẹp nơi dung nghi;
người xuất gia làm Tỳ-kheo, đă khác tục,
mộ đạo, bỏ sự tốt của đời
mà dứt hẳn ân ái.
Thời đại ngày nay, giới xuất gia
cũng có kẻ để râu, dài tóc mà tự hào là tu
hạnh đầu đà, thế cái danh tướng đă
mâu thuẫn mà, cái điệu hạnh cũng trái
ngược nữa.
Tiếng Phạm là Dhùta (đầu-đà),
dịch đẩu tẩu, là phủi giũ, nghĩa là
phủi giũ những bụi trần lao là phiền năo
cả ba giới.
Tu hạnh này, có mười hai pháp(45). Ngày nay,
họ để đầu tóc chơm bơm mà tự hào là
đầu đà đó rất là sái quấy!
Phật quở “Để dài râu, tóc, móng là cái tướng
phá giới của ác Tỳ-kheo. Hoặc Tỳ-kheo riêng
ở một ḿnh nơi a-lan-nhă, không người cạo
giùm th́, cho phép để tóc dài chừng một tấc,
nếu cũng không biết tự cạo, móng tay dài
chừng một hột thóc, chẳng đặng để
dài hơn.”
Bỏ gia đ́nh, đến chốn phi gia,
bỏ cái nhà có sanh đẻ của thế tục mà vào
nơi cái xá thanh tịnh vô vi.
Đức Văn Thù Bồ-tát bạch Phật
rằng “Đức Như Lai đă nói ơn rất lớn
của cha mẹ, chẳng khá chẳng trả, lại nói
thầy (bổn sư) và chúng tăng có ơn cũng
lớn, chẳng thể cân lường; vậy, th́ ơn
bên nào rất lớn hơn?”
Phật dạy “Kẻ tại gia dẫu
thường lân la dưới đầu gối của cha
mẹ để phụng sự hiếu kính đi nữa,
cũng chưa đủ trả ơn sanh thành, do công ơn
quá sâu v́ sanh dục, nên nói ơn của cha mẹ rất
lớn; c̣n như người theo thầy xuất gia
học đạo th́, ơn này cũng rất lớn, v́
nhờ bổn sư mở bày cho ta được thấy,
nghe, hiểu biết đạo lư giải thoát sanh tử,
để ra khỏi sông mê biển khổ.
“So ra để cân nhắc người xuất
gia là đă bỏ cái nhà có sanh đẻ của cha mẹ,
tiến vào trong pháp môn, thụ học cái pháp vi diệu,
đó là do đạo lực của bổn sư sanh
trưởng cho cái Pháp thân, đưa ra cái pháp tài,
để nuôi lớn cái mạng trí huệ th́ không cái công
nào lớn bằng, vói so ra th́, cái ơn sở sanh của
phụ mẫu chỉ lớn ở hạng thứ mà thôi”.
V́ ơn sanh trưởng huệ mạng hơn ơn sanh
trưởng nhục thân, huống nữa là giải thoát
sanh tử.
Hương đảng, hương:
hướng tới, nghĩa là chỗ của chúng nhân qui
hướng; đảng: bằng đảng, xưa
định lấy năm gia đ́nh làm một đảng.
Sách Chu Tể nói “Trong khu trăm gia đ́nh, sắp làm
một hương”. Sách Hán Chí ghi “Sắp năm gia đ́nh
làm một lân; năm lân lập làm một lư; bốn lư
lập làm một tộc; năm tộc lập làm một
đảng; năm đảng lập làm một châu;
năm châu lập làm một hương. Đấy là
lấy số một vạn hai ngàn năm trăm nóc nhà
sắp làm một hương.
Bẩm: Thụ mạng.
Trong siêng cái công hay chánh niệm, ngoài rộng cái
đức chẳng chấp giành.
Câu trên, rơ cái niềm chánh niệm, câu
dưới rơ cái đức ḥa kính. Nghĩa là, trong ḷng
rất thiết quán niệm trí huệ, ngoài hạnh mở
rộng nghĩa vụ lục ḥa. Đấy là cái công huân
nhập đạo, cái cơ bản lập đức.
Ngài Tăng Triệu nói “Nhà sư mà phi chân tâm th́
không lấy đâu đủ sáu pháp; phi sáu pháp th́ chẳng
do đâu ḥa hợp quần chúng. Đấy là phi cái gốc
kính thuận, nên chúng không phục ḥa!”
Kư: 1-Với giới phẩm, ḥa hợp
đồng thụ đồng tu. 2-Với tri kiến, ḥa
hợp đồng chỉ đồng hiểu. 3-Với
thân khu ḥa hợp đồng an trụ. 4-Với tài lợi
ḥa hợp đồng chia hưởng. 5-Với khẩu
thiệt ḥa hợp không cải giành. 6-Với ư niệm ḥa
hợp đồng vui mến.
Giải thoát gia đ́nh, mong hẹn ra khỏi.
Câu trên, ly khai nhà thế tục; câu dưới
siêu xuất nhà tam giới. Người mà muốn thoát ly cơi
trần tục th́, cần phải cất bước siêu
việt hẳn địa phương. Kỳ cho
được thoát ly tam giới luân hồi, lục
đạo sanh tử th́, cần nhất phải
đoạn hẳn phiền năo, thế mới phu phỉ
cái bổn thệ(46) lúc xuất gia.
Hai câu của chánh văn đây là tổng
kết văn trên, để phát khởi văn
dưới.
Kư: Câu trên (giải thoát gia đ́nh) là xâu kết
cả năm câu trên cha mẹ… sáu thân… việc nước…
nghiệp nhà… làng xóm…; câu dưới (mong kỳ ra khỏi)
là kết cả ba câu, như cạo tóc… trong siêng… ngoài
rộng…
Hoảnh thoát (giải thoát). Hoảnh: chỗ xa
vắng. Kư: muốn, trông.
II.A.1.e- Danh lợi mất đạo
Cớ sao? Vừa lên giới phẩm, liền
khoác (dóc) ta là Tỳ-kheo.
Câu trên, mới thấm thể vô tác. Câu
dưới, chưa đủ đức chỉ ác. Do v́,
danh và hạnh chưa đáng, chẳng xứng với
nghĩa Tỳ-kheo.
Từ biệt song thân, vào nhà Tam bảo, trong siêng…
ngoài rộng… đấy là, vốn v́ kỳ cho
được ra khỏi đường sanh tử.
Cớ sao mới vào trong số đại tăng, liền
vội tham tài, tham thực, cả danh lẫn lợi, buông
chơi lung t́nh, gây cái nhân hữu lậu, kết cái quả
sanh tử, mâu thuẫn với sơ tâm, bỏ mất cái
hạnh xuất ly ư ?
Vừa lên giới phẩm, mới thụ
giới cụ túc, thể vô tác mới thành.
Giới phẩm có bốn hạng: 1-Ngũ
giới, 2-Thập giới, 3-Cụ túc giới, 4-Bồ-tát
giới. Hai giới trước và sau là đều thông
đồng chúng tại gia. Hai giới giữa là, chỉ
riêng cuộc về chúng xuất gia.
Ta là Tỳ-kheo, là người đă thụ
giới cụ-túc.
Tỳ-kheo, tiếng Phạm là Bhiksu, hàm có cả
ba danh nghĩa: 1- Phá ác, 2- Bố ma, 3- Khất sĩ. Bởi
bao hàm ba nghĩa ấy mà chữ Nho Trung Hoa không thể phiên
dịch được, nên vẫn c̣n để nguyên
bổn âm (tiếng Phạm).
Kư: Vô tác, cũng gọi là vô giáo, lại là vô
biểu sắc, tức là giới thể, từ khi
“Bạch tam Yết-ma” mà đắc, đắc giới
thể đây rồi, mặc ư thôi dứt điều ác,
tha hồ tự tiện làm lành, không dụng tâm làm đi làm
lại việc sái quấy nữa, nên gọi là vô tác.
Chỉ: thôi dứt các điều ác, khiến chẳng cho
gây lại.
Phá ác, đứng về khi ban đầu đắc
giới, do nghe ba lần pháp Yết-ma, mà nảy ra cái
“thiện luật nghi”, nên phá được ác luật nghi.
C̣n như về mặt phổ thông tu hạnh
giải th́, hay phá được các điều ác của
kiến hoặc và tư hoặc.
Bố ma, đă hay phá ác, nên trời ma vương
lo nghĩ rằng “Người ấy chẳng những
chỉ siêu xuất ngoài cơi xứ của ta, hoặc c̣n có
thể truyền đăng kế Tổ, chuyển hóa
quyến thuộc của ta nữa, bỏ trống cung
điện không ai ở, v́ chúng đă xả tà qui chánh”. Nên
ma vương lấy làm lo sợ!
Khất sĩ, khất là cái danh khất cầu,
sĩ là tiếng xưng thanh nhă. Nghĩa là, bên trong th́ tu
tạo cái đức thanh nhă, với ngoài th́ xa ĺa món ăn
tứ tà(47), tự xử lấy cái mạng trong sạch,
để làm phước lợi cho chúng sanh, phá cái tâm kiêu
mạn, giữ cái hạnh khiêm nhượng tự
thấp, rao xin nuôi thân, để tạo thành cái đức
thanh nhă.
Kẻ xuất gia ngày nay, mưu cầu đă
nhiều, chứa để cũng lắm th́ đâu có
xứng với cái đức thanh nhă, thế đă mâu
thuẫn với cái danh khất sĩ, đâu c̣n là
Tỳ-kheo ư!?
Hoặc tiêu xài của đàn-na, hoặc ăn dùng
của thường trú.
Câu trên rơ của tín thí; câu dưới rơ của
tăng vật. Th́ ra, dẫu một tấc tơ, một
nhỏ nước, cũng khó mà tiêu đặng, nếu ta
chẳng có cái đức giữ giới, phương chi là
cả bốn món của đàn-việt cúng dường và
hằng ngày thụ dụng của tăng-kỳ ư?
Đàn việt, Đàn là tiếng Tây Vực,
đây dịch là thí; Việt là lời của phương
đây. Nghĩa là, người mà năng hành cúng thí, th́
về sau mỗi đời vượt (việt) qua
khỏi biển khổ bần cùng. Như kinh Địa
Tạng nói “Thí nhứt đắc vạn báo”.
Một danh từ thường trú mà, có bốn
mặt luật:
1-Thường trú thường trú: của chùa
trong chùa như Tăng tự, Tăng pḥng, Tăng xá, cả
các khí cụ, cây cối, hoa quả, ruộng vườn,
già-lam dân và súc vật…, do là thể nó chỉ cuộc
của chùa đương xứ, không đồng với
các chùa nơi khác chỉ ở đó th́ được
thụ dụng tại đó, chứ chẳng
được thông đồng chia bán, nên nói lặp
lại hai chữ Thường trú.
2-Thập phương thường trú: như
tứ sự cúng dường trong chùa mà chúng tăng
thực dụng hằng ngày, dù thể nó thông đồng
tăng khách nơi mười phương (v́ tới lui
thết đăi nhau), nhưng chỉ cuộc ở nơi
chùa bổn xứ.
Hai thể dụng trên, chung gọi là của
tăng-kỳ vật(48).
3-Hiện tiền hiện tiền, nghĩa là,
chúng Tăng hiện diện được lănh tài vật
của người cúng thí, v́ chỉ cúng thí cho chư
Tăng hiện diện tại chỗ chùa này.
4-Thập phương hiện tiền (dù chư
Tăng các chùa khác mà có sự hiện diện tại
đây), giả như, đồ đạc, vật
mọn của năm chúng (Sa-di, Sa-di ni, Thức-xoa-ma-na,
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni) đă qua đời, nếu
chưa làm pháp Yết-ma th́, vật mọn ấy thể nó
thông đồng thập phương Tăng, c̣n như
đă làm pháp Yết-ma rồi th́, tài vật ấy thuộc
về chúng tăng có mặt hiện tiền.
Hai thể dụng ấy gọi là của
hiện tiền Tăng vật.
Kư: Sở tu là cần dùng (tiêu xài) nghĩa nó thông
đồng cả ăn lẫn dùng. Khích dụng, khích:
nuốt vào, nghĩa nó chỉ cuộc về uống và
ăn, như y dược. Dụng: dùng, nghĩa nó thông
đồng cả y phục, ngọa cụ, pḥng xá…
Chẳng biết xét nghĩ chỗ đến,
bướng rằng lẽ phải cúng dâng.
Câu trên, mất quan sát (ngũ quán); câu dưới,
luận nghị si mê. Do v́ không có cái huệ quán xét, nên
chẳng biết cái phép tư duy. Bởi ngu si u ám, nên riêng
sanh cái ư kiến ngây dại. Thế, không biết xấu,
chẳng hổ ngươi, nên nhân đó mà phát sanh ra cả
các thói ngă mạn, giải đăi, tham lam và tật
đố.
Thổn: Kể đo nghĩ kỹ. Tư: tính
lường. Vị ngôn: nói bướng, tức tự
thốt ra lời nói phi nghĩa. Pháp nhĩ là lẽ
phải vậy. Hiệp cung có hai nghĩa, 1-Thí chủ kia
lẽ phải cúng dường nơi ta. 2-Ta đáng
phải thụ người cúng.
Lai xứ: chỗ đến. Người thụ
phải quán xét: kể ra, cơm trong một bát đây,
kẻ làm ra cơm, công lao chẳng ít, người thí
chủ bớt phần của vợ con, đến cúng cho
ta, để gây ruộng phước, giới đức
của ta nếu chẳng hoàn toàn, đâu nên thụ
người cúng! Mặc dù các giới đức
đều đủ, c̣n cần phải tu hạnh quán
tưởng mới có thể tiêu dùng của tín thí.
Kinh Văn Thù Vấn nói “Với cơm của thí
chủ, cũng chẳng nên ăn, nếu Bồ-tát không
tư duy ngũ quán”.
Kư: Kinh Ca-Diếp chép rằng bấy giờ, có
năm trăm vị tân học Tỳ-kheo tự kiểm
thảo rằng “Chúng ta chẳng thể tinh tiến tu
học ǵ, e không kham nổi tiêu dùng của tín chủ cúng
dường, thôi chúng ta nên xin phép huờn tục”.
Đức Văn Thù Bồ-tát khen phải
chấp thuận rằng “Như đă tự xét, chẳng
thể tiêu rỗi được vật thực của
thí chủ cúng thí, thà nên một hôm nọ mà mấy trăm
Tỳ-kheo huờn tục c̣n hơn, chứ chẳng nên phá
giới rồi mà, chỉ ở lại một ngày
để thụ của người tín thí”.
Phật bảo Văn Thù rằng “Có kẻ lo tu
thiền giải thoát, ta cho kẻ ấy được
phép thụ vật thực của tín thí”.
Từ Ân pháp sư nói “Chẳng nuôi tằm,
dệt vải mà mặc áo, không cày ruộng cấy gặt
mà ăn cơm, cô chức nữ, anh nông phu nhọc
đổ mồ hôi, v́ ta nên đạo nghiệp, nên thí
chủ đem dâng, đạo nghiệp chưa thành đâu
tiêu được”.
Từ Thụ Thâm thiền sư quở rằng
“Ngày nay có bọn sơ học Tỳ-kheo, chỉ thích ăn
no ngủ kỹ, mặc t́nh qua ngày, c̣n than phiền là
chẳng được mấy xứng ư. Chứ họ có
biết đâu rằng người xuất gia, tỷ
như một viên đá mài dao, nghĩa là, tất cả ai
nấy (các thí chủ) cũng đều tự muốn
lưỡi dao của họ bén (muốn được
phước), nên đem dao đến mài trên viên đá, mài
đi, mài lại (cúng thí nhiều lần), mỗi
lưỡi dao của chúng đều được bén, mà
viên đá của ḿnh (người xuất gia) dần
dần ṃn mỏng (bị chúng lễ cúng mà tổn
phước).
“Có bọn (cũng kẻ xuất gia) kia, lại
c̣n trách cứ người ta (thí chủ) sao chả đem
dao đến mài trên đá hắn, v́ hắn tự hào
đá của hắn có chỗ hay lắm”.
Lời của ngài Từ Thụ rất thiết
đáng, tỷ như chích mũi kim vàng trúng vào chỗ
bệnh của người (kẻ xuất gia ham cúng
dường)! Giả sử, viên đá của ḿnh đă
cứng như ngọc kim cang (giới đức hoàn toàn),
th́ chẳng ngần ngại trách chúng chẳng đem dao
đến mài.
Trí Độ Luận nói “Gẫm nghĩ cơm
đây, từ vỡ đất cày bừa, gieo cấy,
giẫy cỏ, cắt gặt, đạp lúa, giũ
rơm, xay thóc, giă gạo, vo gút, xôi nấu đây mới
thành ra cơm, công dụng nặng nề lắm. Kể ra, cơm
trong một bát đây những người làm ra, thiếu
điều đổ mồ hôi cục, mới thành ra
được, nên chỉ một bát đây tuy chả bao
lăm mà công lao mồ hôi quá nhiều. Đấy, làm ra
cơm đây, công nặng tân khổ như thế”.
Ăn nuốt vào khỏi cổ rồi, liền
thành đồ bất tịnh, lại không c̣n giá trị ǵ
nữa, trong khoảng cách đêm, nó biến thành vật
đại tiểu tiện, đó, nguyên là mỹ vị, ai
cũng ưa thèm, liền biến thành bất tịnh, ai
cũng gớm chả muốn ngó!
Hỡi các hành giả! Tự phải nghĩ
nhớ món tệ thực như thế, ta mà tham
đắm, phải đọa địa ngục,
để rồi trả quả bằng cách nuốt hoàn
sắt đốt đỏ…!
Từ địa ngục ra rồi, phải
đọa vào súc sanh, như là trâu, ngựa, ḅ, dê, lạc
đà, để rồi đền bồi nợ
đời trước của thí chủ, hoặc
đọa làm con heo, con chó, thường ăn đồ
bất tịnh như phẩn uế.
Đối với vật thực, chúng ta cần
quan sát như thế, sanh cái ḷng tưởng chán ĺa, nhiên
hậu mới xiết thụ thực.
Đạo An pháp sư nói “Cơm của thí
chủ giảm bớt phần ḿnh nên quá thâm trọng,
sở dĩ, một hột gạo mà có thể nặng
bằng bảy cân, kẻ xuất gia mà không giữ
giới, ăn của tín thí, sau khi chết rồi,
đọa vào chốn Thái Sơn Phủ Quân, đốt hoàn
sắt cho ăn, nấu nước đồng cho
uống, chịu thống khổ như thế, kinh Pháp Cú
đă kể bày”!
Chính chỗ bảo “Kẻ học đạo mà
bất thông lư, đem thân trả nợ cho tín thí,
trưởng giả tuổi đến tám mươi
mốt, cây trong vườn chẳng mọc nấm
nữa”. Bằng như một niệm sáng suốt lại,
chợt cùng hợp với đạo lư, muôn lượng
vàng ṛng cũng tiêu được.
Ăn rồi, dụm đầu reo reo (ào ào),
chỉ nói chuyện bậy nhân gian.
Câu trên nêu chung; câu dưới thích riêng. Do reo reo,
chưa rơ ra lời chi,nên thích rằng “nói câu chuyện
xằng bậy của nhân gian”.
Khích liễu: ăn no rồi. Tụ đầu:
cùng nhau dụm đầu. Tạp thoại: lời nói
của thế tục, chả dính líu ǵ với tiếng nói
của kinh luật. Hăy trong không hay chính niệm, nên ngoài
thốt lời bậy bạ. Không tu pháp quán huệ, đâu
biết xét nghĩ. Chẳng riêng kiểm thảo ba
nghiệp, th́, cái tâm sở điếu cử là những cái
mà hạnh thô, tướng tục, tưởng bậy nói
xằng do đó sanh ra.
Kinh Di Giáo nói “Hễ mỗi lời hí hước,
th́ tâm niệm tán loạn, dù đă xuất gia, hăy chưa
giải thoát! Thế nên, kíp phải xả ĺa cái tâm hí
luận tán loạn, để cầu lấy cái vui vô vi
tịch diệt. Muốn đắc cái vui tịch diệt,
chỉ phải khéo thâu nhiếp cái phóng tâm, để
diệt trừ cái bệnh hí luận(49)”.
Trường Lô Sách thiền sư tự cảnh
văn nói “Nếu mà trộm bàn việc chánh trị của
triều đ́nh, riêng phẩm b́nh các quận huyện quan
liêu, giảng năm đặng mất mùa trong cơi
nước, luận thói tốt xấu của phong tục.
Nhẫn đến, việc mọn của kẻ thợ,
lái buôn, chuyện phiếm nơi chợ quán, giếng
nước. Cơn binh qua ngoài bờ cơi, trận giặc
giă chốn trung nguyên. Áng văn chương hay dở,
phường kỹ nghệ sang hèn. Quần áo, uống
ăn, hàng hóa, của cải. Khoe chỗ hay của ḿnh,
giấu việc tốt của chúng. Nêu bày điều
lỗi trống, vạch chỉ chỗ vít kín. Đă trái
phước nghiệp, vô ích đạo tâm. Du ngôn(50) như
thế, đều tổn thật đức! Ngồi không
luống tiêu của tín thí, ngửa mặt hổ với
long thiên! Tội mới đầy chén, hoạn trọn
ngập đầu!(51)
Sao thế! Chúng sanh bị lửa khổ(52)
đốt cháy tứ bề(53), há khá rỗi yên, ngồi bàn
vô nghĩa. Cổ Đức (thiền sư) c̣n rằng
tự cảnh (răn ḿnh), chúng ta là người hạng
nào sao chẳng tự nghĩ!?
Kư: Huyên là nói lớn tiếng reo ồn.
Điếu cử, có ba:
1-Cái thân điếu cử, nghĩa là, cái thân
ưa đi dạo chơi, làm các tṛ hí hước,
chẳng chút ngồi yên, thế là cái thân lau chau. 2-Cái
khẩu điếu cử: miệng lưỡi lua khua,
nghĩa là, ưa thích ngâm vịnh, giành căi thị phi, vô ích
hí luận, tán tỉnh chuyện thế gian. 3-Tâm
điếu cử: ư thức tháy máy như là, tâm t́nh buông
lung, thả niệm vướng víu lung tung, lo nghĩ làm bài
vở, học nghề nghiệp của đời, bao
điều ác giác quan(54)…
Đời nhà Tống tại chùa Quang Hiếu,
ngài An thiền sư, khi ở trong giờ tọa
định, thấy hai ông sư đứng dựa ngoài
cửa sổ dưới hiên để nói chuyện
với nhau, ban đầu thấy có vị thiện
thần ṿng tay nghiêng ḿnh để nghe, giây lâu rồi
bỏ đi nơi khác; xảy lại có ác quỷ đi
đến tỏ thái độ khinh bỉ, khạc
nhổ, lấy chổi quét dấu chơn của hai ông
sư. Sau giờ ra định, gạn hỏi duyên cớ
th́ biết rằng hai sư ấy, ban đầu luận
về câu chuyện Phật pháp, có thứ tự rỗng
răng; rốt sau nói về chuyện tư sanh trưởng
dưỡng! Từ đó nhẫn đi, ngài An thiền
sư trọn đời, chưa hề nói đến
chuyện đời.
Luận nói “Có hai Bật-sô, cùng đi dọc
đường, nói những câu chuyện phi pháp; bấy
giờ có quỷ dạ xoa tên là Bất Tín, muốn hớp
hồn của hai sư ấy!”
Phật dạy “Bật-sô khi đi trên đường,
cần phải suy nghĩ việc lành, có hai điều
kiện: 1-Nói những lời pháp ngữ. 2-Hoặc làm thinh
như bậc thánh yên lặng; đi đến chỗ
nghỉ, thuyết bài già-đà của Phật giáo”.
Người đời nay, trọn ngày rảnh
ngồi bàn chuyện lăng xăng bậy bạ, hăy c̣n
chẳng khỏi bị quỷ thần quở trách thay, mà
muốn cầu các Ngài ủng hộ th́, đâu có thể
được ru!?
Thế th́, một kỳ đua vui, đâu
biết vui là nhân khổ.
Câu trên rơ quá lung vui, câu dưới rơ nguyên nhân
khổ. Nghĩa là, đời nay lung t́nh thả theo
cuộc truy hoan trong trường dục lạc, tức là
tạo cái nhân khổ cho đời đương lai. Cái
khổ nhân đă tích tập từ đây th́, cái khổ
quả đưa đến. Nên nói “Tạo nhân chẳng
ngay th́, kết quả quanh vạy, trả liền
trước mặt, chết rồi trầm luân”, đây
bảo thế chẳng.
Một kỳ: sự thụ thân của các chúng
sanh, tuy rằng thọ mạng (mạng sống lâu) mà,
hoặc dài hay vắn chẳng đồng nhau, song,
đều là cái quả báo trong một thời kỳ.
Thế th́, một đời (một kỳ)
rượt theo cuộc chơi vui, thực là, để
rồi tự chịu khổ ương cả muôn
kiếp!
Kư: Vui năm điều dục lạc, tức là
tài, sắc, danh, thực, thùy. Cũng gọi ngũ
trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nghĩa là,
năm điều ấy hay khiến người sanh ra cái
tâm tham dục, nên gọi là Dục; cũng là hay làm ô
nhiễm chân lư, nên gọi là Trần. Sách Chỉ Quán nói
“Ngũ trần chẳng phải là dục mà, trong đó, nó
có cái mùi vị bị hành nhân năng sanh cái tâm tham dục,
nên nói là ngũ dục”.
Trí Độ Luận 17 nói “Thương cho chúng
sanh, thường bị ngũ dục làm khổ, thế
mà, chúng cứ tham cầu măi không thôi. Với ngũ dục,
hễ cầu được lại càng hăng
sướng, tỷ như bệnh lác được hơ
lửa. Ngũ dục không ích ǵ, như chó nhăn cây
đuốc lửa. Ngũ dục càng giành, như bầy
chim giành thịt. Ngũ dục đốt người, như
cầm đuốc lửa đi ngược gió. Ngũ
dục hại người như đạp lên con rắn
độc. Ngũ dục không thực, như nằm
mộng được vật ǵ đó. Ngũ dục
chẳng bao lâu, như tạm mượn trong giây phút.
Người đời ngu lầm, tham đắm ngũ
dục, đến chết không buông, làm cho đời sau,
chịu vô lượng khổ!”
Kiếp trước theo trần (trần túc,
tập quán), chưa hề xét lại.
Câu trước, rơ thuận theo tập quán
trần tục. Câu sau, rơ mê mất nhăn quang trí huệ.
Bởi từ vô thỉ lại, chỉ một
bề thuận theo cái tập tánh mê hoặc của tự
ḿnh, rượt măi theo những cảnh vọng ảo
của trần tục, cho đến ngày nay vẫn c̣n
tưng bừng trong tâm khảm, chưa hề một
niệm hồi đầu soi xét lại để biết
là quấy th́, làm ǵ có thể siêng tu định huệ,
để phủi trừ những tập tục mê
hoặc kia, hầu ra khỏi cảnh trần lao.
Kư: Văng kiếp là kiếp trước, ngày kia.
Kiếp: thời kỳ cực dài(55) tức là từ
kiếp vô thỉ đến nay. Trần, trần cấu:
bụi nhơ, nghĩa là ô nhiễm, tức là các điều
vọng trần, mê hoặc, tập quán, nó thường làm
cho chân tánh tự tâm bị nhiễm nhơ, chẳng
thấy được đạo, nên gọi là Trần.
Giờ, ngày lu lấp, tháng, năm chần
chờ.
Câu trên bỏ mất qua ngày đêm. Câu dưới
bỏ mất qua năm tháng. Yếm một: vùi lấp. Ta
đà: luống mất ngày giờ. Nếu chẳng chuyên tu
định học, huệ học, chẳng những mai
một quang âm mà thôi, lại thực là luống mất
trăm năm nữa.
Kư: Nói giờ ngày là cả ngày lẫn đêm.
Thời là nói cả mười hai can chi(56). Quang là tam
quang(57).
Tiêu xài quá nhiều, lợi chủ càng lắm.
Câu trên, là tự tiêu dụng. Câu dưới, là thí
chủ v́ cầu phúc, nên cúng dường không nhàm; mà kẻ
thụ thí, phải sanh cái niệm biết tàm quư, biết
tự lượng mà thụ dụng.
Rằng thụ dụng là thu nạp để
tư nhuận nơi thân tâm bằng cách lung t́nh
hưởng của thí chủ.
Ân phiền (quá nhiều) là bốn món cúng
dường càng nhiều, ngoài trăm món mỗi một,
lại thêm dư dả.
Thí lợi (lợi chủ) là cả tứ sự
cúng dường, với bách nhứt sở tu(58). Quá
nhiều (ân phiền), càng lắm (nồng hậu), cái danh
chữ dù khác mà đồng nghĩa với nhau.
Kư: Ngài Huệ Hưu pháp sư, hơn ba
mươi năm chỉ mang có một đôi giày, có rách th́
chằm chắp, chứ không đổi bỏ, mỗi khi
đi đường, gặp chỗ đất mềm
bủn th́ cởi xách mà đi chơn truồng;
người ta hỏi sao thế? Ngài thường đáp
rằng tín thí nan tiêu. Ngài từng dạy chúng “Các
người ngày nay, với mỗi món thụ dụng,
chưa đói đă ăn lặt vặt, chưa rét đă
bận áo ấm, chưa dơ đă đi tắm giặt,
chưa buồn ngủ đă đi nằm ngủ,
đạo nhăn chưa sáng suốt, vọng tâm chưa
diệt hết, thế th́ làm sao tiêu nổi được
của tín thí!?”
Ân: thạnh lắm. Phiền: nhiều lắm.
Nồng: chẳng lợt lạt. Hậu: chẳng mỏng
mẻo. Tứ cúng: ẩm thực, y phục, ngọa
cụ, y dược. Bách nhứt là đồ đạc
vật dụng của thầy Sa-môn để cần dùng
hộ thân.
Trải lâu năm tuổi(59) chẳng toan bỏ
ĺa.
Câu trên, nói về thời gian; câu dưới, nói
về tâm mê. Do tiêu xài quá nhiều, đắm mùi chẳng
thôi nên đến đỗi lửng quên, đă trải qua
từng bấy tuổi năm mà, chưa từng sanh
một quan niệm chán nhàm ĺa bỏ.
Kư: Nghĩ là toan liệu trước rồi sau
mới làm, tức xét soi để đợi dịp
tiện bề thi thố.
Ngài Chu Dung thiền sư nói “V́ chán khổ
trần lao, cầu thoát đường sanh tử, thôi
thức tâm, dứt vọng niệm, đoạn tuyệt
hẳn cái t́nh cảnh phan duyên (sáu căn vín vướng
với sáu trần), nên gọi là xuất gia; đâu nên húng
hính theo lợi dưỡng, đành mai một cả b́nh
sanh. Chỉ cần hai đầu(60) vẹt ra, chính giữa
buông xuống. Gặp thanh gặp sắc, như trên đá
trồng hoa, thấy lợi thấy danh, như trong mắt
bị bụi. Phương chi, từ vô thỉ lại,
không phải không từng đă trải qua rồi, cần
ǵ c̣n khắn khắn tham luyến? Nếu nay chẳng thôi,
đợi khi nào nữa!?
Chứa nhóm ê hề, tưng tiu xác huyễn.
Câu trên, súc tích những tài vật không kiên cố.
Câu dưới, bảo dưỡng cái nhục thân như
mộng hoạn. Nghĩa là, nhóm chứa tài vật không
bền chắc của tứ cúng, để giữ ǵn thân
vật chất mộng ảo của ngũ ấm. Một
mai cơn vô thường đến th́, của chứa
cất kia dùng chi? Thân tứ đại phân tán, công giữ
ǵn ấy đâu c̣n!?
Nên Tịnh Trú Pháp nói: Với cái sanh chẳng
thể bảo đảm mà, chỉ muốn kinh doanh cái
sanh; với cái tư nó nhất định đến mà,
chả biết đoái lo cái tử. Huống chi cái sanh
mạng nguy kịch đây, nó hung hiểm, biến
đổi vô thường trong một chốc lát bất
ngờ thoạt chết!
Song, với nguyên nhân ác, đă nhóm chứa từ
đây, th́ với quả báo ác cũng khó trốn! Hễ,
cái h́nh vạy th́ cái bóng xiên đâu phải lời dối
ru?
Kư: Tiền tài đồ vật, đều
thuộc về năm nhà sau đây nên nói là không bền
chắc: 1-Bị nước ch́m trôi. 2-Bị hỏa
hoạn cháy mất. 3-Bị đạo tặc cướp
trộm. 4-Bị kiện đến quan lại
được dâng. 5-Bị ác tử làm hư gia phá
sản.
Ngài Vô Tác thiền sư nói “Người mà
phước yếu (ít), tiền tài mạnh (nhiều) th́
tất nhiên bị ương họa v́ tiền tài;
đức mỏng nhỏ mà lănh trách nhậm to tát th́ mau
thành tai hại v́ trọng nhậm! Người xưa,
chỉ cầu cho cái tâm được thông đạt,
chứ chẳng cần cho cái thân hiển đạt.
Với người bực hiền, ta chẳng nên che
giấu, ḿnh mà được bực hiền, không nên khoe
bày. Nếu được như thế, là tự biết
cái mạng, hợp cùng cái đạo, tự bảo toàn
được trọn một đời của ḿnh vậy”.
Đức Đạo sư có dạy răn
nhắc thầy Tỳ-kheo “tiến đạo nghiêm thân, ba
thường chẳng đủ” (không tham nhiều dư).
Hai câu trên, răn bảo gắng cần, hai câu
dưới, khai thị pháp huấn. Đức Như Lai là
ngôi pháp vương cả tam giới, đấng
Đạo sư của tứ chúng. Biết hết tánh
người, xem theo căn cơ, truyền trao pháp lư,
như hợp bệnh nào cho thuốc nấy. Thế nên
lập thành phương pháp, chế ra giới luật,
dạy bảo các hàng đệ tử, tu hành tấn
đạo, cốt phải tinh chuyên cần mẫn, ít
muốn, biết đủ, dùng ba sự để tự
sửa ḿnh. Ba sự là ẩm thực, y phục và thùy miên.
V́ ba sự ấy khiến người bị che
tối, thành ra cái nhân duyên chướng ngại đạo.
Nên Phật dạy thường cần chẳng đủ,
mới hợp với đạo.
Kư: Đạo sư là Thầy hướng
đạo dẫn đường chỉ ngơ cho chúng sanh, ra
khỏi nhà lửa tam giới.
Kinh Tư Ích nói “Đối các chúng sanh, phát tâm
đại bi, khiến vào chánh đạo, chẳng cầu
trả ơn, nên gọi là Đạo sư”.
Kinh Báo Ân nói “Mở bày nẻo Niết-bàn,
khiến đặng chân thường, chân lạc nơi
cảnh vô vi, nên gọi là Đại đạo sư”.
Kinh Di Giáo, Phật dạy “Các ông Tỳ-kheo!
Nếu muốn thoát ly mọi điều khổ năo,
cần phải xem ngay pháp tri túc, v́ pháp tri túc, tức là
chỗ giàu vui an ổn. Người mà tri túc, dẫu
nằm mặt đất, cũng là an vui. Người
chẳng tri túc, tuy ở thiên đường, cũng
chẳng vừa ḷng. Người chẳng tri túc, tuy giàu mà
nghèo. Người mà tri túc, tuy nghèo mà giàu. Người không
tri túc, thường bị ngũ dục lôi cuốn, làm cho
người tri túc thấy mà xót thương!”
“Các ông Tỳ-kheo! Thụ món ăn uống,
phải như uống thuốc, với ngon và dở,
chớ muốn thêm bớt, vừa đủ nuôi thân
để dứt đói khát, như ong hút hoa, chỉ dùng cái
vị, chẳng tổn sắc hương. Tỳ-kheo
cũng thế, chịu người cúng dường,
vừa đủ dứt ngặt, chớ đặng tham nhiều
hoại thiện tâm người.”
Lại nói “Các ông Tỳ-kheo! Tự rờ
đầu ḿnh, đă bỏ trau chuốt, bận áo hoại
sắc, tay bưng b́nh bát, đi xin sự sống”.
Lại nói “Các ông Tỳ-kheo! Ngày th́ ḷng siêng, tu
tập pháp lành, đừng cho mất giờ, đầu
đêm, sau đêm, cũng chớ bỏ tu, giữa đêm
tụng kinh, để tự tiêu tức(61), chớ quá
ư ham ngủ, khiến luống qua một đời,
không sở đắc ǵ! Phải nhớ lửa vô
thường đốt cháy thế gian, sớm cầu
độ ḿnh, chớ ham nghỉ ngủ”. Húc: khuyên
gắng. Nghiêm: chính.
Người nhiều với ấy, đắm
mùi chẳng thôi, ngày qua tháng lại, thoạt đă bạc
đầu.
Hai câu trên là tham lợi dưỡng. Hai câu
dưới là lửng qua đời ḿnh. Ôi! Măi tham thế
lợi, hăy c̣n chưa nghỉ, phút đă tóc bạc
đầy đầu! Ngày qua tháng lại, như lửa
quay tṛn(62), tin chết(63) chẳng bao lâu lại hầu
đến.
Kư: Với ấy là ba sự (ẩm thực, y
phục, thùy miên) trên kia. Tạp: thoạt, như gió
thoạt vậy liền đến. Như kinh A Hàm nói “Có
bốn việc trước chẳng bảo với
người là 1-Đầu bạc, 2-Già nua, 3-Đau ốm,
4-Chết”. Thế là, với bốn sự ấy, chẳng
thể trốn lánh, cũng không trừ khước.
Kẻ hậu học chưa nghe chỉ thú,
cần phải rộng hỏi bực tiên tri.
Câu trên, là nói người thiếu ích lợi; câu
dưới, khiến nương trước
được lợi ích. Nghĩa là, luống uổng
sống già, mà không lời chi để tiếp dẫn
kẻ hậu lai!
Muốn làm được sự lợi ích cho
người th́ phải lo cho phần tự lợi
trước đă. Muốn được tự lợi
th́, phải rộng hỏi bực tiên tri, hiểu suốt
cái nguyên lư tâm tánh của Phật Tổ. Muốn
được lợi tha th́, ḿnh phải rơ thấu chân
tông, rộng bày cái môn phương tiện của sự lư.
Rộng hỏi th́, chẳng phân biệt là
người bực tôn hay bực ty, là không lấy làm
hổ đến với kẻ thấp nhỏ hơn ḿnh,
chính chỗ gọi “y pháp bất y nhân” (căn cứ nơi
pháp, phi cứ nơi người)
Rộng bày th́, bất luận là kẻ oan người thân
(kẻ ơn người thù), không phân biệt kẻ sang
người hèn. Chính chỗ bảo “Tâm từ thể chánh,
pháp thí b́nh đẳng”.
Dẫu c̣n ôm ấp cái thành kiến bỉ ngă th́,
ḿnh với người đôi bên đều mất
lợi.
Kinh Pháp Cú nói “Phàm là sự học th́, trước
phải nghiêm chính lấy ḿnh, nhiên hậu mới nghiêm chính
cho người. Ḥa ḿnh vào huệ, ắt là trên tất
cả.
Thân của ḿnh chưa thể được lợi ích,
đâu có thể làm ích ǵ cho ai! Tâm đă điều ḥa,
thể đă nghiêm chính th́, nguyện ǵ không được.
Tuy đọc được ngàn lời mà,
chẳng thực hành th́ ích chi, chẳng bằng chỉ nghe
một lời mà, siêng tu được lợi ích. Dẫu
đọc ngàn lời, không cầu lối thoát, chẳng
bằng chỉ tỏ ngộ một lời, ĺa hẳn tam
giới. Dù đọc thuộc ḷng một ngàn lời,
chẳng ǵn bi trí; không bằng chỉ nghe rơ một lời,
ḿnh cùng người đều được lợi.
Kư: Chỉ là tông chỉ của bộ kinh bộ
luật. Thú, là chỗ sở qui của Tông. Tôn, là cao, là
chuộng. Chỉ, là ư chỉ. Nghĩa là, kinh luật ma
chỗ phải tôn sùng, phải chủ trương là ư
chỉ, tức là chỗ qui thú cứu cánh.
Bác: rộng, lan rộng giao kết tham cứu.
Vấn, là xin hỏi học thêm. Tiên tri là tiên giác.
Sự Sao chép: Cổ Đức nói “Rộng
học là v́ để cứu giúp cái nghèo về hiểu
biết”.
Cao Tăng Truyện nói “Chẳng rộng học
th́, lời nói không chỗ điển cứ, nên với sự
học, chẳng chán sự rộng hỏi, hễ học
hỏi được rộng th́ là thông”.
Khổng Tử nói “Quân tử rộng học nơi văn
tự, dón rút lại lấy lễ pháp, cũng khá dùng
chẳng trái đạo vậy chăng? Dẫu sống mà
nghèo nơi sự học là đứa nhụ phu(64),
chết mà giàu nơi đạo học là người quân
tử”. Thế được biết rằng, rộng
học là giúp cho kiến thức khỏi bị nghèo
thiếu.
Thầy Trang Tử nói “Người mà chẳng
học, gọi là con thị nhục, học mà chẳng hành
gọi là cái toát nang”.
Phất bạn: Chẳng trái đạo hạnh.
Toan rằng xuất gia, quí cầu ăn bận.
Hai câu đây là xâu kết văn trên, phát khởi
văn dưới.
Tương toan, tức muốn, nghĩ, cũng
là lời giằn gạn lại. Song, đă bỏ t́nh
tục lụy đi xuất gia, vốn là lấy
đạo làm trọng, chứ phi lấy ăn bận làm
quí.
Kư: Ngài Đạo An pháp sư răn chúng rằng
“Các ngươi đă xuất gia, bỏ tục từ vua,
chẳng đoái tài sắc, không họp quần với
đời, chả quí vàng ngọc, chỉ đạo là báu,
khép ḿnh giữ tiết, đành khổ hạnh vui phận
nghèo, thân cận bực có đức, để tự
độ ḿnh, rồi ra độ người”.
II.A.1.h- Khải thị tam học
Phât trước chế luật, dựng mở kẻ
mờ.
Câu trên, rơ năm thiên bảy tụ. Câu
dưới, rơ khai sáng sơ cơ. Dựng: xây dựng.
Mở: phát minh. Do Luật là môn học đầu tiên.
Định Huệ, là nền gốc cả muôn lành.
Mông là mờ, tức là mông muội, nghĩa là,
từ chưa lên ngôi Thánh (Thập địa Bồ-tát)
nhẫn xuống, đều là kẻ mông muội (v́ Tam
Hiền c̣n trần sa hoặc, tứ quả Thanh Văn
mới chỉ đoạn tư hoặc), huống chi là
cả lục phàm phu nơi bạc địa ư!(65).
Phật trước chế luật, số là,
bởi chúng sanh phiền năo tưng bừng, tam độc
bồng bột, điên đảo, loạn tưởng che
mất ánh sáng trí huệ, tạo tác ra nghiệp sanh tử;
thế nên đức Như Lai ứng hợp theo căn
cơ, thi thiết giáo pháp, ban đầu, lấy giới
Mộc xoa, để ngừa quấy dứt dữ, kế
lấy pháp thiền định để chỉ tức
tư lự (vọng tưởng), quên mất cái niệm
duyên trần, sau đó, lấy trí huệ phá vô minh hoặc,
chứng tỏ chân như.
Nên Tổ Nam Sơn Đạo Tuyên nói “Hễ cái
nghiệp do nơi thân và khẩu phát ra th́, việc
đề pḥng cần ở nơi giới; c̣n tam
độc có sôi nổi lên là, cốt do nơi thức tâm
(thức thứ 6) nó sai khiến. Nên, trước lấy
giới bắt, kế lấy định trói, sau lấy
huệ mà sát nó, là cái lẽ thứ lớp phải vậy”.
Kư: Phật, tức là đức Bổn Sư
Thích Ca Như Lai. Tiếng Phạm là Buddha (Phật-đà),
dịch: Tri giả, cũng rằng giác giả, nghĩa là,
tại nơi cội cây Tất-bát-la Bồ-đề,
lảu lảu giác tri, sáng suốt tất cả các pháp tam
thế số chúng sanh, số phi chúng sanh, hữu
thường vô thường(66)… Ba giác tṛn sáng cho nên xưng
là Phật.
Ba giác: 1-Tự giác, là tự giác ngộ cho ḿnh
tỏ được tánh chân thường rơ vọng
hoặc là luống dối,
2-Giác ngộ cho người vận ḷng từ vô
duyên(67) hóa độ cơi hữu t́nh, 3-Hạnh giác ngộ
viên măn, v́ cả ba ấy đều đă cùng nguyên cực
để, hạnh măn quả viên.
Tiếng Phạm Vi-na-ya (Ty-ni), đây rằng
Luật. Luật là phân phán, nghĩa là phân minh, lường
xét cả các trường hợp khinh, trọng, khai, giá,
tŕ, phạm(68).
Tiếng Phạm Pratimoksa
(Ba-la-đề-mộc-xoa), dịch biệt giải thóat,
tức “giới”, nghĩa là, với ba nghiệp (thân,
khẩu, ư), bảy chi (thân ba, khẩu bốn), mỗi
mỗi đều có giới để pḥng ngừa
điều quấy, để được riêng riêng
mỗi mỗi giải thoát, nên nói biệt giải thoát.
Lại, khi thụ rồi, tùy theo trường
hợp các điều sát sanh, thâu đạo, dâm dục,
vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác
khẩu, đều không tạo tác nữa, thế, riêng
riêng mỗi nghiệp, đă chẳng gây nhân th́, riêng riêng
mỗi điều đều không mắc quả báo, nên nói
là “Biệt biệt giải thoát”. (biệt biệt tức
chủng chủng mỗi mỗi hay món món).
Sáng (xây dựng) ban sơ bắt đầu, thành
lập luật pháp, sáng tạo công nghiệp.
Ngũ thiên thất tụ rơ đủ ở trong
Đại Luật, chính là hai trăm năm mươi
giới pháp của Tỳ-kheo tăng; Tỳ-kheo ni th́ ba trăm
bốn mươi tám giới pháp.
Trí Độ Luận chép “Sư ni thụ giới pháp,
lược th́ năm trăm, rộng th́ tám vạn
điều luật”.
Quỉ tắc uy nghi, sạch như giá tuyết.
Câu trên, chỉ thị luật pháp; câu
dưới, đặt lời tỷ dụ. Quỉ
tắc, là quỉ phạm pháp tắc của luật.
Người mà năng bẩm thụ pháp tắc ấy,
tức là tiến ngay đến cái đạo quả Vô
thượng Bồ-đề.
Uy nghi là với uy nghiêm, ta khá sợ, với
hạnh nghi, ta khá kính.
Do thầy Tỳ-kheo vâng giữ đủ cấm
giới, các giới được uy nghiêm, tự nhiên
khiến cho người ta trông thấy khá sợ th́ với
đi, đứng, nằm, ngồi, dung nghi đoan trang,
h́nh biểu đường chính; tự nhiên khiến
người ta khá kính. Thế th́, trong nghiêm ngoài chính,
chẳng bợn một mảy trần, nên được
như giá sạch, như tuyết trắng.
Kư: Hai câu của bổn văn đây, là nói về
cái thể của tịnh giới; bốn câu của hai
văn dưới kia là, nói về cái dụng của
giới điều.
Thôi giữ, làm phạm, buộc thu ḷng
đầu.
Câu trên, rơ giữ giới, phạm giới. Câu
dưới, rơ công năng của giới đối
với kẻ mới phát tâm.
Song, chỉ (thôi dứt) ác tức tŕ giới, tác
(làm) ác là phạm giới. Chỉ, th́ ba nghiệp (thân,
khẩu, ư) không giong ruổi nơi vọng cảnh (lục
trần), các điều ác chẳng sanh khởi; tŕ
(giữ) th́ giữ chí kiên trinh, tâm ĺa tán dật (buông lung),
thế là thúc liễm (buộc thâu). Chính là cái điều
ước đầu tiên để nhập đạo, cái
cửa ngơ ban sơ của định huệ, nên nói là
sơ tâm (ḷng đầu, là mới bắt đầu
học giới).
Kư: Chỉ (thôi, dứt), th́ các điều ác không
sanh khởi, tŕ (giữ) th́ đột-kiết-la(69)
chẳng phạm. Lại, Chỉ th́ tâm không vọng
động; Tŕ th́ chấp mà chẳng mất; Thúc (bó) th́
niệm không buông lung; Liểm th́ nước định
đứng trong.
Phụ Hạnh nói “Có kẻ tự hào rằng tu
Đại thừa th́ cần ǵ phải chế giới
ấy là sai lầm hẳn!”. Rằng bất chấp
đấy, chính là tŕ giới mà không chấp nê. Nếu cho
chẳng tŕ giới mà gọi là bất chấp, đấy
tức là chấp phá rồi th́ sao gọi là bất chấp
được? Cái chấp tŕ c̣n chẳng có, th́ cái vọng
tŕ đâu c̣n.
Mảy múm điều chương, đổi các xấu
tệ.
Câu trên, rơ về giới tướng; câu
dưới, rơ về đối trị. Do v́ giới là
đủ cả ba ngàn uy nghi, tám vạn tế hạnh, nên
nói là mảy múm điều chương; để trị
tám vạn bốn ngàn các trần lao (phiền năo), nên nói
rằng đổi các xấu tệ.
Kư: Điều chương tức là các
điều tướng vi tế trong hai trăm năm
mươi giới của Tỳ-kheo. Cách: đổi,
tức thoan trừ. Ổi tệ: xấu tệ, tức
cả tam độc thập sử(70) các vọng hoặc
thói tập nhiễm.
Các vọng hoặc, nói sơ lược là tam
kiết(71); mười sử, nói rộng ra là tám
mươi tám sử, nhẫn đến tám vạn bốn
ngàn trần lao, v́ nó thường gút trói chúng sanh lùa
khiến trôi lăn nơi tam giới, chẳng đặng
giải thoát.
Tam kiết: 1-Thân kiến, 2-Giới thủ, 3-Nghi
kiết; lại thêm tham, sân, si, mạn, biên kiến, tà
kiến, kiến thủ, tức là mười sử.
Mười sử đây, trải qua dưới tứ đế
cả tam giới, hoặc tăng, hoặc giảm
chẳng đồng, cộng thành tám mươi tám sử.
Số là, dưới Khổ đế của
Dục giới, th́ trọn đủ mười sử;
dưới Tập Diệt hai đế, đều có
bảy sử, nghĩa là trừ ra ba sử thân kiến,
biên kiến và giới thủ; dưới Đạo
đế có tám sử, nghĩa là chừa ra hai sử thân
kiến, biên kiến, th́ cả bốn đế đă
kể trên hiệp lại là ba mươi hai sử.
Dưới bốn đế của Sắc
giới và Vô sắc giới, đều như Dục
giới, chỉ với dưới mỗi đế,
lại trừ ra cái sân sử, v́ chúng sanh ở hai giới
trên, sân sử không hiện hành nữa.
Một giới có hai mươi tám sử, cả
hai giới nhập chung lại cộng là năm mươi
sáu sử; chung với ba mươi hai sử của
dục giới, tổng cộng thành tám mươi tám
sử.
Xem hai phụ biểu ở sau
Đệ nhứt Dục Giới
Dưới Khổ đế …
Dưới Tập đế …
Dưới Diệt đế …
Dưới Đạo đế …
10 Hoặc
7 Hoặc
7 Hoặc
8 Hoặc Thân. Biên. Tà. Thủ. Giới.
Tham. Sân. Si. Mạn. Nghi.
Tà. Thủ. Tham. Sân. Si.
Mạn. Nghi.
Tà. Thủ. Tham. Sân. Si.
Mạn. Nghi.
Tà. Thủ. Giới. Tham. Sân.
Si.Mạn. Nghi.
Khổ đế mười hoặc: 1-Thân
kiến: Lấy khổ quả (cái thân) bằng năm
uẩn giả ḥa hợp mà mê chấp làm ngă kiến là
thường là nhất. 2-Biên kiến: Nhận cái thể
của ngă kiến sau khi chết, nó vẫn thường
trụ, hoặc cho sau khi chết, nó đoạn tuyệt
hẳn. Với thường và đọan ấy,
đều chấp một bên, nên gọi biên kiến.
3-Tà kiến: Với cái thân hiện tại đây
là cái quả báo đối với cái nghiệp nhân của
đời quá khứ, thế mà lại bác đi, cho là không
có lư lẽ ấy, nên gọi là tà kiến.
4-Kiến thủ kiến: V́ chấp mê lấy ba
cái kiến giải trên đó, cho là chánh kiến. 5-Giới
cấm thủ kiến: Mê chấp cái khổ thân hiện
tại, làm mỗi mỗi khổ hạnh của tà
giới, như giữ ngưu giới, cẩu giới,
nằm trên gai, gieo ḿnh vào lửa… tu khổ hạnh như
thế làm cái nhân cho thân đây sau được sanh lên
chỗ vui của trời hay người, nên gọi
giới cấm thủ kiến. 6-Tham: Hàm yêu lấy năm
cái kiến hoặc trên đó cho là phải là đúng. 7-Sân:
Chấp lấy năm kiến hoặc đă kể trên
đó, cho là phi là quấy mà nổi sân khuể. 8-Si: V́
chẳng biết cái lẽ năm kiến thức trên là mê
hoặc, là phi lư, nên gọi là si. 9-Mạn: chấp lấy
năm kiến hoặc trên cho là phải, là cao kiến mà
tự hào, tự sanh tâm kiêu mạn. 10-Nghi: V́ đối
với cái chân lư thiết thực của Khổ đế
mà nghi là phi thiết thực.
Với mười hoặc (tức 10 sử) trên,
năm kiến và nghi, chỉ lấy đế lư làm sở
mê, nên gọi là cái hoặc về phần “thân mê”, c̣n
bốn cái tham, sân, si, mạn ấy, lấy năm cái kiến
hoặc làm sở mê, nên gọi là cái hoặc về “sơ
mê”. Cả mười hoặc thân sơ đó, là v́ mê
muội cái chân lư khổ đế của Dục giới
mà phát khởi ra mười cái phiền năo (hoặc hay
sử), nên khi chứng vào ngôi kiến đạo (Thanh
văn thừa là ngôi Dự lưu hướng, Bồ-tát
thừa là ngôi nhập tâm của Sơ địa), khi mà
quán xét cái Khổ đế của Dục giới,
đồng nhứt thời đoạn hết mười
hoặc đă kể trên.
Tập đế bảy hoặc: 1-Tà kiến là
với cái lẽ rằng “Vọng hoặc nó làm nguyên nhân cho
sanh tử” mà lại bác bỏ đi, cho là không có lẽ
ấy, nên gọi là tà. 2-Kiến thủ kiến là mê
chấp lấy tà kiến để làm chánh kiến.
3-Nghi là nghi ngờ cái lư của Tập đế;
c̣n bốn cái tham, sân, si, mạn ấy, là lấy ba cái
hoặc trước làm sở mê mà sanh khởi ra bốn
ấy.
Diệt đế bảy hoặc: Diệt
đế là Niết-bàn, lại bác đi, cho là không phải
Niết-bàn, ấy là tà kiến, đó là một hoặc.
Chấp lấy tà kiến ấy cho là chánh kiến, ấy
là kiến thủ kiến, đó là hai hoặc. Với
Niết-bàn lại nghi, không có ḷng tin quyết định,
ấy là nghi đó là ba hoặc. Do ba cái thấy lầm
đó làm duyên mà sanh ra bốn cái tham, sân, si và mạn. V́
bị mê muội không hiểu cái lẽ Diệt đế
mà sanh ra bốn hoặc ấy.
Đạo đế tám hoặc: V́ mê không rơ cái
lẽ của Đạo đế mà khởi ra tám
hoặc. Với bảy hoặc trước của
Diệt đế, gia thêm một cái giới cấm
thủ, thành tám cái. Nhân có một phái ngoại đạo, tu
về cái định Vô tưởng, nhận lầm cái
định ấy là cái chánh đạo nhập Niết-bàn,
ấy là do mê muội không hiểu lẽ của Đạo
đế mà sanh khởi ra cái “Giới cấm thủ
kiến” là phi đạo lại kể làm đạo
đấy.
Nhẫn trên gồm làm 32 hoặc (32 sử)
của Dục giới.
Đệ nhị Sắc Giới, Vô Sắc
Giới
Dưới Khổ đế …
Dưới Tập đế …
Dưới Diệt đế …
Dưới Đạo đế …
9 Hoặc
6 Hoặc
6 Hoặc
7 Hoặc
Cơi Sắc và cơi Vô sắc, công có hai mươi tám
hoặc ấy, là với các hoặc dưới tứ
đế, đều chừa mỗi một sân hoặc, v́
chúng sanh ở hai cơi này là Định địa, chứ phi
như chúng sanh ở Dục giới là Tán địa, nên
chúng sanh ở hai cơi trên ư thức không sanh khởi cái phiền
năo thô động là sân khuễ nữa.
Kể cả những hoặc sử dưới tứ
đế suốt tam giới, cọng là tám mươi tám;
giữa mười lăm tâm của ngôi kiến
đạo đoạn hoặc ấy, nên nói là kiến
hoặc của bát thập bát sử.
a-Thập ngũ tâm: Là trải qua những
niệm số của ngôi kiến đạo bên Tiểu
thừa Câu-xá tông, có tám nhẫn, tám trí cọng làm
mười sáu tâm.
1-Khổ pháp trí nhẫn là cái trí đoạn các
kiến hoặc dưới khổ đế của
Dục giới. 2-Khổ pháp trí là cái trí đoạn khổ
hoặc rồi mà chính là chứng đế lư. 3-Tập pháp
trí nhẫn là cái trí đoạn các kiến hoặc
dưới Tập đế của Dục giới.
4-Tập pháp trí là cái trí đoạn tập hoặc rồi
mà chính là chứng đế lư. 5-Diệt pháp trí nhẫn là
cái trí đoạn các kiến hoặc dưới Diệt
đế của dục giới. 6-Diệt pháp trí là cái trí
đoạn diệt hoặc rồi mà chính là chứng
đế lư. 7-Đạo pháp trí nhẫn là cái trí
đoạn các kiến hoặc dưới Đạo
đế của Dục giới. 8-Đạo pháp trí là cái
trí đoạn kiến hoặc của Đạo
đế rồi, mà chứng là chứng đế lư.
9-Khổ loại trí nhẫn là cái trí đoạn các kiến
hoặc dưới Khổ đế của sắc
giới và vô sắc giới. 10-Khổ loại trí là cái trí
đoạn kiến hoặc dưới khổ đế
của hai giới trên rồi mà chính là chứng đế
lư.
11-Tập loại trí nhẫn là cái trí đoạn
các kiến hoặc dưới Tập đế của hai
giới trên. 12-Tập loại trí là cái trí đoạn
kiến hoặc dưới Tập đế của hai
giới trên rồi mà chính là chứng đế lư.
13-Diệt loại trí nhẫn là cái trí đoạn kiến
hoặc dưới Diệt đế của hai giới
trên.
14-Diệt loại trí là cái trí đoạn kiến
hoặc dưới diệt đế của hai giới
trên rồi mà chứng là chứng đế lư.
15-Đạo loại trí nhẫn là cái trí
đoạn kiến hoặc dưới đạo
đế của giới trên. 16-Đạo loại trí là
cái trí đoạn kiến hoặc dưới Đạo
đế của hai giới trên rồi mà chính là chứng
đế lư.
Trong mười sáu tâm ấy, mười lăm
tâm trước là thuộc về ngôi “kiến đạo”,
c̣n một cái tâm rốt sau tên là “ Đạo loại trí”
đó, th́ thuộc về ngôi “tu đạo”.
Nhẫn: nhẫn hứa, là ngôi đă tin nhẫn
chân lư rồi, không sanh kiến hoặc nữa, nên lấy
đó làm phần “đoạn đạo”. Trí: quyết
định, là ĺa hoặc rồi, chính là ngôi quyết
định chân lư, nên lấy đó làm phần “chứng
đạo”. Pháp: cơi Dục giới gọi là pháp đó, là
v́ lấy pháp ấy làm cái sở kiến hiện tiền.
Loại: hai giới trên gọi là dục đó, là v́ lấy
cái pháp ấy để tỷ loại với Dục
giới.
Với kiến hoặc của tam giới th́, ngôi
kiến đạo của Thanh văn đốn
đoạn; c̣n với “tư hoặc” th́ phải
đoạn dần dần từ phần, v́ Thanh văn là
độn căn.
Nhân v́ pháp hệ, nên chép luôn “tư hoặc” ra đây,
để tiện bề t́m hiểu.
81 phẩm tư hoặc.
Với thập hoặc (10 sử) phân làm cửu
phẩm cho Cửu địa để mà đoạn
đó. Cửu địa: Dục giới ngũ thú tạp
cư địa là một; Sắc giới tư thiền
thiên là năm, Vô sắc giới tứ không thiền là chín.
Cửu phẩm: Với tư hoặc của chín
địa, phân làm thượng thượng phẩm,
thượng trung phẩm, thượng hạ phẩm;
trung thượng phẩm, trung trung phẩm, trung hạ
phẩm; hạ thượng phẩm, hạ trung phẩm,
hạ hạ phẩm. Nên thành số 81 phẩm.
Đấng Thánh giả, đă đoạn rồi
“kiến hoặc” là quả Dự lưu; lại tiến
lên đoạn từ một phẩm nhẫn đến
năm phẩm tư hoặc của một địa
ngũ thú tạp cư, là ngôi Nhất lai hướng;
đến chừng đoạn hết sáu phẩm ấy
rồi, là ngôi Nhất lai quả. Do v́ c̣n ba phẩm hạ tư
hoặc của Dục giới, nên c̣n phải một
lần qua lại giữa nhân gian và sáu Dục thiên
để tu đoạn. Kế đó đương
đoạn ba phẩm hạ tư hoặc, là ngôi Bất
hoàn hướng; đến chừng đă đoạn
hết rồi, là ngôi bất hoàn quả, do v́ chẳng
trở lại sanh ở dục giới nữa. Kế
đoạn dần dần 72 phẩm tư hoặc của
tám địa của hai giới trên là ngôi A-la-hán
hướng; chính sau khi đă đoạn hết 72 phẩm
tư hoặc ấy rồi, là ngôi A-la-hán quả. Dịch
Bất sanh, là do v́ đă đoạn sạch hết rồi
81 phẩm tư hoặc, nên không c̣n trở lại thụ
sanh ở trong tam giới nữa. Nghĩa là ra ngoài tam
giới.
Nhẫn trên, là rút ở quyển 12 của bộ
Câu-xá Luận.
Tám vạn bốn ngàn các trần lao lấy tham
hành, sân hành, si hành và đẳng phần hành(72), đều
đủ hai vạn một ngàn, cọng là tám vạn
bốn ngàn.
Tam thiên uy nghi, bát vạn tế hạnh 250 giới pháp,
lấy hành, trú, tọa, ngọa là bốn uy nghi ấy,
đều có 250, hiệp lại là 1000, chạy ṿng cả
quá khứ, hiện tại, vị lai ba đời ấy,
cọng lại là 3000; lấy 3000 ấy, phối với
thân ba khẩu bốn, cọng thành hai vạn một ngàn;
lấy hai vạn một ngàn ấy, lại đối
trị cả bốn món phiền năo là tham, sân, si và
đẳng phần, cọng thành là bát vạn tứ thiên
tế hạnh, ấy là để đối trị bát
vạn tứ thiên các trần lao môn.
Tiệc pháp (pháp hội) Tỳ-ni, chưa hề gần
gũi, liễu nghĩa thượng thừa, làm ǵ rành rơ!
Đây là lời nương nhau thừa tiếp
văn trên phát khởi văn dưới.
Hai câu trên, với giới luật, chưa học
tập. Hai câu dưới với kinh giáo không thể tỏ
biết.
Tằng vị thao bồi: chưa hề gần
gũi, là chưa từng năm thời kiết hạ
nương Bổn sư, mười pháp tịch
đến nghe học luật.
Giới là môn học đứng đầu tam
tạng pháp môn ở trước định huệ,
thế mà học lại toan vượt bực lớp th́
làm ǵ rành rơ được giáo lư? Tỷ như với
cửa ngoài chưa vào, th́ làm sao quan sát được
nội dung nơi nhà trên và trong pḥng kín (buồng gói)?
Thế biết rằng với giới luật mà
chưa được tinh nghiêm, huệ giải do đâu
phát sanh th́, với tông chỉ “Vô lượng liễu
nghĩa” làm ǵ phân rành, mở tỏ, chứng nhập
được ư ?
Rằng liễu nghĩa, là các bộ kinh giáo
Đại thừa, chính là lời nói quyết chọn rơ
ràng, giải rộng cái nghĩa thực tướng
của trung đạo một cách minh bạch, phi như các
kinh điển Tiểu thừa, và bao thuyết “che
tướng, kín ư, ngậm giấu” là mập mờ, bí
mật hay huyền bí.
Kư: Ngài Trung quốc sư nói “Người mà tu
học pháp Thiền Tông cần phải tuân y theo lời
Phật dạy, với các kinh “Nhứt thừa liễu
nghĩa” phải khế ngộ lấy bổn nguyên tâm
địa, để rồi lần lựa trao truyền
cho nhau cùng đồng với đạo Phật; chứ
chẳng nên ỷ y nơi vọng t́nh của ḿnh v́ kinh giáo
bất liễu nghĩa, để rồi làm cách hiểu
bướng thấy càn, gây sự nghi lầm cho hậu
học! V́ đă là ḿnh và người đều chẳng lợi
ích chi, lại phá hoại Phật pháp nữa! Tỷ như
con trùng trong thân sư tử, nó tự ăn được
thịt của sư tử (chứ phi con thú nào dám hại
sư tử – chính đệ tử Phật làm hại pháp
Phật) chứ phi thiên - ma vương, các phái ngoại
đạo nào mà có thể phá diệt được
Phật pháp.
Tỳ-ni pháp tịch: Tiệc pháp Tỳ-ni, là
chỗ giảng diễn giới luật.
Luật dạy Thầy Tỳ-kheo nào dẫu tu
chứng được tam minh lục thông(73) đi
nữa, cũng cần phải nương theo Bổn
sư để học luật đủ năm
trường hạ lạp, nếu chưa thông rơ luật
học, nhẫn đến trọn đời không
được rời y chỉ nơi Bổn sư”.
Tư Tŕ nói “Luật chế rằng sau khi thọ
giới Tỳ-kheo, luôn năm hạ lạp trước,
cần phải chuyên học bộ luật cho
được khế ngộ, nếu thông được
các trường hợp sao là tŕ giới, sao là phạm
giới, biện rành được sự của
Tỳ-kheo, nhiên hậu mới có thể tập học các
kinh luận; đời nay Tỳ-kheo vượt lớp
bỏ học luật mà học kinh luận, đấy,
lối tu hành đă mất thứ tự, thời không do
đâu chứng nhập đạo quả được,
tất nhiên, bị Đại thánh quở trách, rốt phi
học đồ rồi”!
“Người đời nay, vừa mới
thụ giới phẩm, liền cho nghe kinh, luận
hoặc học tham thiền, thành thử, làm nhà Tăng mà
với tế hạnh, uy nghi không hiểu một ǵ ráo.
Huống lại c̣n khi dễ giới kiểm, kích bác
Tỳ-ni, chê việc học luật là Tiểu thừa, khi
kẻ tŕ giới là chấp tướng”.
“Nhân đó mà, hoang mê theo trần tục, buông lung
thói ngu ngoan; vả lại, với giới mà có thể khinh
được, th́ sao ngươi đến đàn xin
thụ? Với luật mà có thể hủy được,
th́ sao ngươi cạo tóc nhuộm áo hoại sắc?
“Thế th́ khinh giới, tức toàn là khinh lấy
ḿnh, hủy luật; tức tự hủy lại ḿnh;
vọng t́nh dễ quen, chí đạo khó nghe, nên chi số
vạn người xuất gia, khó được một
người thoát tục vượt bầy. Xin rơ lời Phật
dạy, không thể không theo ư!?
Đáng tiếc! Bỏ trống qua một
đời, sau ăn năn khó vói!
Hai câu đây, là lời thương và than!
Nghĩa là với luật kinh đă bất minh, tức
tự bỏ mất giới đức của thân, lấy
tâm huệ của tâm mà với huyền đạo(74) không
nhân đâu tỏ ngộ được! Thế là tự
bỏ trống qua cái đời của ḿnh, đến khi
con ma sanh tử đáo đầu (mắt lờ tóc bạc,
gối mỏi răng long) th́, chừng đó, có ăn
năn, đă chẳng kịp nào? nên nói nan truy: khó vói!
Kư: Luật là giới học, kinh là định
học. Trên đó đă chỉ thị môn học rồi;
dưới đây sẽ nói rơ về môn huệ học. V́,
với “đạo” là do nơi Bát-nhă diệu huệ,
mới có thể tỏ hiểu được.
Với giáo lư, chưa từng để ḷng, th́
huyền đạo, không nhân đâu khế ngộ.
Câu trên, huệ giải (trí sáng hiểu) chưa
đủ. Câu dưới, đốn ngộ (chứng
liền tỏ) không do đâu.
Giáo lư, thuyên lư, gọi là giáo, sở thuyên của
giáo nói là lư. Giáo pháp mà nói rơ về lư, tức là mười
hai bộ kinh.
Nguyên bởi đức Như Lai ngài y nơi chân
lư, thành lập ra lời nói, khiến cho chúng sanh y giáo tu
hành, để chứng lấy chân lư.
Tứ Giáo Nghĩa nói “Nói cái lư năng thuyên,
để hóa chuyển ḷng người, nên nói là giáo.”
Hóa chuyển có ba nghĩa: 1-Chuyển đổi
điều ác, làm điều lành; 2-Chuyển đổi
điều mê mờ, làm điều giải ngộ;
3-Chuyển đổi tâm phàm làm nên tâm Thánh.
Nói rằng thuyên lư, là nói rơ cái lư chân đế và
cái lư trung đạo. (thuyên: biện bạch rành rơ)
Huyền đạo, tức là tâm ấn của
Phật Tổ, gượng mà nói th́ là, cái “Đạo lư u
huyền, vi diệu, tịch diệt vô tướng”
Nếu không lấy “giáo lư” của Như Lai
để làm chánh nhân th́, chẳng do đâu đốn
ngộ được cái “Vô thượng diệu
đạo” của Phật Tổ.
Nên đức Đạt-ma từ phương Tây
đến Trung Hoa, Ngài c̣n lấy bốn cuốn kinh
Lăng Già để làm tâm ấn; núi Hoàng Mai, đức
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, khuyên học giả thụ
tŕ kinh Kim Cang Bát-nhă; núi Thiên Thai đức Trí Khải,
tụng kinh Pháp Hoa, chứng thấy vào hội Linh Sơn
chưa giải tán; Tổ Khuê Phong chứng nhập vào kinh
Viên Giác.
Nên sách Tông Cảnh chép “Hai mươi tám
đức Tổ bên Tây Thiên, sáu đức Tổ tại
Trung Hoa, nhẫn đến các vị Tổ như Mă
Tổ, Nam Dương, Nga Hồ, Không San thiền sư…,
các Ngài đều rộng thông kinh luận, trọn giác
ngộ được tự tâm, với những chỗ
khai thị cho đồ chúng, các ngài đều dẫn ra
chứng cứ thành thực, hoàn toàn không bao giờ tự
đem nơi hung ức ra đặt điều
đặt chuyện chỉ bày vọng hoặc.
Thế nên, vẫn trải lâu tuế hoa(75) mà, chân
phong(76) không suy đổ. V́, lấy Thánh ngôn (Phật ngôn)
làm định luật, chúng tà ngụy khôn đổi
dời, dùng chánh giáo làm chỉ nam(77) nương bằng có
chứng cứ.
Nhưng chớ chấp lấy văn tự trên
nghĩa, tùy theo lời nói mà sanh ra nhận thấy,
chẳng phải ḍ thấu ư chỉ dưới chân thuyên,
họp tỏ nơi gốc chủ, th́ cái trí vô sư(78)
được hiện tiền, và đạo thiên chân(79)
không mê muội.
Thế, biết rằng giáo pháp nó có cái sức
trợ đạo, kẻ mới phát tâm tu học đâu
thể tạm quên được ư!
Sở dĩ, từ trước các tiền Thánh,
các nhà Tổ, đâu chẳng nghiên cứu cùng cực chí lư
của tam tạng, để ấn khả nơi tự
tâm, rồi ra xem xét theo phong tục mà khai hóa người
đời.
Các học giả ngày nay, chẳng thể hoàn toàn
được thế, lại khinh khi kinh giáo, là cái tâm ǵ
ru!?
Dẫu là hạng người “đặng cá quên
nơm” th́ kinh luật có lỗi ǵ đâu?
Đức Như Lai kim khẩu thuyết ra,
với một lời một chữ; dù trăm kiếp ngàn
đời, c̣n chẳng đặng nghe thấy, nếu ta
là hạng người vô duyên thiếu phước,
huống nữa được thụ tŕ hiểu tỏ.
Nên biết, giáo điển chẳng làm mê mờ cho
người mà, chính tự người mê mờ giáo
điển vậy thôi.
Tổ Khuê Phong nói “Môn hạ của các tông phái,
đều có người thông đạt, nhưng
đều yên phận theo chỗ học tập, nên lối
thông suốt th́ ít mà, chỗ cuộc chấp lại
nhiều. Chỉ lấy theo cái lề vâng chịu cửa
ngơ, rồi đều mỗi tự khai trương, dùng
kinh luận làm can qua(80) rồi măi lẫn nhau công kích. T́nh
ở nơi hàm thỉ(81) mà dời đổi, pháp theo
nơi nhân ngă làm thấp cao. gây nên thị phi hoang mang, không
thể giải quyết được! Kinh như dây
mực, để nảy tánh ngay xiên, dây và mực phi khéo,
mà anh thợ khéo ắt dùng dây mực để làm bằng;
kinh luận chẳng phải là thiền, mà người tham
thiền ắt phải dùng kinh luận làm chuẩn
đích(82)”.
“Phải biết rằng Kinh là lời của
Phật, thiền là tâm của Phật, luật là hạnh
của Phật. Ba nghiệp Thân, khẩu, ư của Như
Lai, vốn chẳng trái nhau.”
Chỉn bởi, người với pháp sái nhau,
nên pháp cùng người thành bịnh! Các học giả
hễ bỏ được một điều nọ,
lại chấp một điều kia, tự làm điên
đảo lấy ḿnh!
Nếu là người học hiểu đến
nơi đến chốn, quày muôn pháp trở về ḿnh
(ngoài tâm không pháp, tâm diệt pháp diệt) th́, nào có thị,
nào có phi, nào có trái nhau ru!? (Là tự học giả phân
biệt thiên chấp, chớ giới luật, kinh giáo và
Thiền Tông đâu có phải, chăng, trái nhau).
Kư: Hai câu của bổn văn đây, là nói
người mà chẳng có huệ học th́ tức là không
nhân đâu để đốn ngộ được
huyền đạo. Thế th́, nhân học giới
luật, mới rơ được giáo pháp; nhân giáo pháp
mới rơ được đạo lư.
Hỏi: Đốn ngộ là cái tông của
trực chỉ Thiền rồi, thế cần ǵ c̣n
phải dùng kinh giáo để làm chỉ nam ư ? V́ tông này
bất lập văn tự đấy mà!
Đáp: Há chẳng nghe rằng “Hiểu nghĩa
bằng cách y kinh là kẻ thù của Phật ba đời.
C̣n nói pháp mà ĺa kinh chừng một chữ, tức
đồng ma thuyết” (thế, chấp kinh, ĺa kinh,
đều chẳng đặng cả). Lại nói
“Người nay coi kinh xưa chưa khỏi trong ḷng
rộn! Muốn khỏi rộn trong ḷng, cần phải xem
kinh xưa(83).
Bảo Tạng Luận nói “Gương xưa
chiếu yêu(84) tinh, yêu tinh tự lộ h́nh, kinh xưa
chiếu vào tâm(85), tâm ấy tự tỏ sáng”.
Nếu biết tất cả pháp, vốn là tánh
đức diệu dụng trong Như Lai tạng, thế,
th́ có chi là thị, có chi là phi, có chi là văn tự ư?
Mười hai bộ kinh: Đức Như Lai
thuyết pháp trong bốn mươi chín năm, giáo pháp
ấy phân làm mười hai phần mà, thống nhiếp
cả ba tạng: 1-Phần khế kinh, 2-Phần trùng
tụng, 3-Phần thụ Kư: 4-Phần già-đà, 5-Phần
vô vấn tự thuyết, 6-Phần nhân duyên, 7-Phần thí
dụ, 8-Phần bổn sự, 9-Phần bổn sanh,
10-Phần phương quảng, 11-Phần vị tằng
hữu, 12-Phần luận nghị.
Nam Dương: Trung quốc sư. Nga Hồ:
Đại Nghĩa thiền sư. Tư Không Sơn:
Bổn Tịnh thiền sư.
II.A.1.k- Lỗi chẳng tu học
Kịp đến, năm tuổi lớn già, ḷng
dạ trống cao, chẳng chịu gần gũi bạn
lành, chỉ biết khinh khi kiêu ngạo.
Hai câu trên, rơ cái ngă tướng, hai câu
dưới, rơ cái mạn tướng. Lại, câu
đầu sanh niên, tăng lạp cao mà chả có giới
đức; câu thứ đó ḷng cống cao mà không có
đạo lễ nên nói là bụng trống. Chẳng
khứng gần gũi là tự thị. Chỉ biết kiêu
ngạo là lướt người. Hai cái thói đề cao
và xấc xược ấy đều thuộc về cái
tướng khinh mạn.
Song, cái mạn tướng nó có sáu thứ:
1- Quá mạn: Đối với trong pháp
tương tợ, chấp ḿnh là hơn người.
2- Mạn quá mạn: Nguyên người vốn hơn ḿnh, mà
cưỡng nói bướng rằng ḿnh hơn
người.
3- Ngă mạn: Ỷ thị ḿnh hơn mà lấn lướt
người ta.
4- Tăng thượng mạn: Nguyên ḿnh chưa đắc
đạo, mà nói dóc rằng đă đắc đạo.
5- Hạ liệt mạn: Vốn ḿnh chả có tài năng ǵ
mà lại tự khoác khoe khoang.
6- Tà mạn: Chấp trước cái thói tà kiến của
ḿnh để khinh lướt, khi dễ người khác.
Chừ đây, với sáu cái mạn kể trên th́,
cái ḷng cống cao và kiêu ngạo ấy, thuộc về cái
mạn quá mạn, ngă mạn và cái hạ liệt mạn.
Kư: Luống tự tuổi già mà đức
hạnh chả bằng ai cả, chỉ biết kiêu
ngạo mà không có đạo phẩm ǵ khá tôn.
Niên là tuổi sanh, tức từ lọt ḷng
mẹ đến già. Lạp là giới lạp tức
từ thụ giới Tỳ-kheo về sau. Thân phụ là
thân cận. Lương bằng là thiện hữu. Cứ
ngạo là chẳng khiêm nhường, tức ngạo khi
nơi người.
Chưa làu pháp luật, trọn không hạnh
kiểm.
Câu trên, mất giáo học, luật học. Câu
dưới, mất thân giới tâm huệ. V́ chẳng
khứng thân cận minh sư thiện hữu, th́, làm ǵ
biết được giáo, luật để tu tŕ?
Chưa biết tu tŕ th́, đâu có thể thu tóm thân tâm cho vén
khéo?
Kư: Kinh giáo, là để pḥng ngừa tam
độc; luật giới, là để cấm thất
chi tội. Vị am: Chưa biết. Trấp liễm: thu
nhiếp.
Hoặc lớn tiếng nói càn, thốt lời
không lễ độ, chẳng kính bực thượng
tọa, trung tọa, hạ tọa,(86) chẳng khác nào
tục Bà-la-môn hội họp, bữa ăn khua chén bát
nổi tiếng, hễ ăn rồi trước là
đứng dậy trước.
Hai câu đầu, quấy về khẩu
nghiệp; hai câu thứ, quấy về ư nghiệp cũng
lỗi mất uy nghi quỷ tắc nữa; hai câu rốt,
quấy về thân nghiệp, cũng mất luôn qui củ.
Do chẳng biết pháp luật, ba nghiệp không qui
phục, nên gây ra cái điều quá thất ấy. Nếu
hay thâu tóm lại th́, không sự chi mà chẳng xong.
Bà-la-môn: Tục sĩ, là một trong bốn tánh
của nước Tây Vực. Tục lệ của họ
là, chỉ trọng tuổi cao, chứ chả quí
đức lớn, thành thử, không kính thượng, trung,
hạ tọa, v́ ai đến trước th́
được tôn lên trước, kẻ tới sau th́
phải ngồi sau. Khi tụ hội không qui củ trật
tự, reo ồn lắm chuyện!
Các nhà sư mà không trấp liễm uy nghi, nên không
khác ǵ với Bà-la-môn kia!
Kư: Tiếng Phạn Bràmana (Bà-la-môn, đọc
đủ Bà-la-ha-ma-noa), dịch Tịnh hạnh, cũng
dịch Phạm chí.
Tứ tánh: 1-Sát-đế-lợi, là ḍng giống
vua. 2-Bà-la-môn, ḍng sang trọng. 3-Tỳ-xá, ḍng buôn bán.
4-Thủ-đà, ḍng nông nô.
Vô độ là không có pháp độ. Tụ
hội là nhóm họp, như hoặc ngày tế tự mà
họp, hoặc ngày tiết hội (87) mà họp, hoặc
luận nghị mà họp. Vô thù là không khác.
Người xuất gia, lấy giới lạp
làm cao, nên đức lớn; chứ chẳng luận sanh
niên làm tôn trưởng.
Tới lui trái phép, toàn không tư cách nhà Tăng.
Câu trên, mất đạo pháp, câu dưới, uy
nghi cũng mất luôn. Qua lại chẳng c̣n mảy mún quy
tắc, như ngọc Khuê mất cái h́nh vuông, nên nói là quay
giác (sái cách), lúc hành động, khi yên tịnh, chẳng
đủ mọn mạy uy nghi, như ḍng Bà-la-môn tụ
hội, nên nói là toàn vô.
Kư: Quay: trái bề. Giác: vuông. Phương: pháp,
đạo. Lui tới trái phép, là đặt để sái
bề vuông. Thể của ngọc Khuê là trên tṛn
dưới vuông, là tượng trưng cái thể quy
củ phương viên của thiên địa. Ngọc Khuê
mà mất cái bề vuông, tức là phi ngọc Khuê; cũng
như nhà Tăng mà trái phép tức phi nhà Tăng, nên nói là
toàn vô.
Đứng ngồi tháy máy, động ḷng
niệm người.
Câu trên tự mất uy nghi, câu dưới,
người mất tịnh niệm. Ba nghiệp chẳng
cẩn thận, nên khi ngồi lúc dậy không chừng,
lắm điều thô tháo, khua khún, bởi thế, khiến
người động tịnh niệm.
Kư: Trung Chư, là ư thức lô xô lởm xởm,
tánh t́nh không yên ổn, cử chỉ không đề
đạm.
Ngài Từ Thụ Thâm thiền sư nói “Khiến
người động niệm, dễ sanh ma
chướng. Tỷ như “đông miệng nát vàng”(88), tâm
ḿnh nào vui. Dẫu làm phước nhiều, chẳng
bằng tránh tội. Trong ḷng người động
niệm, ḿnh mê muội chẳng biết. Ngày qua tháng
lại, mặt úa thân gầy!”.
Chẳng c̣n mọn mạy quỉ tắc, chút
đỉnh uy nghi, lấy chi làm mô phạm để thúc
liểm kẻ hậu côn, lớp tân học Tỳ-kheo không
nhân đâu bắt chước.
Hai câu trên, tự mất quy pháp, hai câu dưới, chẳng
thể làm gương cho ai. Đă phần ḿnh không c̣n quy
pháp, có ǵ làm mực mẫu cho kẻ khác, thế nên kẻ
lai học không do đâu học đ̣i phép tắc.
Kư: Tân học là sơ học. Hậu côn là hậu
hiền, tức hậu học. Phơng Hiếu nghĩa như
Thủ pháp. Sách nói “Chẳng ǵn tế hạnh th́ rốt
lụy đức lớn”. Người Nho c̣n thế, phương
chi kẻ xuất gia ư?
Vừa xét nhắc nhau, th́ tự hào rằng tôi là
sư ở núi.
Câu trên, người nhắc nên cho, câu
dưới, ḿnh tự khinh mạn. Nghĩa là, người
hiền chính muốn lấy lời lành giúp thành nhau, mà
lại tự tiện sanh ngă mạn, thành thử buông ra
lời không biết hổ ngươi ấy!.
Kư: Rằng “Tôi là thầy núi” nghĩa là, ta đây
là người ở núi, chỉ cần một câu thoại
đầu(89)đủ rồi, chứ quản chi những
sự kinh luật uy nghi tế hạnh cho phiền
phức!
Ngài Pháp Xương thiền sư nói “Có một
hạng người, chỉ ghi nhớ lấy một
bụng cát đằng(90) (chữ nghĩa), rồi lên
chưn, khua môi múa mơ, lời Hồ tiếng Hán(91) (cũng
như tiếng Anh, tiếng Pháp), tự hào, rằng ta
biết thiền, hiểu đạo, khinh dể
người hiền, làm cái nghiệp của địa
ngục vô gián. Một mai, mắt lờ ngươi
tối, cái cảnh nghiệp nó hiện tiền, bấy
giờ tỷ như con cua con c̣ng sa vào nước sôi, thôi
th́ mặc sức queo ngoe rụng càng, và tay run run, chơn
bủn rủn! Từ trước học đặng cái
hoạt kế(92) ǵ đó, chừ đều vô dụng!
Nếu nghe ai có kẻ vạch trúng việc trong bụng
của hắn th́ ḷng giận phừng nổi, nói
bướng rằng “sự ấy có dính líu ǵ với
Phật pháp, hễ là đại ngộ th́ có câu chấp chi
nơi tiểu tiết”. Bọn ấy, in tuồng đem
phân trâu sánh với gỗ hương chiên đàn, có nhằm
ǵ đâu!”
Ngài Từ Giác thiền sư nói “Hoặc có
người tự thị cái tánh thiên chân(93) của ḿnh, mà
bát bỏ hết cho là không nhân không quả, nói bướng
là “Việc nầy chỉ từ trong bụng đem ra”,
chớ họ không y theo địa vị tu hành. Sở dĩ,
ông Thô Giải(94)pháp sư, chẳng thông giáo nhăn(95), ông
Hư Đầu(96) thiền khách chẳng quư hạnh
môn(97). Đó là phạm cái tội về bịnh thiên khô(98)!
Hoặc có kẻ, cả thân thây đày đọa,
đầy mặt mũi phong trần, ba ngàn tế hạnh
trọn không, tám vạn uy nghi đều thiếu, hoặc
th́ quản lư việc người, gom thâu bổn
đạo, thân th́ rông trong thành thị, tâm th́ nhiễm thói
thôn quê; sở dĩ các ông thường tăng ở núi
ở đồng, cho khỏi bị tiều phu nông phu
chế giễu, các Thích tử ở thành ở chợ,
lại mắc phải nho sĩ tục sĩ khinh khi. Đó
đều là phạm cái tội lười biếng!”
Dưới đây, chỉ ra chỗ sở do không
tế hạnh và lười biếng.
Chưa nghe Phật dạy tu tŕ, một bề ḷng c̣n thô
tháo.
Câu trên, mất nghe và tu, câu dưới, mất định
và huệ.
Chưa nghe, học đến pháp luật th́ làm
ǵ biết được việc tu tŕ? Với giới và
định chưa tu, nên đến đỗi tánh t́nh
đồng vượn, ngựa (tâm viên ư mă).
Kư: Văn là văn huệ. Hành tŕ tức tu
huệ. Thế, với cả ba huệ văn, tư, tu mà
chỉ nói lên Văn, Tu là để gồm Tư huệ
trong đó rồi. Ba ấy, đều nói là Huệ, nghĩa
là, do ba pháp ấy đều hay phát sanh cái huệ vô lậu
của bực Thánh; nếu không có cái huệ ấy th́, không
thể đoạn hoặc vọng, chứng chân như(99)
được.
Chỗ thấy biết mà tệ như thế là,
bởi lúc đầu đi tu, tâm ưa lười
biếng, mài miệt theo thói tham của và tham ăn.
Câu đầu thừa tiếp lời trên phát
khởi lời dưới, câu thứ, lúc vào học
đạo chẳng cần mẫn, câu rốt, v́ tham
lợi mà bỏ mất qua ngày.
Thấy biết như thế, là chỗ kiến
thức theo tập quán đê hèn trên kia.
Bởi lúc đầu, ḷng lười biếng… là
do ban đầu vào đạo mà tâm không siêng, nên nói là
lười biếng.
Chưa nghe Phật dạy tu tŕ, thành thử tham
lam danh lợi, chẳng khứng gần gủi bạn lành,
bởi thế, lần lựa qua ngày, cái ḷng tạp
nhiễm càng sâu, thói ác tập thêm lớn, nên khiến cái
thấy biết như vậy. Chính chỗ bảo “Ban
đầu chẳng gặp đấng tác gia(100)” đó
vậy.
Kư: Nhung: biếng trễ. Thao: tham tiền tài.
Thiết: tham ẩm thực.
Kinh pháp diệt tận ghi lời Phật tiên tri
rằng “đến cái thời giáo pháp muốn diệt, các
vị ma vương trá h́nh làm Sa-môn, làm hoại loạn
đạo pháp của ta, chúng mặc quần áo theo
kiểu, màu của thế tục, ưa sắm cà-sa
rất tốt bằng hàng lụa ngũ sắc. Không
thực tu theo giới luật, với nửa tháng, nửa
tháng dù rằng tụng giới bổn, mà chán mỏi
trễ lười, chẳng muốn chăm nghe, không thích
đọc tụng kinh luật.
“Dẫu có đọc tụng, chẳng biết
trật chữ, phân câu, lại cưỡng cho là phải,
chứ không cần hỏi han người biết rành.
Chỉ biết, phách lối cầu danh, luông tuồng
thả lội, lấy làm vinh quí, để mong
người ta cúng dàng.
“Sanh mạng cuối cùng, chết rồi sẽ
đọa xuống địa ngục vô gián, rồi ra,
đâu chẳng trải qua, lội lại hoặc làm
người trong tội ngũ nghịch, hoặc làm
ngạ quỉ, hoặc làm súc sanh; măi vô biên hằng sa
kiếp số, chịu hết tội ấy rồi,
mới được xuất sanh làm người khỏi
tội mà phải ở nơi ranh b́a của cơi nước
là chỗ không có ngôi Tam bảo”.
Xem như lời Phật đă sấm kư “Nửa
tháng nửa tháng tụng giới, c̣n chẳng muốn nghe”,
thời đại ngày nay, tụng giới đă ít lần,
huống nữa đặng lóng nghe! Hởi ôi! Cái hiện
trạng của chánh pháp đă sắp diệt!
Đời xưa, thuở nhà Tề, ông Tăng
Vân trú tŕ Bửu Minh tự nơi thủ đô Nghiệp
Hạ, lấy cái giảng diễn được nổi
tiếng, và được xếp đặt luôn chúng lư.
Với ngày 15 tháng 4 là thời tụng giới bổn,
tăng chúng tề tựu; ông Tăng Vân ngồi đầu
bàn chủ tọa, đối chúng, báo cáo rằng “Giới
luật là vốn để đề pḥng điều phi
pháp th́ mỗi người ai tụng cũng đặng,
cần ǵ mỗi nửa tháng nghe hoài; chừ nên đề
cử một Đại đức lên pháp tọa, lập
danh đề giảng nghĩa, khiến cho kẻ hậu
sanh được mở mang giác ngộ là có ích hơn”.
Cả chúng không dám phản kháng, thành thử
bỏ việc tụng giới. Đến mờ sáng,
rằm tháng 7, bỗng nhiên, ông Tăng Vân đâu mất!
Chúng đạo đều tứ tán ra đi t́m kiếm
khắp nơi, măi lâu mới thấy được ông
nơi g̣ mả xưa cách ngoài chùa chừng ba dặm mà máu
me chảy ướt cùng ḿnh!.
Chúng hỏi duyên cớ ǵ? Ông thuật lại
rằng “Thấy một viên mănh sĩ, tay cầm con dao
lớn, xẳng tiếng quở trách rằng “Sư là
người bực nào, dám bỏ lễ Bố-tát, lại
quấy sung việc thụ nghĩa?”. Liền lấy dao
cắt cứa vào thân tôi, quá đau khó chịu!”
Chúng nhân bè đem về chùa; từ đây ông
Tăng Vân hết ḷng thành sám hối, trải qua
mười năm, chí thành tận kính, thuyết giới
bố tát, đọc tụng các kinh, giữ làm cái công
nghiệp thường tu.
Đến ngày lâm chung, ai cũng đều nghe
thấy có mùi thơm lạ đến rước, ông
vẫn vui tươi mà tịch. Đương thời ai
cũng khen là răn ḿnh, đổi lỗi hiện
đời, chẳng sa xuống lớp hèn.
Lại, chùa Đại Giác có ông Tăng Phạm,
là bực giới đức thanh cao, thường
thường đến ngủ nghỉ nơi chùa khác.
Với bữa rằm, chúng tăng đề nghị và
chấp thuận đ́nh lễ Bố-tát, đưa lên
một ông Sư lập đề diễn nghĩa. Bấy
giờ, có một Đại đức lên pháp tọa, tŕnh
bày rằng “Lập luận pháp tướng, dễ hiểu
sâu được ư nghĩa của Phật, nhọc chi
phải bố tát, v́ là chúng tăng đă thường nghe
rồi”.
Chợt thấy có một vị thần, thân cao
hơn trượng, tướng mạo uy mănh hăi
người, tay chỉ vào Sư thụ nghĩa rằng -
Nay là ngày ǵ? - Dạ, ngày Bố-tát.
Vị thần liền dùng tay đè đầu, kéo xuống
dưới tọa, thoi tát gần chết! Kế đó,
vị thần cũng hỏi một Thượng tọa
nữa, đáp cũng như ông trước. Vị
thần cũng đè đầu, kéo xuống, đánh thoi
như thế, khiển trách luôn đến hai, ba ông sư
rồi, vị thần buông tay, đùng đưa
bước ra, biến mất. Đương thời,
tại tọa kẻ đạo người tục cùng
đủ thấy nghe.
Sư Tăng Phạm đă thấy nghe tận
mắt, do đó mà càng thêm tự gắng cả đời,
nào là Tăng sự, nào là chuyện riêng của ḿnh, cũng
không thuyết dục(101). Nhẫn đến khi có bệnh
nặng, không thể chỗi dậy, ngồi xe, c̣n
rước một vị tăng về pḥng ḿnh, để
cung kính thuyết giới.
Thời đại ngày nay, các ngài thiên về
sự cao chuộng học kinh, học luận, học
thiền mà, khinh dể giới luật đó. Xin xem sự
tích trên, rồi tự nghĩ nhớ lấy!.
Lễn mễn nơi nhân gian, thành ra thưa
vụng, quê mùa, chẳng ngờ cốm rốm già hủ,
chạm đến sự chi, ngơ mặt vào vách.
Hai câu trên, lội theo thế tục nên quê mùa, hai
câu dưới, già suông, chứ không học thức ǵ.
Lại, câu đầu là giao thiệp, xông ướp
lấy mùi đời, câu kế đó là đă thành tập
quán, câu ba là thoạt đă đến suy già, câu bốn là
cái vô minh hoặc ngày càng che tối.
Số là, v́ không lo học tu theo đạo
nghiệp chân chánh, chỉ mải miết luông tuồng buông
thả, ngày càng giong ruổi chuyện thế, vín níu
cảnh trần, buông lung sáu t́nh(102), nên đến
đỗi ḷng nết thành ra đần độn, thói
nhiễm ngày càng sâu đậm, mà không có sức quán
chiếu th́ đâu có biết bốn hiện trạng
đổi dời, bỗng chốc cái tướng suy già
đă đến mà, nẻo ḷng bất thông, trăm việc
chả hiểu một nào, chạm đến vật ǵ
đều thành bít lấp như người day mặt vào
vách(103).
Những người ấy, đều bởi
chẳng khứng rộng hỏi bực Tiên giác, nên
khiến đến già, thành ra cốt đổng(104) (xáo
lộn,).
Kư: Nhẩm nhiễm, nghĩa như tán mạn
(lần lựa) xâm tầm (buông thả, không tự kiểm
thảo).
Lủng chủng, là chơn đi mà bước
không tới trước được, v́ thân thể suy
bại. Hủ, tức là suy hủ, chính chỗ gọi
“Tuổi đă già hủ mà, không có 3 thứ mùi, luống
uổng cái kiếp sanh và tử, bỏ không qua một
đời!”.
Không ba thứ mùi, là ví như cây mía ngọt mà
đă bị ép hết nước rồi, cái xác bă không c̣n
vị mùi ǵ nữa. Ôi! cái tuổi trẻ sắc
tươi, nay đă bị cái già hủ nó ép không c̣n ba món
vị là 1-Không thể tụng kinh giải nghĩa; 2-Không
thể ngồi thiền tu quán; 3-Không thể xiết
việc nhọc và làm phước.
Tứ tướng: bốn hiện trạng là:
1-Sanh ra; 2-Ở đời; 3-Dị: h́nh sắc khác lần,
4-Diệt: chết mất.
Cốt đổng, Mặc Đàm nói “Các ông già
ở núi La Phù(105) ưa dùng các vị ăn uống nấu
chung lộn làm một, là tên của một món ăn). Ngày
nay, người thế tục nhiều nơi mượn
dùng cái danh vị đó, như là gọi nấu xá bần,
nấu kiểm. Cốt đổng: bún lộn xáo, xáo
lộn bún. Chính là nói già lẫn, lộn đầu lộn
đuôi.
Hậu học có thưa hỏi điều chi,
cũng không lời ǵ dẫn dắt, dù có bàn nói, chẳng
nhằm điển chương nào!
Hai câu trên, người mất nhờ nhuận
ích, hai câu dưới, lời ḿnh thốt chẳng quan
thiệp với sách.
Đă là chạm việc mặt vách, th́, đem chi
để chỉ vẽ cho hậu côn, dù có nói ra một
lời nửa câu ǵ, cũng chả ăn nhập vào
điểm mô nào của Phật Tổ.
Thế có khác nào với câu “chẳng thấy con
hạc già dưới nước” ru!
Kư: đức Như Lai nhập diệt chưa
bao lâu, có một thầy Tỳ-kheo đọc lộn bài
kệ trong kinh Pháp Cú như vầy “Người mà sống
trăm tuổi, chẳng thấy hạc già nước,
chẳng bằng sống một ngày, mà thấy
được rồi đó”.
Bấy giờ, ngài A-nan Tôn giả vừa nghe
rồi, bùi ngùi than rằng “Chánh pháp của Như Lai
diệt sao chóng ru?” Rồi bảo Tỳ-kheo kia mà cải
chính rằng:
Như lời Phật thuyết th́, “Nếu
người sống trăm tuổi, chẳng thấy pháp
sanh diệt, chẳng bằng sống một ngày, mà
được thấy rồi đó”.
Tỳ-kheo kia về chùa, đến nói với
Thầy nghe lại câu chuyện trên, Thầy y bảo
rằng “A-nan già cả, nói hay sai lầm, chẳng nên tin
theo, ngươi phải đọc lại như
trước”.
Xét, thuở xưa, đương thời chánh
pháp mà hăy c̣n sai ngoa thế đó, huống chi ngày nay cách
Phật đă xa, mà nếu chẳng gần gủi thầy
hay bạn giỏi mà có thể thốt lời có quan
thiệp với điển chương được
ư!?
Hoặc bị lời chúng khinh, liền trách
hậu sanh sao vô lễ, ḷng giận phừng nổi, nói
lấn lướt người.
Câu đầu, không đức bị khiển
trách, câu hai, chẳng tự xét lỗi ḿnh, hai câu
dưới, ḷng nổi sân thốt lời độc,
tổn thương người (như chưởi,
mắng, rủa…!)
Lời nói đă chẳng nhằm kinh điển
th́, có lạ ǵ bị người ta khinh rẻ! Chẳng
tự xét lỗi ḿnh, trở lại trách cái quấy của
người. Một phen lửa giận phực lên, không chi
chẳng cháy ráo (như một niệm sân tâm nổi lên,
trăm vạn cửa chướng đều mở!).
Kư: Sân: giận, là cái hơi giận phừng phừng
xông trào lên. Phẩn: hờn, là đối với kẻ làm
nghịch ư mà căm hờn. Lại, hờn người ta
là sân, tự hờn lại ḿnh là khuể. Hận: hờn
căm căm chứa kết trong ḷng. Khuể: hờn
người không theo ư ḿnh.
Ngài Đạo An pháp sư nói “Đối với
kinh, đạo, ḿnh đă bất thông, với giới
đức lại toàn chẳng có, tất nhiên, bị
bằng hữu x́ hơi mũi cười giễu, bạn
đồng học bỏ rơi, người xuất gia mà
như thế là, luống uổng mất tuổi sống
dưới ṿm trời!”
II.A.1.l- Nghiệp quả thời thục
Một mai, bịnh nằm tại giường,
các khổ buộc ràng ép ngặt! Sớm tối lo nghĩ,
trong ḷng hồi hộp!
Hai câu trên, cái thân bị khổ, hai câu
dưới, cái tâm bị khổ! Cái thời Dị
thục(106) đă đến, thân tứ đại trái
thường hễ một đại chẳng điều
ḥa th́, cả trăm mạch và gân đều giựt rút!
Nép đầu xuống gối, đă nghĩ lại lo, th́
ra, không có một điều lành ǵ khá ghi, thôi thời, bó tay
chịu chết xuống cửa Hoàng Tuyền, chứ có
ngờ ǵ nữa, thế, há chẳng bối rối lo
sợ ru?
Kư: Hoanh: buộc cột, Triền: trói ràng. Bức
bách: là dường như bị xua đuổi quá gấp
ngặt. Hiển tịch: sớm mai và xế chiều.
Tư thổn là suy nghĩ xét đo. Hồi hoàng là mờ
rối e gấp!
Trước đường mờ mờ,
chả biết đi đâu. Từ nay mới biết
ăn năn lỗi, như đến khát mới đào
giếng(107) sao kịp!?
Hai câu trên, chẳng biết sẽ đi
đến chỗ nào, hai câu dưới, chừ vói ăn
năn chẳng kịp!
Lục đạo như đường hiểm
nạn, sanh tử như đồng mênh mông, chẳng
biết chỗ sanh lai, đâu biết chỗ tử khứ
(sanh bất tri ṭng hà xứ lai, tử bất thức ṭng hà
xứ khứ), ngày trước chẳng sớm tính toan,
đến giờ rồi ăn năn sao kịp?
Phật ngài giác ngộ cho rằng “Người ta
v́ si, nên mới có sanh tử. Kẻ nào là si? Vốn từ
trong si (vô minh vi phụ, tham ái vi mẫu) mà sanh lai,
đời nay lại vẫn tạo si (cũng vô minh
cũng tham ái) nữa, tâm đă không giải thoát, không khai
ngộ, nên chả biết sau khi chết sẽ thú
hướng đến chỗ nơi nào?”
Chính chỗ bảo “vị tri hà văng”.
Kư: bổn văn đây, câu đầu: tam
đồ, lục đạo quá rộng ŕnh không bờ mé.
Câu thứ hai: cái tâm thức nó chẳng biết chỗ
để đi. Câu thứ ba: đến lúc cuối cùng
mới ăn năn tội khiên từ trước. Câu
thứ tư: lập lời dụ để cho rơ ra. Kinh
Bách Dụ nói:
“Thuở xưa, ở ngoại quốc có một
kẻ bần cùng, giả làm tiếng con oan ương kêu
giống hệt, anh học giả làm tiếng chim ấy
kêu là, muốn để bẻ trộm hoa sen. Liền vào ao
sen của vua, ứng tiếng kêu Oan ương! Oan
ương!
Người giữ ao nghe mà sanh nghi, hỏi
“Thứ ǵ kêu trong ao đó?” Gả bần nhân hốt
hoảng vấp miệng đáp rằng “Tôi là con chim oan
ương” - Ủa? Oan ương sao biết nói tiếng
người!? Chết! Chú nầy giả oan ương kêu
để trộm hoa sen đây mà.
Kẻ giữ ao bắt trói, đem đi
để nạp lên vua. Đi được nửa
đường anh chàng lại ứng tiếng làm chim oan
ương kêu Oan ương! Oan ương! Người
giữ ao phẩm b́nh rằng:
- Sao khi nảy, tại trong ao mà tôi hỏi đó,
chú đă không kêu như thế, lại ứng tiếng
rằng “Tôi là chim oan ương”, bây giờ c̣n làm cái cách
đó ích ǵ đâu?
Vả lại, chính chim ấy kêu như thế này
Oan (là con trống kêu) ương (là con mái kêu) Đó là
trống kêu, mái ứng, nên mới gọi là oan ương,
v́ mỗi con kêu mỗi tiếng; c̣n đây chỉ một
ḿnh chú là đàn ông mà lại kêu luôn cả hai tiếng oan
ương như thế, trách sao không ḷi mặt nạ
của tṛ bịp! Thực “có gian mà không có ngoan”.
Kẻ mà giàu cái tánh chất ngu si ở thế
gian, cũng lại như thế, v́ trọn đời
tạo đủ các nghiệp ác, chả có một phút nào
tập tành tâm hạnh khiến cho hiền lành, để
đến khi gần đất xa trời, sắp xuống
miệng lỗ rồi mới nói cái câu toàn vô hy vọng
rằng “ta nay muốn tu phước thiện”.
Th́ ra, bấy giờ đây, quỉ vô
thường, lính ngục tốt sắp bắt đem
đến nạp vào chỗ Diêm-la vương, thế,
chừ đây, mặc dù có muốn tu phước hành
thiện ǵ, cũng chẳng cứu văn chi kịp được!
Tỷ như anh chàng giả chim kêu để đánh
lừa trộm hoa sen kia, bị chúng lôi họng gần
đến chỗ vua, chừ mới lấy hai cánh tay làm
như vỗ cánh, đập đuôi rướn cổ lên
mà kêu rằng Oan ương! Oan ương! Th́ quá muộn
rồi!
Giận ḿnh sớm chẳng dự tu, tuổi
xế (già) nhiều điều quấy lỗi, khi sắp
chết đi, tay quơ quào, chơn run giựt, sợ hăi
dớn dác!
Hai câu trên tự trách lại ḿnh. Hai câu
dưới mất sức tự chủ. V́ ngày
trước chẳng chừa ba độc, đến lúc
bóng xế tuổi già, tội chất như núi. Thuở
sanh mạng cuối cùng, cái cảnh ác nghiệp nó hiện
ra trước, giờ đây, ví dẫu miễn
cưỡng có làm chủ trương đi nữa, cũng
khó khỏi cái tấn kịch phách bố chương hoàng!
Chính là, ngày trước gót chơn chẳng
vững (chả có lập trường tu học ǵ chắc
chắn), nên chi, lúc thần thức sắp ĺa thân nầy để
đi thụ thân khác th́, tay run, chơn rủn!
Kư: Quá cửu: quấy lỗi tức tội khiên.
Hoác: tay chơn tráo trớ lật úp, vặn trái. Huy: cánh tay
bị gân giựt lay động. Hoác: cánh tay bị rút gân
lật trái. Nghĩa là, như trong khi lật bàn tay, là nói
rất chóng mau. Phạ bố chương hoàng là quá ư e
gấp sợ sệt!
The lủng sẻ bay, thức tâm theo nghiệp.
Như người thiếu nợ, ai mạnh kéo
trước. Tâm dệt nhiều mối, chỗ nặng
mích sa.
Hai câu trước thân tâm theo nghiệp, hai câu
thứ nghiệp mạnh lôi tâm, hai câu sau quả báo thiên
lệch, do tâm tạo nặng.
Lại, câu đầu tỷ dụ cái quả
nghiệp (báo thân) của đời trước nay nó
đă tàn tạ rồi. Câu thứ hai tâm theo nghiệp
đi. Hai câu ba, bốn ví dụ hễ nghiệp nào mạnh
hơn, phải trả quả trước. Câu năm
vọng niệm phi một. Câu sáu quả báo theo tâm mà đọa.
Song, nghiệp mà thiện hay ác, mạnh yếu
bởi tâm; với chỗ mà chịu quả báo, nặng
nhẹ tự chia. Nghĩa là, cái tâm mà cấu uế
trọng trược, tức nhiên phải đọa
nơi tam đồ; cái nghiệp lành th́ nhẹ bổng, là
siêu thăng lên cơi người hoặc cơi trời.
Nếu căn cứ trong pháp xuất thế gian
th́, cơi nhân, cơi thiên, vẫn c̣n là quả báo hữu lậu,
cũng gọi là đọa; chỉ có kẻ mà nhất tâm
chẳng sanh vọng niệm, mới giải thoát
được cái cảnh luân trụy tam giới.
The lủng sẻ bay, sẻ: chim se sẻ.
Đại luận nói “Con chim sẻ chun vào trong cái b́nh
(lọ), người ta lấy tấm vải the bịt
miệng b́nh, bất ngờ tấm the có rách lổ, sẻ
chun ra bay đi mất, là thức thần theo nghiệp
giong”.
Chừ lấy cái b́nh, dụ thân tứ
đại. Tấm the dụ mạng căn. Chim sẻ
dụ thức thần. Thức thần tức là cái
thức tâm.
Nhân v́, nương nơi cái nghiệp thiện hay
ác của đời trước đến chịu cái thân
quả báo của đời nay; tỷ như chim vào b́nh
bị nghiệp nó ràng buộc , như tấm the bịt
miệng b́nh. Khi mà thân quả báo sắp tàn tạ, liền
phải theo nghiệp. Như the lủng, chim bay đi, mà
đi ắt cũng theo nghiệp, nên gọi là tùy tẩu.
Do thức tâm nó bị buộc lấy cái dây
nghiệp (mười thiện, hay mười ác) tại
nơi sắc b́nh (ngũ ấm thân) mà, không chỗ nào (ba
giới, sáu đạo) nghiệp nó chẳng đến. Cái
dây nghiệp chưa dứt th́, đi rồi c̣n trở
lại (luân hồi), b́nh bể dây dứt (rời thân
phận đoạn sanh tử) th́, đi mà không trở
lại (biến dịch, chớ không luân hồi).
Nghĩa là, hiện nay, thân tứ đại
hoại diệt, gọi là đi, để thụ cái thân
đời sau, gọi là trở lại. Người mà
tiến đến quả Vô học (La-hán), mới gọi
là cái b́nh bể (diệt thân hữu lậu rồi). Hết
cái nghiệp đời sau, gọi là chẳng trở
lại (không sanh diệt lại thế gian nầy nữa).
Rằng thức tâm ấy, tức là cái thức
A-lại-da, một tâm vương thứ tám, nó chứa
giữ hột giống của mười thiện,
mười ác, để làm tổng báo chủ cho một
báo thân.
Tùy nghiệp là cả sáu thức trước,
sở tạo ra nghiệp thiện, nghiệp ác, để
rồi cùng dẫn cái thức thứ tám đi thụ cái
tổng báo thân ở trong một đạo giữa sáu
đạo. Thế, nghiệp là năng dẫn, thức là
sở dẫn, nên nói là theo nghiệp.
Kéo trước: giữa hai nghiệp thiện và
ác, cái nào mạnh, nặng hơn th́, nó kéo ngă về phía nó,
để đến thụ quả báo cho tương lai
trước đă, c̣n cái nghiệp nào nhẹ, sẽ
thụ quả báo sau.
Tâm dệt nhiều mối: cái thức thứ sáu
(ư thức) nó có mỗi mỗi vọng tưởng, phân
biệt nhiều lắm, nó thường vín leo nơi sáu
cảnh trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp),
làm mọi điều ác nghiệp, sa đọa xuống
tam đồ. Hễ cái tâm vọng nhiều th́ đọa
nặng (đại địa ngục), ít th́ đọa
nhẹ (tiểu địa ngục).
Tổ Khuê Phong nói “Làm việc có nghĩa, là cái tâm
tỉnh ngộ, làm việc vô nghĩa, là tâm tán loạn. Tán
loạn là theo cái vọng t́nh nó xây chuyển, khi lâm chung
phải bị ác nghiệp lôi kéo; người mà tâm tỉnh
ngộ chẳng do nơi vọng t́nh th́, khi lâm chung có
thể tự chuyển đổi được ác
nghiệp. Muốn nghiệm biết sau khi lâm chung đi
thụ sanh, được tự tại hay chẳng
tự tại, chỉ nghiệm xét lấy tầm
thường hằng ngày, cái tâm hành động đối
với cảnh sáu trần, được tự do hay
bất tự do, trong hai mươi bốn giờ, ta
tự phải kiểm xét lấy”.
Thế, đấy là Tổ Khuê Phong ngài dịch
thêm cho học giả một phương thuốc phát
hạn tán (đổ mồ hôi giải cảm), vậy,
chư nhân giả! Tốt hơn tự xét nghiệm lại
ḿnh coi, rốt chớ chầy (chậm trễ) qua!
Kư: A-lại-da, đây rằng tàng thức,
nghĩa là, v́ nó thường hàm tàng những hột
giống các pháp thiện ác của thế gian và xuất
thế gian.
Do v́, lúc rốt trước (khi đi đầu
thai) cái bất giác (mê) vọng động (nhân ái vi
chủng, nạp tưởng thành thai) lên, mà thành ra cái vô
minh, vô minh nó xông ướp vào cái chân như (chân vọng ḥa
hợp) mà thành làm cái thức A-lại-da. Thức đây nó
hay chấp tŕ hột giống của các pháp thiện ác,
thường khiến cho cái ḍng sanh tử tiếp tục
chuyển măi chẳng dứt, nên thức đây cũng tên
là Chấp tŕ thức. Hoặc tên là Dị thục thức,
là nó thường dẫn dắt cái quả dị thục
cho thân sanh tử giữa nghiệp lành và nghiệp chẳng
lành.
Dị thục, là tại trong đời nay ta làm
nghiệp chi, qua đời sau ta phải chịu báo nấy
(trồng dưa được dưa…), hễ cái nhân
nọ diệt th́, cái quả kia sanh, thời nầy sanh, qua
thời khác (dị) mới chín (thục), nên gọi dị
thục quả, cựu dịch rằng quả báo, thực
thế.
Bộ Lục Tông Cánh, hỏi “Đến ngày các
căn hoại, đến giờ thần thức dời
ĺa, bỏ cái xác cũ đây , đi thụ cái thân mới
khác, thế th́, cái thức đi lại ấy,
tướng trạng nó như thế nào?
Đáp, như kinh Hiển Thức chép rằng
“Sự hành động, vận chuyển, dời diệt,
qua lại của thức, dường như luồng gió,
dù không màu sắc, không h́nh tướng, không thể rơ bày
trạng mạo ǵ ra, mà nó có thể phát động
được cả vạn vật, làm ra các h́nh trạng
như hoặc là lay rung cây rừng, xô găy tách toát, reo
tiếng tăm lớn; hoặc làm cho lạnh, làm cho
nực, nó xuông đến thân của chúng sanh làm khổ, làm
vui!
Đấy, gió nó chẳng có tay chơn h́nh dáng ǵ,
cũng không các màu đen trắng; thức giới cũng
thế vô sắc vô h́nh, không quang minh hiển hiện,
vậy mà, v́ những nhân duyên huân tập, nó rơ bày ra mỗi
mỗi công dụng, như là thấy nghe hiểu biết,
phân biệt nhớ ghi…
Kinh Đồng Tánh nói “Chúng sanh khi mà bỏ cái thân
tiền ấm đây rồi, do sức mạnh của gió
nghiệp(108) nó thổi dời thần thức đưa
đi đến chỗ mà thức nó chịu nghiệp báo
để thụ lấy quả”.
Hộc là thứ vải the rất mỏng mà
lổ vuông, dùng bận mát mùa hạ.
Cơn vô thường là quỉ dữ, mỗi
niệm mỗi niệm chẳng ngừng, sanh mạng
chẳng thể kéo dài, thời giờ không thể chờ
đợi!
Hai câu trên, cơn vô thường rất mau; hai câu
dưới, thời gian sanh mạng rất chóng.
Lấy vô thường làm sát quỉ là cái vô
thường kia, tuy nó không h́nh chất ǵ khá thấy
được mà, nó hay dứt đứt cái mạng
căn của con người, nên bảo nó là sát quỉ.
Sách Chỉ Quán nói “Cơn vô thường là
quỉ dữ, v́ nó chẳng chọn chừa bực anh hào,
đấng hiền tài ǵ, thể nó ngặt nghèo, gịn bở
không bền chắc, rất khó mà nương cậy!
Thế mà, sao người ta yên đành nề nếp mong
sống trăm tuổi!? Như mải miết rông t́m
bốn phương, thu nhóm chứa chất, thu nhóm chưa
đủ (thế vô bách tuế nhân, uổng tác thiên niên
kế), thoạt chốc qua đời! Sở hữu bao
của cải, đều luống làm cái có cho kẻ
khác(109)!
Một ḿnh ra đi trong cơi mờ mờ, có
biết ai đâu hỏi thăm phải trái!”
Mỗi niệm chẳng ngừng, là nghĩa
dời trôi không đ́nh trú.
Trí Độ Luận nói “Vô thường có hai
thứ: 1-Cái pháp tiếp tục nhau giữa sáu căn sáu
thức bị hoại, nên gọi là vô thường; 2-Trong
tâm thức mỗi niệm sanh diệt luôn, nên gọi là vô
thường.
Kinh Niết-bàn nói “Bồ-tát tu pháp tử
tưởng, là quán xét cái sanh mạng đương
sống đây, thường bị vô lượng(110)
điều oán thù theo vấn vít! Mỗi niệm hao bớt
dần, chớ chẳng có niệm nào tăng trưởng!
Dường như ḍng nước nơi bộc bố(111)
chẳng đặng đ́nh trú. Cũng như sương
móc ban mai, thế nó chẳng dừng lâu. Như đứa
tù bị dẫn đến chỗ xử tử, mỗi
bước kề cái chết.
Mạng chẳng khá dài, mạng là thọ
mạng, chính là cái thân dị thục do nghiệp báo từ
đời trước đă nhất định rồi,
nên nay chẳng có thể kéo dài thêm nữa được.
Thời chẳng thể đợi, thời,
tức là thời khắc, đă là do nghiệp đời
trước quyết định cho báo thân nầy rồi
th́, phi sức mọn của con người mà có thể
cầm lại hay là chờ đợi ǵ được.
Chính chỗ bảo rằng “Diêm vương chủ
định tam canh tử, định bất lưu nhân đáo
ngũ canh: Diêm Chúa đă phê giờ Tư chết, chẳng cho
người hẹn đến canh năm”. Đấy là
“với cái nghiệp đă tiền định nay khó
trốn”, đây gọi thế chăng?
Kư: lung chủng lăo hủ: lửng chửng già
mục là khổ về tướng lăo. Ngọa bịnh
tại sàng: nằm đau tại giường là khổ
về tướng bịnh. Vô thường sát quỉ: không
thường quỉ giết là khổ về tướng
chết.
Kinh Chính Pháp Niệm Xứ nói “Đến giờ
sanh mạng cuối cùng, có luồng đao phong(112)
đều chuyển động khắp thân thể, quá
đau nhức như có ngàn mũi đao đâm xẻ cùng
ḿnh mẩy! Trong mười sáu phần, hăy chẳng c̣n
một(113). Ai có nghiệp lành th́, ít khổ năo (đời
gọi là thiện chủng, sanh thuận tử an sách
Phật gọi là hảo tử…)
Ba hữu, người, trời, hẳn chưa
khỏi đặng thụ thân như thế chẳng
kể kiếp số!
Hai câu trên khó trốn nghiệp quả. Hai câu
dưới đường sanh tử không cùng tận!
Nói ba hữu th́ đă bao gồm cơi người
cơi trời rồi mà muốn cho văn và nghĩa lẫn
chương, nên đă nói tam hữu, c̣n lại nói
người và trời nữa.
Ba hữu: Tam hữu tức tam giới, là chúng
sanh tạo tác những cái nghiệp nhân hữu lậu
thiện, hữu lậu ác, trí sử chiêu cảm lấy cái
quả báo hữu lậu thiện hữu lậu ác(114), v́
nhân nào quả nấy, không sai không mất, nên gọi là
hữu (có).
1-Dục hữu: Là bốn châu nhân loại, sáu cơi
trời dục, bốn ác thú (a-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ,
địa ngục), v́ chúng sanh trong các cơi đây đều
không ĺa ḷng dục nhiễm(115), nên gọi là Dục
hữu.
2-Sắc hữu: Là sắc giới, có bốn
loại trời thiền, tuy đă ĺa được cái
ḷng dục nhiễm(116), nhưng c̣n cái thân sắc
chất(117), nên gọi là sắc hữu.
3-Vô sắc hữu: Là vô sắc giới, có bốn
cơi trời không, v́ thân tứ đại đă không c̣n, nên
chẳng có cái sắc chất, chỉ c̣n bốn uẩn
(thụ, tưởng, hành, thức), nên gọi là vô sắc
hữu.
Tất cả chúng sanh trong tam hữu đây,
đều bởi gây cái nhân về hữu lậu, nên
buộc cái quả về hữu vi, th́ đă là vô
thường, nên đi đầu thai và thụ thai,
đều không rời tam giới, nên nói là hẳn chưa
khỏi đặng.
Trong khi chịu quả, lại tạo ra cái nhân
mới, đă có nhân đương thời, lại
phải chịu quả sau nữa, cứ quanh đi
quẩn lại luân hồi măi như thế, không biết
đâu là đầu cuối bờ mé, nên nói chẳng kể
kiếp số(118)!
Kư: thế giới có bốn thời kỳ là
thành, trụ, hoại và không (đó là bốn trung kiếp),
mỗi một thời kỳ trung kiếp ấy, trải
qua hai mươi tiểu kiếp, cả bốn thời
kỳ ấy cọng là trải qua tám mươi tiểu
kiếp.
Một tiểu kiếp cọng kể là một
ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm, tám mươi
tiểu kiếp, gom lại là một đại kiếp,
suốt kể là một chục ba vạn bốn ngàn
bốn trăm vạn năm.
Hiện nay, loài người ở trong kiếp này
là kiếp túc (trung kiếp) có hai mươi tiểu
kiếp, cọng kể là ba vạn ba ngàn năm; mà nay là
đương tiểu kiếp thứ chín, hăy c̣n
mười một tiểu kiếp(119)nữa, qua rồi
tức đến thời kỳ kiếp hoại.
Bốn uẩn(120): thụ, tưởng, hành,
thức. Sáu cơi trời dục, bốn ác thú, bốn cơi
thiền thiên, bốn cơi không thiên, đều giải thích
như dưới.
II.A.1.m- Sách lệ khuyến tu (Gắng gỗ
khuyên tu).
Quá thương tiếc uổng, rất đau
đớn ḷng, đâu nở làm thinh, cùng nhau nhắc
nhở.
Hai câu trên: Cảm thương tiếc lắm! Hai
câu dưới: Khuyên người gắng sức.
Tổ Qui Sơn ngài nhận thấy hàng truy
lưu(121) này, phần nhiều ham ưa tài lợi, bỏ
bê đạo, rồi phải xa ch́m biển sanh tử! Thành
thử Ngài cảm thương than thở, ḷng thống
thiết chẳng nở nín lời, nên phải chép thành
văn Cảnh sách đây, hầu thay lẫn với nhau
để mà nhắc thức và khuyến khích đấy.
Kư: Nhá là lời than v́ lấy làm quái gở quá!
Giam: Bịt niêm, như nói giam khẩu bất ngôn.
Để người ta đạc đệ: truyền
đệ, đem truyền cho nhau.
Hiềm v́! Đồng sanh nhằm thời
tượng quí. Cách với thời Phật quá xa, bậc
truyền Phật pháp thưa ít, người tu phần
nhiều giải đăi!
Hai câu trên, thương v́ chẳng c̣n Phật
ở đời. Hai câu dưới, thương v́
đời pháp rốt, ḷng người ngoan cố!
Tượng quí, quí là ngọn, chót. Số là, do
đức Thích-ca Như Lai, giáo pháp của Ngài để
lại, có phân ra ba thời là chánh, tượng và mạt.
Chánh pháp, chánh như chứng, là sau khi Như Lai
diệt độ, trong khoảng một ngàn năm
đầu, phàm là người có bẩm giáo xuất gia,
đều năng tu hành, tức năng chánh quán nên gọi
chánh pháp, v́ chánh tức chứng.
Tượng pháp, tượng tương tự,
là có bẩm giáo cũ có tu hành, thời này tương
tợ nhau với thời chánh pháp, nghĩa là sau đức
Phật nhập diệt, trong khoảng ngh́n năm thứ
hai (thời chánh pháp là một ngàn năm thứ nhất,
tượng pháp là một ngàn năm thứ nh́),
người có bẩm giáo, có tu mà phần nhiều chẳng
thể chứng quả, chẳng được chính
đích, nên gọi là tương tự.
Mạt pháp(122), mạt là mạt hậu (rốt
sau), cũng là nhỏ chót. Nghĩa là, đức Phật
Niết-bàn, sau hai thời chánh và tượng, trong khoảng
một vạn năm, đối với giáo pháp để
lại đời người ta mặc dầu có bẩm
giáo mà, phần nhiều chẳng thể tu hành chứng
quả được mấy. Hoặc có chỗ nói
đời mạt pháp có ba ngàn năm.
Tổ Qui sơn xuất thế nhằm
đời Đường, cách với đức Như
Lai diệt độ, hầu đă một ngàn tám trăm
năm, nên nói “đồng sanh tượng quí”, là phần
rốt đời tượng. Lại cách nhau với
đức Như Lai hầu hai ngàn năm, nên nói là “khứ
Thánh thời diêu”, là cách thời Phật đă xa.
Thời đại đă xa cách, bậc
đại nhân truyền pháp đă dần dần ít
thiếu, nên nói là “Phật pháp sanh sơ”. Đă như ông
Lương Đạo(123), lại nhằm đời
mạt kiếp, căn khí của người hạ
liệt, không có chí hướng thượng, nên nói là “nhân
đa giải đăi”.
Kư: Quí là cái thời ở sau thời mạnh,
thời trọng, như quí xuân, quí hạ, lại mạt
thế cũng kêu là quí thế, nếu lấy một ngàn
năm của thời tượng pháp để nói th́, ba
trăm năm sau là thuộc về quí; nếu lấy ba
thời chánh, tượng, mạt mà nói th́ quí là thời sau
chánh và tượng.
Thánh thế là đời Phật, tức là ngày mà
đức Như Lai c̣n hiện tại nơi đời.
Lại cái thời chánh pháp cũng gọi là Thánh thế.
Xổi bày chỗ quản kiến, để
hiểu rơ lớp sau nếu chẳng bỏ chừa (thói
hủ bại), thực khó đem lại (đạo chánh
chơn).
ai câu trên chỉ thị ra lời dạy (văn
cảnh sách), hai câu dưới lời răn khuyên gắng.
Đă có chỗ cảm thương như thế,
đâu chẳng có lời đưa ra để khuyên tu tŕ.
Lược thân quản kiến, (Xổi bày
ống ḍm) lược: hẹp, sơ lược, như
chưa rộng. Thân là thân thuật lại. Quản kiến
như chỗ thấy trong ống ḍm trời.
Đấy là lời khiêm nhượng của
tổ Qui Sơn.
Để hiểu rơ lớp sau nghĩa là, lấy
văn cảnh sách đây, để hiểu dụ kẻ
hậu học, cần phải răn chừa điều
ác dời qua việc lành.
Hai câu “nhược bất quyên căn, thành nan luân
hoán” là lời xâu kết văn trước, để mà
khuyến tu. Nghĩa là, nếu chẳng chừa sạch các
thói xấu như trên đă dẫn ác dục tập
nhiễm, ngạo mạn và phóng dật… th́ thực là khó mà
văn hồi lại chánh đạo!
Kư: Quyên: rửa giặt, chừa khỏi.
Căng là kiêu căng tự phụ. Lại là khoe
khoang trau chuốt lấy ḿnh.
Hoán là chuyển đổi, luân hoán, nghĩa
như văn hồi.
Giới miễn là khiến cho đoạn các cái
hạnh ác tập mà gắng tu các việc thiện hạnh.
CHÚ THÍCH
1. Tổ sư nói: Tây Thiên đệ ngũ thế Tổ
sư, tức Đề-đa-ca tôn giả, nói bài kệ phú
pháp cho Di-cha-ca tôn giả làm đệ lục thế Tổ
rằng:
Suốt thông vốn không tâm,
Không pháp không chẳng pháp,
Ngộ rồi đồng chưa ngộ,
Không tâm cũng không pháp. Thông đạt bổn vô tâm,
Vô pháp vô phi pháp,
Ngộ liễu đồng vị ngộ,
Vô tâm diệc vô pháp.
Ư nói cái tâm nó phi có h́nh sắc lớn nhỏ ǵ,
mà tức pháp tức tâm, cũng pháp phi pháp, tâm phi tâm, v́ là
chân không bất không, diệu hữu phi hữu.
Người được minh tâm kiến tánh rồi,
cũng như khi chưa ngộ, v́ bất tăng bất
giảm, Thánh cũng tâm ấy, phàm cũng tâm ấy chớ
phi Thánh mà tăng cái ǵ, phàm giảm cái ǵ, chỉ giác ngộ
là Thánh, mê muội là phàm, nên nói “Ngộ liễu đồng
vị ngộ, vô tâm diệc vô pháp”. Cổ nhân phụ
kệ rằng “Ngộ liễu hoàn đồng vị
ngộ th́, phương thị ni cô vị nữ nhi,
thuận nghịch tung hoành trí, văng lai tam giới chứng
Bồ-đề”.
2. Ngộ rồi đồng chưa ngộ: Cái
tâm pháp đă nói như trên, hễ được giác
ngộ là Phật mà c̣n đương mê là chúng sanh.
Nhưng đâu phải giác ngộ rồi có thêm cái ǵ, c̣n
đương mê bị bớt cái chi, nên nói “Ngộ
rồi đồng chưa ngộ”. Đức Lục
Tổ nói “Bồ-đề bổn vô thụ, minh cảnh
diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ
nhạ trần ai”. Tâm kinh nói “…Vô trí diệc vô đắc,
dĩ vô sở đắc cố…”.
3. Họ Tư Ma: Họ đôi là dùng hai chữ
làm họ. Nhà Châu thuở vua Tuyên, cha ông Tŕnh Bá Hưu là
chức quan Tư Mă, có công lớn, vua ban cho họ quan là
Tư Mă thị. Họ đôi như Chung Li, Khổng Minh,
Hạ Hầu…
4. Đầu-đà: Du-già Luận Kư cuốn 6 nói
“Đọc chính Đổ-đa, dịch là tu trị”. Hành
pháp này để phủi giũ ba món tham trước là y
phục, ẩm thực và chỗ ở. Người
tục bảo Tăng sĩ đi hành cước, khất
thực là tu hạnh đầu-đà cũng gọi là hành
giả…
5. Thủ tọa (chức vị): Là ngồi
đầu ḍng giữa hội tọa. Tăng sử
lược trung nói “Thủ tọa tức là Thượng
tọa, ở nơi đầu pháp tịch, ngồi trên
chúng tăng, nên kêu là thủ tọa”. Tùy địa vị
có nhiều chức: 1-Tam giống áo thủ tọa
(đời Đường, vua Tuyên Tôn tặng
thưởng). 2-Giảng giáo thủ tọa (đời
Đại Tống quan tặng). Trong thiền môn có
những: 3-Tiền đường thủ tọa,
4-Hậu đường thủ tọa, 5-Lạp tam
thủ tọa, 6-Danh đức thủ tọa,
7-Khước lai thủ tọa. Tổ Đ́nh Sự
Uyển cuốn 8 nói “Thủ tọa tức là vị
Thượng tọa từ xưa. Phạm ngữ
Tất-thế-da, đây rằng Thượng tọa…
xưa nay lập chức vị đây, đều lựa
dùng người có tuổi tác, đức hạnh cao
độ đảm nhận…”
6. Điển tọa: Là chức vị chủ các việc
cho đại chúng như giường, chỗ ngồi,
cơm cháo… Luật Tăng-kỳ quyển 6 nói “Phật trú
nơi thành Xá-vệ, bấy giờ có Tỳ-kheo tên là
Đà-phiêu-ma-la-tử, chúng tăng đưa lên làm chức
điển tọa, chủ hay chín việc: 1-Chủ thứ
lớp phân phú sàng ṭa. 2-Chủ thứ lớp sai đi
mời họp nghị. 3-Chủ thứ lớp phân chia pḥng
xá. 4-Chủ thứ lớp chia y phục thập vật.
5-Chủ thứ lớp chia hoa hương. 6-Chủ thứ
lớp chia quả phẩm. 7-Chủ thứ lớp biết
ấm lạnh. 8-Chủ thứ lớp chia các thứ bánh.
9-Chủ hay tùy ư cử lên người biết việc.
Thế, là chúng tăng cho làm chức điển tri cửu
sự”. Điển là chủ hay giữ. Truyền
Đăng Lục chép rằng Ngài Linh Hựu khi ở
dưới pháp hội của Tổ Bách Trượng,
được làm chức điển tọa… Xét, nhà Thích
gọi điển tọa, như nhà cư sĩ gọi
tư trù (chủ việc nhà khói). Đại phàm, các tăng
chúng trong các tự viện, lệ thường phân ra làm Đông
tự, Tây tự, những chức mà hay về các việc
thô sơ, đều thuộc về Đông tự, như
điển tọa… – Ngũ Đăng Hội Nguơn chép
Ông Tuyết Phong làm chức Phạn đầu nơi
Động Sơn; ông Khánh Chư làm chức Mễ
đầu ở nơi Qui Sơn; ông Đạo Khuông làm
chức Thông đầu ở nơi Chiêu Khánh; ông Quán Khê làm
chức Viên đầu ở Mạt sơn; ông Thiệu
Viễn làm chức Điền đầu ở nơi
Thạch môn; ông Trí Thông làm chức Trực tuế ở
nơi Qui sơn; ông Hiểu Thông làm chức Đăng
đầu ở nơi Vân Cư; ông Kê Sơn làm chức Sài
đầu ở nơi Đầu Tử; ông Nghĩa Hoài
làm chức Thủy đầu ở nơi Túy Phong; ngài
Phật Tâm làm Tịnh đầu ở nơi Hải
Ấn. Các chức vụ trên, đều thuộc về
Đông tự. Mà cái danh Điển tọa rất rơ nơi
đời. Đông tự, Tây tự tức Đông
đường, Tây đường.
7. Tượng lật: Tên một thứ trái cây
(cây keo su), hột như hột su già, năm mất mùa,
người ta hái trái ăn đỡ đói, năm
được mùa, hái trái cho heo ăn. Tượng b́
thọ tức keo su, quí hơn vàng, v́ ngày nay người ta
chế tạo vật dụng quá tiện lợi mọi
điều. Lật: có trái, ăn được, tục
gọi là trái chôm chôm.
8. Nhập thất: Pháp Thiền qui bảo
rằng kẻ đệ tử nào tham học đă lâu,
mới được vào tịnh thất của thầy
để tham hỏi đạo, là khám xét đệ tử
đă đắc phần, phi người tham học đă
lâu th́ chẳng cho vào. Ở về thời xưa,
đến cơ duyên mới làm pháp nầy, chẳng có cái
Thiền qui riêng; đến các Tổ như Mă Tổ, Bách
Trượng về sau, mới riêng lập cái Thiền qui
định ngày mà làm. Đời gọi là đắc Sư
pháp là đệ tử đă nhập thất. Song
người nhập thất đấy, cũng chưa
chắc được hết sư pháp. Tổ Đ́nh
Sự Uyển cuốn 8 chép, Tổ sư truyền rằng
“Đức Ngũ Tổ đại sư đến
nửa đêm, bí mật sai thị giả đến nhà giă
gạo mời ông Lư Hành Giả vào thất, Tổ
truyền y pháp cho làm Đệ Lục Tổ… Sách Sắc Tu
Thanh Qui Nhập Thất chép “Cái điều nhập thất
là nhà Thiền khám xét kẻ học giả, sách phát chỗ
chưa đến, nghiền nát chỗ luống dối
cống cao, trị cái chỗ thiên trọng.” Hưng
Thiền Hộ Quốc Luận nói “Nhập thất là
gặp ngày nào mà Ḥa thượng thầy được
rảnh rỗi, mới lập cái nghi nầy”, đó là
một việc của Thiền tông. Lại, pháp tu, bên Chân
Ngôn Tông, vào cái thất quán đảnh, làm chịu pháp quán
đảnh, gọi là nhập thất đệ tử.
9. Năm Thái Trung thứ 7: Tức là Đại
Trung, niên hiệu của vua Tuyên Tông nhà Đường,
năm Đại Trung thứ bảy, nhằm dương
lịch 847.
10. Tuổi tăng lạp: Từ năm thụ Tỳ-kheo
giới về sau, cứ mỗi năm đều cấm
túc an cư ba tháng mùa hạ, hễ tu được
một hạ, gọi là một tuổi, mấy hạ là
mấy tuổi. Rằm tháng tư nhập hạ, rằm
tháng bảy ra hạ, tháng bảy là lạp ngoạt của
nhà Tăng, kêu là pháp lạp, tăng lạp. Lạp là tên
của cuộc tế lễ; tức tế lạp; nhà
Tần, nhà Hán đều lấy tháng 12 âm lịch làm tháng
lạp để tế lễ, người thế
thường lấy tháng cuối năm tức tháng 12 làm
tuổi.
11. Tự biết: Là cái trí túc mạng thông.
Luận Câu Xá nói “Túc trú tùy niệm trí chứng thông, là cái
sức thần thông tự tại hiểu biết những
sanh mạng và hành sự suốt các đời khác của
ḿnh, như biết những việc tự ngày qua về
trước của đời hiện tại…
12. Trực chỉ Thiền: Là pháp Thiền
nầy chỉ ngay cái tâm của người, để
người kiến tánh thành Phật, chứ không dùng
đến ngữ ngôn văn tự. Thiền pháp có hai:
a-Như Lai Thiền: Trong kinh, luận từng nói
đến, đời Tần, ngài Cưu-ma-la-thập ban
đầu truyền ra, đến ngài Thiên Thai rất là
tường tất. b-Tổ sư Thiền: Tức
trực chỉ Thiền, ngoài kinh luận (giáo ngoại
biệt truyền) Tổ trước Tổ sau đem
tự tâm ấn tâm cho nhau; đời Ngụy đức
Đạt-ma ban đầu truyền ra. Phật ở trên
hội Linh Sơn, cầm một hoa sen đưa ra
trước mặt tứ chúng, cả trăm vạn
người và trời mà không ai hiểu ư Phật, chỉ
có ông Ma-ha Ca-diếp chúm chím cười, v́ lănh hội
được ư chỉ của Phật, nên Phật đem
diệu tâm Niết-bàn truyền cho Ca-diếp làm Sơ
Tổ. Đấy, niêm hoa vi tiếu mà truyền trao tâm
ấn mà thôi, chứ chẳng dùng đến ngữ ngôn
văn tự, nên gọi là Trực Chỉ Thiền, v́
“bất lập văn tự giáo ngoại biệt
truyền”. Ngài Thái Hư định nghĩa rằng
“Lấy chỗ truyền mà lập tông, là Thiền tông
bất y văn tự, tuyệt vô kinh điển, xích
lỏa lỏa duy chính thị vụ”.
13. Hoa Lâm Ḥa thượng: Ngài thủ tọa, sau
đến trụ tŕ chùa Hoa Lâm, nên gọi là Hoa Lâm Ḥa thượng;
Ngài có đức cảm hóa hai con Đại hổ và
Tiểu hổ, đặt pháp danh là Đại Không và
Tiểu Không…
14. Nghiệp: Là người đời, ai
cũng có chẳng nhiều th́ ít giữa mười
thiện nghiêp, mười ác nghiệp, hễ nghiệp lành
th́ nó dẫn đến tam thiện đạo là, thiên
đạo, nhân đạo và A-tu-la đạo, v́ hữu
lậu thiện mà phân ra có thượng, trung và hạ. C̣n
nghiệp ác th́ nó lôi tới tam ác đạo là địa
ngục, ngạ quỷ và súc sanh, v́ có thượng ác, trung
ác và hạ ác. Sách gọi là lục đạo luân hồi.
15. Vô minh hoặc: Là một trong ba hoặc
của Thiên Thai lâp ra. Người bị nó ngăn che không
thấy được lư trung đạo. Bồ-tát bên
Biệt giáo từ bực Sơ địa bắt
đầu đoạn trừ hoặc này; Bồ-tát bên Viên
giáo từ bực Sơ trụ bắt đầu dứt
cái hoặc này, đều để dứt từ phần
hoặc chứng từ phần lư trung đạo. Tuy kêu là Hoặc,
phiền năo, lậu, cấu, kiết, dù tên có lạ chứ
cũng đồng thể là Hoặc cả. Thiên Thai Tông
gồm tất cả vọng hoặc phân làm ba loại:
1.Kiến tư hoặc, 2.Trần sa hoặc, 3.Vô minh
hoặc, lại tên là chướng trung đạo hoặc,
v́ nó ngăn che cái lư thực tướng trung đạo, nó
khác với cái si hoặc trong tư hoặc, v́ si hoặc kia
nó làm ngăn che cái không lư, nên gọi là “Chi Mạt vô minh”;
c̣n cái hoặc đây là nó làm mê mờ cái lư thể căn
bản, nên gọi là “Căn Bản vô minh”. Đoạn
được mười hai phẩm vô minh đây; tức
là quả Phật của Biệt giáo. Đoạn
được bốn mươi hai phẩm vô minh đây,
tức là quả Phật của Viên giáo.
16. Khổ thụ: Tự lănh nạp lấy cái
cảnh trái với ư muốn mà sanh khởi ra cái cảm
tưởng chịu khổ năo. Thụ là lănh nạp
lấy ngoại cảnh đưa đến, cảnh
ngộ có ba trạng thái là, thuận t́nh, nghịch t́nh và phi
thuận phi nghịch. Thụ có ba: 1-Khổ thụ: như
trên, 2-Lạc thụ: Lănh nạp lấy cái thuận t́nh mà
phát khởi ra cái cảm chịu thích sướng, 3-Bất
khổ bất lạc thụ: lại gọi là xả
thụ, lănh nạp lấy cái cảnh trung b́nh là không thích
không thuận không nghịch mà, cùng xả ĺa cái cảnh
khổ và vui, nghĩa là không khổ không vui.
17. Bịnh ái kiến: Chấp trước
nơi người mà sanh khởi cái ư thức thương
yêu. Kinh Duy-Ma phẩm Vấn Tật nói “Đối với
chúng sanh, nếu sanh ḷng ái kiến đại bi th́, lập
tức phải xả ly”. Ngài La-thập chú giải rằng
“Thấy có người mà ḷng sanh quan niệm ái
trước, nhân đó nảy cái tâm sở bi thương,
gọi là ái kiến đại bi; Lại, ái và kiến là
hai món phiền năo, ḷng mê lầm về sự gọi là ái;
mê hoặc về lư kêu là kiến. Như các cái tâm sở tham
dục, sân khuể là vọng hoặc về mê sự; c̣n
các cái bịnh ngă kiến tà kiến… là vọng hoặc
về mê lư”. Kinh Lăng Nghiêm quyển 6 nói “Nó khiến chúng
sanh sa vào hầm ái kiến, mất cái đường
Bồ-đề”. Trí Độ Luận cuốn 7 nói
“Phiền năo có hai món, một thuộc về ái, hai thuộc
về kiến”.
18. Một niệm điên đảo: Một
niệm tráo chác. Xem ở số 20 nói sau.
19. Các nhân duyên: Nghiệp thức của con là
thân nhân duyên, tinh của cha, huyết của mẹ là sơ
nhân duyên.
20. Ái làm giống, tưởng nên thai: Khi sắp
đầu thai, cái thân trung ấm là giống trai th́ nó
khởi cái ái niệm yêu người sắp làm mẹ nó,
c̣n nếu nó là giống gái th́, nó khởi cái ái niệm yêu
người sắp làm cha nó, nên nói rằng “nhân ái vi chủng”.
Kể đó, giống trai th́ nó chỉ tưởng chính nó
hành dâm với người sắp làm mẹ nó, chứ nó tuyệt
nhiên không tưởng thấy có cha nó đương
sự; c̣n gái th́ trái lại… Đến đó, ba cái
điện dục hỏa của ba đương sự
đồng thời hít vào mà thành thai, nên nói rằng “nạp
tưởng thành thai”. Lại, nó chỉ ái và tưởng
chính nó yêu mẹ ghét cha, hay ghét mẹ yêu cha và nó
tưởng chính nó hành dục, chứ nó không tưởng
là cha mẹ nó hành dục. Đấy, cái tưởng trái
nghịch như thế, nên nói là “Tối sơ nhứt
niệm điên đảo”. Tối sơ là rốt
trước, là khi sắp đầu thai (rút Du-Già Sư
Địa Luận).
21. Báo phong: Cũng gọi là y phong, nghiệp
phong. Trong bộ kinh Lăng Già mười quyển,
cuốn 9 nói “Nghiệp phong trưởng tứ đại,
như chư quả thành thục”. Nghiệp thiện ác nó
thường khiến người di chuyển luân hồi
tam giới, nên tỷ như gió lùa nghiệp đi. Nghĩa
là trước cảm cái thân chánh báo nghiệp phong, nên
bẩm thụ cái sanh thân có cái hơi thở ra hút vào, đó
là báo phong. C̣n khi ở trong mẫu thai, nương nơi
hơi thở của mẹ thở ra hít vào, cái bào thai nó
cũng phập phềnh theo đó, để nảy nở
biến chuyển lớn lên, nên gọi là y phong. Nghiệp
phong, y phong ḥa hiệp, gọi là thọ mạng.
22. Thọ mạng: Sách Phụ Hạnh chép
“Sống trong một kỳ hạn mấy chục tuổi
đó, gọi là thọ; hơi thở tiếp tục
liền luôn, gọi là mạng. Một kỳ hạn duy tŕ
liên tiếp, cái gió là hơi thở chẳng đứt,
gọi rằng thọ mạng”. Cái mạng căn là
thể, cái sống, cái hơi ấm và cái thức biết
làm tướng, hoạt động làm dụng, là thể
tướng dụng của thọ mạng.
23. Ấm lửa dục. Noăn: ấm, tức
lửa dục của thân trung ấm (đứa con),
của cha và của mẹ, đồng thời xuất tinh
khí huyết ra một lượt mới kết thành thai
(xuất ra bằng cách xê xích th́ không kết thành thai, v́ ra
không đồng thời, cái ra trước, dục hỏa
đă kém nhiệt độ) được, ba nhiệt
độ của dục hỏa ba đàng (trung ấm, cha
mẹ) này, nó kết tinh thành một điểm sáng ở
tại giữa hai thanh cật. Sách Đông y bảo
“Nhất điểm chân dương, danh viết mạng
môn tướng hỏa”. Cái nhiệt độ dục
hỏa (mạng môn tướng hỏa) ấy, tức là
nghĩa của chữ “noăn” trong câu “nhứt mạng
nhị noăn tam thức” đây vậy.
24. Tứ chi bách hài. Tứ chi: bốn nhánh, thân
thể của người, có hai tay, hai chân là tứ chi,
nương đó để vận động; con thú có
bốn cẳng là tứ chi; con chim có hai cánh hai gị là tứ
chi. Bách hài là tiếng gọi chung cả cơ thể thân
h́nh.
25. Nước tinh dịch: Dịch lưu
chất, tức dịch thể. Lại, tinh dịch là
một món dịch thể, nó kết sanh ở trong ngoại
thận nơi “sanh thực khí” của hùng tánh (đàn ông).
Tinh của cha; Dịch nhựa, chất nhớt, cha mẹ
đều có; khí là hơi, cha mẹ đều có. Khi hành
dâm đến cực độ, hai cái hơi ấy nó
bắn tinh huyết ra. Huyết của mẹ. Tinh huyết
của cha mẹ kết thành thai, tinh huyết ấy
gọi là tiên thiên khí huyết. Ăn ngũ cốc, khoai,
trái, trong ấy có chất tṛng trắng, bảy ngày nó
kết sanh được một điểm tinh, tinh này nó
sanh ra huyết, tinh huyết này gọi là hậu thiên khí
huyết. Trong tinh dịch nó hàm chứa tinh trùng (sanh nguyên),
thể nó quá nhỏ, h́nh như con lăng quăng (ṇng
nọc), v́ ở nơi tinh dịch trong “sanh thực khí”
của nam tánh phân tiết ra, nên gọi là tinh trùng. Dùng
gương hiển vi cao độ gấp năm, sáu
trăm lần cho vào tinh dịch mới thấy nó; cùng
với noăn châu trong sanh thực khí của nữ tánh,
đồng gọi là nguồn sanh thực. C̣n sách Phật
bảo nghiệp thức là hột giống sanh hóa.
26. Noăn khí: Hơi ấm, tức là ôn độ.
Sách Bản Thảo có mục chép “Tạng tâm (quả tim) cái
thần làm quân hỏa, c̣n cái mà nó bao bọc chạy giáp ṿng
châu thân làm tướng hỏa”. Nhà Đông y xưa, lại
gọi là thận hỏa, cũng bảo là dục hỏa
(vị trí nó ở tại chính giữa hai quả nội
thận là nơi xương sống dưới chỗ
buộc dây lưng đó, kêu là mạng môn tướng
hỏa, hễ khi mà người ta khởi dục lên th́,
lửa ấy nó chạy ra nơi nam căn hay nữ căn
đều ấm hiểm cả, nên gọi dục
hỏa).
27. Bịnh tổng tập. Tổng: gom chung
nhiều. Tổng tập gồm nhiều v́ đối
với biệt tập, nên nói là tổng tập. Biệt
tập là chỉ bị riêng một chứng nào trong số
101 chứng của một đại. Tổng tập là
bị nhiều chứng lộn xộn của cả
bốn đại đều có. Như một người
trong cơn một khí ban mà có nhiều chứng đồng
thời phát sanh. Tỷ dụ sá hàn sá nhiệt, thoạt
tỉnh thoạt mê, bịnh biến bất nhứt,
nhiều chứng hàn nhiệt văng lai…
28. Bịnh nghiệp báo: Trả cái nghiệp
đă tạo từ đời trước, kêu là
định nghiệp nan đào. Như tiền kiếp sanh
sát quá th́, kiếp sau phải trả 1-Hoặc đau ốm
rề rề. 2-Hoặc chết yểu, v́ làm cho chúng sanh
bị đau nhức nên nay phải đau hoài, và nó
đương sống mà làm cho nó bị đoản
mạng, nên nay phải chết non. C̣n phóng sanh th́ sau
được trường thọ, v́ nó sắp chết mà
ta mua thả, cái sống của nó được kéo dài, nên
ta được sống dai. Bịnh nghiệp báo như
đức Như Lai bị bối thống dư
ương; biến thước không khỏi họa h́nh, y
gia đa quái tật. Kêu bằng “diệu dược nan y
oan trái bịnh”.
Phụ chú: Với tứ đại, nhân nội
thương về một đại nào bị suy tổn
mà, trí thành bị ngoại cảm lấy cái khí tà khách
của lục dâm: phong khí, hàn khí, thử khí, ôn khí, táo khí và
hỏa khí. Địa đại thuộc tỳ thổ mà,
huyết nó thất thường chẳng lưu
động, nên thân thể phát sanh chứng trầm
trọng. Thủy đại thuộc thận thủy mà,
thủy nó chẳng đủ hạn chế
được hỏa thắng th́, cái chứng hư
vọng hỏa nó viêm nhiệt lên, nên sanh ra bịnh đàm
ấm. Hỏa đại thuộc tim hỏa mà, hễ
hỏa thạnh tức dương cang th́, nó làm hại cho
thân thể tiêu khô, nên sanh chứng bịnh hoàng nhiệt.
Phong đại thuộc phong khí bịnh, nguyên tỳ
thận bị hư tổn mà, mạch can nó đi huyền
cường, làm diêu động, hơi thở kḥ khè, phát
sanh cái chứng khí phát.
29. Quên điều nguy sợ: Trong trường
công danh phú quư, người ta phần nhiều ai cũng
chỉ mê lấy ăn rất ngon, ngủ rất sang, si
t́nh với tửu sắc, ngày đêm mài miệt truy hoan, v́
hoàn cảnh cá tánh bắt thế phải thế, c̣n đâu
là giờ tỉnh để biết được cái
chết sắp đến, nên nói “toàn vong nguy cự”!
Tức chỗ gọi “túy sanh mộng tử”!
30. Hai con chuột: Hoặc tỷ là ngày đêm,
hoặc ví là nhật nguyệt. Ngài Tân-đầu-lô
Đột-la-xà, v́ vua Ưu-đà-diên mà nói pháp. Kinh (phi kinh
đại tập v́ chẳng có điển này) ấy chép
rằng: Ngày xưa có người đi ngoài đồng
hoang, gặp con ác tượng lớn, bị nó rượt
chạy, hoảng kinh quá sợ! Thấy có giếng
loạn, liền níu rễ cây tḥng xuống giếng
trốn. Có hắc thử, bạch thử, đều
cắn rễ cây. Bốn bên hông giếng, có bốn rắn
độc, muốn cắn người ấy. Dưới
đáy giếng có con độc long lớn! Với bốn
bên sợ bốn rắn, dưới sợ độc long,
rễ cây bị níu lay động, làm cho ổ ong trên cây
bị rung, rớt năm nhỏ mật vào miệng,
bầy ong bay tứ tán, có dă hỏa cháy đến,
đốt luôn cây rễ. Đồng hoang dụ tam giới
sanh tử; người ấy tỷ chúng phàm phu;
đại ác tượng ví vô thường; giếng
loạn ám chỉ thân ngũ uẩn; rễ cây tượng
trưng nhân mạng; hắc, bạch thử dụ trú
dạ; cắn rễ cây tỷ mỗi niệm diệt luôn;
bốn độc xà ví tứ đại; mật rơi
miệng ám chỉ ngũ dục lạc; bầy ong là
dụ ác giác quan; dă hỏa là chỉ cho cái già nua; con
độc long là chỉ cho cái chết. Năm, tháng, ngày
giờ rất chóng, người xưa đă có bốn câu
dưới đây:
Ác vàng, thỏ bạc xâm xâm;
Bóng quang âm thoạt trăm năm mấy hồi!
Ngày nay thôi đă qua rồi!
Mạng căn, huyết mạch lần hồi khô khao!
Ngày tháng mỗi kém ṃn qua, ngày tháng như thoi
người đă già; tóc râu tợ nước thấy phi
trẻ. Kinh Lăng Nghiêm chép chuyện vua Ba-tư-nặc
trông thấy sông Hằng… Bạch phát tỷ bạch
thủy; da nhăn tỷ những gợn sóng nhăn đùa
trên mặt nước. Tức như kê b́, hạc phát.
Thời gian của thân mạng con người tỷ
như “thệ thủy hướng đông lưu”.
31. Cái tưởng điên đảo: Xem bài chú
thích về câu “Ái làm giống, tưởng nên thai” ở
số 20.
32. Không thân trung ấm: Người mà làm
thập thiện được bực cực phẩm,
nghĩa là làm lành nhiều tột bực th́, xả thân
tiền ấm rồi, thần thức siêu ngay lên cơi lành,
để thụ sanh, chứ chẳng thụ thân trung
ấm. Người mà tạo một ác cực điểm,
sau khi xả thân tiền ấm, lập tức đọa
ngay xuống ngục Vô Gián ??? hỏa sanh ra cái thân chúng sanh
dưới ấy chịu tội, nên cũng chẳng có
thân trung ấm.
33. Sú lại: Phản bộ, là sú mồi
lại. Phản bộ: báo thân cha mẹ. Sách Bản
Thảo chép rằng “Từ ô, tức hiếu điểu
(con quạ), nghĩa là, khi mới sanh th́, cha mẹ nó
kiếm mồi về sú cho nó; lúc cha mẹ nó già, tự thân
nó đi kiếm mồi về sú lại cho cha mẹ nó, nên
kêu là hiếu điểu”. Lời thành ngữ “Dưỡng
nhi đăi lăo – “Bé cậy cha, già cậy con”.
34. Phụ mẫu là thiên địa: Kinh nói
“Đức của nghiêm phụ sánh trời cao, ơn
của từ mẫu ví đất dày”. Sách nói “Dục báo
chi ân hạo thiên vơng cực”.
35. Kinh Thi: Bộ Kinh Thi, thể Tiểu Nhă, thiên
Lục Nga nói “Phụ hề sanh ngă, mẫu hề cúc ngă, ai
ai phụ mẫu sanh ngă cù lao, dục báo chi ân, hạo thiên
vơng cực”.
36. Trời cao chẳng tột: Hạo thiên vơng
cực, nghĩa là ơn của cha mẹ rất lớn,
như trời cao không cùng tột. Hạo thiên là nói nguơn
khí rộng lớn.
37. Bốn việc cúng dâng: 1-Ẩm thực, 2-Y
phục, 3-Ngọa cụ, 4-Y dược.
38. Túng phụ. Túng: Đồng tông, là hàng
thứ với chí thân kia là túng, nghĩa là anh em ruột,
gọi là “chí thân”; anh em con nhà chú bác ruột cách mới
một thứ, gọi là “tái túng”, cách đă hai thứ,
gọi là “tam túng”. Tức như túng huynh đệ, túng bá
thúc… (chỉ tùng, ở đây phải đọc túng). Túng
phụ tức là bá phụ, thúc phụ, là bác ruột, chú
ruột.
39. Túng tổ: Túng tổ con đệ,
đồng tằng tổ huynh đệ. Theo điển
dẫn lời của ông Mă Dung nói rằng “Tằng tổ
tôn, với bổn thân (ḿnh) là tổ túng huynh đệ, th́
đồng một tằng tổ mà ra, nên nói là túng tổ
huynh đệ tục xưng là túng đường huynh
đệ”.
40. Tằng tổ: Ông nội của cha, ḿnh
gọi là tằng tổ, sách Nhĩ Nhă gọi tắt là
tằng tổ vương phụ. Tục rằng cha
xưng hô bằng ông nội, ḿnh xưng hô bằng ông
cố.
41. Sắc mặt của cha mẹ: Kính nuôi sao
cho cha mẹ đừng buồn. “Như Thục thủy
thừa hoan, vấn an thị thiện, ḥa nhan duyệt
sắc, tất hạ…” nghĩa là, đậu nước
vâng vui, hỏi an hầu bữa, vui mặt đẹp mày,
dưới gối không trái. Thục là tên chung các thứ
đậu. Kinh Lễ nói: Ăn đậu, uống
nước lă mà hết sức là vui!”. Người nay nói
“Kính nuôi cha mẹ, là thục thủy thừa hoan”. Tất
hạ: Sách Hiếu Kinh nói “Nên ở dưới gối thân
sanh (phụ mẫu) để nuôi cha mẹ”. Đường
thư Cao Tôn Kỷ nói “Nguyện được ở
dưới gối đấng Chí Tôn để
phượng thờ”. Đời sau, đối với cha
mẹ, kẻ làm con xưng là tất hạ.
42. Sợ bốn oán thù: Tức tứ oán.
1-Phiền năo ma, 2-Sanh tử ma, 3-Ngũ ấm ma, 4-Thiên
tử ma, tức Thiên ma Ba Tuần. Hành Sự Sao quyển
thượng nói “Chân thành xuất gia giả, bố tứ
oán chi đa khổ”. Đồng Tư truyện kư nói
“tứ oán tức tứ ma”.
43. Giống họ Tam Bảo: Kính đức
Thế Tôn làm cha, v́ cha là Tứ sanh từ phụ; lấy
kinh pháp làm mẹ, v́ niệm pháp là tam thế Phật
mẫu; bạn đồng học là anh em, v́ là pháp huynh pháp
đệ; người đồng chung giới
(đồng cụ túc hay sa di) là bằng hữu, v́ là
xứ xứ đồng vi pháp lữ; vẫn đồng
làm tử đệ của Như Lai, thường làm ḍng
họ với Phật Thánh. Chính chỗ bảo xuất gia
là phụ mẫu, dữ Phật tổ nhi tôn. Đó là
về phái xuất gia; c̣n phái tại gia th́ Bát nhă vi thê,
Bồ-đề vi tử, phương tiện vi phụ,
Ba-la-mật vi mẫu. Nên có nói “Sanh sanh dữ Phật vi
quyến thuộc, thế thế Bồ-đề kết
thiện duyên”.
44. Vô Vi. Vi: Tạo tác, vô nhân duyên tạo tác, nói
là vô vi. Lại, không sự tạo tác của bốn
tướng sanh, trú, dị và diệt, nên nói là vô vi, tức
tên khác của chân lư. Vô vi có ba món, sáu món… Vô vi xá là nhà vô vi,
tức Niết-bàn, v́ Niết-bàn là an trạch của
người, nên nói là xá. Kinh Thiên Thủ nói “Nam Mô
Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện ngă tốc hội vô vi
xá”. Lại, không làm mười điều ác là, những
cái nhân đọa xuống súc sanh, ngạ quỉ,
địa ngục; không làm mười việc thiện
hữu lậu là, những cái nhân phải luân hồi làm thân
a-tu-la, nhân loại và các trời trong tam giới; nên gọi
là vô vi; mà chỉ xây dựng đào tạo những chánh nhân
vô trước, vô lậu, vô phân biệt, vô ngă, vô nhân, vô
chúng sanh, vô thọ giả, để đồng nhau
chứng quả Vô thượng Bồ-đề, nên nói là
nhà vô vi. Đó là vô vi của nhà Phật, c̣n vô vi của nhà
Nho th́ là năng lấy để dạy nhân dân, không dùng
đến chánh sách h́nh phạt. Như sách Luận ngữ
nói “Vô vi nhi trị giả, kỳ duy Thuấn dă dư”.
45. Có mười hai pháp: 1-Áo nạp: lại kêu
phấn tảo y, lấy những đồ mà chúng nhân
đem bỏ nơi đống phân rác rến, giặt
rồi chắp may thành áo bận. 2-Tam y: lại nói chỉ
ba y chỉ bận y Tăng-già-lê, Uất-đa-la,
An-đà-hội, ngoài ra, chẳng dùng ǵ dư nữa.
3-Khất thực: lại nói thường khất thực
chính ḿnh tự đi khất thực mà dùng, chớ
chẳng dám thụ lănh cơm của người mời
đăi và cơm giữa chúng tăng. 4-Chẳng làm vật
ăn dư: chỉ làm một lần chính thực vào
giữa và trước giờ ngọ, chớ chẳng
đặng làm vật chính thực từ hai lần
nhẫn lên, v́ món chính thực từ hai lần nhẫn lên,
gọi là dư thực (làm món tiểu thực th́ chẳng
ở trong hạng nầy, bánh, trái, chè gọi là tiểu
thực). 5-Nhứt tọa thực: lại nói nhứt
thực làm một lần chính thực vào giữa và trưa
giờ ngọ, ngoài ra, chẳng đặng lại làm
tiểu thực nữa. 6-Ăn một vắt cơm:
lại nói tiết lượng thực chỉ ăn
một hoàn cơm trong b́nh bát mà thôi, chứ chẳng
đặng thụ nhiều. Giả sử, ăn một
vắt hay nhiều vắt th́, lấy làm có hại mà ,
phải dè ăn cho có chừng lượng. 7-A-lan-nhă
xứ: dịch chỗ xa ĺa, hoặc chỗ trống
vắng ở chỗ trống vắng xa ĺa nhà
người. 8-Ngồi giữa g̣ mả: là trú ở nơi
chỗ phần mộ. 9-Ngồi dưới cây: bên gốc
dưới tàn cây che mát. 10-Ngồi chỗ đất
trống: tức ngồi nơi chỗ đất lộ
thiên giữa trời. 11-Tùy nơi chỗ ngồi chỗ
đất nào có cỏ: tức là ngồi, bất tất
dưới cây, ngoài trời. 12-Thường ngồi
chẳng nằm: thường kiết-già mà ngồi,
chứ chẳng đặng nằm.
46. Bổn thệ: Lời thệ nguyện
xưa, tức là “Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ, phiền năo vô tận thệ nguyện
đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”
47. Món ăn tứ tà: (Tứ tà mạng) 1-Hạ
khẩu thực: Trồng gieo ruộng vườn, nuôi
tằm ươm kén, ḥa hợp thuốc men, để
tự nuôi sống. 2- Ngưởng khẩu thực: Xem sao,
mặt trời, mặt trăng, mây sấm cả khí
tượng thiên văn để sống. 3-Phương
khẩu thực: Dua bợ nhà quyền hào thế lực,
lảnh mạng đi sứ các nơi, xảo quyệt tham
cầu để sống. 4-Duy khẩu thực: Bùa chú
Lổ Ban, mách chuyện cát hung, để mà sanh hoạt.
48. Tăng kỳ vật. Tăng kỳ, dịch
chúng, tức là Tỳ-kheo tăng, Tỳ-kheo ni, là bực
đại chúng là vật của đại chúng chung có phần,
nên gọi là tăng kỳ vật. Đại chúng đây,
thể gồm thâu cả Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni ở
nơi mười phương. Giả sử nhà thí chủ
gởi phụ cúng các vật như ruộng vườn,
pḥng xá, gạo thóc…th́ chia các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni nơi
thập phương, đều có thể hưởng
thụ đó th́, gọi là thập phương tăng
vật, hay là tứ phương tăng vật. Danh
Nghĩa Tập cuốn 7 nói “Tăng kỳ, thử vân
“tứ phương tăng vật”. Đồ đạc
vật mọn của năm chúng chết chia: đem tài
vật của một người giữa năm chúng
đă qua đời ra bố thí, tài vật ấy tuy khinh vi
(mọn mà thể nó thông đồng thập phương
tăng, nhưng thuộc ở nơi bổn xứ th́,
hiện tiền tăng được chia, trong khi
đương rơ chia tài vật của vong tăng, thập
phương tăng đến trước lễ
Yết-ma th́ được lănh phần, c̣n đến sau
lễ Yết-ma th́ chẳng đặng.
49. Hí luận: Những ngôn luận bằng cách
phi lư và vô nghĩa, gọi là hí luận. Lại, với ngôn
luận, bất luận có lư hay phi lư, đều quở là
hí luận cả. Hí luận đây, nghĩa nó đồng
với hoạt kê và nhũng đàm của thế tục
thường nói. Đại Nhựt Kinh Sớ 19 nói “Như
con hát hí kịch, lấy cái tâm tán loạn, mỗi mỗi
điệu bộ thân múa, miệng ca, chỉ đẹp
trước khán giả mà thôi, chứ chả có lư nghĩa
ǵ. Đời nay, kẻ vọng kiến, đưa tác
phẩm ra, cũng đồng như thế, nên gọi hí
luận. Đại Thừa Huyền Luận 2 nói “Hí
luận là danh từ mượn để thí tỷ, v́
với đạo lư mà tâm chưa sở đắc ǵ
hết, mà nghị luận nầy nọ, tỷ như
tiểu nhi học nói giỡn chơi thế thôi. Kinh Pháp Hoa
phẩm Tín Giải nói “Nay đức Thế Tôn khiến
chúng con suy nghĩ dẹp bỏ những phấn uế
của chư pháp hí luận”. Kinh Tối Thắng
Vương quyển nhất nói “Cái tánh thực tế không
có hí luận, chỉ có một ḿnh đức Như Lai
chứng pháp thực tế, dứt hẳn hí luận,
gọi là Niết-bàn”.
50. Du ngôn: nghĩa như phù ngôn. Sách Kinh Lễ
nói “Nên biết đại nhân, chẳng xướng lời
phù (du) ngôn.” Du: lội trên mặt nước. Phù: nổi
trên mặt nước. Lời nói mà vô căn cứ,
thường có đổi thay, gọi là du, nghĩa là không
có ư nhất định.
51. Đầy chén, ngập đầu: ư nói
lổ mội nước mới bắt đầu chỉ
bất quá chừng đầy một chén chung, mà rồi
dần dần tràn lan, sâu nhẫy thành sông. Cũng như
tội lỗi mới phát sanh chút đỉnh không ngăn
dứt, để rồi đến sâu rộng, thành
khổ hải mê xuyên. Thương: chung rượu.
Lạm thương: đầy chén. Sách Gia Ngữ chép “Phù
giang thỉ vu dân sơn, kỳ nguyên khả dĩ lạm
thương” là ban đầu phát nguyên, chỉ đầy
chừng một chung nhỏ. Ngày nay gọi phàm bắt
đầu gầy dựng là lạm thương. Diệt
đảnh: ngập đầu, tức trầm nịch.
Kinh Dịch nói “Quá tiệp diệt đảnh” lội quá
độ hụt gị ngập đầu.
52. Lửa khổ: các khổ phiền năo nung
đốt cả thân tâm của chúng sanh, mau khô héo điêu
tàn, nên gọi là lửa khổ. Kinh Pháp Hoa phẩm Thí
Dụ nói “Tam giới vô an, du như hỏa trạch, chúng
khổ sung măn, thậm khả bố úy, thường
hữu sanh lăo bịnh tử ưu bi khổ năo, như
thị đẳng hỏa xí nhiên bất tức”.
53. Đốt cháy tư bề: Lửa khổ
năo đốt cháy cả thân tứ đại. Kinh Pháp Hoa
nói “Tứ diện câu phàn” tứ diện tức là tứ
đại.
54. Bao điều ác giác quan: a-Tư tưởng
hèn xấu, độc ác, tám thứ riêng biệt gọi là
ác giác. Sách Đại Thừa Chương Nghĩa cuốn
5 sau rốt nói “Những suy nghĩ nhớ tưởng ḷng
tà bất chánh gọi là giác quan, trái nghịch chánh lư, nên
xưng là ác, ác giác bất đồng nhau, chia rời có tám.
Sách Chỉ Quán cuốn 5 nói “Tám gió ác giác, đều
chẳng đặng vào”. Tám gió: bát phong, v́ nó xao động
nhân tâm, nên gọi là gió: 1-Lợi, 2-Suy, 3-Hủy, 4-Dự, 5-Xưng,
6-Uy, 7-Khổ, 8-Lạc. Nghĩa là đặng việc
vừa ư, gọi là lợi; mất việc sự vừa ư gọi
là suy; chẳng có mặt người, bài bác gọi là
hủy; chẳng có mặt người, khen tặng gọi
là dự; xưng: trước mặt khen tốt; cơ: bài
bác trước mặt người; khổ: những
tiếng nói ép ngặt khó chịu; lạc: thỏa thích ḷng
dạ. Rút ở sách Yếu Lăm. b-Giác quan: Tân dịch tầm
từ. Cựu dịch: giác quan. Tư duy mà thô phù gọi là
giác, tư duy mà tiêm tế gọi là quan. Hai ấy,
đều làm pḥng ngại cái định tâm. Nhơn đó,
xét cái giác và quan có hay không, để chỉ phán cái
định tâm sâu hay cạn. Trí Độ Luận 23 nói
“Giác quan ấy, nó hay làm nhiễu loạn tam-muội, do
thế, nên nói hai sự ấy, tầm từ là thiện mà
là kẻ giặc của tam-muội, khó mà xả ĺa”. Giác là
cái tướng của thân tâm; quan là cái tướng của
tế tâm. Giác và quan là cái nhân phát ra lời nói, ĺa cái tâm giác
quan th́ không nói năng. Kinh Duy Ma phẩm Đệ Tử nói
“Pháp không danh tự, v́ dứt nói năng; pháp không có nói, v́
ĺa giác quan”. Tăng Triệu chú rằng “Giác quan là cái thô tâm,
hai nó đều làm cái gốc cho lời lẽ nói năng”.
55. Thời kỳ cực dài: Một tiểu
kiếp kể có mười sáu triệu năm (16.000.000
năm). Hai mươi tiểu kiếp làm một trung
kiếp kể có ba trăm hai chục triệu năm
(320.000.000 năm). Bốn trung kiếp làm một đại
kiếp: cọng có một ngàn hai trăm tám chục
triệu năm (1.280.000.000 năm). Nên nói là thời kỳ
cực dài.
56. Mười hai can chi: Tức mười can và
mười hai chi. Thập can là giáp, ất, bính, đinh,
mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí. Thập nhị chi là tư,
sửu, dần, mẹo, th́n, tỵ, ngọ, mùi, thân,
dậu, tuất, hợi. Dùng nghĩa theo như cái súc, cái
nhánh của cây. Tương truyền rằng ông Thiên Hoàng sáng
lập ra. Thuở ông Hoàng Đế, có họ Đại
Náo bắt đầu lấy thiên can phối với
địa chi, để làm giáp tư. Đại loại
như giáp tư, ất sửu, giáp tuất, ất hợi…
tục gọi là lục thập hoa giáp tư, đại phàm,
ghi niên, ngoạt, nhựt, thời đều dùng
đấy, như lịch ----.
57. Tam quang: Là ba hiện tượng sáng soi
xuống nhân gian. Sách Bạch Hổ Thông chép rằng “Trên ṿm
trời có tam quang là mặt trời, mặt trăng và các v́
sao.
58. Bách nhứt sở tu: Lại nói bách nhứt
cung thân, bách nhứt vật, bách nhứt chúng cụ.
Nghĩa là, ngoài tam y, lục vật, tất cả những
món đồ đạc để trợ việc hành
đạo. Chữ bách là nói tổng quát số nhiều,
chứ phi hạn cuộc vào số một trăm. Là nói
đối với ngoài ba y, sáu vật, Tỳ-kheo với
mỗi vật dụng, chỉ mỗi thứ chứa dùng
một cái, nên nói: Bách nhứt cung thân, ngoài một cái
ấy, nếu có cái thứ hai th́ gọi là trưởng
vật. Giả như: chỉ được sắm
một cái b́nh uống nước, nếu có cái b́nh thứ
hai nữa, là trưởng vật. Với trưởng
vật ấy, nếu chẳng làm một phép “thuyết
tịnh” th́ chẳng được chứa để.
Sống, Tỳ-kheo có ba phẩm căn tánh: 1-Thượng
phẩm chỉ chứa dùng ba pháp y; 2-Trung phẩm lại
được chứa bách nhứt; 3-Hạ phẩm
lại được chứa trưởng vật.
Lục vật: 1-Tăng-già-lê từ chín điều
đến hai mươi lăm điều, chung gọi là
một đại điều y. 2-Uất-đa-la-tăng là
nhất điều y gọi là trung y. 3-An-đà-hội là
ngũ điều y, gọi là hạ y. Tức là cùng trên
chung gọi “đại, trung, hạ” và là tam y.
4-Ni-sư-đàn tức tọa cụ. 5-Bát-đa-la, tức
thiếc bát. 6-Lự-thủy-nan là đồ hộ vi trùng
trong nước. Thế là tam y lục vật. Tam y ở
trong lục vật, song, lại là căn bản trong sáu
vật, nên được nêu riêng ra, tỷ như gọi
thi, thư, lục kinh, v́ kinh Thi, kinh Thư cũng ở
trong ngũ kinh mà được gọi riêng là ngũ kinh
lại c̣n riêng có Thi Thư nữa.
59. Trải lâu năm tuổi. Động kinh
niên tể, tể: năm tuổi, làm chủ, cầm
quyền. Đọc tế th́ có bốn nghĩa đó.
Đọc tái: vâng, như câu thiên phú địa tái; tái:
bắt đầu; Tái: ghi chép việc; đọc tải:
chở như vận tải.
60. Chỉ cần hai đầu. Lưỡng
đầu tạc khai. Tạc: tản ra, buông ra, như nói
hai tay buông ra. Hai đầu: Tâm cảnh, nhân ngă, bỉ
thử, oán thân, thiện ác, phú bần, quí tiện… tâm ta
đều buông bỏ tất cả, không phân biệt, trú
trước vào bên nào, như nói“Trung gian, lưỡng
ngạn bất cư” “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm”.
61. Để tự tiêu tức: Để
tự nghiệm xét coi, sự cần tu và ư thức của
ta, khi thức, lúc nghỉ, đă được như
thế nào mà, nhận xét tin tức giác hay mê, định hay
loạn động? Tiêu tức: âm tín. Lại, việc
người chỉ có cát hung, thiện ác, nên gọi thư
tín là tiêu tức.
62. Cầm lửa quay tṛn. Triền hỏa luân:
đêm tối, cầm lửa quay tít làm thành h́nh ṿng tṛn,
với cái ṿng tṛn ấy tợ hồ có mà phi thực,
để tỷ dụ hiện tượng giả dối
của tất cả sự pháp. Kinh Lăng Nghiêm cuốn 3
chép “Sanh tử tử sanh, sanh sanh tử tử, như ṿng
tṛn quay lửa, chưa có thôi nghỉ”. Sách Chỉ Quán
cuốn 6 nói “V́ bị cái ngă kiến đó mà, tạo ra các
kiết nghiệp (kiết sử), sa xuống tam
đồ, trầm luân không thôi, như ṿng quay lửa,
nếu muốn thôi dứt, cần phải dừng tay”. Trí
Độ Luận cuốn 6 nói “Như ṿng quay lửa,
chỉ lầm mắt người”.
63. Tin chết: Đầu bạc, răng long,
mắt lờ, tai điếc, đó là những cái tin
chết đưa đến trước cho biết
vậy! Hoặc trong bà con cḥm xóm, những người
nhỏ tuổi hơn ta mà họ đă chết
trước ta, đó là cũng tin chết cho biết
trước vậy!
64. Đứa nhụ phu. Nhụ: tài năng
thấp yếu. Nhụ phu: đứa yếu kém là lời
tự khiêm, kẻ nam tử không có khí tiết. Sách Mạnh
Tử nói “Nhụ phu hữu lập chí”.
65. Bạc địa phàm phu. Bạc: ép bức,
là bị áp đè ở sát nơi mặt đất, tức
là địa vị bị các khổ bức bách, chính cái
cảnh giới của chúng phàm phu. Tịnh Tâm Giới Quán
cuốn hạ nói “Chúng phàm phu ở nơi bạc
địa cái thân hôi hèn xấu, quả báo thấp lút”. Trong
Phát Chân sao chép lời của Văn Tuyển chú thích
rằng “Bạc: bức, là ở sát mặt đất mà
thôi,đấy là chỉ cả nhân loại ở nơi
tứ bộ châu”. Giới Độ Kư cuốn hạ nói
“Bạc, âm Bác”. Đại Bộ Bổ Chú cuốn 11 nói
“Bác địa rộng răi, mênh mông, và nhiều, v́
đất hạ phàm rộng nhiều”. Căn cứ
thuyết trên th́, chữ Bạc là mượn thay cho
chữ Bác đấy. Lục phàm phu: Thiên đạo, nhân đạo,
a-tu-la đạo, súc sanh, ngạ quỷ và địa
ngục đạo, gọi là lục phàm: sáu chúng phàm phu.
66. Phật trí hiểu suốt ba thế gian,
thể tánh nó bất sanh bất diệt, gọi là
“thường”; c̣n cái tướng nó có sanh, có trụ, có
dị, có diệt, gọi là “vô thường”. Ba thế
gian: 1-Chúng sanh thế gian, là thuộc về chúng hữu
t́nh, v́ có cái t́nh thức, hữu tri giác, thực hiện
bằng bốn cách sanh noăn, thai, thấp, hóa, đó là số
chúng sanh. 2-Tứ thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và
Phật, tức là trí giác thế gian. 3-Thế giới, núi
sông, đất liền, cây cỏ, vàng, thiếc, sạn,
đá là khí thế gian tức vô t́nh loại. Lại, phi
chúng sanh số là trong địa ngục, dạ-xoa, la-sát,
hổ lang, sư tử… đều là ác nghiệp của
phi nhân biến hiện bằng cách huyễn hóa; c̣n những
tượng mă, thú vật của các vị Hiền Thánh
cỡi đó, đều là do phước nghiệp
biến hiện bằng cách ảo hóa, nên nói là phi chúng sanh
số.
67. Vô duyên từ: Đọc đủ là “vô duyên
từ bi”, duy chỉ chư Phật mới có đủ
từ bi đây. Số là, tâm của chư Phật,
chẳng trụ trong tánh hữu vi, vô vi, chẳng trụ vào
đời quá khứ, tam muội vị lai. V́ biết các
duyên đều chẳng thực có, bởi điên
đảo hư vọng, nên tâm của chư Phật
chẳng duyên (trụ) vào chỗ nào cả, nhưng,
Phật thấy chúng sanh chẳng biết thực
tướng của các pháp, nên qua lại năm ngả
(đạo), tâm chấp trước vào các pháp, v́ thủ
xả và phân biệt… mà chư Phật tâm không phan duyên
(trụ trước, phân biệt) vào chúng sanh, mới
giải thoát được chúng sanh, là khiến cho chúng sanh
tự nhiên được cái lợi ích bạt khổ
dữ lạc. Nên nói “vận vô duyên (trụ) từ, tức
vô duyên từ bi tâm”.
68. Khinh, trọng, khai, giá, tŕ, phạm: Khinh
giới, trọng giới, giả như, Sa-di giới
bốn giới căn bản trước là trọng, sáu
giới sau là khinh. Lại, giới sát sanh dù trọng, mà tùy
theo trường hợp cũng có khinh, như cố ư sát là
trọng, c̣n ngộ sát (giết lầm, hay rủi ro lỡ
tay) là phạm khinh tội. Lại, với cố sát mà
giết người có đạo đức, ảnh
hưởng nhiều với xă hội, là phạm trọng
tội; giết kẻ vô dụng với đời, là
phạm khinh tội… Khai: mở ra cho làm. Giá: ngăn cấm
không cho làm. Tŕ: hành tŕ, giữ giới. Phạm: phạm
giới cấm.
69. Kiết-la: Đọc đủ là
Đột-kiết-la, nghĩa là cái danh phạm tội.
Giới Sớ cuốn nhất nói “Ố tác ố
thuyết, đồng hiệu kiết-la”.
70. Thập sử: Chia ra năm lợi, năm
độn. Lợi: do mê mất cái lư tánh của Tứ
đế mà sanh khởi ra năm lợi sử, v́ nó bén
sướt, lanh lợi giữa tánh mê hoặc, nên gọi nó
là lợi (bén). Năm lợi sử như dưới:
1-Thân kiến: Tức ngă kiến và ngă sở, nghĩa là,
chẳng biết cái thân ta đây là giả tạm bởi
năm uẩn ḥa hợp mà, lại cố chấp là
thực tế có ngă thân, đó là cái bệnh ngă kiến;
lại chẳng biết các vật chất ở chung quanh
nơi bên thân ta đều là không nhứt định
sở hữu chủ mà, cũng chấp kể là thực có
vật sở hữu của ta, đó là cái bệnh ngă
sở kiến. 2-Biên kiến: Sự thấy thiên về
một bên, là sau khi đă chấp có ngă thân sanh khởi ngă
kiến rồi th́, với cái “ngă” hoặc kể rằng
sau khi chết rồi đoạn diệt hẳn, không c̣n có
chi cả; hoặc kể rằng sau khi chết rồi
hồn vẫn thường c̣n măi chẳng hề dứt
mất; đó là cái mê vọng ở bên sau nơi thân
kiến. Tức là cái bệnh chấp đoạn
(đoạn kiến) và cái bệnh chấp thường
(thường kiến). 3-Tà kiến: Cái kiến thức
bất chánh, v́ bác bỏ đi cho là không có cái lư nhân quả.
Nghĩa là, chấp rằng trong đời không có cái nguyên
nhân nào có kết quả, cũng không có cái kết quả nào
do nguyên nhân để sanh, với điều ác chẳng
đủ sợ, với điều thiện chả
đủ ham, như thế là cái bệnh mậu kiến,
v́ đă tà mà lại c̣n tà hơn nữa. 4-Kiến thủ
kiến: Lấy cái tri kiến hạ liệt làm
đầu, chấp lấy mỗi mỗi sự hạ
liệt khác, nghĩ cho đấy là tối thắng.
Chữ kiến trên, tuy chỉ về các cái thân kiến biên
kiến, song nó c̣n hàm súc mỗi mỗi sự vật khác
nữa. 5-Giới cấm thủ kiến: Do cái kiến
thủ kiến trên, mới nhận lấy điều
giới cấm phi đạo lư, phi quá thất làm
đầu trước, rồi nhận lấy mỗi
mỗi phép tu hành khác, để làm cái nhân được
sanh lên thiên đ́nh, hoặc đắc đạo quả Niết-bàn.
Trong đây có hai cách tu: 1-Giữ ngưu giới (ăn
ở cách như trâu, ḅ), kê giới (hành động như
gà) để làm cái nhân sanh lên trời, đó là với cái
giới cấm thủ kiến phi nhân mà chấp lấy làm
nhân. 2-Tu đạo Đồ-thán, Ni-kiền-tử…
tuyệt thực, ở lơa thể, nằm trên đống
gai, gieo ḿnh vào lửa, mỗi mỗi cách khổ hạnh,
để làm cái đắc đạo Niết-bàn, đó là
cái giới cấm thủ kiến phi đạo mà chấp
rằng đạo. Năm cái kiến thức trên đó, là
do nơi một phần của ác trí huệ, nên gọi
lợi-sử. Năm độn sử là tham, sân, si,
mạn, nghi, bốn sử trước, đều là do
nơi mê chấp lấy các sự vật giữa thế
gian mà sanh tâm khởi vọng hoặc; cái sử sau là Nghi, là
đối với lư tứ đế, không hiểu mà
khởi ra cái hoặc vọng này, Nghi lấy do dự
chẳng quyết là cái tánh của nghi mà tánh nó đều
tŕ độn, nên gọi là độn sử.
71. Tam Kiết: 1-Thân kiến kiết là cái ngă
kiến, v́ với trong sắc uẩn, mê vọng chấp
kể có thân, cưỡng lập làm có ngă chủ tể.
2-Giới thủ kiết là hành tà giới, tức trong phi
giới mà lầm lấy làm giới, chấp lấy
để tiến tu… 3-Nghi kiết là với chánh lư hồ
nghi, chẳng tin tứ đế Tam Bảo, ḷng do dự
không quyết được. Đoạn được ba
kiết này là quả Dự-lưu.
72. Đẳng phần hành: Tức thân kiến,
giới thủ, nghi kiết, mạn kiến, biên kiến,
tà kiến, kiến thủ kiến. Hành: hành động,
như tham hành, sân hành, si hành, thân kiến hành, giới
thủ hành… mấy cái ấy cũng đồng phần
hành động như nhau, nên nói đẳng phần hành.
Lại đối trị tham, sân, si và đẳng phần
cũng như trên là tham hành, sân hành, si hành, thân kiến hành,
giới thủ hành… Bốn món phiền năo cũng kêu là trí
hoặc, Thành Duy Thức Luận quyển 4 nói “Cái thức
thứ bảy là Mạt-na, nó thường hằng
tương nhau với bốn món căn bản phiền
năo. 1-Ngă si, tức là cái vô minh, nó ngu muội nơi cái
tướng ngă mà quên mất cái lư vô ngă. 2-Ngă kiến,
tức là ngă chấp với cái pháp phi ngă mà mê vọng
kể là ngă. 3-Ngă mạn tức là kiêu ngạo giữ
lấy cái ngă sở chấp, khiến tâm đề cao
lên.4-Ngă ái tức là ngă tham với cái ngă sở chấp, sanh
tâm chấp trước quá sân”.
73. Tam minh, Lục thông.
Tam minh: Ở nơi Phật gọi là tam đạt, ở
nơi A-la-hán gọi là tam minh; cái trí mà biết rơ rành các
pháp, nên gọi là Minh. Lại gọi trí minh, lại gọi
trí chứng minh, chứng cái cảnh của trí một cách
rơ ràng phân minh. 1-Túc mạng minh: biết được cái
tướng sanh tử từ các đời trước
của thân ta và thân người. 2-Thiên nhăn minh: thấy
được cái tướng sanh tử nơi đời
vị lai của thân ta và thân người. 3-Lậu tận
minh: biết được cái khổ thân của
đời hiện tại, dứt hết tất cả
phiền năo. Lậu là phiền năo. Song, tam minh ấy,
tức ba thông là túc mạng, thiên nhăn và lậu tận trong
lục thông.
Lục thông: Thần thông của các Thánh trong tam
thừa sở đắc có sáu món, là 1- Thiên nhăn thông, 2- Thiên
nhĩ thông, 3-Tha tâm thông, 4-Túc mạng thông, 5-Thần túc
thông, 6- Lậu tận thông. – Tác dụng tự tại vô
ngại, gọi là thông. Đều là chỗ sở
đắc của Phật, Bồ-tát, ngoại đạo,
chư thiên, tiên nhân và quỉ thần – Có ba thứ riêng
biệt: 1-Báo đắc thông lực, như các trời trong
ba giới, đều có năm món thần thông, nhẫn
đến quỉ thần cũng có một vài tiểu
thông; v́ các thông ấy đều y nơi quả báo mà
tự nhiên cảm được. 2-Tu đắc thông
lực: các Thánh tam thừa, tu tam học mà đắc
lục thông; ngoại đạo tiên nhân tu thiền
định mà hiện được ngũ thông. 3-Biến
hóa thông lực: các Thánh tam thừa, dùng sức thần thông
mà biến hiện ra mỗi mỗi phép lạ. 1-Thần
cảnh trí chứng thông: Cũng gọi thân như ư thông,
thân thông, thần túc thông tức là cái thông lực biến
hiện ra cảnh giới bất khả tư nghị th́,
gọi là thân cảnh thông; cái thông lực qua lại dạo
chơi tự tại th́ gọi là thần túc thông; cái thông
lực mà tự thân được biến hiện tự
tại, nên gọi là thân như ư thông; thế là đều
đến một kêu mệnh danh. Trong đó cái danh thần
cảnh thông, rất là phổ thông thường gọi.
2-Thiên nhăn trí chứng thông: Được cái con
mắt của trời Sắc giới, chiếu lâu mà không
ngại, gọi là thiên nhăn trí chứng thông. 3-Thiên nhĩ trí
chứng thông: Đắc cái thính giác trời Sắc
giới, nghe rơ vô ngại. 4-Tha tâm trí chứng thông: Biết
được cái tâm niệm của người khác mà
không chi ngăn ngại. 5-Túc mạng trí chứng thông:
Biết được sự sanh nhai các đời
trước của ḿnh và chúng sanh cả lục đạo
mà không chi chướng ngại. Năm thông trên, là hoặc
tu thiền định hữu lậu, hoặc y nơi
sức thuốc, sức thần chú mà chứng đắc, nên
các tiên nhân, ngoại đạo đều cũng có thể
chứng được; năm ấy đều tên là trí
chứng thông, là do v́ đều y nơi trí mà chứng
được thông lực. 6-Lậu tận trí chứng
thông: Phép tột bực của các Thánh tam thừa, v́ các
lậu (tất cả phiền năo) đă đoạn
sạch hết, không chi làm chướng ngại; thành
tựu được cái thông thứ sáu đây là, chỉ
hạn riêng về các thánh tam thừa, chứ các vị trí
tiên nhân, ngoại đạo thần quỷ đều không
có, bởi không có nên c̣n phải luân hồi. Trí Độ
Luận cuốn 2 “Hỏi: Thông với Minh có khác nhau
những ǵ? Đáp: Chỉ biết ngay được
việc túc mạng từ đời quá khứ th́ gọi
là thông; biết được những nhân duyên, hành
nghiệp đời quá khứ th́ gọi là minh; chỉ
biết ngay được tử nơi đây, sanh nơi
kia là thông; biết hành nghiệp nhân duyên phải gặp
gỡ nhau, ảnh hưởng chẳng mất, là minh;
chỉ mới dứt hết tam kiết, thập sử,
chẳng biết c̣n phải sanh lại hay chẳng sanh, là
Thông; nếu biết những hoặc lậu hết, chẳng
c̣n sanh trở lại nơi tam giới nữa, là Minh.” Bà-sa
Luận 77 “Hỏi: Với lục thông, ba cái kia sao chẳng
gọi là Minh? Đáp: Thân như ư (thần cảnh thông) nó
chỉ hay về công xảo; thiên nhĩ thông nó chỉ hay
về nghe tiếng; tha tâm thông nó chỉ biết
được tâm niệm của người khác. Nên ba
ấy chẳng lập làm minh; c̣n ba cái kia, sở dĩ là
minh ấy, là thiên nhăn thông nó gồm thấy biết
được cái khổ của vị lai; túc mạng thông
nó gồm thấy biết được cái khổ của
quá khứ; đều hay chán ĺa sanh tử. Lậu tận
thông nó kiêm hay làm chánh quán mà dứt sạch hết các
phiền năo.”
Tam minh lục thông là A-la-hán đầy
đủ tài đức ấy. Kinh Quán Vô Lượng
Thọ nói “Nghe những âm thanh, khen pháp tứ đế,
tức thời đắc A-la-hán đạo đầy
đủ tam minh, lục thông và bát giải thoát”.
74. Huyền đạo: Là cái đạo
huyền diệu, tức thông thường gọi
đạo Phật là đạo huyền diệu.
75. Tuế hoa: Nghĩa như tuế thời.
Sách Cựu Đường, truyện Trương Duyệt
nói “Tích thị xuân tụng, trù mù tuế hoa” (xưa hầu
xuân tụng, triền miên năm mùa).
76. Chân phong: Cái thói giáo hóa chân thực. Phong ở
đây có ba nghĩa: 1-Giáo hóa, kinh Thư nói “Hàm ngưỡng
trẫm đức, thời năi phong: đều ngửa
trông đức của ta, theo thời giáo hóa”. 2-Tục
thượng: đời chuộng, kinh Lễ nói “di phong
dịch tục”. 3-Cảnh tượng, như nói “phong
quang, phong cảnh”.
77. Chỉ nam: Dụ, là nói chỉ dẫn
định theo hướng, khiến kẻ hậu học
chẳng đến nỗi quên lầm. Chỉ nam xa:
chiếc xe có cây kim cứ chỉ ngay về hướng
nam. Hoàng đế cùng đánh nhau với Xuy Vưu tại
nơi cánh đồng trạc lộc, Xuy Vưu làm trận
mù lớn tối cả trời đất, tướng
sĩ đều chẳng biết đâu là phương
hướng, Hoàng đế chế tạo ra chiếc xa
chỉ nam, để chỉ phương hướng. Lại,
thuở nhà Châu, họ Việt Thường Thị (tức
nay là Chàm hay Chiêm Thành ở tại Phan Rang Phan Thiết Trung
Việt) qua cống con Bạch Trĩ, chừng về
sứ giả quên đường, Châu Công làm chỉ nam xa
cho về nước (nước của họ Việt
Thường xưa, tức là toàn cơi Trung Việt của
Việt Nam ngày nay).
78. Trí Vô Sư: Là cái Phật trí không do thầy
dạy trao mà chỉ một ḿnh ḿnh giác ngộ ra, kinh Pháp
Hoa phẩm Thí Dụ nói “Nhứt thế trí, Phật trí,
tự nhiên trí, vô sư trí”. Gia Tường Sớ cuốn 6
nói “Vô sư trí ấy, là ba trí trước đều
chẳng do nơi thầy mà đặng, nên nói là vô sư
trí”. Kinh Đại Nhật cuốn nhứt lời sớ
nói “Như thế, với cái cảnh tự chứng,
kẻ nói không lời, người xem không thấy, cái mà
không lời, không thấy đó, nó chẳng đồng
như quả am-ma-lặc trong tay có thể chuyển trao cho
người khác được; nếu có thể lấy
lời nói trao cho người th́, khi mà Thích-ca Bồ-tát
nhờ Phật Định Quang trao quyết, liền
được thành Phật mới phải. Cớ sao c̣n
đợi tu đủ phương tiện, đến
chừng do vô sư tự giác ngộ, mới gọi là thành
Phật ư?” Trí: với sự, lư đều quyết
đoán được cả. Đại Thừa Nghĩa
Chương cuốn 9 nói “Cái tâm huệ an pháp, gọi là
nhẫn, với cảnh quyết đoán, nói là trí”. Duy
Thức Thuật Kư cuốn 9 nói “V́ nhẫn là nói cái trí
để quyết đoán”.
79. Đạo Thiên Chân: Là cái đạo lư thiên
nhiên mới là chân thật, cái chân lư thiên nhiên, phi
người tạo tác ra. Sách Chỉ Quán cuốn nhứt
nói “Cửa pháp trong mầu, là thiên chân độc lăng”.
Phụ Hạnh nói “Lư phi tạo tác, nên gọi thiên chân,
chứng trí viên minh, nên nói độc lăng”. Thiên chân tức
pháp thiên.
80. Can qua: Can, tức cái thuẫn là cái khiên, làm
bằng da, xưa, khi ra trận, dùng mang để che
đỡ mũi tên bên địch bắn, phóng qua. Qua:
mũi nhọn mà có một chi chỉa ngang ra gọi qua, c̣n
hai chi đều chỉa ngang, gọi là cái kích, đều
là đồ binh khí xưa. Can qua là tên chung của vũ khí.
Can qua là gọi chiến tranh. Như nói “Nhựt tầm can
qua”. Nghĩa là, thuộc về người phản bạn
th́ nói đảo qua tương hướng. C̣n
đồng nhơn mà tự tranh đấu nhau th́ nó
đồng nhất thao qua. Người học Phật mà
phân môn biệt phái với nhau, học đâu chấp đó,
lấy kinh luận tranh đấu công kích, nên nói là lấy
kinh luận làm can qua.
81. Hàm thỉ: Hàm, vỏ áo để giắt
gươm hay giắt tên. Hàm nhân: thợ thuộc da làm
vỏ áo giắt gươm tên đem bán, chưa mấy ác
nghiệt. Thỉ: mũi nói tên hoặc mũi lao. Thỉ
nhân: thợ chuốt vót tạo mũi tên đem bán. Sách
Mạnh Tử nói “Thỉ nhân duy khủng bất
thương nhân: người làm mũi tên chỉn e
chẳng hại người” th́ cũng chưa mấy là
ác. - Người mà mua hai món ấy, để làm
điều sát hại, mới là đại ác! - Cũng
như các nhà trứ tác xưa, chưa chi là thực ác;
chỉ có các người hậu học chấp lấy các
tác phẩm của tác giả, rồi phân biệt, chấp
nhứt công kích lẫn nhau, mới là thực ác! Nên nói t́nh
ở nơi hàm thỉ mà đổi dời. Hàm thỉ là áo
giắt mũi tên.
82. Chuẩn đích. Chuẩn: b́nh, cái ni, cái
cỡ, cái ống thủy dùng để lấy mực b́nh,
tục gọi là cái thủy b́nh chuẩn. Đích: chắc,
cái phiêu chuẩn để nhắm bắn, mục đích.
Nên nói “Người tham thiền phải lấy kinh luận
làm chuẩn đích”.
83. Xem kinh xưa rộn trong ḷng: Tổ
Dược Sơn xem kinh Niết Bàn. Có một nhà Tăng
thấy hỏi: - Thường thường Ḥa
thượng không cho học giả coi kinh, nay sao Ḥa
thượng lại tự coi? Đáp: - Chỉ v́
để che con mắt. Hỏi: - Học giả này xem có
được không? Đáp: - Ông nếu xem, dù da trâu cũng
lủng, huống là giấy!
Đấy, chỗ gọi là “vị miễn tâm
náo”! Cổ nhân nói kệ:
Bộ trụ đăng lung xí nhiên thuyết,
Mạc học lư niên chỉ thượng toàn.
Khán kinh tu cụ khán kinh nhăn,
Đa kiến khán kinh kị nhăn man!
84. Gương xưa chiếu tinh: Thuở nhà
Tùy, ông Vương Độ, có đặng một mặt
bửu kính. Khi ông được thuyên chuyển đi
nhậm Huyện lịnh, ghé trọ nơi lữ quán,
thấy trong nhà hàng này có một thiếu phụ rất
kiều diễm, hỏi chủ quán: - Nàng ấy phải
chăng là con dâu ǵ của chủ nhân?. Đáp rằng: -
Trước kia, có một hành khách dắt nàng đến,
xin tạm gởi, rằng vài ngày sẽ lại làm lễ
cưới, nhưng đă vài tháng rồi chả thấy
người trở lại. Quan huyện nghi là phi nhân,
liền lấy bửu kính ra. Nhanh như chớp, thiếu
phụ liền thấy, rất sợ hăi! Xin thú thực
rằng: -Tôi là Lăo hồ tinh, bấy nay đánh lừa
đă nhiều người mà, chừ phải chịu
chết nơi tay Quan huyện, v́ Ngài có cái gương báu,
xin Ngài cất bửu kính đi. Vương Độ nói: -
Cất gương, đặng ngươi trốn sao?
Hồ tinh nói: - Bửu kính là thần vật soi sáng th́, c̣n
chỗ nào ẩn h́nh được! Thôi trăm lạy quan
lớn, làm ơn cho tôi no say một tiệc rồi
chết. Vương Độ bảo chủ nhân cho nó
một mâm rượu thịt, nó ăn uống rồi
nằm ngủ, coi lại th́ chỉ thấy nó lộ nguyên
h́nh là con chồn cáo cái già…
85. Cổ giáo chiếu tâm: Như nói đem
ngọc minh châu để xuống chỗ nước
đục th́, nước đục chẳng đặng
chẳng trong; pháp niệm Phật ấn vào nơi loạn
tâm th́, loạn tâm không đặng không Phật. Nên nói
“Cổ giáo chiếu tâm kỳ tâm tự minh”.
86. Thượng trung hạ tọa: Tỳ Ni
Mẫu nói “Thụ giới Cụ túc rồi, từ chưa
có tuổi hạ (chưa kiết hạ an cư)
đến 9 hạ an cư, là bậc Hạ tọa; 10
hạ đến 19 hạ, là bậc Trung tọa; 20 hạ
đến 49 hạ, gọi là bậc Thượng tọa.
50 hạ nhẫn lên, là bậc Kỳ túc Trưởng lăo,
đối với bậc này, tất cả sa-môn, các
quốc vương, đều phải tôn kính.
87. Ngày tiết hội: Phong tục của
nước Ấn Độ, cứ hai tháng làm một
tiết, một năm kể có sáu tiết hội, với
ngày tiết hội, tập họp tổ chức một
cuộc tiệc hí lạc…
88. Đông miệng nát vàng: Là câu chữ “chúng
khẩu thước kim” của sách Quốc Ngữ.
Thước: lấy lửa thét (đốt nướng)
vàng cho tiêu tan ra, phàm những tiêu tổn là nghĩa chữ
thước. Đông miệng nát vàng: ư nói dụm miệng
nói ồn ào, làm cho người ta động niệm th́,
ḿnh phải bị tiêu tổn phước đức
rồi!
89. Thoại đầu: Đầu câu chuyện;
đầu câu chuyện tức là cái tâm, v́ tâm nó không h́nh
tướng ngữ ngôn, mà h́nh dung lời nói, đều do
tâm niệm phát sanh, nên thoại đầu là cái tâm.
Đọc đủ là thoại đầu công án là cái công
án về thoại đầu chi. Thoại đầu là
một câu vô nghĩa, v́ do nhà thầy trao cho học giả
nghiên cứu. Như khô mộc lư long ngâm…; Nam-mô A-di-đà
Phật, cũng là niệm Phật thoại đầu. Công
án: Bên nhà Thiền đối với cái cơ duyên của
Phật Tổ sở hóa, mà đề khởi ra lời nói
vượt hẳn ra ngoài cách thức, để chỉ
thị cho động tác. Người đời sau
gọi đó là công án. Công án tức là nhân duyên. Công án là án
độc của công phủ, tức là luật lịnh, v́
rất nghiêm mà chẳng thể phạm, khá dùng làm phép
tắc, khá dùng đoán điều thị điều phi.
Từ trước Phật Tổ để lời chỉ
thị, là chính lịnh của tông môn, để phán
quyết điều mê điều ngộ, nên giống
với công án kia, thành thử người ta kêu là công án,
bảo là một ngàn bảy trăm phép công án. Thực
thế.
90. Cát đằng. Cát: Dây cỏ Cát, Đằng:
dây mây, hai thứ dây cỏ này, đều là thực vật
mà, sanh trưởng cả lùm bụi, tàn lan. Lại, cát
đằng thí dụ là phiền năo; lại chê là sự
phiền toái của pháp môn. Lại gọi là ngôn ngữ
(lời lẽ chữ nghĩa), lời của nhà Thiền
thường nói. Kinh Xuất Diệu cuốn 3 nói “Phàm là chúng
sanh mà đọa vào lưới ái, ắt làm hư chánh
đạo… dường như cát đằng leo quấn
lên cây, ḅ lên tới ngọn, khắp bủa phủ che th́
cây phải chết khô”. Chủng Điển Sao quyển
nhứt nói “Cát đằng là ngữ ngôn”. Tùng Lâm Thạnh
Sự nói “Các tu sĩ bên Thiền tông, hễ thấy nói
việc chi mà phức tạp như nhánh dây tràn lan không chóng
tắt th́, gọi cát đằng”.
91. Hồ Hán. Ho: Dưới hàm thịt no tḥng
xuống và râu mọc dưới hàm. Đối với các
giống dân ở phía bắc Trung Hoa, người Tầu
gọi là các nước Hồ, v́ địa các
(dưới hàm) phong hậu, râu mọc. Các nước mà
người gọi là Hồ như Hung Nô, Tiêu Ty, Yết,
Đê, Khương. Với các nước ấy, họ
gọi là Ngũ Hồ, đời Đông Tấn có cơn
giặc loạn Ngũ Hồ. Sách chép là Ngũ Hồ
loạn Hoa. Với Ngũ Hồ họ cũng gọi là
Bắc địch. Hồ ngôn: nói tiếng nước Hồ,
v́ học tăng lúc bấy giờ, phần nhiều thiên
về đua học tiếng ngoại ngữ, nên bị
Tổ quở; c̣n học tăng Việt Nam ngày nay cũng
nhiều người, nội điển chưa thông mà, ư
ức đua học ngoại ngữ th́, Tổ nào quở
đây!? Hán: người nước Trung Hoa, họ tự
xưng nước họ là Hán, như Hán địa,
xưng ḍng giống là Hán tộc, xưng nam tử là Hán
tử, gọi người bổn bộ là Hán nhân, gọi
văn tự là Hán văn, Hán ngữ, Hán tộc là v́
đối với Măn, Mông, Hồi, Tạng và Miêu tộc.
92. Hoạt kế: Là cái kế hoạch
để sanh hoạt. Vương Kiến thi rằng
“Vạn sự phong xuy quá nhĩ luân, bần nhi hoạt
kế diệc tằng văn”. Tục ngày nay, người
ta cũng bảo nữ hồng (công) là hoạt kế.
93. Tánh thiên chân: Là cái tánh thiên nhiên, là nói tự
thị ḿnh có cái tánh thông minh sẵn có, chấp trước
cái không (ác thủ không), thế là thông minh nhẫn bị
thông minh ngộ.
94. Thô giải: Đối với Phật pháp
chỉ hiểu thô thiển, nên gọi là thô giải pháp
sư.
95. Giáo nhăn: Tức pháp nhăn, là con mắt coi giáo
pháp, chỉ hiểu biết nông cạn bằng cách như
b́ phu chi học!
96. Hư đầu: Cái đầu óc trống
lép. Hư đầu tức không đầu.
97. Hạnh môn: Tức hành môn công vụ, nhưng
hư đầu thiền khách này chỉ ỷ lại vào
trực chỉ thiền mà, chưa được chân tham
thực ngộ, lại hay nói bướng là không cần
hữu vi, nên ăn rồi ngồi không, chả có một
mảy vận thủy ban sài ǵ cả, nên nói “bất quí
hạnh môn”. Người mà như thế, quá ư vô ích,
chẳng bằng cục phẩn, v́ phẩn c̣n có chó ăn,
cá ăn, hoặc người ta dùng làm phân bón.
98. Bịnh thiên khô: Là thiên lệch về cái
bịnh khô tâm, v́ chẳng được có pháp thủy,
huệ lưu triêm nhuận ǵ! Như Ngũ Đăng
Hội Nguơn nói “Xưa có một nhà tín nữ,
thường tứ sự cúng dường một ông
khất sĩ mà bà rước về ở nơi tịnh
xá của bà lập trong vườn, trải qua hai
mươi năm, thường sai một thiếu nữ
mười sáu tuổi đem cơm hầu họ. Bữa
nọ, bà bảo con gái của bà ôm ông Sư và hỏi rằng:
- Chính lúc này như thế nào? Sư đáp: - Khô mộc
ỷ hàn nham, tam đông vô noăn khí (Cây khô nương núi
lạnh, mùa đông không hơi ấm). Con gái về
thuật lại với mẹ. Bà than: - Hai chục năm
nay, ta cúng một ông sư chết khô . Bà buộc sư
phải t́m thầy hỏi học đă, rồi hăy tu.
Người đời bấy giờ thêm hai câu nữa,
thành một bài kệ: Khô mộc ỷ hàn nham tam đông vô
lănh noăn, khả tích nhị thập niên, dưỡng
nhứt cá tử hán (Khá tiếc hai chục năm, nuôi
một thằng cha chết!)”
99. Đoạn hoặc chứng chân. Hoặc: cái
tâm mê vọng, mê với cái cảnh sở đối mà,
điên đảo sự lư, gọi là hoặc, là cái tên
gọi chung các tham, sân, si mọi phiền năo. Tham Huyền
Kư 13 nói “Tâm mê tiền cảnh, gọi đó là hoặc”. Nhân
Vương Kinh Hiệp Sớ nói “Hoặc là cái tâm mê
vọng”. Đoạn hoặc: là đoạn cái vô minh
hoặc, v́ nó là căn bản vô minh, hay làm che ngăn cái lư
trung đạo (chân như). Bên Biệt giáo, các Bồ-tát
bực Sơ địa bắt đầu đoạn nó,
các Bồ-tát bên viên giáo, từ Sơ trụ bắt
đầu đoạn nó, đều nghĩa là mỗi
bực địa dứt một phần vô minh là, chứng
một phần chân như (Trung đạo, Pháp thân,
Niết-bàn), cứ thế tiến lên, mỗi địa
mỗi địa mỗi đoạn hoặc chứng chân,
măi cho đến bực Đẳng giác Bồ-tát đoạn
một phần rốt sau là vi tế hoặc, cũng kêu là
tối hậu nhứt phần sanh tướng vô minh,
cũng rằng tối hậu phẩm vô minh, đến
đây mới là dứt sạch hết vô minh hoặc
chứng cứu cánh tam giáo viên minh, tức thành Phật
quả.
Phu: Tối hậu phẩm vô minh là cái phần vô minh này
thể nó cực vi tế; đối với thứ
lớp sanh khởi th́, gọi nó là “vô thỉ vô minh”,
“căn bản vô minh”, “ngươn phẩm vô minh”; về
thứ đệ đoạn diệt th́, kêu nó là “tối
hậu phẩm vô minh”, “chung phẩm vô minh”.
100. Tác gia: Là danh từ để xưng hô
bực “Đại hữu cơ dụng” bên Thiền tông,
Bích Nham nhị tắc b́nh xướng nói “Ngài Triệu Châu
là bậc tác gia”. Lại nói “tác gia tông sư”. Tác gia: làm nhà,
tức Phật pháp đống lương, Phật Tổ
gia phong. Nghĩa là bậc thầy của nhân, thiên.
101. Thuyết dục: Nói muốn, là thay v́ nói kia
muốn đồng sự. Dục nghĩa là hi cầu. Duy
Thức Luận 5 nói “Dục là tánh nó hi vọng, tác dụng
nó là cần y”. Thuyết dục: với các pháp sự
như thụ giới, thuyết giới… mà ḿnh v́ có lư do
sự duyên, chẳng thể thân đến pháp hội
được, nhưng với pháp sư ḿnh sẵn có cái
hi vọng tùy hỉ cọng đồng với việc
ấy, gọi là Dục, đem cái dục ư ấy trao
lại cho một vị Tỳ-kheo khác, gọi là Dữ
dục, vị Tỳ-kheo ấy chịu lời ủy thác,
gọi là thụ dục, ra giữa chúng tăng để
tŕnh bày nói, gọi là thuyết dục.
102. Sáu t́nh: Các kinh luận của Cựu
dịch, phần nhiều gọi lục căn là lục
t́nh, do v́ căn nó có t́nh thức, t́nh là một của ư, là
cái danh đương thể, do v́ ư căn là tâm pháp, c̣n
năm kia sanh ra t́nh thức, nên do nơi quả sở sanh
mà gọi là t́nh. Thập Trụ Tỳ-bà-sa nói “Cấm sáu
t́nh như buộc cột chó, nai, cá, rắn, vượn và
chim”. Gia Tường Trung Luận Lục T́nh phẩm nói “-
Hỏi: với ư, có thể gọi là t́nh, c̣n năm kia, sao
gọi t́nh được? - Đáp: ư, đương
thể nó gọi là t́nh, c̣n năm kia là cái quả sanh ra t́nh
thức, thế là do theo quả xưng t́nh. Lục t́nh,
cũng bảo là lục căn, v́ năm căn năng sanh
ra năm thức, ư căn năng sanh ra ư thức. Lục
t́nh cũng gọi là lục y, v́ chỗ sở y của lục
thức”.
103. Day mặt vào vách: Kinh Thư nói “Bất
học diện tường: chẳng học mặt vách”.
Lời chú “Người mà không học, như kẻ
đứng day mặt vào bức tường”. Hán Thư nói
“Học thói mặt vách, chả biết phải chăng!”
104. Cốt đổng: Nghĩa là xăng
lộn, món ăn bằng cách nấu chung lộn nhiều
thứ, như xứ ta gọi là nấu kiểm, hay xà
bần. Bên Tàu gọi là Cốt đổng canh. Sách Phi
Tuyết Lục nói “Ông Tô Đông Pha thường nấu
canh cốt đổng”. Sách Cừu Tŕ bút kư nói “Tại
xứ La Phù Sơn, các người già yếu, phần
nhiều ưa dùng cá thịt các vị nấu chung mà ăn,
gọi là cốt đổng canh”. Ở đây nói “Đáo
lăo toại thành cốt đổng” ư rằng già lẫn
lộn, hết biết dơ sạch, xấu hổ,
phải chăng ǵ ráo!
105. Núi La Phù: Vị trí tại phủ Huệ Châu
(Huệ Dương huyện), tỉnh Quảng Đông.
106. Cái thời dị thục. Thục: chín.
Bổ Chú 11 nói “Cựu dịch quả báo (cái thân là quả
báo), Tân dịch dị thục, Duy Thức Thuật Kư
cuốn 2 nói “Nói dị thục ấy, là hoặc dị
thời (thời khác) mới thục hoặc biến
đổi khác lạ mà thục, hoặc khác loại mà
thục”. Nên nói cái thời dị thục đă đến.
-Nương nơi nghiệp thiện hay ác của
đời quá khứ mà đặng cái tên chung của thân
quả báo đời nay. Nghĩa là cái quả nó khác với
tánh chất của cái nhân mà thành thục. Như tạo
thiện nghiệp th́ cảm lấy lạc quả; tạo
ác nghiệp cảm lấy khổ quả, là cái lạc
quả phi thiện tánh mà là vô kư tánh (phi thiện phi ác là vô
kư), đối với cái nghiệp thiện tánh có thể
nói là dị loại (thiện tánh loại nó khác nhau với
vô kư tánh), khổ quả đối với ác nghiệp th́,
khổ quả phi ác tánh mà là vô kư tánh, thế cũng là tánh
chất của nhân nó khác nhau với quả (hai quả
khổ lạc đều là vô kư tánh). Nhân đó, gọi
rằng dị thục quả. Là nghĩa nhân cùng quả
ắt cách đời với thời khác mà thục. Nên Câu
Xá Luận cuốn 6 nói “qua loại khác mới thục
(chín), là nghĩa của dị thục”.
107. Lâm khát quật tỉnh: Sách Yến Tử
Xuân Thu nói “Để cho chết ch́m rồi mới hỏi
cách sa đắm, quên lối đi rồi mới hỏi
thăm đường, tỷ như lâm nạn rồi
mới đúc binh khí, khát khô nghẹn rồi mới đào
giếng, dẫu có cần cấp đến đâu,
cũng không kịp nào!” Đời nói lâm khát quật
tỉnh là điển trên đây. Xứ ta họ nói
“Để nước đến trôn rồi mới
nhảy!”
108. Gió nghiệp: Cái nghiệp thiện ác, nó
thường khiến người chuyển di để
luân hồi trong tam giới, nên tỷ là gió. Kinh Chánh Pháp
Niệm cuốn 10 nói “Trong tất cả gió, gió nghiệp là
đệ nhất”. Đại Thừa Nghĩa Chương
cuốn 7 nói “Sức nghiệp như gió, nghiệp
thiện, gió đưa chúng sanh ấy đến chỗ
tốt mà thụ lạc; ác nghiệp, gió thổi chúng sanh
ấy đến chỗ xấu mà chịu khổ”.
109. Làm cái có kẻ khác: Ông Trang Tử ca rằng
“Nhà bị người khác ở, ruộng bị
người khác cày, ngựa bị người khác
cưỡi, con bị người khác khiến, vợ
bị người khác yêu…”. Chính chỗ bảo rằng
“ṭng tiền kim ngọc phú tha nhân, thế thượng
dĩ canh tân nghiệp chủ!”
110. Vô lượng: Sách Thống Tôn toán pháp, ghi
số vô lượng này “100.000.000.000.000.000.000.000.000.000”.
111. Ḍng nước bộc bố: Suối bay, là
nước do trên đầu tảng đá đứng cao
chót vót đổ ngay xuống, thế nó dội vọt trào,
bọt nước bay văng tung tóe, ở xa trông thấy
như lụa bạch kê bức giăng thả xuống,
nên gọi là bộc bố. Bên Trung Hoa có chín, mười
bộc bố mà suối bay ở huyện Tinh Tử
tỉnh Giang Tây là thắng cảnh hơn cả. Ở
nước ta có bộc bố (thác) Prenn trong Đà Lạt,
cũng là thắng cảnh.
112. Đao phong: Thân mạng của con
người khi sắp cuối cùng, có cái phong khí nó giải
phẫu cả chi tiết như dao xẻ, gọi là đao
phong, chỗ gọi là cái khổ “đoạn mạt-na”.
Kinh Chánh Pháp Niệm 66 nói “Khi mà cái hiện mạng cuối,
đao phong đều động, da thịt gân
xương mỡ tủy tinh huyết, tất cả
đều bị như xẻ dứt”. Kinh Ngũ
Vương nói khi muốn chết, đao phong xẻ h́nh,
không chỗ nào chả đau!” Hành Sự Sao Tư Tŕ Kư nói
“Hay róc chi tiết, nên dụ như dao”. Đoạn mạt
na Dịch là chi tiết, lại dịch là tử huyệt,
trong thân của con người có những chi tiết
(huyệt) lạ hẳn, vật khác chạm đến th́,
đau rất nguy kịch, sanh mạng ắt phải
chết; khi con người sắp chết, trong ba
đại thủy, hỏa, phong, hễ một đại
tăng phồn thạnh lên, nó chạm đến cái
mạt-na, khiến cái mạng phải dứt hẳn,
gọi là đoạn mạt na. Đoạn: phi cắt
dứt mạt-na, chính là một đại nào (trong ba
đại) chạm đến cái tử huyệt
(mạt-na) mà cái mạng nó đoạn tuyệt. Câu Xá Quang
Kư 10 nói “Mạt-na là cái tử huyệt trong thân thể con
người, cái lượng nó rất nhỏ, chạm
đến phải chết!”. Trong Pháp Tạng nói “Trong thân chúng
sanh, có cả trăm chỗ (huyệt) tên là mạt na,
đụng nhằm phải chết”. Tụng Sớ nói “Ba
đại thủy, hỏa, phong hễ một nào tăng
thạnh th́ bén như gươm dao, chạm đến
mạt na, nhân đó mạng chung nên gọi là đoạn.
Đoạn: phi như chặt củi, đứt thành hai
khúc; chỉ do một nào trong ba đại cho đến
mạt na, khiến thân không biết nên gọi là
đoạn”.
113. Mười sáu phần hăy chẳng c̣n
một: Là nói, hằng ngày lúc b́nh thường, sự
khỏe khoắn vui sướng đầy đủ
mười sáu phần thư thái mà, khi sanh nghiệp
cuối cùng chả c̣n một phần nào cả! V́, từ
trước chẳng làm thiện nghiệp, như là ưa
thốt lời châm biếm dèm pha làm cho người bị
đau đớn thốn tim, nên lúc cuối cùng, bị cái
quả khổ đao phong đủ cả mười sáu
phần! Bên Chân ngôn Mật giáo, dùng con số 16, để
tiêu biểu cho số viên vô tận. Các kinh đều
lấy số 16, để gồm thâu cho tất cả,
như Bát-nhă th́ thập lục không, mặt nguyệt th́
thập lục phần măn. Giả tỷ như nói một
thù đủ mười sáu lượng…
114. Hữu lậu thiện ác: Tỳ Bà Sa
Luận nói “Hữu tức có nghiệp, cái nghiệp nó
thường khiến tiếp tục sanh qua đời sau,
nên gọi là tức có sanh. Lậu: lọt, rịn ra, là sáu
căn lọt rịn ra sáu trần, tức là nghĩa
lưu ở lại khiến chúng sanh lưu ở lại
trong tam giới”. Kinh Niết Bàn nói “Pháp hữu lậu có hai
(1-Nhân, 2-Quả), hữu lậu quả th́ gọi là
khổ, hữu lậu nhân th́ gọi là tập”. Hữu
lậu thiện pháp: nghiệp nhân hữu lậu có
thiện và ác là tam qui ngũ giới, thập thiện,
tức thiện pháp; tam độc, ngũ nghịch,
thập ác là ác pháp. Hữu lậu thiện pháp th́,
đưa đến kết quả vui hữu lậu,
như đắc quả làm người làm trời; ác pháp
hữu lậu, chiêu cảm lấy khổ quả hữu
lậu, quả báo làm ngạ quỷ súc sanh. Lậu là cái tên
khác của phiền năo, nó hàm có sự vật phiền năo
nên gọi là hữu lậu; những sự thể của
tất cả thế gian, đều là pháp hữu lậu,
sự thể xuất thế gian đều là ĺa phiền
năo, đều là vô lậu pháp.
115. không ĺa ḷng dục nhiễm: Loài vũ
tộc đều có giống trống mái, loài mao quần
đều có giống cái đực; cả nhân loại trên
bốn quả địa cầu là Đông Thắng
Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu,
Bắc Câu Lư Châu đều có nam tánh nữ tánh;
đến cả sáu cơi trời Dục giới, cũng cùng
đều có thiên nam, thiện nữ; tất cả
đều do ḷng dục nhiễm để sanh, nối ṇi
với nhau. Kinh Lăng Nghiêm nói “Nhứt thế chúng sanh giai
do dâm dục nhi chứng tánh mạng”.
116. Ĺa ḷng dục nhiễm: Trong bốn thiền
thiên, gồm có một cơi trời Phạm, toàn là thiên nam,
chứ chẳng có thiên nữ, do tu bốn thiền
định mà, cảm cái quả báo sanh nở bằng cách
hóa sanh, nghĩa là tự nhiên biến hóa xuất hiện ra,
chứ phi thai sanh như chúng sanh ở cơi Dục giới
này, nên Sơ thiền thiên đă được gọi là
“Xả dục thanh tịnh địa”; cả đến
mười tám Phạm thiên, đều bội phần thanh
tịnh, v́ đă ĺa sự dâm dục, nên không phạm,
nghĩa là thanh tịnh.
117. Thân sắc chất: Trường Thủy
Khan Định Kư cuốn nói “Các trời Hữu sắc,
tức là lấy sắc uẩn làm thân, nên gọi là sắc
chất. Các trời Vô sắc, tức là lấy bốn
uẩn thụ, tưởng, hành, thức làm thân, nên gọi
là “Vô sắc”.
118. Chẳng kể kiếp số: Kinh nói
“Đời sanh tử về quá khứ như số
thạch kiếp khôn cùng, ṿng luân hồi về vị lai
như số giới thành chẳng hết”. Thạch
kiếp: Lấy bàn thạch, giới tử để
tỷ dụ cái lâu của kiếp. Trí Độ Luận
cuốn 5 chép “Phật lấy thí dụ để nói
nghĩa của kiếp, tỷ như một quả núi
đá cao, lớn tư vuông bốn mươi dặm, có
người sống lâu, cứ mỗi một trăm
năm đến một lần, lấy cái áo tế nhuyễn
lau qua một bận, như thế măi chừng nào núi đá
ấy tiêu ṃn hết mà cái kiếp chưa hết. Lại,
một cái thành lớn bằng bốn mươi dặm,
hột cải chứa đầy trong thành ấy, có
người trường thọ cứ mỗi một
trăm năm đến một lần, bốc bỏ ra
một hột cải, như thế măi chừng nào hết
thành hột cải mà cái kiếp cũng chưa hết, nên
gọi là kiếp bàn thạch, kiếp giới thành”.
119. Đương tiểu kiếp thứ chín,
c̣n mười một tiểu kiếp nữa là đến
hoại kiếp. Cái biểu dưới đây:
Biểu đồ
Hai lần tăng và giảm: Trong mỗi tiểu kiếp,
thuở mà cả nhân loại mọi người
đều chỉ sống c̣n có mười tuổi là
trọn đời, đó là thời giảm đă cực
độ; từ đấy, cứ qua trăm năm là
mỗi người được tăng lên một
tuổi, măi như thế; đến thuở mà cả nhân
loại mỗi người đều sống đủ
tám vạn bốn ngàn tuổi, đó là thời tăng
đă cực điểm. Từ đó, cứ qua trăm
năm giảm một tuổi, măi cho đến chỉ
sống mười tuổi. Một giảm một tăng
như thế là một tiểu kiếp…
120. Bốn uẩn: thụ, tưởng, hành,
thức. Thụ: Đối với cảnh mà, cái tác
dụng của tâm nó thừa thụ sự vật.
Tưởng: Đối với cảnh mà, cái tác dụng của
tâm nó tưởng tượng lấy sự vật. Hành:
Đối với cảnh mà, cái tác dụng của tâm nó
quan hệ với tham, sân, si, thiện, ác tất cả.
Thức: đối cảnh mà, bản thể của tâm rơ
riêng hiểu biết sự vật.
Sắc uẩn: Gồm trùm cả năm căn, năm
cảnh là vật chất có h́nh trạng. Lấy một
hữu t́nh để tượng trưng, th́, một
sắc uẩn tức là thân, cả bốn uẩn tức
là tâm. Trong tâm: thụ, tưởng, hành ba ấy trên tâm tánh,
chúng đều là mỗi một uẩn tác dụng
đặc biệt, nên gọi là tâm sở hữu pháp,
tức cái pháp sở hữu của tâm. Một cái thức
ấy là tự tánh của tâm, nên gọi là Tâm vương.
Số là, ngũ uẩn là hai pháp thân và tâm, như chúng
hữu t́nh ở Dục giới, Sắc giới th́ có cái
thân là do cả ngũ uẩn mà thành thân; như chúng hữu
t́nh ở Vô sắc giới th́ không có cái thân bằng h́nh
sắc, mà từ nơi bốn uẩn để thành cái
thể bằng tư tưởng, nghĩa là bằng tinh
thần, chứ phi vật chất.
121. Truy lưu. Truy: vải nhuộm màu thâm thâm,
là có hơi đen (phi thực đen) mà ửng đỏ,
tức tục gọi là màu đà. Nhà tăng mặc truy y,
nên gọi Truy lưu, hoặc Truy đồ. Lưu là
nghĩa lưu loại, tức chúng loại mặc y. Thích
Thị Yếu Lăm nói “Truy lưu, đấy là do nơi màu
áo mà đặt tên”.
122. Đời mạt pháp: Mạt pháp là một
trong ba thời (chánh, tượng, mạt). Nghĩa là cách
với đời Phật c̣n tại thế rất lâu dài
mà, cái thời kỳ giáo pháp thỏn mỏn cuối
rốt. Kinh Pháp Hoa Gia Tường Sớ cuốn 5 nói
“Lại cuối mảy rốt, gọi thời mạt
pháp”. Ba thời, có nhiều thuyết, như nói “Thời
chánh pháp năm trăm năm; thời tượng pháp
một ngh́n năm; thời mạt pháp một vạn
năm. Phần nhiều dùng thuyết này”. Ba thời chánh,
tượng, mạt, nghĩa là, sau khi Phật nhập
diệt, bảy chúng đệ tử chân thật tu hành
đúng chánh pháp, gọi là thời chánh pháp. Sau thời chánh
pháp, thất chúng đệ tử tu hành mường
tượng giống với chánh pháp, là thời
tượng pháp. Cái thuở mà pháp của tượng pháp
dần dần suy diệt, là thời mạt pháp.
123. Ông Lương Đạo: Lương là
thiện (hay, khéo) hơn người; đạo: dẫn
dắt. Lương đạo là vị tăng sĩ có
đức hạnh, tài năng hơn người, có
thể thay Phật làm đạo sư để
hướng đạo cho học chúng.
QUI SƠN CẢNH
SÁCH
CUỐN THƯỢNG HẾT
Qui Sơn Cảnh
Sách
Tỉnh Việt
Đông, núi Đảnh Hồ, thầy Sa-môn Thích Hoằng
Tán Tại Tham chú giải.
Kẻ môn nhân, thầy Tỳ-kheo hiệu Khai Huưnh làm lời
kư.
Ḥa Thượng
Thích Khánh Anh dịch
![]()
Quyển Hạ
II.A.2- Thị pháp.
Chia ra làm ba
phần:
a.
Đạo hạnh.
b.
Thiền giáo.
c.
Kiết khuyến.
II.A.2.a- Đạo
hạnh.
Chia làm sáu:
a1- Lập hạnh.
a2- Trừng giới.
a3- Cầu
đạo.
a4- Trạch hữu.
a5- Kiết hối.
a6- Tiềm tu.
II.A.2.a1- Lập hạnh.
Luận: Kẻ
xuất gia là, dấy chơn vượt cơi, tâm h́nh khác tục, nối thạnh
giống Phật, khủng bố
quân ma, dùng trả bốn ân, cứu vớt ba
hữu.
Câu đầu là phiêu
tông (nêu gốc), câu 2 là siêu
trần (vượt
tục), câu 3 vào bậc
Thánh, câu 4 nối
giống Thánh, câu 5 dẹp ma, câu 6 báo
đức, câu 7 làm lợi
chúng sanh. Do v́, giới đức đầy đủ, nên có thể
đả đảo giống ác, thành lập
giống thiện.
Luận kẻ xuất gia.
Xuất gia có hai hạng:
1-Ra khỏi
nhà thế tục (thế tục
của lục thân) là chơn ĺa
chỗ trần tục đến phương xa
học hỏi bực tri thức.
2-Ra khỏi
nhà phiền năo (phiền năo
của tam giới) là dứt
vọng hoặc, chứng chân lư (1), chóng vượt
tam hữu.
Dấy chơn vượt cơi, nghĩa là, từ ban
đầu phát tâm đi xuất gia, liền
phải noi bước nơi đại phương (chân lư Đại
thừa), chớ sa nơi
ḍng tầm thường, lối hẹp
nhỏ (phương
tiện Tiểu thừa). Do không tuần
tự nơi giai cấp nên nói là siêu phương (vượt cơi).
Tâm h́nh khác tục: ngoài thân h́nh
th́ viên đảnh phương bào, đồng
với cái đức tướng của Như Lai; trong ḷng dạ th́
bối trần hiệp giác bằng với cái tâm trí của
Phật huệ.
Nối thạnh giống
Phật: tiếp tục
cái huệ mạng của Phật đặng
nối gót đức Như Lai, rao truyền chánh
pháp, do đấy, ngôi Tam Bảo
được chấn hưng cao thạnh.
Chấn chiệp (2) (rúng khiếp) ma quân: giới
đức cao, trí huệ rộng, th́ quần tà
thất kinh sợ hăi! Nói pháp, mở rộng
đường đạo th́, tâm đăm của
thiên ma (3)
sảng sốt bể rụng!
Dùng trả bốn ân: lập thân hành
đạo, để báo
đáp cái ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ
cha, đức
đầy đạo lớn, tự nhiên
phước nhuần giúp cả bốn ân:
1-ân của quốc
vương (chính phủ). 2-ân của
phụ mẫu. 3-ân của
sư hữu. 4-ân của thí
chủ (xă hội, chúng sanh).
Cứu vớt ba hữu: Tất
cả chúng sanh, mê say nơi
ngũ dục lạc,
ch́m đắm sông ái t́nh; ta thuyết pháp
giáo hóa, khiến ra
khỏi biển khổ sông mê, đồng
tiến lên cơi vui ngàn giác.
Kư: Chấn chiệp
ma quân,
chiệp: sợ, nép, là bị uy
thế làm khủng bố thất khí, nghĩa là mất
hồn khiếp vía!
Đại phương, kinh Đạo
Tiên nói:
Đại phương vô ngung, là phương
lớn không góc. Chừ mượn để tỷ cái chân
lư không bờ mé. Do là ban sơ xuất gia, phải noi nơi
đại lư chân thực, chớ sa
đắm nơi thói tục đương thời, lẫm dẫm
nơi lề lối Tiểu thừa.
Quốc vương (chánh phủ) có cái
ơn trị an đất nước, v́ tất
cả nước non, ruộng
vườn, đều thuộc về của quốc
vương; lại nhờ cái sức trị b́nh khai mà
khỏi phải sự lo kẻ mạnh xâm lướt
kẻ yếu mà, Thích tử chúng ta
được yên tu đạo nghiệp th́, ân ấy đâu
phải nhỏ ru?
ân của phụ mẫu
là,
sanh thành dưỡng dục, như
trời cao vô cùng, lại cho ta
đi xuất gia hành đạo th́, ơn nào lớn
bằng?
ân của thầy bạn
là Thầy có ân dạy bảo, sanh trưởng
giới thân huệ mạng; đạo
bạn có cái đức mở mang giải rơ.
Đó là cái ân đức của đạo
xuất thế gian, c̣n ai mà có
thể so sánh được ru?
Đàn-việt, có cái ân tứ
sự cúng cấp, khiến cho ta
đặng an thân để sửa sang đạo
nghiệp th́ ân chẳng nhỏ vậy.
Có chỗ, đem ơn
Phật thay v́ ơn thầy bạn, làm tứ ân; c̣n với Bồ -tát th́, lấy Tam Bảo, chúng sanh
thế cho sư hữu, đàn-việt làm tứ
ân.
II.A.2.a2- Trừng giới (Răn đe)
Nếu chẳng như thế, xen lộn chúng
tăng.
Câu trên, trái với
việc tu; câu dưới, lộn vào pháp
chúng. Nghĩa là, chẳng noi tu như trên chỉ vẽ, lộn xộn vào
trong đám pháp chúng. Tức là kẻ phi người
tục, phi chúng tăng, tội lỗi
nhẫy trời! Tỷ như con lừa lộn bầy trâu, với sừng và
lông dù có tương tợ, mà cái đầu
và sừng chẳng đồng giống nhau, đến cái
tiếng kêu cũng khác lạ hẳn!
Kư: Lám (tục đọc
sai là lạm): nước
nhẫy đầy tràn lan, là xen lẫn
lộn xộn.
Với kẻ có cái
thân năm thước mà chẳng có trí huệ, Phật gọi
là si tăng (ông sư ngu si), có cái
lưỡi ba tấc mà nói pháp không được, Phật bảo
là á dương tăng (4) (sư dê câm). Người mà
chẳng phải kẻ tục v́ cũng đầu tṛn áo
vuông,
chẳng phải tăng, v́ ḷng nhiễm
trần tục, Phật cho là
điểu thử tăng (5) (thầy chim
chuột), cũng gọi là thốc cư sĩ (6) (ông cư sĩ sói
đầu).
Phật dạy “Thế nào là
kẻ đạo tặc? - V́ giả dối
bận cái pháp y của ta, đem h́nh tượng
và đạo pháp của ta ra làm sự buôn bán (7) tạo tác ra
mỗi mỗi ác nghiệp”. Đó, chánh chỗ
bảo là “lám xí tăng luân”.
Lời nói việc làm hoang đàng thưa thớt, luống uổng
ăn dùng của người thí chủ.
Câu trên hiểu và làm; câu dưới
ăn hao của thí chủ. Lời nói, nết làm, phẩm tánh
chẳng thuần túy, nói là hoang
đàng; chẳng
có công đức
để đền đáp cái ơn của tín
thí, nên nói là luống
uổng ăn dùng.
Hiền triết xưa
nói “Với đạo đức không tu, đấy là
uổng phí áo cơm”. Đây gọi là thế!
Kư: Ngôn là lời nói, tức trí
hiểu; hành tức là tu hành; hoang là hoang vu, tức cỏ, dây mọc ḅ lan
hàng lan lối; sơ là lai rai
rải rác, cũng là sơ lược, nghĩa là lổm
xổm. Đây chẳng có cái đức hành và giải tu hành
và hiểu biết, thành thử thí
chủ chẳng được phúc, nên nói tín thí
mất!
Chỗ đi năm trước, tấc
bước không dời, ngơ ngáo một
đời, toan chi nương cậy?
Hai câu trên thói cũ chẳng
quên; hai câu dưới
không có điều thiện ǵ khá ghi.
Năm trước, tức thuở
cũ; chỗ đi
là hành động của tâm,
như là điều vọng hoặc, thói quen
đắm nhiễm. Đây có hai: một, cái vô minh hoặc
từ vô thỉ thuộc về đời quá khứ; hai, cái thói quen xông
ướp những ngày trước.
Tấc bước chẳng
dời: Với các thói quen, chưa
hề có một niệm
bỏ lỗi để sửa lại ḿnh cho
được tân tiến.
Ngơ ngáo một
đời, … nghĩa lứ, chẳng có cái tinh
thần yên lặng để soi xét lại ḿnh, trọn ngày ư
thức măi rượt theo cảnh giới lục trần, có biết đâu, tháng đă qua, năm vẫn
lại mà chả có một chút lành ǵ khá nương, cũng chẳng
có công đức ǵ khá nhờ!
Đại Trí Luật Sư nói
“Vói xa trả ơn, từ Nho qua Thích.
Gọt bỏ thói cũ, rửa sạch
duyên đời. Ngăn dứt các ḍng, vách đứng
ngàn nhẫn (8).
Văn chương nghiên bút, đều đă
đốt dẹp, trăng tuyết
gió hoa, chớ nhọc
vịnh ngâm (9).
Lại chớ quày đầu vào tửu sắc tài khí (10), đâu cho ghé
mắt nơi danh lợi vinh hoa.
Ḍng rốt điên dại, chánh pháp suy
đồi!
Chỉ muốn đổi h́nh (cạo đầu
nhuộm áo), không
hề dính đạo (tâm tŕ trần
tục). Dẫu rằng
bỏ tục, thói tục không chừa, đều nói ra
trần, duyên trần
chẳng dứt.
Mới gần trường
giảng luật, đă toan làm thầy Xà -lê. Chưa vào
chốn tùng lâm, vội lên chưn cụ trưởng lăo.
Tránh chết đắm, vào chết thiêu, đâu
biết đui ngơ muốn tới trước
lại bước lui, thực là quá
ư điên đảo.
Kư: Hoảng hốt: sật sừ, tức là ngó
bằng cách vô t́nh, chớ không
để ư coi cho thiết thực ǵ. Nghĩa là ngơ ngáo
lơ lửng.
Phương chi, rỡ rỡ
tướng tăng, dong mạo
khá xem, đều là trước trồng căn lành, nên cảm
được báo tốt.
Hai câu trên cái
quả đời hiện tại; hai câu dưới
là rơ rằng do cái nhân tốt nơi trước
mà đưa đến cái
quả đẹp đời nay.
Huống năi (phương chi) là thốt ra
ngữ từ.
Rỡ rỡ tướng
tăng: đường
đường (rỡ rỡ): dung mạo.
Lại, sáng láng, nghĩa là
đủ dong nghi của Phật (viên đảnh
phương bào), vượt trần riêng bước, thầy thợ
của người và trời vọi vọi ngôi Tăng
bảo vậy.
Dong mạo khá xemD: sáu căn thâu
nhiếp, năm quan không
vọng động. Uy nghi trọn đủ, chẳng dự
với hạng thường lưu, nên chi
được người ta trông thấy phải hân hoan
kính ngưỡng, nên nói là khá xem.
Đều là trước
trồng căn lành nên cảm đặng báo thân tốt
lạ đây: Số là đời trước gieo trồng cái
nhân tốt, thành thử
đời nay cảm được cái kỳ báo siêu
trần việt tục như thế há chẳng lạ
đời khác thường ru!
Kư: Năm quan là: 1-Miệng chủ
việc nói, 2-Mũi chủ việc ngửi, 3-Tai chủ việc
nghe,
4-Mắt
chủ việc thấy, 5-Thân h́nh chủ
việc chạm đụng biết ấm lạnh trơn
nhám. V́ mỗi bộ phận đều có chủ hay
mỗi việc, nên gọi là
ngũ quan (11) chủ biết.
Liền toan chễm chệ ṿng tay, chẳng quí
tấc bóng, không siêng năng tu hành, sự nghiệp
chẳng do đâu xong nên công quả.
Hai câu trên ăn rồi ngồi
không bỏ mất qua bóng quang âm (th́ giờ); hai câu dưới
cái nhân chẳng có, nên mất luôn
quả.
Liền toan ngồi chễm
chệ ṿng tay … Người xưa quí tiếc tấc
bóng mà, khinh thường
thước ngọc; một ngày không
công tác th́, một ngày ấy
không dám ăn cơm của chùa! Chúng ta là
người bực nào lại ṿng tay ngồi không qua ngày mà, chẳng lo tu phúc
huệ ư?
Với sự nghiệp
chẳng cần: Sự nghiệp tức là giới định và
huệ cùng các việc lành. Chẳng cần là không lo
phải thắng tấn. Với chân tu thực hành, đă chẳng
cần mẫn, th́ công hạnh không thể thành tựu mà, cái quả phúc trí
nhị nghiêm cũng mất luôn cái tạo nhân nữa!
Kư: Khuê Phong thiền
sư nói “Thời đại ngày nay, những hậu
sanh,
mới vào trong chúng, chẳng hái
một ngọn rau, không lượm
một lọn củi, mười ngón
tay chẳng hề thấm đến nước, trăm việc
chẳng bận ḷng, tuy th́ một
thuở khoái chí, khôn nài ba
đồ khổ thân! Khát tấc bóng, giờ chẳng
đợi người, một mai
nhắm mắt bị đọa, ruộng truy y
(12) không có công một ky đất (13), ngục Thiết
Vi có sa hăm trăm tội h́nh.
Ngài Xứng pháp sư nói “Ṿng
tay chẳng công tác, ở không
chẳng làm việc, đi giỗn
dễnh trên đất chùa, ngồi ch́ ́ trong
nhà rỡ. áo trùm thân, cơm trong
miệng, đâu dễ tiêu ư? Vuông đồ
bận,
tṛn cái đầu, làm sự ǵ đó? Ca-sa hết bận
mất thân người! Thực là chí
khổ!
Địa ngục đọa vào chịu báo thân khác, khá gọi bao
đành!”
Chẳng những một đời
bỏ trống qua, mà cũng
nghiệp sau không ích lợi!
Câu trên, cái nhân mất; câu dưới, cái
quả mất.
Chẳng tu phúc huệ, ấy là
bỏ trống qua một đời. Há cho đời nay
bỏ trống qua, chả có sở
đắc ǵ, song, với hạnh nghiệp của tương lai
cũng chẳng có chỗ bổ ích nữa!
Kư: Tương lai
tức là đời hậu lai vậy.
II.A.3.a3- Cầu
đạo.
Từ song thân, quyết
chí bận truy y, ư muốn siêu lên
chỗ bực nào! Mai chiều
nghĩ xét, đâu nên chần chờ qua giờ!
Câu đầu
là chỉ rơ nơi gốc. Câu hai là gạn
hỏi lại. Hai câu sau là nhớ nơi gốc, phải chuyên
mộ đạo.
Từ thân quyết
chí bận truy y là phát cái tâm dũng mănh, để tạm
thời từ giă đôi thân, lập cái chí
quyết định, đi sâu vào
đại đạo.
ư muốn là cái
chỗ của ư thức hi vọng. Vượt lên
chỗ bực nào v́ vượt lên giai cấp chi? Đồng
bực (đẳng) với Phật
Tổ nào?
Mai chiều nhớ xét… ta
chưa rơ được ḷng dạ của ta (chưa minh tâm
kiến tánh), cái sanh tử
ở trong hơi hô hấp, với chỗ
vắng lặng lo lường, đâu chẳng lo
cho cần cấp mà có thể c̣n dời đổi chần
chờ, kéo dài cho qua
thời, để
luống mất qua tấc bóng ngày đêm ru!?
Kư: Người mà
được đốn ngộ (14), tức siêu
hẳn giai cấp (15), t́nh thức (16) quên hết, tức
đồng với Phật, v́ đă chuyển
thức thành trí rồi.
Truyện Bửu Lâm
chép “Dương Huyễn Chi hỏi Tổ Đạt -ma rằng “Bên
nước Tây Trúc, chỗ truyền
với nhau mà xưng Tổ là như thế nào?” “Rơ
được cái tâm tông của Phật (minh tâm kiến tánh), sự rơ và lư
hiểu xứng nhau, gọi là Tổ
Sư””.
Truy: màu đen thâm
thâm có ửng đỏ, tức
hoại sắc y, chính là y phục
của Sa -môn thường bận, phi năm màu chính (thực xanh, thực
đỏ, thực trắng, thực đen và
thực vàng). Cám: xanh mà có ửng
màu.
Ḷng hẹn làm đống lương cho
Phật pháp, để làm qui cánh cho hậu lai.
Thường mong lấy cái hi vọng như thế mà, chưa
được ảnh hưởng nhau chút nào?
Hai câu trên lập
chí nguyện để lại mô phạm.
Câu thứ ba cái chí nguyện vẫn c̣n. Câu thứ
bốn sự hành và lư hiểu
chưa đủ. Lại, câu ba là túng, tức buông ra cái
chí nguyện. Câu bốn là đoạt, tức bắt
lại, v́ hạnh
nguyện bị hỏng.
Ḷng hẹn làm rường
cốt Phật pháp phát tâm lập nguyện
để gánh giữ cái chánh pháp của Như Lai.
Dùng làm bối gương cho
hậu lai là để mẫu mực cho học
giả đương lai.
Qui kính tức là nghĩa
sư phạm. Do v́ cái mai qui để bói cho
biết những sự đă qua và
sẽ đến; cái gương
cốt soi rơ được h́nh tốt xấu
trước mặt.
Thường lấy
như thế là cái chí nguyện chẳng quên
vậy.
Chưa thể chút phần
hợp nhau. Tuy sẵn chí nguyện mà hành và giải chưa
đủ; ắt cần hành
giải tương ưng th́, cái nguyện
mới chẳng hỏng. Nhược bằng, có hành mà không
nguyện; th́ cái hành ắt
phải côi quạnh; có nguyện mà
không hành th́ cái nguyện ắt phải lép. Vậy biết, vừa hành
vừa nguyện được song toàn; mới là
tương ưng.
Kư: Chỏi đ̣n
dông nhà là cây đống. Đội cây đống là cây
lương. Đều có nghĩa là nó hay cơng đội nóc
nhà.
Nay đây mượn hai
chữ “đống lương”, để tỷ
là bực thầy thợ, hay làm đống
lương trong pháp môn, do v́ hai ngôi
Phật bảo, Pháp bảo
đều nhờ ngôi Tăng bảo để hoằng
truyền, nên nói “Nhân năng hoằng đạo, phi đạo
hoằng nhân”, thực thế.
Thốt lời, cần quan
thiệp với điển chương, nói chuyện, phải bàng thông
nơi kê cổ. Dung nghi phải đúng đắn, chí khí cho rỗng
rang.
Hai câu trên lời nói
có gốc gác. Hai câu dưới thân tâm
tỏ đồ sộ. Nghĩa là, nói năng
phải hợp lư nơi kinh điển, luận bàn
cốt đúng do rộng xét xưa. Chẳng nên đem ư
kiến đặt điều, đồng
như lời ma thuyết.
Song,
trí hiểu đủ th́ lời nói không
lầm, công hạnh
đầy th́ vững vàng cao rảnh. Lại, trong chứa
đủ trí đức Bát -nhă, tâm rảnh
hướng về một nơi, các tṛ đời
danh lợi thanh sắc không thể làm động
đến chí cả. Hằng dùng cái đạo hạnh
để tự xử, nên nói là “ư khí cao
nhàn”. Ngoài bày đủ giới đức uy nghi, chẳng giống
hạng phàm, siêu quần quán
chúng, thế là “h́nh nghi
đĩnh đạt).
Kư: Bực Cao Tăng
như ngài Pháp An là một Tăng nhân xứng đáng, cái thân của Ngài
cao tám thước, có ba đặc
điểm tuyệt vời: 1-Tư cách
đặc sắc, 2-Hiểu nghĩa
tột sâu, 3-Tinh tấn sạch ḿnh.
Cảnh Đức Vân pháp
sư nói “ôn làu giáo pháp ba tạng của biển giáo, xem suốt
lời lẽ Sáu Kinh (17) của rừng
nhu (18). Nói không quấy bàn, lời có sách
cứ”. Đây gọi cũng thế.
Điển là điển
tịch, tức các kinh luật luận. Chương là
chương chú, là những bài
giải thích trong các kinh luật luận. Bàng là gần bên.
Kê là khảo xét, là những
lời và câu của các vị cổ đức.
II.A.2.a4- Trạch hữu (Chọn bạn).
Đi xa cốt nương bạn lành, thường
thường lóng trong tai mắt; dừng ở
ắt phải chọn bạn, hằng hằng
nghe chỗ chưa nghe. Nên nói “Người sanh ra ta là cha
mẹ, kẻ nên cho ta là bậu bạn”.
Hai câu
trên đi đường nhờ bạn giúp ích; hai câu
kế đó ở đâu phải cần bạn
lợi lạc. Hai câu sau là công đức sanh thành.
Đại ư rằng ra đi
nơi đường xa, cốt nhờ
bạn lương thiện, thường
lấy những lời lợi ích để trong sạch
nơi tai nghe mắt thấy; cư trú với
chỗ nào, phải có bạn
hiền, hằng đem
những pháp chưa được nghe khiến cho ta nghe
đó. Hễ tai mắt thanh sạch th́, chỗ thấy
biết chân chánh, nghe chỗ chưa nghe th́, cái huệ
thắng giải phát sanh. Thắng giải sanh là tỏ
ngộ vào pháp vô sanh; kiến thức
chánh là chẳng bị người ta lừa dối.
Thế nên, cha mẹ có
cái ơn sanh cái thân xác cho ta, thầy bạn có
cái đức thành lập huệ mạng cho ta. Sở
dĩ, được
nghe rồi nhớ, tu, giác ngộ và
chứng nhập, sanh trưởng pháp thân, thực là do cái
sức lực của sư hữu đấy.
Kư: Giả: nhờ.
Lương bằng: thiện hữu.
Lại,
bằng là anh em bạn đồng học một thầy.
Hữu là anh em kết bạn đồng chí.
Chọn bạn, sách Gia Ngữ
chép “Người quân tử, hễ ở
đâu,
ắt phải chọn bạn, muốn đi
dạo chơi đâu, cũng ắt
phải chọn phương hướng”.
Văn Trung Lễ Nhạc
nói “Người quân tử, trước
chọn lựa rồi sau mới kết bạn, nên về sau ít có
sự lỗi lầm; đứa
tiểu nhân kết bạn trước rồi sau mới
chọn lựa, nên nhiều khi oán
trách nhau. Nên chọn kẻ lương thiện để
rồi theo, thấy người bực hiền mà lo ḿnh cho
bằng, thế là khéo chọn bạn có ích đấy”.
Như lời
Xả Duyên Minh chép “Với tà sư, ác hữu, sợ
dường sói cọp; thầy tốt
bạn hiền, mến như cha
mẹ. Hạ ḷng sát đất, ngọng miệng
như ngây, xô đổ cái cờ ngă nhân cao cử, thủ tiêu cái
mầm khí kiêu căng”.
Tổ Vĩnh Gia
nói “Rộng hỏi bực tiên tri, sau khi quyết
trạch phải cẩn thận đối xử, như noi đi
trên giá mỏng! ắt phải
nghiêng tai mắt, vâng tiếng
mầu,
nghiêm căn trần để thưởng lẽ
nhiệm. Quên lời nói, yêu chỉ, rửa tư
lự,
ăn vị hèn, tối kính sợ, sớm hỏi han, chẳng cho
lộn xộn một tơ một tóc. Được
như thế rồi th́, mới có thể
ẩn h́nh nơi núi hang, để
được vắng cái cảnh trần lụy, dứt cái ồn
nhân quần”.
Gần gũi người lành,
tỷ như đi trong vùng sương móc, dù không
ướt áo, mỗi giờ có nhuận.
Câu trên thân với người
lành, ba câu dưới
lợi ích của lành giúp. Thân phụ nghĩa
như thân cận. Người lành tức các thiện
tri thức là lương bằng.
Sương móc
dụ thiện hữu. Hành: đi,
là tỷ dụ thân cận. Dù chẳng
ướt áo là dụ chưa chứng quả.
Có nhuận là dụ sự hữu ích của
thiện hữu. Nghĩa là, thân cận
người thiện, mặc
dù chưa được liền chứng quả vô sanh, mà sớm
được nghe, chiều
được ích, đủ
để nhuần nhă, thấm thía vào
ḷng dạ.
Như kinh Bổn Hạnh
Phật thuyết kệ rằng “Như có tay cầm
hương trầm thủy (19), và cầm xạ
hương, hoắc
hương… (20), cầm hương giây phút thơm thấm tay; gần gũi
bạn lành cũng như thế”. Nếu người thân
cận thiện tri thức, tùy thuận kia
những chỗ hành nghiệp, dù chẳng hiện
chứng lợi thế gian, nhưng sau sẽ
đặng hết khổ nhân.
Lại, gặp nhau
với thầy lành, đặng
khỏi mọi điều khổ, nếu gặp
nhau với thầy ác, sẽ tập làm
sự ác, chẳng khỏi
các tai họa! Để lời nhắn người sau, chẳng khá
chẳng ǵn dè!?
Kư: Bậu bạn
giúp nhau,
rằng lệ trạch (ánh gội) kia đây lẫn
nhuần, dường mưa gội. Sách Tông Kính nói
“Người mà tuy có cái trí mưu ngoài đời, nếu chẳng
có người bạn tốt hơn để khai giác cho
th́,
người ấy chưa có thể tự ḿnh giác ngộ
được, v́ thường mê
vọng trái với đạo, nên cốt phải
nhờ có lương hữu”.
Thiện tri thức. Tri
là được người nghe danh tiếng. Thức
là bị người thấy thân h́nh. V́
người ấy giúp ích cái đạo Bồ -đề cho
ta nên gọi là thiện tri thức.
ác sư: thầy ác tục
(21), thí như phía
bắc sông Hà, với
người không môn, không cấm cái
tục bắt rắn. Bọn ông A -lê-tra(22) Tỳ-kheo, thực vậy.
Nghĩa là tại xứ
miền Bắc sông Hà (nay là sông Hoàng), người
người thường có cái phép thuật bắt
rắn không bị độc.
Gần quen với kẻ ác, thêm lớn
những tri kiến ác, sớm tối gây
việc ác, bị quả báo liền trước mắt, chết rồi
trầm luân, một khi mất nhân thân, muôn kiếp khó
đem lại.
Câu trên là thân cận với
kẻ ác. Sáu câu dưới là nói rơ những
quấy lỗi của việc ác. Lại, câu thứ hai là
cái kiến thức ác. Câu thứ ba là nguyên nhân ác. Câu thứ
tư là quả báo hiện tiền. Câu thứ năm là
trả quả ở đời sau. Câu thứ bảy là
sẽ chịu báo cách nhiều đời về sau, nghĩa là sau
đời sau.
ác tập là gần gũi, xông ướp
lấy thói quen, tức là ông ác tri thức bọn bất
lương.
Thêm lớn tri kiến ác: do bị xông
ướp, nên thêm lớn cái
thấy ác giác (23)
bất chánh. Nên kinh nói “Chính ḿnh không biết, lại không có
bạn lành, ắt bị
bọn ác hữu làm trọng thương cái chánh hạnh! Tỷ như
nhền nhện sa vào trong sữa, tất nhiên
sữa ấy biến thành chất độc!”
Mơi chiều
tạo điều ác:
chỗ kiến thức đă bất chánh lại
trọn ngày chỉ tạo những nghiệp bất
thiện.
Trả liền
trước mắt: đă chứa
nghiệp nhân từ nay, ác
quả cũng từ đây đưa
đến, v́ nhân
quả chẳng mất, nên nói liền
trả báo trước mắt.
Chết rồi trầm luân
là chết rồi phải đọa xuống tam
đồ.
Như
chỗ Phật đă nói “Nếu người mà
thân cận với bạn ác tri thức, hiện
đời chẳng được tiếng tăm tốt, ắt bởi thân
cận nhau với ác hữu, qua đời sau
cũng đọa xuống ngục A -tỳ”.
Một khi mất thân
người là từ đời nay mất hẳn
cái thân của loài người.
Muôn kiếp chẳng đem
lại là cái nhân ác chả mất,
thế th́ những quả ác cũng
khó hết! Nên những hạng đắc nhân thân
rất ít, tỷ như chút đất dính
nơi móng tay; c̣n hạng đọa xuống nơi tam
đồ th́ quá nhiều, tỷ
như bụi đất khắp trên mặt đại
địa. Chúng sanh ở nơi tam đồ mà muốn
đắc lại nhân thân thực quá ư rất khó, tỷ như rùa
gặp được cái lỗ bộng của khúc cây
mục trôi giáp ṿng nơi chơn núi giữa biển há
chẳng gian nan ru!?
Kư: Hiện báo
đời nay làm thiện hay làm ác, liền chịu
quả báo hiện tiền trong đời nay, nên gọi là
hiện báo.
Sanh báo đời nay, chỗ
đă làm thiện hay tạo ác, qua đời sau
mới chịu quả báo, nên gọi
là sanh báo.
Hậu báo với
chỗ đă tác thiện hay ác trong đời nay, khi chết
rồi về sau hoặc đời thứ nhứt chưa
trả,
th́ đời thứ hai, hoặc là
đời sau, nhẫn
đến trăm kiếp, ngàn đời
mới trả, nên nói là hậu
báo.
Nghiệp nhân tức là tam
độc tham, sân, si, thập ác, do cái nghiệp
nhân đó mà, phải bị những ác quả nơi
địa ngục, ngạ quỷ và
súc sanh tại đời tương lai. Chao ôi! Cái ngày của
địa ngục quá dài, mà cái thọ
mạng của chúng sanh ở đấy khó hết.
Nếu chịu
tội ở địa ngục chưa hết mà, cái thế
giới này đến thời phải hoại th́, lại đem
tội nhân gởi qua nơi địa ngục ở
thế giới phương khác. Măi như thế, đến
chừng nào trả tội báo nơi địa ngục
hết rồi, mới
đọa vào loài ngạ quỷ; tại ngạ
quỷ,
cái thọ mạng cũng vô cùng; đến
chừng chịu tội nơi ngạ quỷ hết
rồi,
mới sanh vào loài súc sanh; luân hồi làm
những thân của các con trâu, ḅ, ngựa, cầm, thú đến các
h́nh hài cá, cua đinh… Đó, chịu sanh cái
thân phi chủng loại, nên nói “vạn
kiếp nan phục”.
Rùa gặp lỗ bộng.
Kinh Khổng Tước chép rằng “Thí tỷ khó
đặng cái nhân thân, như giữa
biển cả, có một ḥn
đảo. Tại chơn đảo, có một khúc cây
mục,
cây mục có lỗ bộng, tùy gió thổi trôi
giáp ṿng từ đông tây qua nam bắc. Trong biển mé núi, có con rùa đui
mắt,
trải qua một trăm năm mới ngóc đầu
một lần, mà nó muốn chun
vô cái lỗ bộng để nương đi kiếm
ăn,
nhưng than ôi! Biển đă mênh
mông,
cây theo gió giạt, rùa lại không có
mắt,
mà mỗi một trăm năm mới một lần ló
đầu ra, muốn cho
gặp đặng cái lỗ cây mục kia, há dễ ǵ
được ru!?
Biển: sanh tử
hải. Núi: ngũ uẩn sơn. Cây: thân tứ
đại. Rùa: chúng sanh. Gió: gió nghiệp.
Tra:
cây nổi trong nước. Kinh nói “Manh qui phù mộc vị
kỳ thường…”
II.A.2.a5- Kiết hối (xâu kết lời
dạy).
Lời ngay trái tai, há chẳng ghi
chạm vào ḷng ấy ru?
Câu trên
là chỉ thị lời dạy; câu dưới
là khuyên phải duy tŕ.
Người xưa nói
“Đắng miệng chính là thuốc hay, trái tai ắt là
lời thẳng”.
Với niềm bà tâm, lời khích
thiết của Tổ Linh Hựu Đại
Sư như thế, dẫu
là người sắt đá đi nữa
cũng phải cảm động
đổ mồ hôi!
Mà kẻ có huyết tánh khá chẳng cả sanh
ḷng biết xấu hổ, ghi khắc nơi
tâm phủ, để làm
như qui bói, gương soi
trọn đời ru!?
II.A.2.a6- Tiềm tu (tiềm tàng ẩn
tu).
Mới có thể, gội tâm
nuôi đức, vùi tích giấu
danh, chứa tinh thần sẵn (24), phải dứt
hẳn cảnh ồn ào.
Hai câu trên là với trong tâm
th́ tẩy trọc, ngoài thân danh
th́ phải ẩn hối (25). Hai câu
dưới là nội tâm phải uẩn súc, ngoại cảnh
phải chỉ tuyệt.
Hễ là người
muốn rửa sạch nơi tâm, vun bồi
cội đức th́ ắt phải ẩn tích mai
danh, chứa sạch
lóng thần mà, phi dứt hẳn cái cảnh huyên náo th́ chẳng
thể được.
Gội sạch tâm th́, liền
trừ được vọng hoặc tập nhiễm; nuôi lớn
đức th́, cái đạo thể tự cao; tinh thần
chứa th́ sáu căn điềm tịnh; dứt huyên náo th́, tư lự
vặng lặng, tinh thần an ninh; ẩn danh tích th́, người nhân
gian và thần khuất mặt (26) chẳng thể
xét thấy được. Chừng đó, hoặc trú bên
suối nước, hoặc ở
dưới rừng cây, để
trưởng dưỡng Thánh thai (27) là nghĩa đâu
gọi thế chăng?
Kư: Rửa, nuôi, chứa và học
tập,
là cái nhân bên trong, tu là phần
tự lực; vùi, giấu, dứt, bặt, là cái duyên bên ngoài, tức là phần
trợ lực.
Song, cái thể tánh
chân như, vốn vẫn trống sạch, mà bị vô
lượng phiền năo trần cấu bấm nhuộm, nếu nay
chẳng mượn cái duyên ngoài xông ướp lẫn nhau
với cái nhân trong, để mỗi
mỗi đào thải cho triệt để th́, không do đâu thanh
tịnh được, hầu khôi
phục lại cái thể sáng suốt của chân như
xưa.
Nên Khởi Tín Luận
nói “Do v́ dẹp bỏ phiền năo, nên hành giả
cần phải xa ĺa cái cảnh reo ồn, thường
ở chỗ vắng lặng, để tu
tập các hạnh đầu đà…”
Tổ Qui Sơn
nói “Mặc dầu đă nhứt niệm đốn
ngộ được cái chân lư của tự tánh rồi, nhưng, hăy c̣n có những
tập khí (chủng tử) của bao
đời từ vô thỉ kiếp, chưa có thể
chóng liền trong sạch ngay với nhứt niệm
đốn ngộ ấy, nên cần
phải dạy ngươi dẹp bỏ cho sạch
hết những cái thức lưu lộ nơi
nghiệp (thân ba, khẩu bốn, ư ba) hiện tiền, đấy
tức là tu vậy, chớ phi có cái
pháp ǵ riêng khác, ḥng dạy
ngươi để thú hướng tu hành đâu?”
Cốt là, từ nghe
mà hiểu vào lư, nghe và
lư đă tiến đến chỗ thâm diệu th́, cái tâm nó tự
tṛn sáng,
chẳng c̣n lẩn quẩn ở nơi địa vị
mê hoặc (kiến hoặc, tư hoặc…) của chúng sanh
trong tam giới.
Lấy cốt yếu
mà nói “Th́ chỗ lư thực tế chẳng bợn
một mảy bụi (sự
chướng) mà, trong môn vạn
hạnh (sự tu) không bỏ
một pháp”.
Nếu thế,
tỷ như chỉ cầm một
mũi đao xông ngay vào trận tuyến (28) th́, cái phân biệt là
Thánh (bốn
Thánh)
là phàm (sáu
phàm)
đều sạch tất thể chân lộ ra, lư sự phi hai, tức như
như Phật đấy.
Chứa tinh thần (29) sẵn cái linh minh
tột bực của tâm gọi là tinh; với linh minh mà
khó xét lường được gọi là thần.
Tâm thể càng yên tịnh
mà,
hành tướng càng quảng th́ (phổ biến) cùng với cái thái
hư (30) hợp đức; tinh thần
chứa mà, tâm rất sáng suốt, vắng lặng
mà thường tỏ soi.
Nên Tổ Vĩnh Gia
nói “Phát khiển cái tinh thần xưa cho trong sạch
th́ phong nghi (thái độ) nó vẫn cao
thượng. Tâm thần trong, vọng lự
sạch, nghiên cứu đến mức ngỏ mà c̣n
nghiền ngẫm nữa”. Đấy cũng gọi
thế chăng?
Dứt hẳn cảnh ồn
ào là với trong th́ chứa cái trí chân không
của Bát -nhă,
để lóng tinh thần; với ngoài
th́ lánh cái tṛ hay đẹp của sắc thanh, để
sạch sáu căn. Được thế, là do nạp
thụ lời nói ngay mà mới có thể được
như thế.
Hối tích cũng
như ẩn tích, là vùi giấu
tông tích. ẩn danh ẩn tàng. Hiêu: chỗ huyên
náo. Điềm: đạm
bạc vô vi điềm tịnh.
II.A.2.b- Thiền giáo.
Chia làm hai
phần:
b1-Thiền
học.
b2- Thiền
lư.
II.A.2.b1-Thiền học.
Chia làm hai
phần:
b1a- Thị pháp.
b1b- Tán miễn.
II.A.2.b1a- Thị pháp (chỉ rơ cách
học thiền)
Như muốn tu pháp tham thiền
đặng học cái đạo vô thượng,
để chóng vượt qua các pháp môn phương
tiện th́, phải xét thấu lẽ tinh yếu (31) đặng cho cái
tâm nó khế hợp bến mầu(32), quyết chọn
chỗ kín nhiệm, để mở
tỏ tánh chân nguyên.
Hai câu đầu là nêu
cái tông lên. Câu thứ 3 là đắc cái diệu chỉ.
Câu 4, 5 là cùng tột cái
lư. Câu thứ 6 là đạt đến cái nguồn. Lại, câu thứ 3 là
thấy đạo. Câu 4, 5 là thao thủ
tiển lự, tức t́m ḍng. Câu 6 là tỏ gốc, tức thấu nguồn.
Tham là tham cứu pháp
thiền trực chỉ; học là học
cái đạo Vô thượng.
Chóng vượt qua pháp môn
phương tiện (33)
là tuyệt hẳn pháp quyền thừa (34), chẳng sa
mỗi giai cấp (35).
Tâm khế hợp bến
mầu là một niệm hệt nhau, liên hợp
với đạo.
Xét thấu lẽ tinh
yếu. Nghiên: xét. Cơ: tâm u vi: cái tâm nó rất u
huyền, rất vi diệu, khó thấy khó
rờ được. Nghĩa là, nghiền xét cái
thể u vi chí lư của tự tâm, nên nói là tinh
yếu.
Quyết chọn chỗ kín
nhiệm: dùng cái
trí huệ vô lậu,
để quyết đoán chọn lực, bỏ những
cái thô thiển mà, lựa lấy phần u huyền.
Mở tỏ tánh chân nguyên
là cùng nguyên cực để vậy.
Kư: Phương
tiện là pháp tạm thích hợp dễ dàng, tức là giáo pháp
quyền thừa. V́, giáo có quyền
thực, nghĩa là, pháp mà quyền là
thuộc về sự tướng; pháp mà thực
mới cùng lư, nên nói là cùng nguyên.
Như trải tam a -tăng-kỳ (36) kiếp (ba vô số
kiếp), rộng ra, tu đủ sáu
độ muôn hạnh, để
chứng lần lên tam hiền, thập thánh, đó, đều
gọi là quyền thừa.
Kinh Tư ích
nói “Người tu Phật mà đắc cái chánh tánh
của các pháp (37) là, chẳng lần
hồi chứng từ một quả địa này, đến
một quả địa nọ, nên nói là bất
lạc giai cấp”.
Rằng một niệm
hệt nhau liền hợp với đạo: Nếu
đặng một niệm xứng với chân như th́, c̣n hoặc đâu
mà đoạn, c̣n lư đâu mà
chứng, c̣n hạnh đâu nữa khá tu, c̣n quả vị
đâu nữa khá đắc, nên nói là liền
hợp với đạo (chân như tâm).
Tâm tuy đă khế
hợp với đạo, nhưng mà chủ
lực chưa được tự do, v́ mắt c̣n
thấy có cái huyễn tướng mà tâm chưa trừ cái
quan niệm phân biệt ưa ghét, tiền trần
vốn không mà chưa giải thoát được sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu
thế th́ nên dùng cái trí như huyễn (38), để
đoạn cái huyễn hoặc (39), chứng cái
huyễn lư (40), tu cái huyễn
hạnh (41), cầu cái
huyễn vị (42). Nên nói: Nghiền xét cái
chí lư của tự tâm, chọn lấy
phần u huyền.
Chỉ cần, với “hoặc”
đoạn đến chỗ vô đoạn, với “quả”
th́ chứng đến chỗ vô chứng. Đến đó, mới nói là cùng
nguyên cực để.
Tổ Khuê Phong
nói “Song, một cái hạnh tu thiền định, rất là thần
diệu, v́ nó hay phát khởi cái vô lậu trí huệ trên
tánh. Phải biết rằng tất cả phép diệu
dụng, muôn hạnh muôn đức, cho đến phép
thần thông, ánh quang minh, chi chi, cũng
đều từ nơi thiền định mà phát sanh. Nên
các hành nhân tu tam thừa, muốn cầu
chứng lên Thánh đạo (Phật quả), ắt phải tu
tham thiền, rời thiền
định ra th́ không c̣n cửa ngơ đường lối
nào hơn”.
Chí ư, hành giả tu
niệm Phật, cầu sanh
tịnh thổ (ñoä), cũng phải tu
mười sáu pháp thiền quán, cùng các pháp
niệm Phật tam muội, ban châu tam
muội…
Lại, chân tánh tức
bất cấu bất tịnh, bất tăng
bất giảm, dầu lục
phàm,
tứ Thánh, vẫn đồng chân tánh ấy, chứ không sai
khác. C̣n thiền môn th́ sự lư tu chứng có
thiển có thâm, giai có khác
bực.
Nhưng, nếu tu
thiền mà kèm theo cái kế lạ, như ham muốn
bực trên, chán nhàm bực dưới (43), thế là cách tu
thiền của ngoại đạo (44).
Người có tâm chánh tín
với lư nhân quả để tu thiền
bằng cách cũng ham trên chán dưới, là phàm phu
thiền (45).
Kẻ tu thiền
mà nguyên đă giác ngộ được cái
lư ngă không thiên chân (46), tu thiền như
thế là Tiểu thừa thiền.
Hành
giả mà đă giác ngộ được
ngă không, pháp không, hiển hiện
ra cái chân lư, như thế mà tu thiền, là Đại
thừa thiền.
Bằng đốn
ngộ được tự tâm, xưa nay vẫn
thanh tịnh, nguyên không
có phiền năo (các vọng
hoặc), vốn tự trọn đủ cái vô lậu trí
tánh,
tâm đây tức Phật, cứu cánh không
khác,
người mà được thế, y nơi Thiền
để tu, là Tối
thượng Thiền, cũng gọi
Như Lai thanh tịnh Thiền, cũng kêu là
Nhất hạnh tam -muội, cũng tên là Chân
như tam muội, đấy là
căn bản của tất cả tam muội; nếu hay mỗi
niệm như thế, đều tu
tập thiền định, th́ tự nhiên
dần dần đắc trăm ngàn tam muội.
Môn đệ của
Tổ Đạt -ma, lần lựa
truyền trao cho nhau,
đó là pháp Tối thượng Thiền
đây vậy.
Khi tổ Đạt -ma
chưa đến về trước, từ xưa,
các đấng cao tăng đều nương tu theo
bốn pháp Thiền trước (ngoại
đạo thiền, phàm phu thiền, Tiểu thừa
thiền và Đại thừa thiền), và
Bát định (47), đều
được có công dụng.
Đến các Tổ Thiên Thai, Nam Nhạc…
đều bảo các học giả y nơi cái lư tam
đế mà, tu pháp tam chỉ, tam quán. Giáo
nghĩa: Đế, Chỉ, Quán ấy, tuy tối
diệu tối huyền, nhưng, cái thứ lớp
tiến vào môn hộ, cũng chỉ là
cái hành tướng của các thiên trước kia, người mà
thực học chân tu theo Đế, Chỉ và Quán
ấy,
được chứng lên giai thê tam Hiền thập Thánh.
Duy Tổ Đạt -ma sở truyền
ra,
đồng ngay với Phật thể, khác xa với các
thiền môn kia, nên các học
giả tu tập theo thiền môn của Tổ
Đạt -ma, phần nhiều khó đắc tông chỉ hễ
đắc là mau chứng Bồ -ñeà, liền thành
Phật ngay, nếu thất th́ thành tà ma, chóng vào nơi
đồ thú, thế là cũng
tùy nơi căn khí của mỗi hành nhân.
Nhưng, phải biết
cái danh Thiền tuy đồng, mà chỗ nhập
môn chẳng phải một. Hễ thâm nhập một môn
nào,
cũng được chứng đạo quả cả.
Tỷ như một vị thuốc thạch cao, mà dược tánh
nó phân ra có lạnh và nóng, thạch cao
sản xuất ở phía Nam th́ tánh chất nó lạnh; c̣n thạch cao
phát sanh ở miền Bắc th́ tánh chất nó nóng.
Người bị nhiệt bệnh, nên uống nam
thạch; kẻ phải lănh bệnh, nên dùng bắc
thạch. Dùng lành bệnh là hơn; thế, với cái cốt
yếu của đạo xuất thế, học giả
cần nghiệm lấy tâm bệnh của ḿnh, nên tu pháp
dược nào cho hợp cách mà, tự ḿnh
quyết lấy.
Tam đế: một
Chân đế, hai Tục
đế, ba Trung đế. Nghĩa là, phải xét cái tâm
nhứt niệm, nó tức
sẵn đủ cái pháp tam đế như quán cái
tâm vẫn không th́, tất cả pháp
đều không, tức là Chân
đế; như quán tâm giả th́ tất cả pháp
đều giả, tức là Tục
đế; nếu quán tâm trung th́ cả thảy pháp
đều trung, tức là Trung
đế.
Đấy là tam đế
mà tức tam quán v́ tam quán đây, toàn do nơi tánh
phát sanh,
chứ hẳn phi tu thành, nên với
nhứt tâm, rơ ra có ba tác dụng, chính chỗ
bảo nhứt tâm tam quán, thực thế.
Lại, tam không ngại
với nhứt, tức là viên
dung tam đế, rộng như
chỗ khác giải thích.
Tam chỉ: một
là thể chân chỉ, tức là
rơ thấu cái vô minh, vọng
tưởng tức là cái chân của thực
tướng. Hai, phương
tiện tùy duyên chỉ: dầu tùy duyên
trải cảnh mà tâm an bất động. Ba, li nhị biên
phân biệt chỉ: chẳng phân
biệt những cái hiện tượng sanh tử Niết
-bàn
và hữu vô.
Bát định: Với trung gian
của mỗi: Nhứt thiền, Nhị
thiền, Tam thiền và Tứ thiền, đều
có hai định là sắc và không.
Rộng hỏi bực tiên tri, gần gũi
các bạn lành. Với thiền tông này, khó đặng
chỗ mầu nhiệm, rất phải
chín chắn dụng tâm. Trong đó ngộ được
chánh nhân là ra khỏi tầng bực cảnh trần (tam giới).
Hai câu đầu là tham
cứu, xin hỏi nơi
thầy bạn. Hai câu kế là tông thẳm, lư rất sâu. Hai
câu sau là ngộ được bổn nhân th́ vọng
hoặc trừ sạch.
Là nói cái tông Trực
Chỉ Thiền đây, chính là
tâm địa pháp môn, phi hạng
người thô tâm thiển học
mà có thể đắc cái mầu của nó.
Nên phải tham vấn bạn
tri thức, xin thêm các
thiện hữu mới ngộ được chân nguyên là
chánh nhân của tâm địa. Cái hoặc gụt sạch, các nghiệp
cổi mở, dần dần ra khỏi trần lao. Nên gọi
rằng “Với lư dù đă đốn ngộ, với sự
phải trừ lần lần”, thực thế.
Kư: Tiên tri thiện
hữu là phần chính duyên, muốn
đặng chơn chánh nhân, ắt phải
được sự giúp đỡ nhau của phần
chính duyên.
Đă huyền lại
huyền nữa, nên nói là Diệu.
Phàm Thánh đă cùng đường rồi nên nói rằng tông
u. Chỗ mà lời nói ư nghĩ chẳng thể đến
kịp,
nên gọi là lư trí. Không có cái trí tột thẳm, gọi là thô tâm.
Không khắp tham rộng hỏi, gọi là
thiển học.
Tổ Vĩnh Gia
nói “Cần phải rộng hỏi bực tiên tri, th́ chính ḿnh
phải nép ḷng thành khẩn, quỳ gối
chấp tay, tâm ư chỉnh, dung nghi đoan, sớm tối
quên nhọc, thỉ chung kính ngửa, hi sanh thân khẩu, dẹp bỏ
trễ lờn, chẳng đoái
h́nh hài. Đó, người mà
chuyên tinh nơi chí đạo như thế, mới khá gọi
lóng thần nơi vuông tấc”.
Thế th́ phá tan tam giới, hai mươi
lăm loại hữu (48).
Câu trên là nói chung. Câu
dưới là nói riêng. Đây là nói rơ y báo, chánh báo của
chúng sanh ước lược (tóm tắt) về y báo th́, chia tam giới, hai mươi
lăm xứ; luận về chánh báo th́, đủ bốn
sanh, mười hai
loại hữu (49).
Thế th́ là lời
đề cử trên, chường
rơ dưới. Do v́ tham thiền
mà được đốn ngộ, ra khỏi cơi
trần, nên
phá tiêu được cảnh mê mờ tam
giới và hai mươi lăm loài hữu.
Nguyên v́, tam giới
là do cái tâm thức (a-lại-da) gầy dựng (tưởng
trừng thành quốc thổ), nên hễ tâm
hết mê mà giác ngộ lại rồi th́ tam
giới bị phá tan (tỷ như thức
giấc rồi th́ cảnh chiêm bao không c̣n nữat); hai mươi
lăm hữu từ nơi vọng hoặc mà thành lập (tri giác năi chúng sanh), nên hễ vọng
hoặc đoạn trừ rồi th́ hai mươi lăm
hữu hoàn không (ví như hết bệnh ban bạch rồi th́
không c̣n thấy kỳ h́nh dị tướng ǵ).
Nên kinh Lăng Nghiêm nói “Các
pháp (sự vật) sở sanh ra, là duy tâm sở
hiện; hết thảy
nhân quả, thế giới, mảy bụi, đều do
nơi tâm mà thành thể (tâm sanh chủng
chủng pháp sanh), nên một người phát minh được
chân quy nguơn (chân tâm) th́, người ấy thấy mười
phương thế giới đều tiêu diệt ráo (vạn pháp ṭng tâm
diệt)”.
Cổ đức
nói “Nếu người mà biết được
tự tâm, đại
địa không c̣n tấc đất (50)”.
Đây th́, nhứt niệm
đốn ngộ được tự tâm, là cả tam
giới, hai mươi
lăm hữu trọn không thể c̣n (51), thế là bị
phá tan cả.
Tam giới: Dục giới, Sắc giới
và Vô sắc giới.
Nhị thập
ngũ hữu: Nói
sơ lược th́ tam hữu, nói rộng
th́ cửu hữu và nhị thập ngũ
hữu. Do v́, để phá tà, khiển chấp, nên nói phân biệt
ra như thế.
Nội dung của Dục
giới th́ có bốn châu, bốn ác
thú và sáu Dục thiên; Sắc giới
th́ có trời Phạm vương, trời
Vô tưởng, năm trời
Tịnh Cư cả Tứ thiền, cộng
mười tám cơi trời Phạm; Vô sắc giới
th́ có bốn trời Không; cả ba giới
cộng là hai mưới lăm hữu.
Song, trời Phạm
Vương, trời
Vô Tưởng và năm trời Tịnh
Cư đều ở trong bốn Thiền thiên, mà lại nêu
riêng cái tên ra như thế là, v́ các phái
ngoại đạo họ kể trời Phạm
vương là thường sống c̣n vĩnh viễn, bởi họ
chấp trời Phạm vương là ông thiên chủ sanh
hóa ra vạn vật; c̣n phái th́ chấp
trời Vô tưởng là cơi Niết -bàn, v́ họ vọng
tưởng rằng Vô tưởng tức là vô tâm; phái th́ chấp
rằng năm cơi trời Tịnh cư là cảnh giới
chân giải thoát.
Thế nên trong các kinh
luận chỉ riêng ra tên của ba trời ấy (Phạm
vương,
Vô tưởng, Tịnh cư) là để
phá những tà chấp của ba phái
ngoại đạo kia.
Kư: Có chỗ nói: “Giữa năm
trời Tịnh Cư, có chỗ
Đại Tự Tại Thiên Vương, người bên
ngoại đạo họ chấp rằng vị Thiên
Vương kia là có thể làm căn bản sanh ra mọi
vật,
hễ quy đầu về đó th́ được
giải thoát; đức Như
Lai v́ phá cái bệnh tà kiến kia, nên kinh luận
cũng nêu riêng tên trời ấy.
Bốn châu: Đối
với núi Tu -di phía Đông
là châu Thắng Thần; phía nam là châu
Thiệm Bộ; phía Tây là châu
Ngưu Hóa; phía Bắc là châu Cu Lư.
Tứ ác thú: A-tu-la, địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Sáu trời dục: 1-Trời Tứ
vương, 2-Trời Đao -lợi,
3-Trời
Dạ -ma, 4-Đâu-Suất-Đà thiên, 5-Hóa Lạc thiên, 6-Tha Hóa Tự
Tại thiên.
Bốn Không thiên: 1-Trời Không
xứ,
2-Trời
Thức xứ, 3-Trời Vô Sở
Hữu xứ, 4-Trời Phi Phi
Tưởng xứ.
Tứ thiền thiên:
Sơ thiền có ba trời: trời Phạm
chúng (trời
dân);
trời Phạm phụ (trời quan); trời Phạm
vương (trời vua). Nhị
thiền có ba trời: trời Thiểu
quang,
trời Vô Lượng quang, trời Quang âm.
Tam thiền có ba trời: trời Thiểu
tịnh, trời Vô Lượng tịnh, trời Biến
tịnh; Tứ thiền có chín trời: trời Vô vân, trời Vô
tưởng, trời
Phước sanh, trời Quảng
quả,
trời Vô thiền, trời Vô
nhiệt, trời Thiện kiến, trời Thiện
hiện, trời Sắc Cứu cánh. Năm cơi trời sau
đó,
tên là Ngũ Tịnh Cư Thiên, chính là chỗ
ở của Thánh nhân quả thứ ba hiệu là A -na-hàm cùng bốn
quả Thanh văn, nên cũng gọi
là năm trời A -na-hàm (ba cái biển).
Trời Phạm vương
ở nơi trung gian trời Sơ thiền và trời
Nhị thiền. Trời Vô tưởng ở trong
Đệ tứ thiền.
Rằng Cửu hữu tức
là Cửu địa: lấy nhân gian, thiên thượng
(sáu
dục thiên) ngạ quỷ, súc sanh, địa
ngục của Dục giới chung lại một
địa; bốn Thiền thiên của Sắc giới làm
bốn địa; bốn Không thiên
của Vô sắc giới làm bốn địa. Cộng là
chín địa.
Các pháp bên trong và ngoài, đều
biết chẳng thực, từ nơi tâm
biến hiện, thảy đều giả danh (52).
Hai câu trên là cái tướng chung; hai câu dưới
là cái tướng riêng. Trong th́ thân tâm, ngoài th́ khí
giới. Lại, trong là bốn uẩn, ngoài th́ sắc
uẩn. Bốn uẩn là tâm, sắc uẩn là
thân. Cái thân tức bốn đại tổ thành ra, cái tâm chính là bóng
của sáu trần duyên vào.
Khí giới là cái
cảnh của chúng sanh nương ở, tức là ba
ngàn cả ngàn thế giới. Số của
thế giới tuy nhiều, mà chẳng
ngoài tam giới. Chúng hữu t́nh tuy đông mà không ngoài
hai mươi lăm hữu. Cả thân tâm và khí giới
như thế, đều từ nơi vọng niệm mà có; cái vọng tâm nó
không có tự thể, do phân biệt
mới sanh ra nó. Rơ cái tâm và cảnh ấy luống dối, biết là
chẳng thực có th́, cả thân tâm và
khí giới lập tức không thể c̣n được.
Từ nơi tâm biến
hiện thảy đều giả danh: Tất
cả chúng sanh nhận lầm:
bốn đại làm cái thân tướng của ḿnh, cái bóng của sáu
trần (53)
duyên qua làm cái tâm tướng của ḿnh. Chứ có biết
đâu bốn đại mượn gộp, trong đó không có
ta làm chủ và chẳng có cái ǵ là sở hữu của ta, v́ tất cánh
vẫn là không.
Thế mà chúng phàm phu
mê mờ quên mất cái Pháp thân của ḿnh, nên mới
chấp bậy lấy bốn đại làm tự thân
tướng. Phải biết sáu trần là cảnh, thức thể là
tâm. Tâm đối với căn trần tức có cái
tướng (hiện tượng) duyên lự sanh
khởi. Sáu trần là cảnh sở duyên (bị duyên), vọng thức
là tâm năng duyên (chủ quan). Sáu trần không
thực tế, dường như cái ảnh tượng (như cái bóng
chiếu trong gương), là từ nơi
cái cảnh sở biến của thức, nên cả cái
thể của sáu trần tức là không. Thành thử cái tâm
duyên lự vốn không có thực. Nhẫn đến mê
vọng sanh khởi những thành kiến phân biệt
rằng lục phàm, tứ thánh… nên nói
thảy đều là giả danh.
Hiểu
thấu được như thế, tức nhiên
biết được cái tâm tánh bấy nay (54) vẫn
thường là không là tịnh, trọn
đủ tṛn sáng th́, hoặc đă là
chẳng thể làm mê nhiễm mà, trí giác lại
cũng không làm thanh tịnh thêm, v́ tâm nó là chân giác
linh minh, thể nó là
rỗng vắng lóng trong, vốn phi như
cái tâm duyên lự.
Thế mà chúng sanh
đă lâu lắm rồi, bị mê
mờ quên cái tâm ấy, nhận lầm
cái tâm bằng ảnh tượng phan duyên lục trần
là cái vọng niệm thoạt khởi thoạt diệt, thực là
luống dối mà cho là tự tâm, đó rồi
cứ mỗi niệm, mỗi niệm
theo măi, thế nên quanh
quẩn đi lại với hai mươi lăm hữu
giữa tam giới!
Kư: Tâm tánh bấy nay
đă là phi nhiễm phi tịnh, mà cớ sao
lại bị sáu căn, sáu trần và sáu
thức làm mê hoặc?
Nguyên do, chúng sanh hồi
rốt trước (55), cái “tâm bất
giác” mà khởi vọng niệm đảo điên (56), th́ ra tâm bất
giác cùng ḥa hợp nhau với cái “niệm sanh diệt" mà
tổ thành ra cái “thức a -lại-da”; lại do v́
chấp lấy kiến phần của thức ấy làm
“pháp sở hữu” của ngă (57), rồi dần
dần chuyển sanh ra bảy cái thức kia (58), cộng thành tám
món thức.
Mỗi thức đều do
nơi thức thể của ḿnh mà sanh khởi ra
phần năng kiến, do nơi năng
kiến đó, nên thấy
tựa hồ như có ngoại cảnh
hiện lên, rồi chấp lấy hiện tượng
đó định là thực tế, mà tạo ra
mỗi mỗi nào là biệt nghiệp, nào là cộng
nghiệp; nên với trong th́ cảm niệm lấy tự
thân,
với ngoài th́ cảm thụ lấy khí giới (59).
Thế nên biết, tất
cả chư pháp, đă do
thức sanh khởi (vạn pháp duy
thức) nên hiểu hết thảy đều là
chẳng thựùc.
Thấy phân biệt có phàm
có thánh: trong cơi chân như, không hẳn cái
danh giả dối của chúng sanh và
chư Phật; giữa
huệ b́nh đẳng chả có cái
tướng phân biệt của ta và người
là cái cớ tuyệt
đối đó vậy.
Bổn văn bốn câu, không ngoài hai pháp
là sắc và tâm, th́ biết
rằng: nguyên sắc pháp là do nơi tâm pháp tạo ra, nên toàn
thể sắc tức là tâm. Nên kinh nói: “Cả tam
giới không pháp chi riêng hơn chỉ là nhứt tâm tạo
tác ra (tam
giới duy tâm)”.
Tỳ-bà-sa nói: “Cái tâm nó hay v́
tất cả pháp mà đặt danh này tự nọ, nên hễ vô tâm th́, không có cả
thảy danh tự. Đấy, phải biết
cả danh tự của thế gian và xuất thế gian, đều do
nơi tâm để sanh khởi”.
Chẳng dùng đem tâm (thức thứ sáu) so ước tính
toan, chỉ t́nh (sáu thức) chẳng trú
trước nơi vật (sáu trần) th́ vật
há làm chướng ngại với người.
Câu trên: răn
chớ để ư so lường; câu kế: dạy phải
tâm nên ĺa cảnh, câu dưới: là nói cảnh
chẳng làm pḥng ngại tâm (thế là chẳng
bị hoàn cảnh lôi cuốn, v́ tâm đă tự
chủ).
Nguyên là, cái
chí lư rỗng mầu,
mà hễ vừa toan nghĩ đến là sai
xa với thể của nó. Tâm cảnh vốn
là trống không, mà hễ vừa
tính đến tức lầm to, v́ tâm không cảnh
tịch. T́nh mà quên luôn chấp và bỏ, th́ cảnh nó
tự nhiên im lặng, tức th́, chí lư (chân tâm) hiện tiền, thế, c̣n vật ǵ
đâu mà làm trở ngại người?
Chính là cái chỗ mà ông
Bàng Uẩn bảo rằng: “Chỉ ta vô tâm
với vạn vật, ngại chi muôn
vật thường vây quanh”.
Đức Tam Tổ nói: “Muốn lấy
pháp Nhứt thừa, chớ ghét
cảnh lục trần, với sáu
trần chẳng ghét, tức
đồng Phật chánh giác. Kẻ trí tự vô vi, người ngu
tự trói buộc; pháp vẫn không
pháp lạ, ḷng vọng có ham
yêu, đem tâm và
dụng tâm, há chẳng là
lầm to”.
Kư: Đă là biến
sanh,
giả danh, th́ c̣n dùng toan tính ao ước chi? Song, t́nh và vật
tức là vọng cảnh cả, tâm nguyên nếu
dứt vọng niệm, th́ cả pháp
giới đồng vặng lặng, c̣n vật ǵ
đâu nữa làm ngần ngại người?
Tha hồ pháp tánh nó giáp thông, chớ dứt
chớ nối (chớ hề phân biệt thủ
xả chi).
Câu trên là đắc tánh. Câu
dưới là khế lư. V́ đă chẳng làm chướng
ngại người, nên mặc ư
để nó khắp lan.
Pháp tánh cảnh vật (60). Nghĩa là, tâm mà chẳng
khởi quan niệm vọng th́ pháp nào pháp nấy toàn là chân
như. ở trong chúng hữu t́nh th́ kêu là Phật tánh, tại giữa
vật vô t́nh th́ gọi pháp tánh. Pháp nào cũng như pháp nào
vốn tự như như, thể nó
thường phẳng lặng, dường
như chỗ hư không, rỗng rang
khắp giáp sa số thế giới.
Thế, nếu đem
tâm mà thủ lấy là bị mê mờ, c̣n cố ư xả
bỏ đi th́ bị tán thất. Hoặc đoạn
tuyệt, hoặc tiếp
tục, tức
đọa về đoạn kiến, thường
kiến; chẳng thủ
chẳng xả mới là hợp lẽ mầu.
Nếu là người
có thể chứng đắc cái chánh tánh của các
pháp th́, nằm ngang
nơi pháp giới, tha hồ
để cho nó lưu thông phổ biến, tự tại, tiêu dao, vô ngại vậy.
Kư: Đoạn là
diệt, tục là thường. Thường tức là
hữu,
diệt tức không, th́ ra, sanh diệt, đoạn
thường, không hữu, danh dù lạ mà
nghĩa đồng nhau. Thủ tức là tục, xả tức là
đoạn, nên đọa về hai bên, xả bỏ hai
bên,
nên khế hợp với lư trung đạo.
Nếu đem cái vọng
tâm chấp thủ lấy danh tướng, tức là tùy
nơi cảnh mà sanh diệt, nên hoặc
đoạn hoặc tục. Chân tâm không trú trước, nên mặc ư giáp
thông,
khắp giáp phổ thông, nên không nhứt
định trụ vào đâu cả. Vô trụ, nên rỗng
khắp giáp cả sa giới.
Thanh Lương quốc
sư nói: “Chí đạo
gốc là cái tâm, tâm pháp vốn là
vô trụ. Cái tâm thể vô trụ, thiên biết
chẳng mờ tối, tánh tướng
vẫn vắng lặng trùm bọc cả đức
dụng, suốt thu hết trong ngoài, vừa sâu vừa
rộng, phi có phi không, bất sanh
bất diệt, vô thỉ vô chung, t́m kiếm đă
chẳng đặng, xua bỏ lại
chẳng ĺa. Mê quên hiện lượng (61) th́ nào hoặc nào
khổ lăng nhăng, tỏ nhớ chân
tánh th́ là không là minh (62) rỗng suốt.
“Dầu tức tâm tức
Phật, duy kẻ đă chứng rồi mới biết, nếu c̣n có
chứng có biết th́, huệ nhựt
(63) bị ch́m mất nơi chỗ có (64). C̣n như kẻ
mà không chiếu không ngộ th́, mây mờ che bít
nơi không môn (56). Nếu tâm không sanh một niệm vọng, th́ dứt hẳn
cái ranh trước sau, soi thấy
bổn thể riêng rảnh tự tại, vật ta
đều như, đến
tận nơi tâm nguyên, không trí không
đắc, bất thủ bất xả, không đối
đăi,
không tu chứng.
Song, cái
mê nó nương nhau với cái ngộ, vọng
đối đăi nhau với chân, nếu t́m chân
bỏ vọng,
tỷ như muốn bỏ cái bóng bằng cách
chạy tránh dưới ánh nắng nhọc thân, nếu rơ vọng
tức là chân, tựa hồ
đến chỗ âm u, tự nhiên cái bóng
mất.
Nếu không tâm tưởng, quên xét soi, th́
muôn điều tư lự đều mất
luôn,
bằng mặc ư vắng biết, th́ các việc
công hạnh mở toang. Buông rộng, tha hồ đi, ở, lặng soi
biết thấu nguồn ḍng. Nói, nín chẳng
mất huyền vi (66), động
tĩnh chưa ĺa pháp giới. Rằng “chỉ” th́ vừa
mất biết, vừa mất
vắng, bàn “quán” th́ vừa soi vắng vừa soi biết
nói “chứng” th́ chẳng thể giơ ra cho người
xem,
thốt “lư” th́ phi chứng chẳng thể rơ.
“Là bởi, ngộ vắng
th́ không vắng, thực biết
th́ không biết. Do biết và vắng là cái nhứt tâm
chẳng hai, tức khế ngộ cái trung đạo bằng
cách không, hữu đôi mất”.
Nghe thanh thấy sắc,
số là tầm thường.
Câu trên nhĩ căn nhăn
căn đối nhau với thanh trần sắc
trần. Câu dưới rơ thấu tâm cảnh. T́nh quên
cho và tạ, như cái gương đối ảnh
tượng mà gương nó không có cái tâm thủ
xả ǵ, nên nói là tầm
thường.
Ngài Đâu Suất Duyệt
nói tụng rằng: “Thong thả mà
đi, mỗi
bước đều như; dù đối
sắc thanh, đâu xa không có, nhứt tâm phi
lạ, muôn pháp không khác”.
Tổ Qui San nói: “Trong tất
cả giờ, thấy nghe tầm thường, lại không ch́u
vạy, cũng chả
nhắm mắt bít tai; chỉ t́nh
chẳng nương nơi vật, th́ tức nhiên là
được”.
Từ trước, các đức
Thánh, chỉ nói
những điều quá hoạn bên
ngũ trược; nếu chẳng
có bao nhiêu sự ác giác, phàm t́nh, thành kiến, vọng
tưởng, tập quán, th́ tỷ như
hồ nước mùa thu lóng đứng, trong sạch, không ǵ xao bợn, im lặng không chi
ngần ngại, với người được thế, kêu là Đạo
nhân, cũng tên là Vô
sự nhân.
Kư: Giác quan nghe, thấy là
thuộc về căn; cảnh
tượng thanh sắc là thuộc về trần, trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp là sáu
cảnh trần; c̣n cái mà tri giác là
tâm.
Nhưng, biết tâm
nó ĺa niệm, rơ cảnh
vốn không. Tai nghe, mắt thấy, mà chẳng
khởi cái nghe thấy là chân hay vọng ǵ hết, nên nói là tầm
thường.
ông Bàng Uẩn
cư sĩ nói: “Chỉ ta vô tâm
với vạn vật, ngại chi
vạn vật thường vây buộc; trâu sắt
chẳng sợ sư tử rống, in tuồng
người gỗ xem chim vẽ (67): chim vẽ gặp
người cũng chẳng sợ, người
gỗ thể nó vốn vô t́nh. Tâm, cảnh như
như chỉ thế ấy, lo ǵ quả
đạo Phật không thành”.
Bên đây bên kia, ứng dụng
chẳng thiếu.
Câu trên đắc cái
thể. Câu dưới đắc cái dụng.
Trước kia đề cử lên căn: thấy, nghe; trần: thanh sắc th́
đă trùm nốt tất cả các pháp. Pháp nào pháp nấy
trọn ḥa, sự nọ lư
kia lẫn suốt; cả thân ta
ứng đối với sự vật, thể, dụng trọn
bày; co, ṿng, cúi, ngửa, ngang, dọc tự
thong dong, chạm mắt
đều chân, gặp duyên thụ dụng.
Chỗ gọi rằng tùy
gặp đến cơ duyên cũng bất ngại, ứng
đối với sự vật vẫn bất câu. T́nh
hết phân biệt thị phi, ḷng không chán ham
phàm thánh. Ai đâu đắc, ai đâu thất? Người nào
thân, người nào
sơ? (vô phân biệt trí)
Đem đầu làm đuôi, chỉ chắc
làm ớp, dấn thân cơi ma
quỷ, nêu gót
đường tà sư. Rơ phi thuận nghịch, chả phạm
công phu.
Nên ngài Đại Châu nói: “Người mà
đă hiểu đạo rồi, đi, ở, ngồi, nằm, không đâu
chẳng là đạo; kẻ nào đă
ngộ pháp rồi dọc, ngang tự
tại, không đâu là
chẳng phải pháp.
Đức Tứ Tổ nói: “Rỗng rang không
chi ngần ngại, mặc ư đi
dọc đi ngang, chẳng làm
hữu lậu thiện, không tạo
hữu t́nh ác, khi đi, lúc ở, hồi ngồi, thuở nằm, chạm thấy
đến mắt, gặp gỡ
nơi duyên, chi chi cũng
đều là những tác dụng vi diệu của Phật
sự cả”.
Chỗ gọi là (Hoa Nghiêm hiệp
luận): niệm nào, niệm nào
cũng đều như Thích -ca xuất thế, mỗi
bước mỗi bước cũng dường thể
Di -lặc hạ sanh.
Phân biệt là hiện cái trí (sai biệt trí) của
đức Văn -thù; động
dụng là vận cái hạnh (đại
hạnh nguyện) của
đức Phổ Hiền.
Môn nào môn đều
đưa ra niệm cam lộ, vị nào vị
toàn vẫn là mùi đề hồ. Chưa ra khỏi
rừng Bồ -ñeà, vẫn ở biển Hoa tạng. Rỡ rỡ
không trần nào chẳng thấu suốt; mơi mơi
mặt nhựt lên sáng soi. Há cần lời diệu biện
để rao bày; nào mượn phép thần thông để chỉ
rơ.
Đấy là bực vô sự
đạo nhân (68), mới xử dụng được đại
tự tại như thế đó, mà phi cái tâm
thức cảnh giới của hạng phàm phu có thể
biết được đâu, chỉ
người nào đă đắc, tức là như
như Phật đấy.
Kư: Chính nơi toàn
thể tánh chân như pháp giới mà, phát khởi ra
tất cả các pháp của thế gian và xuất thế
gian. Thế th́, cả các pháp toàn
là do nơi tự tánh ấy sanh khởi. Nhưng, sanh khởi mà
không do cái chi khác để sanh khởi, chỉ do nơi
toàn thể của tự tánh ấy mà sanh khởi, nên toàn thể
tức là dụng, toàn dụng
tức là thể. Thể dụng trọn bày, sự lư lẫn
suốt.
Nên mới được
mặc ư phơi phới, thể giáp
dụng khắp, bởi vậy
nên được thông thân ứng vật.
Từ
trên đến đây, là nói hiểu
thấu sự lư thể dụng; dưới này
chính là nói rơ cái đức dụng ra. Do v́
cái đức đại dụng vô cùng,
cơ hóa độ trùm tất cả.
Người
mà được như thế, mới có
thể với trên, đáp
đền bốn ân với dưới, cứu giúp ba
hữu,
nên nói:
“Qua lại ba giới, v́ làm pháp tắc
cho chúng (69)”.
II.A.2.b1b- Tán miễn (khen gắng).
Thực hành chỉ, tác
như thế, hẳn không
uổng bận pháp phục, cũng
là đều được tứ ân, cứu vớt tam
hữu.
Hai câu trên nói rơ phần
tự ích. Hai câu dưới nói rơ về tha ích.
Nghĩa là, tu và hành
được như trên đă nói th́, thực là
chẳng luống uổng ở trong đoàn thể tri
môn.
Đă thế mà lại
đức hạnh đầy đủ, tứ ân tự
nhiên nhờ lợi ích. Truyền xướng khắp nêu
chánh pháp ra, cả tam giới
đều được thấm nhuần lợi lạc!
Kư: Pháp phục
tức là Ca -sa. Đọc
đủ tiếng Phạn là KaÅya (ca-sa-dệ), dịch là: màu không chính, màu đă hoại, nghĩa là dùng
hoặc xanh, đen và mộc lan, ba màu ấy
nhuộm đúng như màu pháp (là thâm thâm, ửng đỏ), v́ các đức
Như Lai cả ba đời, đồng
bận y đây, nên nói là pháp
phục; kẻ mà bận nó, có thể dứt
được phiền năo, nên lại tên là Ly
trần phục; chúng long
được đeo một rẻo liền khỏi cái
nạn chim đại bàng bắt ăn, nên tên là Cứu
long y;
cũng tên là Nhẫn nhục khải; cũng tên Liên hoa
phục; cũng tên Giải thoát phục; cũng tên là
Phước điền y. V́ nó có mỗi mỗi công năng, thành thử có
những danh nghĩa như thế, nên Phật ngài
chế tác ra, dạy phải
mang theo thân, chẳng đặng rời cách nó mà đi
nghỉ chỗ khác.
Sự Sao nói: “Phật dạy
phải kính cẩn hộ giữ ba pháp y như cưng
giữ da mỏng nơi thân của ta; giữ b́nh bát
như giữ tṛng con mắt; đều chung
kính như ngồi tháp, thường
phải đem theo bên thân, tỷ như cái
cánh mà khi bay lúc chạy, con chim nó
thường cũng chẳng ĺa nhau”.
Mỗi văn trong các
bộ luật, đều
dạy phải đem theo thân; ngày nay, nhiều tăng
chỉ hộ khi ngủ nghỉ không rời mà thôi, thế chẳng
hợp pháp. Đă nói: thời
đại ngày nay, hiếm có hộ
trong lúc ngủ, huống chi
thường mang theo thân. Phần nhiều có kẻ trọn
đời, thân không pháp phục! Thế th́, với
đời mạt pháp, chỉ hộ
trong khi ngủ nghỉ, cũng c̣n có
phần hơn.
Chỉn bởi, người
thiếu đức tin thanh tịnh, lờn pháp khinh y, nên hiện
tiền đến lúc đau ốm, thân thể ĺa
ca -sa, đời sau
đọa địa ngục phải mang cái y bằng
sắt!
Đó,
kẻ chân chánh xuất gia, nên kính thuận
lời thánh huấn, chớ tự khinh
thường!
Mỗi đời đều
có thể chẳng lui, th́ với ngôi
Phật quyết định khá hẹn, qua lại làm khách
tam giới, ra vào v́ làm qui tắc cho kẻ khác.
Hai câu trên là tự làm, hai câu dưới
là dạy người. Nghĩa là mặc
dù đă đốn ngộ được
tự tâm rồi, nhưng, với phiền
năo quá nhiều như vi trần, hà sa, hơi hám thói quen (chủng tử) từ
vô thỉ, phi chỉ nội trong một ngày nay mà có
thể đào thải hết được; nên cần
phải gội ḷng, nuôi đức, tập trung
lại những tinh thần sẵn, mới chẳng
bị cái mê mờ của thân ngũ ấm gián cách (70), và có thể
mỗi đời chỉ tiến không thối, hoặc tập
hết, trí đức tṛn, pháp thân hiển
lộ, mà quả Phật
tự chứng.
Từ đây, không
bị trụ nơi sanh tử của lục phàm, không
trụ nơi Niết -bàn của tứ
quả Thanh văn, dùng đại bi
phụ giúp lẫn nhau với đại trí, vận
đức từ vô duyên (71), độ thế
giới hữu t́nh. Tùy loại chúng sanh, chia mỗi thân
ứng hóa, vào chốn
triền phược (72)
(phiền năo) mà như thả
tay tự tại, ḥa đồng cảnh trần, để nhen ánh
đạo, khỏi ṿng sáu thú
(lục đạo), cùng chúng sanh làm
kẻ bạn chẳng đợi mời, để khai
thị quỉ tắc cho nhân thừa, thiên thừa
cả tam thừa.
Kư: Khoa trước
mở tỏ nguồn chân, là để
khế ngộ cái “tánh chân như nhân địa Phật”
của tự tâm; khoa đây nói
Phật giai đồng chính là chứng “cứu cánh quả
vị Phật” vậy.
Muốn cho chẳng
bị cái mê mờ về thân ngũ ấm
sau cách với thân ngũ ấm trước, th́ cầu cho
được cái tâm đây thường thường
đừng mê muội, mới có
thể ra vào (sanh diệt) mặc ư ḿnh, tự do qua
lại nơi tam giới.
Hoặc có người
hỏi:
Đă chứng Phật giai là đắc quả Vô sanh, cớ sao lại
c̣n có xuất một (sanh diệt) ư?
Đáp: Chư Phật
chứng đắc cái cảnh giới Vô trụ xứ
Niết -bàn, phi đồng
với sở chứng của Nhị thừa là khôi thân
đoạn trí, vô dư Niết -bàn (73), nên chư Phật
không bị trụ nơi sanh tử của lục phàm, cũng bất
trụ nơi Niết -bàn của tứ
quả Thanh văn mà, suốt cả
đời vị lai thường làm lợi lạc cho chúng
hữu t́nh.
V́ nếu
trụ nơi Niết -bàn th́, chẳng có
cái đức dụng độ sanh; c̣n trụ nơi
sanh tử th́, chẳng có cái công
dụng đoạn trừ các chướng. Do đó hay
đoạn chướng, lại hay
độ sanh, nên gọi là “vô
trụ xứ”, dù ở
đời vị lai, đủ vô
lượng cái đại dụng lợi sanh, mà thể tánh
vẫn vắng lặng, nên gọi là
“Niết -bàn”.
Lại, trong Phật giáo
có đôi pháp môn là quyền và thực, chân và
tục. Trong môn Chân đế (đạo), th́ đều
bặt hẳn những cái tâm phân biệt là thánh phàm
là vô hữu; trong môn
tục đế (đời) th́, chẳng không cái
tâm nào Thánh phàm nào duyên sanh. Thành thử, hễ có cảm
là theo ứng, để làm qui
tắc cho kẻ khác.
Rằng ḥa quang đồng
trần ấy; Ḥa là xen
lẫn;
quang là trí dụng; trần là cái
cảnh bụi bặm ô nhiễm giữa tam giới
lục đạo mà các đấng thánh nhân xen lẫn vào
trong,
lấy cái trí quang giáo pháp, để mở
mang dắt dẫn, như “tứ
nhiếp pháp”.
Châu triền: giáp ṿng, tức là văng
lai xuất mộc vậy.
Một pháp thiền học đây, rất nhiệm
rất mầu, nhưng tỏ khứng ḷng, ắt chẳng
lừa (đánh lừa) nhau.
Hai câu trên là tán
thán đạo vô thượng. Hai câu dưới
là khuyên gắng tiến tới.
Rằng: Một tông ngoài
tam tạng giáo pháp đây, nó là cái
tướng văn tự, tu học bằng
cách tuyệt hẳn nơi ḷng, không sa nơi giai
cấp là quả vị của tam thừa, v́ là chỉ ngay
nơi nhân tâm, để thấy tự tánh thành Phật mà thôi, thế là tối
diệu tối huyền! Chỉ e
người đương sự ḷng tin chẳng kịp! Nếu mà thâm tín
không nghi, khứng ḷng
quyết chí, sấn
sướt tiến tới ắt không lừa dối
lầm nhau.
II.A.2.b2- Giáo lư.
Chia làm hai:
b2a-
Thị giáo.
b2b - Giới miễn.
II.A.2.b2a- Thị giáo.
Nhược bằng có tu sĩ bậc
trung lưu, chưa có thể đốn siêu
được như thiền học trên th́ nên để
tâm nơi giáo pháp, đặng ôn t́m
bối diệp.
Hai câu trên nói rơ căn cơ. Hai câu dưới
là rơ giáo pháp. Do đức Như Lai Ngài tùy
nơi tŕnh độ mà lập thành giáo khoa, quán sát
căn cơ truyền trao pháp yếu, nên mới
có phân ra tam thừa, mười hai phần giáo -
và có một môn khác lạ là “giáo ngoại biệt
truyền” như niêm hoa vi tiếu.
Thoảng hoặc
như kẻ tu Phật mà chưa
có thể chóng vượt khỏi môn phương
tiện th́, ắt phải để ḷng nghiên
cứu cho thuần thục giáo điển.
V́ hễ văn tự đă thuần
thục th́ nghĩa lư tự nhiên rơ bày. Tỷ như nhân
ngón tay (kinh) của người chỉ (thầy) mà ta thấy
được mặt nguyệt (lư). Chính chỗ gọi
“t́m theo ḍng mà thấu tận đến nguồn” là
thế.
Kư: ở
đây chẳng nói đến trung sĩ và hạ sĩ là,
với hạng người bực trung, có thể dùng nói
đến bực thượng. C̣n kẻ hạ sĩ,
hễ họ nghe đến câu chuyện đạo th́
họ lại chê cười, thành thử đây chẳng
chép dùng đến!
Lại
phải để ḷng nơi giáo pháp ấy, là e
chẳng phải chính con (nhứt niệm bất sanh)
của Sư tử (Phật) th́ chẳng thể từ
nơi chỗ không (bất lập văn tự) để
day trở ḿnh (chuyển uẩn thân y Pháp thân), nên lại
phải đi men dọc theo khe (pháp lưu), ḍ lần bên
vệ đường (giao đạo), mới khỏi
bị cái hoạn nạn tán thân thất mạng (74).
Thành thử khiến phải vừa ôn lại bài cũ,
vừa t́m học bài mới (ôn tầm bối diệp),
để đặng từ nơi giáo lư mà ngộ vào chân
lư.
Bối diệp tức
là kinh điển cả tam tạng.
Đọc đủ tiếng Phạm là Pattra
(Bối-đa-la), dịch là ngạn ảnh: bóng ngàn,
nghĩa là, thân cây ngay tót vượt khỏi lên cao. Thân cây
nó hơi giống cây tông lư (cây kè) ở xứ này
(nước Tàu), đă ngay lại cao. Lá nó khá dài và rộng,
màu nó sáng và mướt. Bên nước Tây Trúc biên chép kinh
sách đều dùng lá bối.
Bối-đa-la, tiếng
người Việt gốc Miên kêu là cây thốt
lốt; mà có cả ba thứ thốt lốt;
ở tại miền tây nam Nam Việt, người Miên
có trồng được một thứ. Kinh bằng
lá thốt lốt, khéo giữ th́ năm, sáu trăm năm nó
mới hoại (mục).
Ṛng xét nghĩa lư, để truyền
xướng khắp nơi, tiếp dẫn hậu lai,
để đền trả ân đức
của Phật.
Câu đầu là tự
học hành; hai câu kế là giáo hóa người; câu
rốt là trả đức.
Muốn trả ân của
Phật, ắt phải truyền giáo dẫn dắt
người. Nên có bài kệ rằng:
Dẫu đầu
đội Phật trải trần kiếp,
Thân làm giường, tọa khắp ba ngàn,
Nếu chẳng truyền pháp độ chúng sanh,
Rốt đều không thể trả ân được.
Vả chăng,
người mà muốn nêu truyền chánh pháp th́
cần phải trước lo ôn tầm bối diệp,
ḍ thấu chỗ thẳm mầu, nghiền xét
cả tánh tông, tướng tông, tột hết nghĩa
lư, chẳng sa trệ nơi thuyên đề (75)
(nơm, rập) vẹt bày tông thú (76) mở dạy
lớp sơ cơ, khiến chúng giác ngộ vào chân lư,
thế mới là báo đáp ân đức của Phật.
Kư: Khoa trên dạy
phải xét thuộc giáo văn, khoa đây khiến phải
t́m tột nghĩa lư. V́ nghĩa là chỗ sở hiểu
của giáo pháp, lư là chỗ sở qui của sự nghĩa.
Thuyên đề: với
cái nơm là cốt để bắt con cá,
rập là dùng để gài được con
thỏ. Nghĩa là tạm dùng hai vật ấy là
cốt để bắt cá thỏ, chứ phi
hai vật ấy là cá thỏ. Cũng như ngón tay
là v́ để chỉ mặt trăng, người biết
phải nhân ngón tay để thấy mặt trăng,
chứ phi chấp ngón tay là mặt trăng, tức kinh sách
là để nêu cái thâm ư của Phật chỉ rơ chân tâm,
người học phải hiểu thâm ư để ngộ
chân tâm, chớự nên chấp nơi ngữ ngôn văn
tự, nên nói là đắc ư vong ngôn. Được
thế, mới không sa trệ nơi nơm rập, ngón tay
và ngữ ngôn.
Nên Kinh nói “Giáo pháp khế
kinh, tỷ như nêu ngón tay chỉ mặt nguyệt,
nếu nhận thấy được mặt trăng
(Bồ-đề nguyệt là giác tánh) th́ rơ biết chỗ
ngón tay nêu kia là phi nguyệt. Người mà biết
được như thế, mới có thể nhân giáo
tỏ tâm, chả mê mờ nơi ư chỉ của kinh
để rồi làm việc tự lợi lợi tha,
trả ân đức Phật. Người học tu
Phật muốn được như vậy, thực là
Tăng bảo trong đạo Phật của nước
nhà vậy.”
Với giờ, phút cũng chẳng luống
bỏ, ắt phải lấy
đó giúp đỡ, giữ ǵn, đi, đứng,
nằm, ngồi đủ uy nghi, chính là pháp khí
giữa chúng tăng.
Câu đầu ngợi khen
cái đức cố gắng tinh tấn. Câu thứ
phú chúc chống chỏi chánh pháp. Hai câu dưới nói
sự hành tŕ xứng đáng. Hoàn toàn như trên:
trí hiểu, sự làm, trả ân đức
Phật, th́ là chẳng bỏ mất qua tấc bóng
giờ phút vậy.
Nay cách với thuở Phật
Thánh đă xa, vắng tiếng thuyết
pháp đă lâu, nếu chúng ta chẳng gắng sức
phù tŕ th́, ngày Pháp diệt ở gần
đây, thế rốt cuộc phi
báo đức được.
ắt phải trung kiên chí khí,
đội giữ chánh pháp, tu ḿnh, độ người,
giác ngộ và hành tŕ dần dần viên măn, gọi là chân
chính báo ân.
Đă thế, đức
đầy hạnh đủ, trong lư tánh, ngoài sự
tướng hiệp dấu (in nhau), tôn nghiêm ngôi Tăng
bảo, bực thầy, thợ giữa nhân gian và thiên
thượng, tức sứ giả của Như Lai, v́
thực hành pháp sự của Như Lai.
Nên ngài Trường Lô Trách
thiền sư nói “Bực thượng
thượng cơ, chỉ một đời là đức
và hành dùng xong; c̣n kẻ sĩ bực trung lưu cần
phải trưởng dưỡng thánh thai (77); chí
như người chưa giác ngộ được
tự tâm nguyên, th́ trong mỗi giờ cũng chẳng
bỏ trống qua sự học lư tu, để rồi,
với gần th́ làm tân lương (78) cho
đời mạt pháp, với chỗ rốt sau th́,
chứng đến cực quả nhị nghiêm (79)”.
Kư: Như Lai
sứ: Tăng mà ban truyền tông chỉ của Phật nên
gọi là sứ. Sứ tức là chỗ sai khiến,
nghĩa là đem luật nhân quả của Phật ra
để tuyên truyền, nên tên là Như Lai sứ hành
Như Lai sự.
Đức sung túc, hành
đầy đủ, trong ngoài hiệp dấu, thế
là đi đứng uy nghi vậy. Ngôi Tăng bảo
tôn nghiêm, làm thầy thợ chốn nhân thiên nên nói là Tăng
trung pháp khí (80).
Kinh Hoa Nghiêm nói “Tăng mà
thụ tŕ uy nghi và giáo pháp được đầy
đủ hoàn toàn th́, hay làm cho ngôi Tam bảo chẳng gián
đoạn”; số là hai ngôi Phật bảo và Pháp bảo
đều do nhờ ngôi Tăng bảo hoằng truyền.
C̣n chỗ tồn tại của ngôi Tăng Bảo, phi
giới luật th́ bất thành lập! Nên nói “Hễ
Tăng mà thuận theo giới hạnh uy nghi th́, Tam Bảo
được thường trụ cửu tŕ, trái lại,
hễ vi phạm đến th́, chánh pháp bị lật úp
tiêu diệt! Thế, biết rằng với uy nghi,
chẳng khá chẳng giữ cho đủ ru.”
Há chẳng thấy dây cỏ các nương cây
tùng, lên cao ngàn tầm; nương tựa thắng nhân,
mới hay rộng ích.
Hai câu trên là lời dụ.
Hai câu dưới là chỉ thị phương
pháp. Tùng là dụ cái thắng nhân. Cỏ các
là dụ nương tựa. Ngàn tầm (81)
là dụ ích lợi rất rộng răi. Thắng nhân tức
giáo lư. Phụ thác là nương tựa, tức là quán trí.
Nghĩa là lấy trí để quán xét cái lư, hầu
chứng ngộ vào quả vô sanh, chỗ thấy biết
tày bằng với bực Phật. Có cái huệ biện
luận vô cùng, khắp nên hoằng pháp lợi ích nhân sanh,
thực là chân pháp khí.
Kư: Lại, cây tùng
dụ lư; cỏ các dụ trí; dùng trí quán xét lư, đặng
thắng đệ nhất nghĩa đế của Pháp
thân.
Dẫu chưa thân chứng
đệ nhất nghĩa đế của Pháp thân, mà
pháp nhăn đă sáng, chẳng bị thanh, sắc đánh
lừa, mới có thể truyền xướng phu
dương để giúp ích cho mọi loài.
Có hai cách rộng ích:
1-Rộng ích cho phần ḿnh, v́ thấy tày bực
Phật. 2-Rộng ích cho người, v́ khắp nêu lợi
vật.
Rằng
đệ nhứt nghĩa đế là cái
lư “tối thượng thậm thâm” thể nó lóng
sạch, vắng lặng, tánh nó rỗng trống, dung ḥa,
không danh, không tướng, tuyệt bàn tuyệt nghĩ, chân
tục phi hai, không hữu đều chẳng phải v́
chỉ hiển rơ nghĩa trung đạo, nên nói là
đệ nhất nghĩa đế. Lại, chẳng sa
vào các con số và lượng nào hết, nên nói là
đệ nhất.
Như Kinh nói “Tuy
nhứt, cũng chẳng phải là nhứt, v́ để
ngoài các số kia.”
Gắng tu tŕ trai, giữ giới, chớ gian trá
mà bỏ thiếu, vượt lớp qua, mỗi kiếp
mỗi đời, nhân quả tốt lạ.
Hai câu trên nói cái nhân tốt
của giới; hai câu dưới nói cái
quả đẹp của giới. Khẩn: khẩn
thiết, cố gắng. Tu: tu tŕ, chữ trai là nói “tày”,
do mỗi bữa ăn cứ tày một chừng mực
giữa ngày sánh đồng với chư Phật, nghĩa
là thực hành sự như lư của trung đạo.
Lại, Phật ngài muốn
ngăn dứt cái tập nhân của sáu thú (đạo)
nên khiến chư tăng bữa ăn phải
đồng với chư Phật. Như Kinh nói “Các
trời ăn bữa sớm mai; chư Phật ăn
bữa giữa ngày; có một loại bàng sanh ăn lúc
mặt nhựt đă xế về tây; quỷ thần
ăn lúc mặt trời sắp lặn tối. Chúng tăng
đă học theo Phật, nên bữa ăn phải từ
nơi nhựt trung.”
Song, lúc trước giữa
giờ ngọ được ăn ấy, là
để tiêu biểu rằng tiền phương
tiện được cái nghĩa có chứng; c̣n
sau giữa giờ ngọ chẳng đặng
ăn đó là, để nên tỏ
rằng ngoài cái tánh pháp giới, lại không c̣n pháp ǵ
riêng khác nữa.
Hoặc
có kẻ hỏi: Với bữa ngọ thực
như trên th́, bực trung sĩ v́ hộ tŕ giới
điều là phải như thế, chứ bực
thượng sĩ làm ra chẳng hạn ở
nơi luận ấy.
Đáp: Thượng sĩ
tức Đại sĩ là Bồ -tát th́, các ngài hộ
giới c̣n cần cấp hơn Thanh văn; các Ngài sợ
cái tội nhỏ cũng như sợ lỗi to. Với
Lịch Đại Tổ Sư, chúng tôi chưa nghe có
một Tổ nào phá trai phạm giới.
Như ngài Thanh Lương
quốc sư (82) tức Hoa Nghiêm Bồ -tát tự
lấy mười điều luật (83)
để nghiêm chỉnh thân nghiệp, ngài Vĩnh Gia
chẳng chịu ăn thứ rau do dưới lưỡi
cuốc của người xới trồng; ngài Trung Phong
chẳng rời cái đăy lược nước;
đức Ca -diếp tôn giả, là đầu tiên
được Phật truyền tâm ấn, làm vị
Tổ trước nhứt giữ tu hạnh đầu
đà đến trọn đời. Giữa ngày ăn
một bữa, trước giờ ngọ không ăn,
phần nửa sau của giờ ngọ chẳng uốơng
nước của trái cây ép ra.
Sự ăn của các Ngài
như thế là, chính v́ để dứt cái tập nhân
(84) của chúng sanh trong tam giới, chẳng mắc vào
cái quấy lỗi của hai bên, thực hành cái chính đích
của trung đạo, cũng là để tiêu biểu
rằng đốn siêu pháp phương tiện, chẳng do
nơi môn hộ (lớp lang của tam thừa) mà
để chứng nhập ngay nơi Như Lai thất.
Hỏi: Việc tu trong Phật
giáo, có bốn cách:
1-Thừa (kinh luận) cấp giới (giới) huởn.
2-Giới cấp thừa huởn. 3-Thừa giới câu
cấp. 4-Thừa giới câu huởn; mà ở đây
(85), th́ với giới, tựa hồ như khá
huởn mà, với thừa phải khá cấp chăng?
Đáp: thừa là lư, giới là
sự. Sự do lư mà thành lập; lư nhân sự để
sanh hiển. Người mà có sự tu, có lư chứng,
đều viên dung, mới gọi là thượng sĩ
(Bồ-tát).
Tỷ như với con
chim đủ cả hai cánh, nếu thiếu một
nào giữa hai cánh ấy th́, mất cái bay lượn
nơi muôn dặm. Như người
sẵn đủ hai con mắt, nếu
hư một con nào giữa đôi ngươi, tức
không có cái quán chiếu lẫn dùng nhau.
Nên chi, người mà tu
về thừa th́ cấp (chuyên cần tụng kinh,
nghiên cứu luận) mà với giới luật
th́ huởn đăi, kiếp sau đọa làm thân A -tu-la
hoặc ngạ quỷ, nhưng, c̣n được
nghe pháp.
Người mà do đều
cần cấp cả thừa lẫn giới, kiếp
sau được sanh hoặc làm người, hay làm
trời, rồi đặng ngộ đạo. Thế,
đối với học tu kinh luật luận hay giới
định huệ, huởn cấp ưu liệt thế
nào, đây khá thấy hẳn.
Giới là ngừa
điều phi, dứt việc ác, diệt trừ cả tam
độc.
Khuy du: Khuy: khuy khuyết
là, đối với giới, có vi phạm. Du: du
việt, tức vượt bỏ giới luật
mà chẳng học.
Thù diệu nhân quả: nhân
quả tốt đẹp, do v́ giữ giới
được nghiêm tịnh, nên hiện đời
th́ thân tâm trong sạch, về sau đời đời
được trả lại cho cái thân thể đoan trang,
nghiêm chỉnh, nhẫn đến cái ḿnh vóc đủ ba
mươi hai tướng tốt, muôn đức rực
rỡ là thân Phật, đâu chẳng lấy giới
luật làm nhân. Nhân do v́ cái nhân tốt lạ, nên chi cái
quả phải nhiệm mầu. Nếu mà, chẳng giữ
giới, hăy c̣n chẳng đắc phục nhân thân thay,
huống nữa đâu đặng cái quí thể đầy
đủ công đức là, hoàng kim măn nguyệt
tướng ư!
Lại, thụ giới
mà không giữ cho được thanh tịnh, vả
chẳng có ḷng chánh tín, dù có cái khoa ngôn ngữ, tài hùng
biện, lời lẽ trôi chảy thao thao bất tuyệt
như sông treo suối đổ đi nữa mà, sự làm,
lư hiểu đều trái th́, đâu có thể “truyền
xướng phu dương báo Phật ân đức”
được ư?
Các nhà thiền học ngày
nay, đă khinh lờn giới luật của Phật,
lại trái lời dạy răn của Tổ, hăy phi
là người tín ngưỡng, đâu gọi
là bực thượng sĩ, th́ làm
ǵ có thể phu dương lợi vật, ban
truyền tâm ấn của Phật được ru!?
Kư: Quả
tương: nước nhựa của trái cây, là lấy
các thứ trái cây ép ra nước, lược xác,
nước lóng trong, gạn lấy phần trong sạch
để uống.
Các đức Phật
cả ba đời, bữa ăn chẳng qua giữa
giờ ngọ ấy, là tánh của chư Phật
thường xử nơi trung đạo. Thế nên,
đức Như Lai từ lúc giáng đản nơi cung
vua, cho đến khi nhập Niết -bàn, với trong
thời gian đó, chưa hề có ăn bữa phi
thời. Nên Luận nói “Đức Như Lai là tánh Ngài xa ĺa
bữa ăn phi thời”.
Nên Phật dạy “Sau
giữa giờ ngọ, chẳng ăn nữa, có năm
phước: 1-ít ham dâm dục. 2-ít buồn ngủ.
3-Được nhứt tâm. 4-Không hạ phong. 5-Thân
được an ổn cũng chẳng sanh bệnh
lặt vặt.”
Mạn: chữ mạn này
thuộc bộ “ngôn”, nghĩa là lời nói khinh khi, lại
cùng đồng với chữ mạn bộ “tâm”, nghĩa
là đăi đọa, hốt lược và bất kính.
Luận Khởi Tín
nói “Nhẫn đến với tội nhỏ, ḷng c̣n
sanh quan niệm bố úy, tàm quí, lo ăn năn đổi
lỗi, chẳng dám coi rẻ lời cấm giới
của Như Lai chế sắc, phải ǵn giữ
đừng để người ta chê trách, đừng
để cho chúng sanh gây cái tội hủy báng v́ ḿnh phá
giới!”
Người xuất gia
mà trai giới, nhân quả
thù diệu được thế, đấy
thực là tự lợi lợi tha, đội giữ chánh
pháp, phu dương lợi vật, báo Phật ân
đức, ấy thế.
II.A.2.b2b-
Giới miễn (răn gắng).
Chẳng khá lơ láo qua ngày, ngồi
trơ trơ qua giờ, khá tiếc sáng bóng!
Chẳng cầu tiến lên?
Hai câu trên là răn chớự
bỏ luống qua. Hai câu dưới là thương
chẳng tiến lên. Với ngày đă rảnh rang qua,
với giờ lại bỏ luống mất! Chẳng toan
tiến bộ, ngồi mất quang âm, thực là khá
tiếc! Hẳn là “sanh vô ích ư thời, tử vô văn
ư hậu”.
Quang âm: Quang: sáng, là ánh sáng
của mặt nhựt, tức là bỏ qua ngày. âm:
bóng là ánh sáng của mặt nguyệt, tức
là bỏ qua cả đêm. Tọa táng quang âm:
ngồi không bỏ mất qua th́ giờ!
Kư: Vua Đại Vơ
ngài tiếc từ tấc bóng, ông Đào Khảng tiếc
từ phân bóng; huống chi kẻ v́ thoát đường
sanh tử đi xuất gia, phải cần hơn nữa,
như chữa lửa cháy trên đầu, mà nên bỏ
trống qua giờ phút ru!?
Ngột ngột:
trơ trơ, là cái dạng chẳng cục cựa.
Chính là lơ lơ qua ngày, không dụng tâm lo vào việc ǵ,
chẳng t́m cách tiến lên, như người bị đau
bệnh bại xụi! Bệnh ngủ ngồi và bệnh
ngồi tịnh!!!
Luống tiêu (ăn bận)
của tín thí mười phương, cũng là
phụ phàng cả bốn ân; chứa chất càng
sâu, ḷng trần dễ lấp, chạm đường
(sự lư) nên ngăn (bất thông), người ta khinh
dể!
Hai câu đầu là nói
chẳng có đức chi để báo ân. Hai câu
kế: tội sâu chướng nặng. Hai câu sau nói do
những hoặc chướng đó mà mất trí
huệ!
Nếu không lo tiến tới
th́, chẳng những chẳng có công lao
ǵ để đáng tiêu của tín thí, mà cũng
chả có đức hạnh chi để báo đáp
tứ ân!
V́ với công,
đă chả thi hành điều chi, th́ với
đức không do đâu thành lập. Tức nhiên, chứa
gốc tội càng ngày càng thâm căn! Nghiệp hoặc bít
lấp nơi tâm nguyên, chẳng có cái kiến thức bực
đại nhân, mất cái trí sáng suốt của thánh nhân.
Hành động th́ trái
với chân giác, mà hợp với vọng trần nên chi
chạm đến sự hay lư ǵ đều thành ra sa
trệ cả. Cái huệ giải (sáng biết) đă bị
niêm phong rồi th́, đâu có thể mở dạy lớp hậu
lai, ví dẫu tuổi sanh đă cao, tuổi xuất gia
thụ giới lạp cũng đă nhiều năm đi
nữa, cũng nào khỏi bị chúng khinh khi!?
Kư: Chướng
tức là phiền năo vọng hoặc. Do những cái
trần cấu là tham, sân, si, nó ủng tế trong ḷng, th́
cái tâm quang đâu có thể sáng suốt ra ngoài
được! Đă chẳng có phần tự lợi,
lại khuyết phần lợi tha, nên bị kẻ
hậu học khi dể.
Lại, từ
vô thỉ đến nay, cái tâm ấy
đă bị những duyên sự chủng tử ác
tập nó bao phủ nhiều lớp quá sâu
sắc, bây giờ lại huân tập tô bồi nữa,
há chẳng dễ bít lấp đó ru!?
Xúc: chạm gặp,
đối chọi. Đồ: đường sá, tức
sự lư. Trệ: trệ ngại, nghĩa là bất thông
thấu. Do v́ cái tâm nguyên bị trần vọng ủng
tắt, thành thử gặp sự ǵ đă bất thông,
đối với lư chi cũng bất đạt nữa!
Xưa nói “Kia đă trượng phu (nam
tử) ta cũng thế, chả nên khinh ḿnh chịu lui
sụt”.
Câu trên là khiến bắt
chước bực tiên triết. Câu dưới khuyên ḿnh gắng
tới.
Thánh trước Hiền sau,
người nào người nấy, ai cũng có
phần. Người kia đă thế, ta sao chẳng
thế? Há nên tự khinh lấy ḿnh mà, chịu lui sụt
cái chí khí của ḿnh sao?
Phật răn dạy “La
-hầu-la-đa! Mười phương thế giới
các Bồ -tát, mỗi niệm đă chứng quả
Thiện Thệ (86), kia đă trượng phu ta
cũng rứa, chẳng nên khinh ḿnh chịu sút lui”.
Kinh Niết -bàn nói “Nếu
nam tử mà không tự biết ḿnh có Phật tánh th́,
tức là nữ nhân, v́ phi trượng phu (87)
(đàn ông)!
Kư: Diệc nhiên,
tức diệc nhĩ: cũng thế, cũng vậy và
cũng rứa.
Trượng phu: trí nhân,
kia đă trượng phu, ta cũng trí nhân, không nên
đề cao cho kia, mà tự thấp tánh linh của ḿnh;
phải biết tất cả chúng sanh bản lai vẫn
sẵn có Phật tánh. Thế nên, cả lục phàm, tứ
thánh, đồng một tâm nguyên, hễ mê muội tâm
ấy tức là phàm, c̣n giác ngộ tâm ấy là thành Thánh. Nên
chi, với tâm ấy, hễ nhứt niệm
được tương ưng là, liền đồng với
chư Phật.
Ai
mà chưa được như thế, cần
phải lấy giới nơi thân, huệ nơi tâm,
trong ngoài huân tu th́, mỗi bước mỗi ly khai nơi
phàm, mỗi niệm mỗi tiến lên bực Thánh. Nếu
được như vậy, th́, chỉ một
đời dùng xong, cũng nào có nhượng bộ cho ai
ru.
Thiện Thệ: khéo qua,
nghĩa là, lên trên bực đệ nhứt
là quả Phật, vẫn chẳng trở lại
làm chúng sanh. Cũng nói hảo khứ: đi tốt, là
với đi, th́ đi trong mỗi mỗi các tam muội,
và vô lượng trí huệ mà đi; Thiện Thệ là
một trong mười hiệu của Phật.
Thánh Hiền: Người
trong tam thừa, từ ngôi chưa “kiến đạo”
(88) về trước, gọi là Hiền, v́ tu tập
“phước, trí” đủ cái đức bực hiền.
Từ ngôi kiến đạo về sau, gọi là thánh,
như “Thập Địa Bồ -tát”. Thánh chánh, lấy cái
trí vô lậu, chính họp với lư, nên gọi là Thánh.
Nếu chẳng như thế, luống ở
cửa chùa! Húng hính qua đời không ích chi cả!
Hai câu trên là trái với giáo.
Hai câu dưới là mất sự lợi cho ḿnh
và người!
Nếu chả tu hành
như lời dạy trên, thực là lộn xộn
một đời giữa chúng tăng, luống
uổng bận pháp phục, v́ chả có chút công ǵ khá ghi,
chẳng có cái đức chi khá chép! Nên nói “thù vô sở ích”:
chỉn không chỗ ích!?
Kư: Đồ:
luống trống. Truy môn: do lấy màu sắc đồ
bận của tăng chúng mà xưng hô luôn pháp môn.
II.A.2.c- Kiết
khuyến.
Chia làm năm phần:
c1-
Khải phát
c2-
Thị giáo
c3-
Khuyến miễn
c4-
Hiển thị nhân quả
c5-
Tự hành hóa tha
II.A.2.c1-
Khải phát.
Nép trông: dấy cái chí quyết liệt
(sấn sướt) mở cái ḷng
đặc đạt (trổi hơn), cử
động, phải xem theo bực thượng lưu kia,
chớ tự chuyên theo với kẻ tầm thường.
Đời nay cần phải quyết đoạn, tự
liệu lấy chẳng do ai khác (89).
Hai câu trên là nói
ư khí rỗng rang. Hai câu kế là nói tôn
bực Hiền, ngăn kẻ ngu. Hai câu sau là sự giác
ngộ phi do ai khác.
Phục vọng: Nép trông,
tức là lời khẩn đảo.
Dấy chí sấn
sướt: Phát cái tâm dũng mănh, cầm vững cái chánh
khí trượng phu.
Mở ḷng
đặc đạt: Nới rộng ḷng dạ,
lập chí hướng thượng.
Cử động xem kia
thượng lưu: lúc hành động, lúc yên tịnh, khi
noi bước chân đi, phải tôn chuộng bực
thượng đức.
Chớ chuyên theo với
kẻ hèn: Chẳng khá tự chuyên, theo
học đ̣i bọn thường
lưu đương thời.
Nên ông Phạm Thục Công,
đưa ngài Viên Ngộ thiền sư đi hành
khước, mà nói lời tỷ huống
như vầy “Xem nước th́ chớ nên xem
nước chỗ ao nhơ, v́ nước chỗ ao nhơ
bởi loài cá, cua đinh là những vật thấp hèn; lên
núi thời chớ nên lên đồi núi đà lư (lúp xúp), v́
núi đà lư cỏ, cây mọc thưa thớt (tức
chỗ sơn bất cao, thủy bất thâm). Thế nên,
hễ xem nước, cần xem nước nơi biển
khơi, v́ sâu rộng hơn; lên núi, nên lên trên núi Thái, v́ cao
lớn hơn. Như vậy là sở đắc chẳng
cận, chỗ thấy cũng cao”. ấy là văn đây
cũng gọi thế.
Đời nay liền phải
quyết đoạn: Như “Nhứt đao
lưỡng đoạn”. Chặt một dao đứt hai
khúc, lập tức quyết xong; nay mà nếu chẳng
rồi, lại c̣n phải đợi chừng nào nữa!?
(Thử thân bất hướng kim sanh độ, cánh
hướng hà sanh độ thử thân?).
Chẳng bởi người
khác: tự tâm ḿnh lại tự quyết lấy,
hễ tự tu tức tự ngộ,
tỷ như ḿnh ăn th́ tự nhiên bụng
ḿnh no, không quan hệ với người khác. Ví dẫu
t́nh thân thiết như cha con đi nữa, cũng khó mà thay
thế cho nhau đặng! Chính chỗ gọi rằng
“mượn cái lỗ mũi của người để
thở hơi của ḿnh ra, không thể được”
thực vậy.
Kư: Dung bỉ
tức là hạng người dung ngu bỉ lậu.
Quyết là quyết xong. Lại, là lời quả quyết
không do dự. Đoạn là phán quyết. Đà lư là núi
đồi thấp nhỏ mà liên tiếp, người ta
thường đi dẫm đạp lên đảnh nó
vậy.
II.A.2.c2-
Thị giáo.
Dứt ư quên duyên, chẳng cho làm đối
đăi với các trần (90). Tâm không cảnh
vắng, chỉ v́ bị bít lấp chẳng thông đă lâu.
Hai câu trên là khiển trừ
cái vọng. Hai câu dưới là nguyên (91)
lại cái chân.
Dứt ư quên duyên
là dứt cái ư niệm, quên cái duyên trần. ư là
phần chủ quan của sáu căn, hễ chủ mà đă
thôi dứt rồi th́ cái tâm phan duyên (duyên lự tâm) nó
tự quên mất vậy.
Chẳng cùng tác đối
với chư trần: đứa phàm chẳng
rơ được tự tâm, thành thử mỗi mỗi
vọng hoặc chấp trước, tùy theo sự ǵ phan
duyên lấy sự nấy, mà phân biệt cả cảnh
giới lục trần; chứ nếu như cái ư thức
chẳng sanh một niệm ǵ hết, tức nhiên ĺa
được tất cả quan niệm phân biệt th́,
cái ư nghĩ dứt, cái duyên quên mất, với lục
trần ai cùng làm đối đăi. Thế là sáu căn
chẳng duyên với sáu trần mà trần cảnh tự
nhiên vắng lặng cả.
Tâm không cảnh tịch: Chân tâm
vốn rỗng trống, trần cảnh nguyên lặng im;
chỉn bởi tự quên chân tâm, chấp lấy
vọng cảnh (bóng duyên của sáu trần), thành thử
mới có các cảnh trần nó xôn xao lăng xăng.
Chớ tâm (ưự) ta không chấp th́, dù trọn ngày
đối cảnh mà, cảnh hằng vắng lặng,
cũng phi bặt dứt tâm cảnh, trừ sạch
vạn vật, nhiên hậu mới là tịch tịnh
đâu. Chỉ có một điều là chẳng quên chân tâm
th́, cảnh nó tự nhiên im lặng.
Nên Kinh nói “Thấy hết
các pháp (vũ trụ vạn vật), mà không chỗ
thấy”, nghĩa là không trụ trước chỗ
thấy, thực thế.
Cửu trệ bất thông:
đă lâu bị bít chẳng thông, là từ lúc
vô thỉ, tâm sanh một niệm bất giác (mê: tức
tham, sân, si), th́ đến cả vạn kiếp cái
vọng t́nh ấy nó sanh khởi luôn, thành thử
chẳng hiểu thấu cái tâm vốn không, lại
chấp đó cho là có, thế rồi cái chấp có đó nó
che lấp cái chân tâm, bị ngưng trệ chẳng thông.
Đến đỗi khiến
cho cái tánh bổn giác viên minh, biến làm cái vọng kiến
của năng kiến; cái vô tướng chân thể,
biến làm cái vọng cảnh của sở kiến. Cái
vọng làm ngần ngại cho cái chân, nên nói là bất thông.
Ngày nay, nếu chẳng hồi
quang phản chiếu, để phá những
vọng căn vọng trần kia, th́ không thể
khôi phục lại ánh sáng suốt của bổn tâm.
Kư: Khiển
vọng là ĺa các căn, cảnh hư vọng, v́ cái
vọng tâm nó nguyên không có tự thể của nó, mà nó xáo
lẫn với trần để thành cái thể của nó,
nên chi nó tùy theo cảnh mà có và không, nghĩa là hễ có
cảnh đến th́ cái thể của nó liền sanh,
cảnh đi th́ cái thể của nó liền diệt;
đấy, đă nhân cảnh mà sanh, th́ toàn cảnh đó
tức là tâm. Lại, nhân nơi tâm để chiếu
nơi cảnh th́, toàn tâm đó là cảnh, mà tâm cảnh
ấy đều không có tự tánh của nó, mà chỉ là
tâm với cảnh duyên lẫn nhau rồi sanh ra tự tánh
ấy thôi; nếu tâm ĺa vọng niệm th́, căn và
cảnh đều vắng lặng.
Nguyên chân ấy: Suy xét cho
đến nơi đến chốn th́,
chỉ có nhứt chân tâm mà thôi, cái tánh thể nó là
sạch sáng, xa tuyệt căn trần, linh biết vắng
soi, trong ngần không ngần mé, giáp khắp pháp giới,
ngục Thiết Vi chẳng thể ngăn che ánh sáng
của nó, bầu trời xanh không thể trùm đậy cái
thể của nó, muôn pháp (sự vật) không thể ẩn
khuất cái chân thực của nó, cho đến cả
trần lao phiền năo chẳng hay đổi cái chân tánh
của nó.
Do từ trước
bị mê mờ nhứt pháp giới (chân tâm) bất
giác vọng động nổi lên mà có cái niệm, tùy theo
cái duyên hoặc tịnh hoặc nhiễm rồi tâm cảnh
lẫn sanh nhau, trở lại che ngăn cái bổn tánh linh
minh, măi đến ngày nay, chưa hề tỉnh ngộ
lại được, nên nói là “cửu trệ bất
thông”.
Thấy hết cả các pháp
ấy: tâm, cảnh rơ ràng, sờ sờ vậy; mà không
chỗ thấy đó: là cái chân tâm nó không biết, cái chân
cảnh nó không tướng, v́ không biết nên vẫn không,
v́ vô tướng nên vẫn vắng. Không biết là phi
đồng như cái không biết của cây đá, mà chính
là tâm nó không khởi cái niệm phân biệt, chỉ vắng
lặng mà thường tỏ soi. Vô tướng là phi như
cái vô tướng bằng cách dẹp hết vạn
vật, mà ngay nơi tướng không trụ nơi
tướng, mà chỉ soi nhưng thường vắng. Nên
nói là “tâm không cảnh tịch”.
Tâm phan duyên tức là cái
tâm vọng tưởng. Với cái tâm đây phân
biệt ra mà nói th́ có ba là tâm,
ư và thức. Nghĩa là cái tâm đối
cảnh có tri giác, khác với cây đá, nên tên là tâm.
Kế đó, cái tâm tính lường nên tên là ư. Đến
cái tâm mà lảu lảu riêng biết, nên tên là thức.
Đấy, cái vọng tưởng nếu dứt
được rồi th́, ba cái kia đều quên mất,
cảnh giới cũng tiêu diệt luôn, duy chỉ có
nhứt chân tâm, rỗng thông chẳng ngăn ngại, không
chỗ nào nó chả phổ biến mà, c̣n có sự vật
ǵ làm trệ ngại ru!?
II.A.2.c3-
Khuyến miễn.
Đọc thuộc văn Cảnh Sách đây,
mỗi giờ răn gắng. Cố gắng làm chủ
lấy ḿnh, chớ theo nhân t́nh (vọng niệm).
Hai câu trên là y nơi
pháp để tự cảnh tỉnh lấy ḿnh. Hai
câu dưới là gắng chí sấn sướt lên.
Thuộc lăm…: xem đọc cho
chín…. Nghĩa là cần đọc thuộc văn này,
chứa vào ḷng dạ, để thường thường
tự nhắc thức lấy ḿnh, với nghĩa, nhớ
cho sâu (92), để rồi sách lệ tiến tu.
Chứ chẳng nên chỉ một lần trải qua nơi
tai mắt rồi liền gác cất lên gác cao, hoặc trong
tủ kín (93).
Gượng làm
chủ tể…: Đứa phàm bị cái vô minh hoặc
nó xông ướp, hằng lâu thành tánh quen, nên xúc đối
với cảnh nào liền tùy theo duyên nấy. Nếu
chẳng tự cố gắng lấy ḿnh, lập cái chí
quyết liệt, mở cái bụng đặc đạt,
cầm cái cung trí huệ, nắm cái tên kiên cố, th́ e,
hễ hớ hênh một chút theo vọng lưu, tất
phải bị quần tà nó phỉnh dỗ, bốn ma
(94) nó làm hại, mà chớ!
Kư: Tứ ma:
1-Ngũ ấm ma. 2-Phiền năo ma. 3-Tử ma. 4-Thiên ma.
II.A.2.c4-
Hiển thị nhân quả (chỉ rơ lư nhân quả).
Nghiệp quả lôi cuốn, thực khó
trốn tránh (95)! Tiếng ḥa vang thuận (96),
h́nh thẳng bóng ngay (97), nhân quả rơ ràng (98),
há không lo sợ!?
Hai câu trên nghiệp báo. Hai câu
thứ lập lời dụ. Câu thứ năm chẳng
mờ quên. Câu thứ sáu khiến cho biết, để mà
gắng dè!
Nghiệp quả kéo lôi….
Nghiệp: tức là, hễ tạo cái nhân chẳng lành, th́
sự kết quả cũng do cái nhân ấy đưa
đến. Nhân dời quả chín, nó kéo trả khó trốn!
(Nghiệp: tỷ như cái chứng ghiền).
Như kinh Pháp Cú chép “Có ḍng
Phạm Chí, anh em bốn người, đều tu
chứng đặng năm phép thần thông, nên mỗi
người tự biết sau bảy ngày, sanh mạng
ắt cuối cùng, đến bảo nhau rằng “Chúng ta
đều có thần thông tự tại, pháp lực cao
cường như thế ni, há chẳng thể lánh
được cái tử nạn như thế nớ
ư!?
Người anh
cả đưa ra cái kế hoạch
để trốn chết
như thế nầy “Ta xuống nơi biển
cả, trốn ở nơi lưng chừng chính giữa,
nghĩa là với trên chẳng gần mặt nước,
với dưới chẳng sát nơi đáy biển.
Thế, con vô thường sát quỷ, làm ǵ biết
được chỗ ta ở, mà ḥng t́m bắt chết
đặng ư?”
Người em thứ hai tŕnh
bày diệu kế rằng “Ta vạch hở núi Tu -di ra,
chun vô giữa ḷng núi, rồi cho núi hiệp kín liền
lại. Thế, vô thường sát quỷ đâu có biết
chỗ ta ở mà kiếm bắt chết đặng
ư?”
Người em thứ ba tự
hào cái pháp thuật rằng “Ta nhảy vọt lên giữa
chốn hư không, rồi ẩn h́nh không để lộ
dấu tích chi cả. Thế vô thường sát quỷ
mần răng biết được chỗ ta ở mà
bắt chết đặng ư?”
Người em út tán thành
rằng “Ba ca -ca có ba phương pháp rất thần
diệu, v́ lên cao, xuống sâu và vào chỗ kín đáo;
đây, em không cần cao xa huyền bí chi hơn là, chỉ
có lợi dụng giữa chốn huyên náo, tức ẩn
lẫn nơi chợ lớn đông người, ai chả
biết ai, vô thường sát quỷ có đến th́ nó tùy
ư bắt một người nào đó không tiện hơn à,
chứ hơi mô phải đi điều tra kiếm cho ra
tôi phí thời giờ!?”
Bốn vị tiên ông họp
nghị tham mưu kế hoạch trốn chết
xong rồi đâu đều đến
vào đấy, tức cũng như “dĩ đào vi
thượng sách”. Tới ngày thứ bảy kỳ hạn
đă măn, than ôi! Bốn tiên ông ở đâu cũng mạng
chung tại đó. Nghĩa là ở biển tử thi như
chổng nổi lên, sóng đưa tấp vào bờ; ở
núi ḷi ra như đất lở đá ḷi lăn tuốt
xuống chân núi; ở trên thiên không như phi cơ ngộ
nạn sa xuống mặt đất; ở giữa chợ
đông như kẻ cảm đại phong ngă ngửa ra
chết, thị trưởng sai dân chúng đem tử thi ra
đồng chôn.
Phật dùng đạo nhăn xem
thấy bốn ông lăo hóa phép tiên để trốn
tay tử thần mà, rốt cuộc chẳng thể
tránh đặng, nên nói bài kệ rằng:
Phi trốn trên
không, cùng giữa biển,
Và chun ḷng núi, giữa người đông.
Không đâu nơi, chỗ, phương nào nhá?
Trốn chết, phép tiên hết ngơ mong!
(Phi không, phi
hải trung
Phi nhập sơn thạch gian
Vô hữu địa phương sở?
Thoát chi bất thụ tử.)
Đấy, chính chỗ gọi
là “thành nan đào tỵ” ấy thế.
Tiếng ḥa … h́nh ngay … là
tỷ dụ cái thiện nhân. Vang thuận … bóng thẳng là
tỷ dụ thiện quả. Nếu mà, tiếng bạo
th́ vang xẵng. H́nh vạy th́ bóng xiên, là lẽ tất nhiên
phải như thế. Chứ có lư nào có tiếng mà không
vang, và trái với nhau như h́nh vạy lại bóng ngay, h́nh
ngay lại bóng vạy bao giờ? Th́ ra, tiếng chả khác
vang, h́nh không soi bóng, nhân quả chẳng mất, nên nói “nhân
quả lịch nhiên”.
Đấy, nghiệp báo không sai
chạy, há cho không tin, trả liền cái trước
mắt, đâu không lo sợ ru!?
Kư: Đức
Như Lai c̣n chịu cái quả “mă mạch (99), kim
thương” (100); La-hán chẳng khỏi xà thích
(101), ngạ vong (102). Phương chi bọn
phàm như chúng ta khá chẳng sợ ru!?
Nên kinh Nhân Quả nói “Dẫu trải
về sau trăm ngàn kiếp, chỗ làm nghiệp
trước vẫn chẳng mất, hễ khi nhân duyên
gặp gỡ nhau, tất nhiên quả báo lại tự
chịu”.
Hai câu trên là rơ cái
thời tạo nhân. Hai câu dưới là rơ về thời
chịu quả.
Kinh Nhân
Quả nói đó là dẫn lời
của đức Như Lai thuyếỏt ra.
Giả sử:
ví dẫu, là lập lời tỷ huống.
Trăm ngàn kiếp là cử
lên cái số lớn, để trùm
cả đến đời vô thỉ. Lại,
cử lên chỗ gần để tỷ huống
chỗ xa, biết chỗ xa để rơ chỗ gần.
Chỗ làm nghiệp
là những cái hành nghiệp do nơi thân, khẩu
và ư đă tạo từ trước.
Chẳng mất
là dẫu ít nhất một hào một ly cũng không
sai mất.
Nhân duyên khi gặp gỡ
nghiệp quả nó kéo nhau, hễ cái thời đến th́
tức nhiên phải gặp lấy.
Quả báo lại tự
chịu: Quả là để đền cho nhân,
lẫn nhau vay trả không lầm, nghĩa là tự
tác huờn tự thụ, chứ người khác dẫu
có thay thế cũng chẳng đặng.
Kư: Trăm ngàn
kiếp là thuộc về cái thời quá lâu xa. Sở tác
nghiệp là thuộc về cái nhân cũng lâu xa. Gặp
gỡ là cái thời gần đây. Tự chịu là cái
quả cũng gần đây.
Nói lên trăm ngàn kiếp,
là để cho biết từ vô thỉ, nên nói
“cử cận hướng viễn”; nói lên trăm ngàn
kiếp, là để cho biết hiện tiền, nên nói “tri
viễn hiểu cận” (103).
Quyết biết sự h́nh phạt của tam
giới, nó trăn trói giết người
(thế phàm là người đă biết
cái lư nhân quả, tâm cảnh không mất, th́ phải),
nỗ lực cần tu, chớ bỏ không qua ngày!
Hai câu trên
khiến cho biết cái cảnh khổ. Hai câu dưới
khiến cho biết tu thiện đoạn ác. Nghĩa
là bảo cho biết cái cảnh
khổ mà phải cần tu phương pháp xuất
ly cảnh ấy.
Do v́ chúng sanh cả tam
giới, hễ có sanh ra là chẳng khỏi
các điều khổ lăo, bịnh và tử, nên
nói “h́nh phạt”! (bốn cái khổ lớn ấy nó hành
phạt cái thân ngũ uẩn).
Các điều vọng
hoặc như Cửu kiết (104), Thập
sử (105) nó vấn trói chúng sanh, phải luân
hồi trong tam giới, chẳng đặng ra khỏi,
thế là “hoanh bạn: trăn trói”.
Mọi điều
phiền năo là kẻ thù quân giặc,
v́ nó hay dứt đứt huệ mạng, nên nói
là “sát nhân: giết người!”
Nỗ lực cần tu
là với cái đạo quả vi diệu, phi
kẻ trễ nải biếng nhác
mà có thể chứng được đâu.
Chớ bỏ không qua ngày
là chẳng nên ăn rồi ngồi không,
bỏ mất qua những canh và khắc của quang
âm, mà phải cần học và tu mưu cầu cho
được tiến lên, mỗi ngày đều có
phần thắng lợi.
Kư: Cảnh khổ
là chỗ của chúng sanh chịu quả báo trong lục
đạo giữa tam giới.
Song, cái quả báo ấy
là, do trước kia đă chứa cái ác nhân nên sau
nó mới có; nay mà muốn tránh khỏi cái khổ
quả ấy th́, cần phải đoạn cái ác nhân
đi, đừng tạo ra nữa; muốn đắc cái
vui vắng lặng Niết -bàn sau này th́, nay cần phải
tu cái đạo xuất ly vô thượng. Khổ quả
là cái ác báo của thế gian, Niết-bàn là cái diệu
quả của xuất thế gian. V́ gây nhân khổ th́
gặt quả khổ, tạo nhân vui tất huởng
quả vui!
Tu đoạn
là đoạn ác mà tu thiện. Mỗi ngày có
phần thắng lợi. Chỗ gọi rằng
“Học hỏi th́ cái thiện mỗi ngày có chỗ ích
lợi; hành đạo th́ cái ác mỗi ngày có chỗ tổn
giảm.” Hễ phần ác nó tổn giảm đi th́,
đạo nghiệp càng lên cao; phần thiện nó tăng
ích th́, công học càng tiến lên xa. Tổn ích, tức là tên
khác của tu đoạn (106).
II.A.2.c5-
Tự hành hóa tha
(Vừa tự tu
vừa cảm hóa người).
Rất biết điều quá hoạn
(107), nên mới khuyên nhau hành tŕ; nguyện trăm
kiếp ngàn đời, mỗi chỗ đồng làm bạn
pháp.
Hai câu trên giác ngộ cho ḿnh,
rồi giác ngộ cho người. Hai câu dưới
thệ đồng chúng sanh cả pháp giới.
Thâm tri: biết rất
sâu xa, là tự giác ngộ thấy biết một cách
triệt để.
Quá hoạn
là ngũ dục lạc mà người
bị mê say. Như vị mật ngọt
có giấu chất độc, phi hạng
người có trí th́ chẳng dễ ǵ biết
được! Tức như với “Tam giới hỏa
trạch” chỉ có ông Trưởng giả (Phật)
mới biết được mà thôi.
Khuyên nhau là nghĩa giác tha,
tức khiến cho biết cái khổ
độc để giác ngộ cái hỏa
trạch ấy! Hành tŕ là y theo lời Phật với
Tổ đă dạy mà phụng hành tu đoạn.
Nguyện bách kiếp thiên sanh….
Đấy, chính là Tổ Qui Sơn ngài ngầm biết
suốt cổ kim, phân tích kiếp lâu dài, hiểu sanh tử
vốn không, Niết-bàn như chiêm bao, rơ tất cả pháp
đều tức chân như, khí giới tức pháp
giới, cho đến cả ba tâm, Phật và chúng sanh, không
sai khác nhau. Nên Tổ ngài thệ nguyện rằng “Bách
kiếp thiên sanh … đồng vi pháp lữ’ (108).
Kư: Bách kiếp thiên
sanh đó, là xướng lên nói con số lớn, để
cho người hiểu thấu rằng sanh tử vốn
không, Niết-bàn như mộng. Chẳng ly khai tam giới
mà, vẫn thường ở nơi Hoa Tạng (109),
đồng làm quyến thuộc với Pháp vương
(110) trên con đường đạo Bồ -ñeà, và
sẵn sàng v́ làm thiện hữu mà chẳng đợi
người rước mời, nên nói “đồng vi pháp
lữ”.
Nhẫn trước, phân khoa,
thích cú và lời kư về văn
trường hàng đă rồi; dưới đây,
về văn trùng tụng.
II.B- TRùNG TụNG. Chia ra làm 3
phần:
II.B.1- Phiêu tụng
đề
(nêu tụng lại đề mục)
Năi vi minh viết (bèn - nghĩa là làm lời
minh rằng):
Lời minh (111) đây,
chính là y theo những câu văn trong phần trường
hàng trước kia, mà trùng tuyên nghĩa lại, để
xâu kết làm thành bài tụng, khiến cho các học giả
dễ bề ghi nhớ lấy, hầu trọn đời
chẳng quên vậy.
Song, với câu văn, thứ
lớp trong phần trùng tụng đây, có hơi khác
với phần trường hàng. Vậy, các học
giả bất tất câu nệ theo câu văn mà
để ư xuyên tạc (112), mà chỉ lấy ư
hiểu th́, nghĩa lư đâu chẳng chu tất.
Kư: Minh là cảnh
giới (báo cáo) tức là lời bảo răn, chỗ
gọi là khắc cốt minh tâm, như khắc vào đá
để chẳng quên mất đi. Chừ đây,
đề cử lên đại cương, thâu lấy
cốt yếu, kết làm lời tụng, để cho
học giả dễ bề nhớ đọc vậy.
II.B.2- Tụng giáo
giới. Chia làm 11 phần.
a-
Hoán sắc
b-
Thời tiết
c-
Sanh diệt
d-
Lưu chuyển
e-
ái thủ hữu
h-
Hư sanh không lăo
k-
Vô minh hoặc
l-
Khái thời mạng tốc
m-
Hiện nhân hậu quả
n-
Nhân quả sở do
o-
Tuần hoàn bất tức
II.B.2.a Hoán (huyễn, ảo,
hoạn) sắc (sắc thân giả dối).
Thân hoán nhà mộng, vật sắc giữa
không.
Nhà mộng, vật
sắc đều tỷ dụ cái thân hư hoán
(giả dối). Song, cái nhà mộng là nhân ngủ mê mà có nhà
mộng mị; vật sắc (hoa đốm) là bởi con
mắt bịnh mà có thấy như hào quang, đom đóm.
Bị nghiệp buộc,
mượn tứ đại mà có ra cái thân
vốn không thực, v́ là hư vọng, nên kêu là hoán
(ảo, dối). Như người thế gian làm tṛ hoán
thuật (113): lấy các thứ cỏ, cây, khăn…
hoán thuật biến làm thành người, vật, cầm
thú cử động qua lại, h́nh tướng rơ ràng, khi
mà phép hoán thuật thu rồi th́, người, súc ấy,
toàn chẳng thể có. Thân này không thực, cũng lại
như thế.
Giữa trời đă không
màu vật, trong mộng đâu có nhà hoa, chỉn
bởi quên chân chấp vọng, nên ngủ măi
trường dạ (114) mà chẳng thức
tỉnh (túy sanh mộng tử). Bị cái bịnh ái
kiến (115) nó che con ngươi, nên thấy
giữa khoảng không - có các cái hoa tướng (không hoa)(116)
và mặt trăng thứ hai(117).
Kư: Mặt trăng
thứ hai: Mặt trăng vốn chỉ có một, do con
mắt bịnh của người nên thấy có trùng luôn,
tựa hồ có hai mặt nguyệt.
Hư không và mặt
nguyệt chính, là tỷ dụ cái Pháp thân; hoa
đốm và mặt nguyệt thứ hai là
ví dụ hoán chất (xác huyễn).
Chúng sanh chỉ một
Pháp thân, nguyên không hoán chất, bởi mê mờ theo phần
sắc và phần tâm, nên nhận lầm cái hoán khu bằng
năm uẩn bốn đại làm cái sở hữu
của ḿnh. Tỷ như cái sở kiến trong chiêm bao
(118) măi kiếp luân hồi mà chưa tỉnh thức!
II.B.2.b- Thời
tiết.
Đời trước không tột, đời
sau đâu ngằn.
Đời trước là vô
thỉ. Đời sau là vị lai. Trước đă không
bắt đầu từ đâu, nên nói là không tột (vô
cùng); sau cũng không cuối, nên nói là đâu ngằn.
Nghĩa là tất
cả chúng sanh, với sanh tử từ trước,
bỏ thân nọ thụ thân kia, chẳng thể cùng tột
được biện lượng của những thân và
đời ấy; th́ với sanh tử của những
đời sau, làm ǵ hạn định b́a mé. Chỉ có
chừng nào tâm chẳng sanh một niệm vọng (chính
định vô lậu), th́ mới đoạn hẳn
được b́a mé trước sau (bất sanh bất
diệt).
II.B.2.c- Sanh
diệt.
Mọc đây lặn kia, lên xuống mỏi
mệt!
Mọc là sanh. Lặn
là diệt. Tức là chết thân kia, sanh
thân đây. Lên là siêu thăng sanh lên tam thiện
đạo, tức làm thân người, thân trời và thân a
-tu-la. Xuống là trầm luân đọa xuống tam ác
đạo, tức làm thân ở địa ngục, thân
ở ngạ quỷ và thân súc sanh (súc sanh là sanh vật
bị nuôi, như gia súc và lục súc).
Rất mỏi mệt là cái tâm
thần bị nghiệp (mười thiện mười
ác của hữu lậu) lực xua khiến, mà phải trôi
lăn không dứt nghỉ, thế, đâu chẳng nhọc
nhằn quá ư mỏi mệt ru!?
II.B.2.d- Lưu chuyển.
Chưa khỏi ba ṿng, giờ nào thôi nghỉ.
Ba ṿng là tam giới luân
hồi. Giờ nào thôi nghỉ là do cái nhân
trước, chịu cái quả nay. Với
quả nay, lại tạo thêm cái nhân cho sau nữa.
Cứ măi như thế, hễ bỏ thân
nọ, thụ thân kia, tỷ như con trâu
phá hư cái ách (119). Kiếp sanh tử
đă không biên tế, th́ nào có thôi nghỉ! Duy có hạng
người nào đă phá được cái cảnh không hoa
tam giới, tṛ ảo thuật hai mươi lăm hữu,
mới có thể thôi nghỉ không luân hồi.
II.B.2.e- ái, thủ,
hữu.
Tham luyến thế gian, ấm, duyên nên chất.
Tham luyến tức là ái,
thủ (yêu, lấy). Lấy ấm
và duyên để làm nên xác thân, đó
là nghĩa của chữ hữu. Thế gian
là t́nh thế gian và khí thế gian. T́nh
tức hữu t́nh, v́ có tri giác (tân dịch
là hữu t́nh, cựu dịch là chúng sanh). Khí tức khí
giới (120) như vũ trụ, quốc
độ là vật vô tri giác, Kinh gọi là cơi vô t́nh, v́ không
có t́nh thức; gần là nhà cửa, vật dụng,
vườn ruộng, xa là cơi nước và cả thế
giới.
ấm tức là ngũ ấm.
Duyên tức là mười hai nhân duyên. Do v́ chúng sanh khởi
ḷng tham lam, thương yêu, luyến tiếc đắm
trước lấy hai cơi thế gian là t́nh và khí, thành
thử phải bẩm thụ lấy phụ tinh, mẫu
huyết để tạo nên thân thể, mà nguyên ra cái thân
đây vốn không bởi mượn cả năm uẩn,
mười hai duyên họp tổ mới có, nên nói là thành
chất.
Kư: Khí thế gian là
thế giới h́nh nó như món đồ, mà chúng sanh an
trụ trong đó, tức tam thiên đại thiên thế
giới.
T́nh thế gian
là những chúng do ngũ ấm ḥa hợp thành thân
có t́nh thức tri giác, thực thế.
Kinh Lăng Nghiêm nói “Do
đấy, từ vô thỉ, đối với thế
giới (thế gian), chúng sanh nảy ḷng ràng buộc (tham
luyến), nên với khí thế gian, không thể siêu việt
(giải thoát), thực thế”.
Thế, nghĩa là riêng
cách, cũng là hiện tại, quá khứ và
vị lai. Gian là xăn hở, sai khác, nghĩa
là mỗi mỗi sai khác mà chẳng lầm loạn
nhau (v́ tùy phước, tùy nghiệp thụ dụng khác
nhau).
Song, hai cơi t́nh, khí bổn
lai không có, do v́ vọng tưởng mà kiến
thiết thành lập ra. Kinh Lăng Nghiêm
nói “Tưởng trừng thành quốc độ”. Kinh
Tịnh Danh nói “Từ nơi các gốc vô trụ (tâm), thành
lập ra tất cả pháp – Tam giới duy tâm”. Ngài Thiên Thai
giải thích rằng “Nếu mê quên vô trụ th́, tam
giới, lục đạo, hiện có lăng xăng, nhân
đó mà lập thành tất cả các pháp của thế gian
và xuất thế gian, c̣n nếu mà hiểu chứng
được vô trụ, tức là cả vô thỉ và vô
minh đều phản bổn huờn nguyên, để phát
minh chân tâm và thành Thánh quả”.
Kinh Lăng Nghiêm
nói “Người mà phát minh được chân tâm,
trở về nguồn gốc th́, mười phương
thế giới, thảy đều tiêu tan (121)”.
Đấy là hai cơi t́nh, khí thế gian, đều bị phá
tan, mà cái huyễn chất cũng không thể c̣n nữa.
Đó là nghĩa “t́nh dữ vô t́nh cọng thành Phật
đạo”.
II.B.2.h-
Hư sanh không lăo (122)
(luống sanh
uổng già)
Từ sanh đến lăo, không đặng một
chi!?
Đây là nói cái sanh và cái lăo, v́
sanh mà không ích được sự ǵ, gọi là hư sanh;
già mà chẳng đắc được chỗ chi, nên
gọi là không lăo.
Kư: Một không
chỗ đắc là đối với môn giới,
định, huệ và cả các pháp xuất thế gian,
chẳng được một nào là chỗ để
chơn đứng.
II.B.2.k- Vô minh
hoặc.
Căn bản vô minh, nhân đó
bị lầm.
Tất cả chúng sanh
vốn đủ có cái thực tướng chân
như, tức là minh tâm diệu tịnh. Chỉn
bởi rốt đầu một niệm (điên
đảo: tức nhân ái vi chủng, nạp tưởng
thành thai) biết chẳng đúng như thực, cái tâm
bất giác (mê) dấy động, thoạt nhiên vọng
niệm nổi lên, mơ thấy cảnh giới tên là vô
minh. Đấy tức là cái sanh trước nhất
của vô minh, nó làm cái nhân cho gốc khổ sanh tử (cái
thân) và các nhiễm pháp (mười ác).
Do v́ cái nhân (sanh tướng
vô minh) đó, nó huân tập vào cái tâm thể chân
như, cái nhân tăng trưởng mà thành ra sáu pháp:
a-Tham (tánh cách nó hay nhiễm
trước).
b-Sân (nó lấy những ghét
giận làm tánh).
c-Mạn (tánh cách nó ưa
ỷ ḿnh lướt người).
d-Vô minh (cái tánh của
nó là mê mờ u ám).
đ-Nghi (tánh nó
là đối với các đế lư, dụ dự
chẳng quyết).
e-Bất chánh kiến (với
các đế lư, tánh nó hay điên đảo
xét so, phân ra có cả năm kiến: thân kiến,
biên kiến, tà kiến, kiến thủ
và giới cấm thủ).
Sáu pháp ấy, lại sanh ra
cả các phiền năo như: đại tùy, trung tùy
và tiểu tùy. V́ cái “sanh tướng vô minh” nó năng sanh ra
các chi mạt vô minh, nên gọi nó là căn bản vô minh.
Do v́ cái “căn” đó,
làm mê mờ mất cái tánh viên minh xưa đi, che tối
luôn chân tâm, thành thử, đối với các pháp của
thế gian và xuất thế gian, không thể sáng suốt
đặng, nên bảo nó là vô minh.
Hết thảy mọi loài, nhân
bị cái vô minh ấy, làm mê lầm chân tánh
đi, chẳng thể thấy đạo (chân tâm).
Rồi ra, chỉ tạo tác những cái nhân hữu
lậu (như thập ác và mười thiện hữu
lậu), nên nói là “bị hoặc”.
Nếu người
mà có thể một niệm hồi quang phản
chiếu lại, th́ với trong vô minh ấy
bị chân như un đúc, mà phát khởi cái chánh
tín tu hành, để thành cái nhân tịnh nghiệp. Do cái
tịnh nhân ấy, nó trở lại huân tập vào chân
như, để tỏ rơ được tự tâm,
liền đồng với chư Phật. Đấy, là
chỗ gọi rằng “nhứt niệm tịnh tâm thành
chánh”, tức là Phật vậy.
Kư: Do chẳng
rơ chân như thực tướng, nên vọng niệm
chợt dấy lên, gọi là vô minh. Đă mê mờ chân
thực, nên xưng là hoặc; mê mờ vọng hoặc
đă thâm sâu, thành thử tam nghiệp tưng bừng, nên
tạo cả thiện lẫn ác. Do thiện nghiệp ác
nghiệp đó, nó lôi cuốn đến lục
đạo, để thụ sanh tử bằng mê vọng.
Sở dĩ, tất
cả mọi loài, mê mất chân tâm, rượt theo
vọng niệm, nên với trên cái cảnh chẳng dời
mà luống chịu luân hồi, đến trong pháp
vô thoát mà quấy chịu trói buộc.
Tỷ như: Con tằm
mùa xuân làm ổ kén, để tự buộc giam
ḿnh, con bướm mùa thu nhào vô đèn,
để tự liều cháy xác; lấy hai sợi
tơ năng kiến, sở kiến
để vấn ràng cái ổ kén vô minh, dùng hai
cái cánh vô minh (vi phụ) tham ái (vi mẫu) để
quạt bánh xe lửa sanh tử luân hồi!
Măi từ đời
nọ đến đời kia, niệm nào
niệm nấy tiếp tục nhau, nên chịu sanh tử
luân hồi, không có lúc nào thôi nghỉ!
Nếu người
mà có thể ĺa được vọng
niệm th́, tất cả phiền năo, sanh tử thảy
đều hết nốt.
II.B.2.l- Khái
thời mạng tốc
(Thương
thời, mạng chóng).
Quang âm khá tiếc (123), sát-na chẳng
lường!
Bỏ trống qua
một đời, thế là khả tích!
Cơn vô thường xảy đến, phi nhân
lực có thể xét lường đặng! Chánh chỗ
bảo “nhứt sát -na gian, chuyển tức tức thị
lai sanh”, thực thế.
II.B.2.m- Hiện
nhân hậu quả.
Đời nay trống qua, đời sau bít
lấp!
Nếu đời nay
mà chẳng trồng cái nhân minh huệ, th́ làm
ǵ gặt được cái quả thông đạt
ở tương lai.
Kư: Sất
tắt là lấp che, tức là nghĩa bất thông vậy.
II.B.2.n- Nhân
quả sở do.
Từ mê đến mê, đều bởi
sáu giặc.
Từ
mê là bỏ trống qua. Đến mê là
bị bít lấp. Đấy, cũng là với ba
đời lẫn nhau nói lên vậy. Bởi v́ đời
trước đă chẳng giác ngộ, đến
đời nay lại vẫn cũng hôn mê nữa. Mà chừ
nếu chẳng hiểu rơ th́, cái mê nó lại càng thâm căn
cố đế thêm!
Song, cái mê ấy, phi
có cái ǵ riêng biệt, mà đều bởi
lục tặc khiến nên; tuy rằng sáu giặc khó
đề pḥng, nhưng cái ư nó làm chủ, hễ bắt
được chủ rồi (đắc Diệt tận
định) th́ năm kia đều mất nốt.
Kư: Chẳng rơ tức
là mê. Càng sâu (chuyển thêm) tức là đời
sau, măi cho đến sau đời sau nữa.
Tặc là kẻ làm
giặc cướp, nghĩa là sáu căn chúng
nó thường thường trú trước
lấy cảnh giới sáu trần, làm cho nhiễm nhơ
chân tâm, để rồi cướp của công
đức, là tan mất trí huệ.
Của công đức
(124), lược kể có bảy món: 1-Tín, 2-Giới,
3-Văn, 4-Xả, 5-Huệ, 6-Tàm, 7-Quư. Nhẫn đến
các pháp vô lậu như ngũ căn, ngũ lực,
thiền định…
II.B.2.o- Tuần
huờn bất tức
Qua về sáu đường,
trườn tuột ba cơi.
Nhân quả lần lựa chiêu
cảm nhau chẳng nghỉ, nên nói là văng hoàn (qua về). Quá
mỏi mệt v́ thăng lên ba thiện đạo và
trầm xuống ba ác đạo, nên nói là bồ -bặt
(trườn lên tuột xuống), đều bởi
bị sáu giặc xua khiến, mà phải trôi lăn sáu
ngả, lên ch́m ba cơi, măi không thôi nghỉ!
Kư: Bồ-bặt:
ḅ lết, tức là ḅ lên lết xuống,
nghĩa là thăng trầm. Lại, là h́nh dung cái
cơn kíp vội, lấy ư mà hiểu khá
biết.
II.B.3- Tụng
thị pháp. Chia ra làm bảy phần:
(Trùng tụng
lại khoa thị pháp).
a-
Y sư.
b-
Trạch pháp.
c-
Liễu vọng.
d-
Qui chân.
e-
Tương vong.
h-
Tịch chiếu.
k-
Song dẫn.
II.B.3.a- Y sư (nương
thầy)
Sớm hỏi minh sư, gần gũi cao
đức.
Minh sư: Thầy sáng suốt,
người có thể khiến cho pháp nhăn của ta
được minh chánh. Cao đức: Người có
đức cao, hay khiến cho giới đức của ta được
thanh cao. Sớm hỏi là chẳng nên chần chờ kéo dài
thời gian. Gần gũi là nương theo thầy mà
ở cho được lâu lâu.
Kư: Đấng minh
sư, hay khiến cái huệ quang của ḿnh
được phát minh, nên mới đặng pháp nhăn minh
chánh. Bực cao đức hay khiến giới cấm
của ta sạch sáng, nên đặng giới đức
thanh cao.
Bởi thế, nên các
người học Phật xưa, chẳng nệ
đường xa ngh́n dặm, cũng phải đi t́m
hỏi bực thiện tri thức, sau khi được
gặp tai mắt của đấng tác gia (125) rồi,
liền đem cái bồ đoàn (126) máng lên cao,
bẻ dẹp cây gậy (127), như các
Tổ: Nam Nhạc (128), Kính Sơn (129)
…Nếu rủi mà không gặp được bực
thiện tri thức giúp dạy cho, lại không may mà bị
tà sư làm mê hoặc, đảo loạn th́, trong tâm
dấy tà nhân ngoài thân hành tà nghiệp, đâu có thể
quyết chọn điều phải (chánh thiện), bỏ
những chông gai (tà vọng) được ru!?
Vĩnh Gia thiền sư nói
“May mà gặp đặng bực chân chánh đạo sưV,
rất phải cần tâm thân cận, đời nay, ví
dẫu tham thiền mà chưa triệt ngộ, học giáo
mà chưa thành tài, chứ đă nghe lọt vào lỗ tai,
vẫn làm hột giống đạo rồi, về sau
mỗi đời không sa đọa xuống ba ác thú,
mỗi kiếp chẳng mất cái nhân thân, đến cái
thời đầy đủ nhân duyên, vừa ló đầu
ra, nghe một mà giác ngộ đến cả ngàn, thực
lợi ích phi nhỏ”.
II.B.3.b- Trạch
pháp
Quyết chọn thân tâm, bỏ đồ kinh
cức (130).
Quyết lấy tại tâm,
chọn lấy cái huệ. Hành giả! Phải dùng lấy
cái huệ vô lậu, để chọn lựa
lấy cái thân tâm thanh tịnh, bỏ điều
bất thiện, chọn lấy điều thiện mà tu.
Tỷ như con ngỗng chúa nó lựa sữa mà
uống.
Kinh cức là vô minh vọng
tưởng, ngũ cái, thập tập, với các
điều bất thiện.
Kư: Nước ḥa
chung với sữa, con ngỗng chúa nó uống vào miệng,
th́ tự nhiên nước ra nước, sữa ra sữa,
nó uống sữa mà bỏ nước đi.
Kẻ phàm phu ai cũng
vậy, đều bị hai điều thiện
và ác nó tham họp lẫn nhau, chung chứa trong
ruộng bát thức (131). Hành giả là kẻ tu hành,
cần phải đủ con mắt huệ (132),
để chọn điều thiện mà bỏ
điều bất thiện, khiến cho thâm tâm
được sáng sạch th́, với đạo cách nhau
không xa, đấy là cái “trạch pháp giác (133)” trong
thất giác ư vậy.
Ngũ cái (134): 1.
Tham dục, 2. Sân khuể, 3. Thùy miên, 4. Điều hối,
5. Nghi cái.
Thập tập (135):
1.Dâm, 2.Tham, 3.Mạn, 4.Sân, 5. Trá, 6.Cuống, 7.Oán, 8.Kiến,
tức tà kiến, 9.Uổng: ép đè kẻ lương
thiện, 10.Tụng: tranh luận với nhau về
điều đắc thất.
II.B.3.c- Liễu
vọng (Rơ những
điều quấy dối).
Đời nó nổi phều, các duyên đâu ép.
Giữa cơi đời, tất
cả các pháp hữu vi, dường như chiêm bao, hoán
thuật và mây bay trên không. Pháp hữu vi kia đều do
nơi vọng hoặc mà sanh hiện, toàn không có tánh chân
thực.
Các duyên: Tức thế gian
chư pháp (vũ trụ vạn hữu); nó
đă tự nổi phều (phập phều: vô căn) th́,
đâu có thể làm ép bức. Song, các duyên sự pháp của
đời, đều từ nơi chân tánh tùy duyên mà hiện
thành. Tỷ như nước (chân tánh) tùy theo đồ
đựng hoặc vuông hoặc tṛn (nước chứa:
hồ vuông, ao tṛn, sông dài, bể rộng… sự pháp),
gặp gió (duyên) th́ sóng dợn (sự pháp) hiện sanh ra.
Đứa phàm, bị gió
vọng tưởng làm xao động nơi tánh bổn
nguyên, mà sóng dợn vọt trào, đó rồi thành kiến
theo sóng mà lửng quên nguồn nước, cho nên chấp
lấy sự pháp mà bỏ quên chân nguyên, phải bị
mỗi mỗi sự duyên làm áp bức. Chứ nếu
như người mà chẳng bỏ quên chân tâm th́, tức
nhiên chẳng bị chúng duyên sự pháp kia nó che tṛng lừa
khi đặng.
Kư: Nước
là tỷ dụ chân tánh. Các đồ
sóng dợn là ví chúng duyên. Sự pháp tức
là cảnh vật. Gió là dụ vọng
tưởng.
Người mà biết
sự sự vật vật, tức toàn là chân,
như biết sóng toàn là nước, tức
liễu vọng quy chân, là nói “bất thụ kỳ man: chẳng
bị nó giấu t́nh khi nhau”.
II.B.3d- Quy chân (Trở về
chân tâm).
Xét tột pháp lư, lấy ngộ làm chừng.
Nghiên cứu cốt sao cho
đến vô nghi điền địa là, cái
chỗ mà tâm không c̣n một sự ngờ ǵ nữa.
Chưa được thế, th́ măi cần đi cho
đến thủy cùng sơn tận là, đoạn
hoặc đă cùng, chứng chân đă tận, tức đă
đến bực vô học, vô tu, vô chứng, đến
đó, mới thôi nghỉ việc cứu xét, v́ đă cùng
tận.
Kư: Pháp tức là
pháp sở hữu của tự tâm; chỗ rơ của pháp là
lư. Xét tột như lau bụi trên mặt gương,
hễ bụi bặm hết th́ ánh sáng hiện, nên nói là “lấy
ngộ làm chừng”.
Song, Pháp là nghĩa
quỹ tŕ – Quỹ nghĩa là mặc ư giữ (tŕ)
tự tánh, để làm cách (quỹ) sanh hiểu cho
người. Tỷ như sách đây nó tự giữ tánh
cách giấy trắng mực đen, để làm cách
kiểu cho người thấy mà hiểu là giấy
trắng mực đen, chớ không thể hiểu bằng
thứ ǵ khác.
Mặc ư giữ tự tánh:
Tất cả chúng sanh, đều có cái chân tánh bổn giác
diệu minh, mặc dù lưu chuyển trong sáu ngả,
thụ mỗi mỗi thân h́nh mà, cái giác tánh ấy chẳng
hề mất diệt.
Sanh hiểu: Chúng sanh
được giác ngộ vào cái tri kiến của
Phật, tuy là nhân nhờ thiện hữu tri thức
dạy bảo khai thị cho, nhưng mà thực ra th́ cái trí
hiểu biết là từ nơi giác tánh phát minh ra. Tỷ
như đất nước nó hay nhuần thấm cho
ngũ cốc, cây cỏ để nảy nở ra
mộng, chồi, rễ, đọt, nhưng mà thực ra
th́, những mộng kia đều do nơi hột
giống ấy phát sanh, chứ phi từ nơi đất
nước sanh ra. V́ hột giống là chánh nhân, đất
nước là trợ duyên. Cũng như trí giải là chánh
nhân, thiện hữu là trợ duyên.
II.B.3.e-
Tương vong (Tâm quên nhau với cảnh)
Tâm cảnh đều quên, chớ ghi chớ
nhớ (136)
Tâm tức là nhân; Cảnh
tức là pháp. Chớ ghi chớ nhớ tức
là nhân pháp đều quên (137) nốt.
Đức Tứ Tổ nói
“Tất cả chẳng lưu lại, không thể ghi và
nhớ, rỗng sáng tự soi, chẳng nhọc sức
ḷng”.
Ngài Bàn Sơn nói “Tâm
nguyệt riêng tṛn, sáng nuốt muôn tượng. Sáng phi
chiếu cảnh, cảnh cũng phi tồn. Quang cảnh
đều quên, lại là vật chi?”
“Thí như luyện cây
gươm huơ trên hư không, bất luận đến
đâu hay chẳng đến. Đấy là chốn không
chẳng để dấu, lưỡi kiếm cũng không
khờn mẻ”
“Nếu người mà có
thể được như thỏ, mỗi tâm niệm
(tư tưởng) đều chẳng trụ nơi cái
biết, th́ toàn tâm tức Phật, toàn Phật tức nhân,
nhân Phật không lạ nhau (139), mới là
đạo vậy”.
Kư: Tâm là năng, Cảnh
là sở, nếu biết năng sở đều
chẳng có thực thể. Đốn
ngộ được nhân không pháp không, chợt rơ
vật và ta không nương nhau, mới tin
được cảnh vắng tâm không.
Vô tri (140):
Chẳng trụ nơi cái biết, Kinh nói “Tâm của Thánh
không chỗ biết, mà không chỗ nào chẳng biết,
tức là cái bổn giác tâm thể.
Bổn giác chân tâm: Là tâm tánh
nó vẫn tịch diệt, v́ vốn không trụ
trước nơi cái tri giác, nên mới năng tri năng
kiến; tỷ như mặt gương nó không lưu
những bóng tượng, nên mới có thể soi vật
tượng được. Dẫu rằng hay chiếu
giám, nhưng chiếu giám mà không trụ nơi cái chiếu
giám.
Cái chân tâm khôn thiêng sáng
biết mà vẫn vốn vắng lặng, nên trọn
ngày dù biết mà chưa hề trụ
nơi cái biết. Nếu có trụ nơi cái biết
th́, tức là vô minh rồi, nếu có
trụ nơi cái thấy th́, tức là vọng
tưởng rồi. V́ cái trí thể nó không có cái vô minh và vọng
tưởng. Do v́ vô tri, nên nói “Trí là dù có cái sáng soi cùng
tột đến u vi, mà không chấp lấy cái biết”
II.B.3.h- Tịch
chiếu (Vắng soi).
Sáu căn ḥa vui, đi ở vắng lặng.
Tâm cảnh đều quên,
giải thoát hai chướng. Chiếu cái thể
nó độc lập, dứt hẳn điều
biết điều hiểu, quên cái năng cái sở.
Đặng nơi trong, ứng nơi ngoài,
thế nên được sáu căn tự nhiên ḥa
thuận, siêu thoát chỗ tiển tiển (141),
há chả ḥa vui!
Đi, đứng, ngồi,
nằm, khi hành động, khi chỉ tịnh, đều
là như như, nên nói là vắng lặng (tịch mặc).
Tổ Vĩnh Gia
nói “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói,
nín, động, tịnh thể vẫn yên” thực thế.
Kư: Mắt đối ngàn non,
ḷng nhàn một cảnh, bởi thế sáu căn tự
thuận, tiêu diêu tam giới, giải thoát tứ sanh, không
bị tṛ thanh sắc, cảnh trần lao làm lụy, tâm
thần rảnh rỗi ngoài sự vật, nên nói là duy nhiên
(ḥa vui).
Tổ Vĩnh Gia nói:
Với diệu ngộ (142) và huyền tông (143),
ḷng rỗng ám họp, động, tịnh, ngữ mặc
vẫn thường quy củ (144 (pháp tắc)).
Điềm đạm (145) (lợt lạt) yên
nghỉ trong tánh t́nh, thênh thang lộ bày ngoài thân thể”.
Hoa Nghiêm Luận nói “Chỉ
vắng lặng, nín thinh, tâm tạo ra cái bộ dạng
của đức Như Lai chẳng chấp trước
quyến luyến, là cái lề lối vào đạo hợp
pháp” thực thế.
Rằng Tịch chiếu. Tịch
là thể; Chiếu là dụng. Chỗ tích
cực của đạo, là cùng cực ở
đấy vậy.
II.B.3.k- Song
dẫn
(Đôi
mất, tức đôi bên đều mất hẳn)
Một tâm chẳng sanh, muôn pháp đều
nghỉ.
Chẳng cùng làm bạn với
vạn pháp, người mà đă
tiến đến địa vị ấy th́,
với cả biên tế trước sau, trong
ngoài và trên dưới đều dứt sạch, nên nói
là câu tức (đều nghỉ, là vô sự đạo
nhân).
Kư: Với vạn
pháp ấy, là chỉ con số tổng quát mà, thực ra th́
đă bao trùm tất cả.
Nay đây, nói lên trước
sau là đă bao quát cả thập phương,
tam thế, tất cả sự lư, nội ngoại các pháp,
đều gom nằm gọn trong hai tiếng trước
sau. V́ vạn pháp dù đông nhiều, nhưng không ngoài tâm
cảnh mà, tâm đă không, cảnh đă tịch riêng bày
sờ sờ. Chẳng vướng mảy tơ, nên nói là
“Bất dữ vạn pháp vi lữ”.
Nhứt tâm: Là chân tâm
(146) bổn giác (147) diệu minh (148).
Luận Khởi Tín nói “Chỉ là nhứt tâm, nên gọi chân
như, tâm thể nó ĺa niệm (tư tưởng), nên nói
bất sanh”.
Kinh Lăng
Già nói “Hễ tâm sanh th́ mỗi mỗi pháp
đều sanh, tâm diệt th́ mỗi mỗi pháp đều
diệt”.
Chỗ gọi rằng
“Tâm lạ th́ ngàn điều sai khác đều đua
dấy lên, tâm dứt th́ muôn pháp đều phẳng
bặt; tâm nhiễm th́ có lục đạo, tứ sanh, tâm
không th́ nhứt đạo thanh tịnh”.
Tông Cảnh nói: Sao gọi
là nhứt tâm? - Là cái pháp tánh không hai, đối
với tất cả các pháp, không c̣n có phân biệt
tương đối như chân vọng (thực
dối), nhiễm tịnh (dơ sạch) … nên gọi
là nhứt. Cái pháp tánh không hai chỗ đây, nó thực
chẳng đồng với cái không, v́ tánh nó tự nhiên
rất thần t́nh sáng hiểu, nên gọi là tâm.
Cái thể của nhứt
tâm, dù lại dù đi, vẫn đều
vắng dứt, nên chẳng thể lấy những
hữu vô, xứ sở, để xét tột
được cái dấu vết thiêng u của nó, chẳng
khá lấy những biết, khôn, nói, lường để
bàn luận đến cái thể mầu của nó.
Chỉ
có người nào đă chứng
nhập đến nó th́,
chỉ tại ở tâm ḿnh tự biết lấy
thôi. Người mà chỉn có thể với nội
tâm ḿnh tự quan sát nhứt niệm bất sanh th́, cả
tam giới dường hoa đốm giữa hư không
như bị gió cuốn khói đi mất, sáu trần
dường cái bóng huyễn hóa, như nước sôi
tưới lên băng tuyết tiêu tan.
Chẳng c̣n tam giới
lục trần th́, rỗng rang không bờ mé, chỉ
một chân tâm mà thôi; tâm ấy vốn tự viên minh, nguyên
là thanh tịnh thể, không khởi không sanh, thể nó bất
động, chẳng bị cái sanh tử của lục
phàm làm nhiễm nhơ, không phải cái Niết -bàn của
tứ quả (Thanh văn) làm tịnh sạch. Đây, Tâm
Kinh nói “Bất cấu bất tịnh…”.
Hỏi: Tâm đă duy
nhứt, vọng từ đâu sanh?
Đáp: Số là, bởi ban
đầu lửng quên nhứt pháp giới (chân tâm)
chẳng ngờ vọng động nổi lên mà có ra cái
niệm (vọng tưởng). Tỷ như con
người quá lao lự mà thấy giữa hư không có hoa
đốm hiện ra, lại như ngủ quá mê mà sanh ra
chiêm bao thấy có cảnh này vật nọ. Tức cái mà
“Thấy hoa đốm – Thấy chiêm bao” đó, gọi là
vọng tâm.
Cái vọng tâm ấy, nguyên
không có cái tự thể, chỉ nhân cái cảnh
tiền trần, tùy theo cảnh mà vọng tâm hoặc
có hoặc không. V́ khi mà có cảnh
để đối trước, tức nhiên vọng
tâm sanh ra, khi mà cảnh ấy đi rồi không c̣n
đối trước th́ vọng tâm tức diệt
mất. Mà tâm ấy cảnh ấy, đều chả có
tự tánh, nó chỉ theo nhân duyên dối hợp để
sanh ra.
Tỷ vọng tâm ấy
như bóng tượng trong gương, bóng trăng
dưới nước, kẻ ngu phu nhận lầm cái
bóng ấy cho là thực.
Với cái tâm ấy,
đức Nhị Tổ chẳng an, mà cầu
cái pháp an tâm đối với dưới một
lời nói của Sơ Tổ, liền hiểu rơ cái
“tâm bất sanh” ấy, nên Nhị Tổ thốt lời
tŕnh rằng “Mích tâm liễu bất khả đắc”.
Liền tự biết cái chân tâm: Rỗng trống, khôn
thiêng, sáng suốt, nhiệm mầu, phổ biến tất
cả chỗ nơi, bao hàm cả mười phương
giới.
Đă là tâm nhân cảnh
khởi, nếu cái vọng tâm ấy bất sanh th́,
trước cảnh liền diệt mất, nên nói là câu
tức (đều nghỉ).
Trước kia
nói “tịch chiếu: vắng soi” th́ cũng c̣n là
cảnh trí đều lập; chừ đây cả trí
cảnh suốt lẫn mà đều mất, nên nói “song
dẫn: đôi mất”.
Cả trí lẫn
cảnh đều bặt mất, chỉ c̣n một
cái bổn giác chân tâm vắng diệt không h́nh
tướng, thể nó đồng với chư Phật,
Tổ Vĩnh Gia nói “Cảnh trí ám họp làm một, muôn
đều lụy điều mất, chỉ c̣n cái tông
chỉ huyền diệu”.
Hỏi: Trí mà dẫn
(bặt mất) th́ lấy ǵ để ứng
cơ tiếp vật, cảnh mà vong (chả tồn
tại) th́ làm sao để cảm kia đến ứng?
Đáp: Trí Bát -nhă là không
biết (v́ thể nó là chân không vô tướng); Luận nói
“Trí càng mờ mà soi càng sáng, thần càng lặng mà ứng
càng động, cảnh càng vắng mà ứng càng cảm”.
Biệt Hành Sao nói “Do lư ám họp
với trí, nên đắc tất cả vạn pháp đâu
chẳng là Pháp thân (mà thể của pháp thân là phổ
biến cả sơn hà và đại địa), thế
th́, hễ chúng sanh ở cả mười phương, có
phát Bồ -đề tâm, với tâm thức thanh tịnh
ấy, đâu chẳng v́ ứng hiện để mà
thuyết pháp ư!”
Thế nên, cái thể tánh chân
như đây, dường như viên ngọc ma -ni
(như ư) tùy màu nào hiện sắc nấy. Sao bảo
là vô cảm ứng ru!
Chú Thích
1. Đoạn vọng
chứng chân: Lấy chân trí
đoạn vọng hoặc. Đoạn một phần
hoặc (vô minh hoặc) th́ tâm nó hiển
ra một phần chân lư (Pháp thân hay Chân
như), gọi là
chứng lư. Chứng lư là cái quả đoạn hoặc. Các
tu sĩ của tam thừa từ ngôi kiến đạo
nhẫn lên, mới bắt
đầu đoạn một phần hoặc, từ đó
về sau là bực Thánh giả, c̣n về
trước là nội phàm phu. Kiến đạo: Một trong ba
đạo là ngôi mà, bắt
đầu sanh ra cái trí vô lậu chiếu thấy cái lư chân
đế. Đạo là đạo lộ, tức
đạo lộ của học giả tiến thủ.
Lại, Bồ-tát bên Đại
thừa, với cuối
sơ A -tăng-kỳ, rốt tứ
thiện căn là Thế đệ nhứt pháp Gia hạnh, liền
đoạn được hai cái chướng phiền năo
và sở tri do phân biệt sanh khởi gọi là ngôi kiến
đạo. Tam đạo: 1-Kiến
đạo vị; 2-Tu đạo
vị; 3- Vô học
đạo vị. Ngôi kiến đạo Là từ vô
thỉ lại, ban sơ phát sanh
cái trí chân vô lậu mà quán cái đế lậu để
đoạn tất cả kiến hoặc. Tại nơi Thanh
Văn thừa là ngôi Dự -lưu
hướng ở sau ngôi Thế đệ nhứt pháp gia
hạnh; tại nơi
Bồ -tát thừa là ngôi
nhập tâm của Sơ địa. Thấy cái lư chân
đế: Kiến
đế là chứng ngộ chân lư. Về Thanh Văn th́
quả Dự lưu thấy lư chân đế; về Bồ -tát th́ Sơ
địa thấy lư chân đế. Chân đế: Chân là chân thực
không vọng, chữ Đế
cũng như chữ Nghĩa. Đối với tục
đế nên nói là chân đế. Như bảo pháp thế
gian là tục đế, pháp xuất
thế gian là chân đế. Lại, chân đế là
thực nghĩa trên chân lư; thấy
đế là thực nghĩa của Thánh giả quán
thấy; Tục đế
là thực nghĩa trên tục sự và là thực nghĩa
của phàm phu xét biết (với thực
nghĩa, Duy vật gọi
thực tế).
2. Chấn chiệp.
Chấn: sợ; Chiệp: khiếp mất
hơi thở, là bị uy
thế hiếp đáp. Chấn chiệp ma quân: Làm cho ma quân
sợ khiếp!
3. Thiên ma: Tức là Thiên
tử ma, vị ma
vương ở trên cung trời thứ 6 của Dục
giới, tên là Ba Tuần, có quyến
thuộc nhiều đến vô lượng, chúng thường
làm chướng ngại cho người hành Phật
đạo, v́ cực
thiện hay bị cực ác làm đối phương
thử thách! Kêu rằng
“Đạo cao nhứt xích ma cao nhứt trượng”. Huyên
ứng âm nghĩa 23 nói “Phạm ngữ Mara (Ma-la), dịch
chướng, là ưa làm
chướng ngại cho kẻ hành đạo; cũng dịch là
Sát, thường làm
cho hành giả tự buông lung mà phải tự hại
lấy thân mạng. Ba Tuần dịch ác ái, là tên của ma
vương đương thời Phật Thích -ca xuất thế.
Thời Phật Ca -diếp th́, ma vương tên
là Đầu sư, dịch ác sân…
Thế, biết rằng
kêu tắt là ma, gọi đủ
là Ma -la. Nguyên chữ Ma
bằng chữ Thủ là tay ở dưới, như các chữ
Ma ở các câu Ma -ha-tát, Ma-ha Bát -nhă… Vũ
Đế đời Lương, đem chữ
Quỷ thay v́ chữ Thủ, bởi cho là ma
cũng như quỷ hay làm nhiễu hại người, mà thành ra chữ
Ma của Vũ Đế chế, chứ phi chữ
Ma của tiếng Phạm.
4. á Dương tăng: (săi dê câm). Trí Độ
Luận nói “Vị Tỳ -kheo mà ngu si, nghĩa là, chi là thiện ác, ǵ là tŕ phạm
đều chẳng biết, theo cái tội ḿnh
đă phạm, mà chẳng
biết sám hối, dường
như con dê câm, v́ từ nhỏ
măi đến già chết, vẫn không
biết kêu một tiếng be he!”
5. Điểu thử tăng: (thầy chim
chuột, tức con dơi). Con Dơi là
một vật phi cầm, v́ có bốn cái
cẳng, phi thú, v́ có hai cái cánh. Khi
mà nó lên trên để kiếm ăn, bị
thượng cầm kẽ vạch là thú th́, nó căi rằng: - Tôi cũng
thượng cầm như các anh, v́ có hai cánh
thế này; khi mà xuống
dưới kiếm ăn bị hạ thú phủ nhận
th́, nó căi rằng: - Tôi cũng hạ
thú như các anh, v́ có bốn cái
gị. C̣n nhà sư mà không giữ giới luật, Phật quở là
Điểu thử tăng tức phi tục, v́ đầu tṛn
áo vuông, phi tăng, v́ hành động
như kẻ tục. Bởi thân ở trong chùa mà, tâm rông ngoài
thế. Điểu thử tăng tức Biến bức
tăng…
6. Thốc cư sĩ (cư sĩ sói
đầu): Là Tỳ -kheo phá giới
chẳng hộ chánh pháp, nên bị mỉa
mai rằng Thốc cư sĩ. Lại, Thốc nhân, Thốc cư
sĩ, Thốc nô…
đều là lời quở mắng tăng nhân, v́ bên ngoài th́
tương tợ tăng nhân mà, bên trong th́ tâm
hạnh phi tăng. Lâm Tế Lục chép “Có một hạng
Thốc nô, chả biết
tốt xấu, liêm sĩ ǵ ráo!” Thuyết Văn
Tự Điển nói “Thốc là không tóc”. Trong kinh, Phật quở
Tỳ -kheo phá giới, vô hạnh
kiểm là thốc nhân, hoặc thốc
cư sĩ, do v́ tuy cạo tóc
mà chẳng có cái hạnh xuất gia Sa -môn th́, chỉ là
người tục sói đầu thế thôi. Kinh Niết -bàn cuốn 3 nói
“Phá giới, chẳng hộ
chánh pháp, gọi là Thốc
cư sĩ”.
7. Làm sự buôn bán: Kinh Lăng Nghiêm
nói “Bi phán Như Lai chánh pháp” nghĩa là nương tựa
trong giáo pháp của ta, hóa Phật pháp
thành ra mối hàng, để tham lấy
lợi dưỡng. Như thầy cúng, thầy đám
lănh sát đàn tràng, đem Phật
tượng treo lên, bày kinh, sám, chuông, mơ, có giá ăn
tiền, v́ một ngọ
là bao nhiêu bạc, tụng một
phẩm là mấy chục tiền… Nên bị đời
gọi các sư ứng phú là các ông thợ tụng, v́ nghề
tụng tán chuyên nghiệp. Bi: Phụ tá, phụ thuộc, tức
nương dựa, hay nhảy dù. Phán: mua một giá
rẻ, bán lại
bằng giá mắc. Tấc bước chẳng dời, như những
lời thành ngữ “đánh cho chết cái nết cũng
không chừa!”, “ngựa quen
đường cũ không chừa!”
8- Bích lập thiên
nhẫn (vách đứng
ngàn nhẫn): Bờ vực
đứng dựng, nói là vách. Tùy
thư nói “Núi dựng như vách ngh́n tầm”. Theo Kinh chú
rằng “Thân núi chỉ toàn bằng đá, như vách
đứng ngàn nhẫn”. Nhẫn: Xưa dùng
thước nhà Châu, tám thước là
một nhẫn. Kinh điển thư nghĩa nói: một nhẫn là
bảy thước. Tiểu Nhĩ Nhă nói: một nhẫn
bốn thước. Tại đây nói “vách đứng ngàn
nhẫn” tỏ ư nghĩa là lập chí kiên cố độc
lập, như vách cao
đứng sựng giữa hoàn cảnh lục trần, đừng cho nó
ngă trụ vào đâu, cảnh trần
cũng không duyên vào, như
người không leo lên vách đá ngh́n nhẫn
được.
9. Vịnh ngâm: Tuồng tập
về hoa nguyệt, hay là tiểu
thuyết ái t́nh, sách vở khiêu dâm, không đặng
vịnh ngâm.
10. Tửu sắc tài khí: Sách Thông Tục
biên “ông Dương Bĩnh thường nói: Ta có ba
điều chẳng làm, là tửu, sắc và tài”.
Đời nay người ta thêm cái “khí” thành “tửu
sắc tài khí” là tứ đổ tường: bốn vách, đă thành lời
thường nói, bắt
đầu từ đời nhà Minh. Khí: làm hơi, làm bộ, tức khí khái, phách lối, kiêu căng, cống cao, ngă mạn
đều là khí cả.
11. Ngũ quan. Quan: thể; tai, mắt, miệng, mũi và thân là
ngũ giác quan của nhân thân, nghĩa là
đều có chức chưởng chủ biết. Ty: chủ. Như
nhăn ty thị giác: mắt chủ
biết xem, tai chủ
biết nghe, mũi chủ
biết hửi, lưỡi
chủ biết mùi, da thứa chủ
biết đụng chạm, cả năm
đều có dây thần kinh liên thông lên năo hảỷi, đều có
chức chưởng chủ truyền bảo với
hiện tượng bên ngoài. Nhà Phật gọi là ngũ
căn: nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt và thân.
12. Truy điền: Tức là truy
điền y, Truy là Truy y, đồ bận
của Tăng gia. Truy điền tức như tăng
viên. Tăng Sử Lược chép rằng “Xứ Tinh
Bộ U Châu người ta ưa chuộng màu đen, nếu Tăng mà
bận quần áo đen rất là phi pháp! Sao vậy? V́ hắc là
nhuộm thực đen, một trong
năm màu chính của ngũ phương mà hắc sắc
thuộc về phương bắc, Phật không cho
chư Tăng bận chính sắc của năm màu ấy, chỉ nên dùng
hoại sắc, nghĩa là làm cho
hư hoại cái màu chính để mà, dùng bằng phi màu, như thâm thâm, lem lem chẳng
hạn. Hỏi: Thế th́ Truy y là
trạng mạo nó như thế nào? Đáp: Đỏ mà
hơi ửng đen thâm thâm.
13. Một ky đất: Kinh Thư chép
“Đắp ḥn núi cao chín nhẫn, c̣n kém một ky
đất”. Chú: đắp núi tuy
đến chín nhẫn, nếu thiếu
một ky mà bỏ đi th́ cũng chẳng thành núi.
Đấy là ví dụ công lao bị thất bại vào lúc
sắp thành.
14. Đốn ngộ: Có một hạng
đại tâm chúng sanh (Đại Bồ -tát) chỉ nghe ngay
pháp Đại thừa, tu ngay pháp
Đại thừa, chứng ngay
quả Phật, thế là
đốn ngộ; ban đầu
học tu đắc quả Tiểu thừa, sau hồi
đầu vào học tu Đại thừa cho
đến quả Phật, ấy là tiệm
ngộ.
15. Siêu hẳn giai cấp.
Giai cấp: thềm, bậc, cái thềm chung
quanh nhà, mà xây có từ
cấp tức bậc bước từ bậc mà lên, là thập
cấp. Phàm sự vật quan phẩm, tu chứng, cũng
đều có từ đẳng từ cấp. Người
phát tâm xuất gia tu Phật, dần dần
chứng quả, như trải qua
mười tín, mười
trụ, mười
hạnh, mười
hồi hướng, mười
địa, Đẳng giác, Diệu giác, Viên giác tức
Phật học tu chứng quả như thế, gọi là tiến
lên từ giai cấp. Trái lại, chỉ nhứt
văn thủ ngộ, tức
đốn ngộ, như trên đă
dẫn, nên nói siêu hẳn
giai cấp.
16. T́nh thức: T́nh: cái tánh nó phát
lộ ra ngoài h́nh sắc, nói là t́nh, như kinh Lễ
nói “Hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn, gọi là thất
t́nh”. Lại, ngũ t́nh tức
năm thức trước. Thức: cả thức, ở đây nói
“t́nh thức quên hết” là đă chuyển thức thành trí, th́ t́nh thức
đều không c̣n, v́ đă hoàn toàn
bị thành trí, nên nói “tức
đồng với Phật”.
17. Sáu kinh: Sáu bộ kinh sách
tức kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, kinh Xuân Thu, kinh Lễ và kinh
Nhạc. Kinh Nhạc bị tiêu mất từ nhà Tần (v́ Tần Thỉ
Hoàng, phần thư
khanh nho), nên kinh Nhạc
không c̣n truyền nữa.
18. Rừng nhu: Sách Lễ Nhu Hành
Thích Văn nói “Nhu là ưu tú, là ḥa nhă”. Là nói có
thể làm an cho người, có thể phục
vụ với người. Nhu Lâm: Chỗ các nhà Nho
tụ hội đông đảo như lùm rừng nên nói nhu
lâm. Sử kư Thái Sử Công tự rằng “Từ Khổng
Tử mất, tại kinh sư
không c̣n chuộng nhà tường nhà tự nữa; duy trong khoảng
niên hiệu Kiến Nguyên nguơn thú, nghề văn
chương từ cú rất rỡ ràng, trứ tác
được bộ Nhu Lâm truyện 61 quyển”. Từ
đó về sau Sử, Thư đều
có truyền Nhu Lâm là đầu từ đây.
19. Hương trầm
thủy: gọi tắt là
trầm hương. Lời chú sách Bản Thảo, dẫn lời
của Thời Trân nói: Cây hương này
trong lơi có đốt, (mắt), cái đốt
ấy để vào nước th́ ch́m, nên gọi là
trầm thủy hương, ch́m chừng phân
nửa là sạn mộc hương, không ch́m là hoàng
thục hương.
20. Xạ hương,
hoắc hương. Xạ hương: Con xạ, giống con nai mà
không có gạc, lông dài, màu xám tro. Con
đực răng như răng chó mà ló ra ngoài mép.
Dưới bụng có cục da lớn bằng trứng gà
do mỡ kết tinh mà thành, mùi nó thơm
rất xẳng. Hoắc hương: Cộng vuông, có lóng, trong tồng
phổng, lá cộng
đều có hơi thơm, được
nhập với thuốc bắc.
21. Thầy ác tục: Là các ông sư mà
tập theo ác tục, phóng túng tửu
nhục, thê thất
lại tự cho là không chướng ngại đạo, nên ví các ông như
các ông Tỳ -kheo ở xứ
Bắc sông Hà cũng tập tục theo nghề bắt
rắn để sống. Không nhân: a-Người ở
trong không môn tức cửa chùa, là chỉ cho các
Tỳ -kheo xứ Bắc
sông Hà… b -Người
chấp cái không lư của Đại thừa rồi nói càn
làm bướng, nên gọi là không
nhân. Thế là không lư của Đại thừa trở thành
ra cái tà không của ngoại đạo hóa. Vô cấm tróc
xà. Cấm: cấm chế, bắt rắn
độc nhờ có cái phép hạn chế, nghĩa là, dùng củ nén thoa
hai tay, lấy cây gậy
sắt, trước
đè nơi cổ, kế lấy tay
nắm cái đầu của nó, thế, gọi là “hữu
cấm tróc xà” có cái cách cấm chế để bắt
rắn. Trái lại, nếu chẳng y
pháp thuật ấy, chỉ vội
vàng chụp bắt bằng tay không, tất bị nó
cắn, nọc (nọc độc
ở tại hai cái răng cấm của nó) độc
chạy lên trào bọt ra miệng mà chết. Thế, gọi là “vô
cấm tróc xà”. Đây, là thí dụ
Tỳ -kheo không có các
chế pháp bằng quán trí, lại nói
bướng cái không ly (vô cấm tróc xà) buông lung ngũ
dục (độc xà
cắn)! Rút ở kinh A -lê-tra. Sách Chỉ Quán
quyển 2 nói “Hai xứ miền Bắc sông Hoài sông Hà, có người tà
không, hành pháp
Đại thừa, tỷ như không
có cái thuật cấm chế mà, chỉ hai tay không
dám bắt rắn độc”. Sách Phụ Hạnh nói: Hai xứ Hà
Bắc, Hoài Bắc, có người tà
không (Hà Bắc không nhân) lệch về
không lư, lạm xưng là
tu Đại thừa, không có cái quán trí
mà vào nơi ác không (chấp không lư mà
chẳng có quán trí, nên gọi là ác
không), nên lấy dụ
“Không thuật cấm chế mà bắt rắn bằng tay
không để thí tỷ đó. Ḷng tham dục tỷ là
độc xà, quán pháp ví như
cấm chế lấy phép quán để quán xét ḷng tham
dục như bắt rắn, bốn câu bất
thiện như về cấm”.
22. A-lê-tra: Tên của một
Tỳ -kheo. A-lê-tra, dịch Vô
Tướng. Luận Tát Bà Đa nói “Người này
trước là đệ tử của ngoại đạo, vâng lời
thầy dạy vào trong Phật pháp, đem Phật
pháp nói đảo loạn. Người này bẩm tính thông
minh, chẳng bao lâu, học suốt
tam tạng, rồi nói
đảo loạn rằng “Sơ quả, Nhị quả, đều có thê
tử, cũng chẳng
chướng đạo”. Bịa lời ấy để
tự tỷ đề cao ḿnh, và ác ngôn rằng
“Tuy hành dâm dục, cũng không
ngần ngại ǵ với đạo đức”. Song, y tự hành
chướng đạo mà chẳng thể chướng
đạo, v́ chúng nhân ai
cũng chẳng nghe theo…
23. ác giác: Là tư
tưởng ác. Sách Đại thừa nghĩa chương
cuối quyển 5 nói “Cái tâm tư tưởng gọi là
giác; trái với chánh lư, nên gọi là ác.
Song, ác giác nó có
những tánh cách bất đồng với nhau nên riêng
rời có tám thứ”. Sách Chỉ Quán cuốn 5 nói “Tám gió ác
giác, là chỗ
chẳng thể vào”. Bát phong: Tám gió, tức: Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ và lạc.
Sách Đại Tạng Pháp Số chép: Tám điều
ấy, người trong
thế gian chỗ ưa chỗ ghét mà, nó hay phiến
hoặc ḷng người, nên gọi là gió.
24. Uẩn tố tinh thần: Chứa tinh
thần sẵn. Tố: cố hữu, sẵn có. Sách
Trang Tử chép “Tháo tuyết tinh thần”: gội rửa
tinh thần. Linh khí của con người gọi là tinh
thần. Đời nay, người ta
gọi chung chỗ tinh vi của sự vật là tinh
thần. Sách Phật gọi tinh thần là tư
tưởng mà, tư
tưởng có chánh có tà… ở đây nói “chứa tinh
thần sẵn” th́, tinh thần này
chính là cái năng lực của chánh niệm, tức là “chánh
tư duy”.
25. Hối: Mờ tối, tự giấu
thanh danh, như ở
ẩn chẳng cầu ai đồn đăi, nói là dưỡng
hối.
26. Thần khuất mặt: Kẻ khuất
mặt là vị thần Bổn Cảnh, v́ con mắt
thịt của nhân gian không thể trông thấy
được, nên gọi là
khuất mặt. C̣n con mắt của quỷ thần th́
chỉ thấy cái tâm niệm (tư tưởng) của
người chứ không thể thấy được h́nh
tướng của người. Xưa có vị Tổ
xuống nhà trù, thấy món
đồ bị bể, khởi niệm
lên quở ông thủ khố… chợt có vị thần
Bổn Cảnh quỳ gối chắp tay trước
mặt; Tổ hỏi: - Ngài có việc chi? Thưa rằng: - Đến đây
đă mấy năm, chực măi
hằng ngày, để trông
thấy Tổ cầu quy y mà không được thấy, v́ Tổ tâm
thường ở trong định; nay nhờ Tổ
khởi niệm quở viên thủ khố, nên tôi mới
được nhân thây tâm niệm mà thấy luôn pháp
tướng của Tổ, và nhân cơ duyên
cảm ứng nên Tổ cũng thấy được thân
căn của tôi…
27. Trưởng dưỡng Thánh thai: Trưởng dưỡng: là với công đức thiện căn, cần sanh trưởng dưỡng dục vậy. Kinh Hoa Nghiêm cuốn 14 nói “Ḷng tin là mẹ công đức ở đầu đạo, v́ hay trưởng dưỡng cả các thiện căn”. Thánh thaiLà ba ngôi Hiền tức mười trú, mười hành, mười hồi hướng đồng gọi là bực được trưởng dưỡng Thánh thai. Bởi v́ lấy tự chủng tánh làm nhân, thiện hữu làm duyên, nghe chánh pháp rồi, lo tu tập trưởng dưỡng, măi đến bực Sơ địa mới thấy đạo,