Qui Sơn Cảnh Sách

Tỉnh Việt Đông, núi Đảnh Hồ, thầy Sa-môn Thích Hoằng Tán Tại Tham chú giải.
Kẻ môn nhân, thầy Tỳ-kheo hiệu Khai Huưnh làm lời kư.

Ḥa Thượng Thích Khánh Anh dịch

 

http://www.tangthuphathoc.com/hlink/line.gif

 

Quyển Thượng

LỜI TỰ VĂN QUI SƠN CẢNH SÁCH

Giải thích từ câu, lời kư

Sanh tử cũng là việc lớn, v́ cơn vô thường (chết) chóng mau! Thế, người học đạo, với mỗi giờ, mỗi phút phải lấy đó làm điều nhớ lo.

Ôi! Ngày tháng dễ trôi qua, bằng chẳng nhắc nhở lại cho th́, khi c̣n sống chẳng tu, đến lúc chết đem chi theo!?

Khốn nỗi, cứ mải miết theo cái thói đê hèn là, đă tham của cải, lại tham uống ăn, thực là khá hổ!

Chạnh v́ tệ đoan ấy mà, buộc phải chép văn Qui Sơn Cảnh Sách đây ra đời vậy.

Tại núi Đảnh Hồ(1), Tổ Tại Tham Ḥa thượng, Ngài khắp nêu đạo mầu, dạy bảo người đến học, cặn kẽ rất hậu, chỉ vẽ đủ điều.

Chợt một bữa nọ, đại chúng thỉnh cầu Tổ sư (Hoằng Tán) vạch chỉ tông thú của văn Qui Sơn Cảnh Sách.

Tổ Sư dùng cái trí huệ vô ngại phân rành, thỏa măn được ḷng khát vọng của đại chúng.

Nhân đó, đại chúng lại yêu cầu Tổ Sư chia ra từ khoa giải thích từ câu, làm cho ư chỉ văn Cảnh Sách được rỗng suốt.

Đối với văn Cảnh Sách, vô luận bực thượng triết hay trung lưu, đều có thể noi theo tu học, để đồng đến nơi đạo quả.

Người đệ tử bực thượng túc(2) của Tổ Sư là ông Thạch Tiễn Khai Huưnh, ghi những lời của Tổ Sư giảng diễn ngày trước, đem chú kư nơi sau mỗi bài. Như gấm thêm hoa, tựa dầu giúp sáng.

Thế là sách đây cả có sự lợi ích cho kẻ hậu học nên chẳng phải việc nhỏ vậy.

Phàm những người đọc sách đây như thấy được Tổ Qui Sơn mà, cũng như thấy được Tổ Tại Tham Ḥa thượng cùng với Tổ Qui Sơn dầu khác miệng mà đồng tâm, năng xét đến “hết sức v́ người” của Phật Tổ từ trước, để cùng đại chúng khuyên nhủ, nhắc nhở nhau.
Thuở xưa ngài Đại An thiền sư nói “Ta ở tại Qui Sơn suốt ba mươi năm từng chăn con thủy cổ ngưu(3), nay nó biến làm con lộ địa bạch ngưu(4), thường ở trước mặt, trọn ngày bày sờ sờ, đuổi cũng chẳng đi(5)”. Đấy, thực khá gọi năng tự siêng gắng lấy ḿnh ấy vậy.
Ta nguyện vọng cho cả người học đạo trong thiên hạ đều lấy cái yếu sách của ngài Đại An thiền sư(6) đó để tự sách phát lấy tinh thần của ḿnh.

Đệ tử Quảng Duệ
Viết tại chân núi Phong Ngu, tỉnh Hắc Long Giang, tháng Chạp, năm Canh Tư (1660), niên hiệu Thuận Trị (vua Thế Tổ), năm thứ 17 nhà Thanh.


CHÚ THÍCH
1. Núi Đảnh Hồ: Vị trí tại phủ Đoan Châu, nay là huyện Cao Yếu, tỉnh Quảng Đông. Trên đảnh núi có cái hồ, khi trời tạnh nắng hễ có luồng mây bao vận trên hồ th́ mưa; đương lúc trời mưa mà có luồng mây vần phủ trên hồ th́ tạnh nắng, nên gọi là Đảnh Hồ Sơn, hoặc Đảnh Hồ Tự và Khánh Vân Tự.

2. Thượng túc: Là danh từ mỹ xưng đối với đệ tử của người. Kinh Phật Thuyết Vô Úy Nữ nói “Bọn đây đều là đệ tử thượng túc (đệ tử lớn) của đức Thích-ca Như Lai”. Vương Bột Văn chép “Với bực thượng túc của Thiền sư, tay lănh tụ trong pháp môn”.

3. Thủy cổ ngưu: Con trâu đen dưới nước, tức ám chỉ cái vô minh. Thủy: nước, bắc phương nhâm quí thủy, kư sắc hắc, nên thủy là nước màu đen, chỉ cho vô minh hắc nghiệp mà, gọi là con trâu đen, tức cũng là cái vọng tâm. Lại nước cũng ám chỉ là sông mê, bể khổ.

4. Con lộ địa bạch ngưu: Con trâu trắng (c̣) trên bờ, tức tượng trưng cái giác tánh. Địa: đất, tức giác ngạn. Lại, cổ ngưu dùng nghĩa là kẻ đă cát ái từ thân, xuất gia bạch nghiệp chơn tu, như nói rằng cổ ngưu, bạch ngưu.

5. Đuổi cũng chẳng đi: Người xưa, một lần chứng là chứng măi, một lần đắc là đắc luôn, không hề lui mất, v́ vô minh đốn tận, giác tánh siêu nhiên, nên nói trọn ngày bày sờ sờ trước mặt, đuổi cũng chẳng đi.

6. Đại An thiền sư: Sách Truyền Đăng Lục nói “Ông Đại An thiền sư, người ở phủ Phước Châu, đến yết kiến Tổ Bá Trượng rằng “Người học đạo, muốn biết Phật th́, phải như thế nào là đúng?” Tổ dạy “Giống hệt cỡi trâu t́m trâu”. Sư hỏi “Sau khi biết rồi như thế nào?” Tổ dạy “Như người cỡi trâu về đến nhà”. Sư hỏi “Thỉ chung giữ ǵn làm sao?” Tổ dạy “Tỷ như mục đồng cầm roi, dây chăn coi đó, chẳng cho nó xâm phạm lúa mạ của người ta”. Từ đó, Sư đă lănh hội được diệu chỉ, lại chẳng phóng ư rông t́m. Ngày nọ, Sư lên giảng đường tự trần rằng “Đại An này, ở tại núi Qui ba mươi năm, đói th́ ăn cơm của Qui Sơn, đại tiện trên chỗ phẩn của Qui Sơn, chẳng học thiền của Qui Sơn, chỉ giữ coi một con thủy cổ ngưu, nếu trâu nó đi lệch đường vào rau cỏ, th́ kéo nó ra, hoặc nó xâm phạm lúa mạ của người th́ quất roi, tập luyện đă lâu, khá thương đời sống của nó. Mà nay nó biến hóa ra con bạch ngưu trên đất g̣, thường ở trước mặt, trọn ngày bày sờ sờ, dù đánh đuổi nó cũng chẳng chịu đi đâu”.

Con trâu là ư thức và sáu căn. Dây và roi là giới cấm. Coi trâu là giữ giới. Nghĩa là chẳng cho sáu căn và ư thức trú trước xâm phạm nơi lúa mạ sáu trần và tham lam phân biệt chấp trước này nọ…

BIỂU HUYỀN KHOA, MỤC
I- Đề mục phân hai:
I.A- Nhân
I.B- Pháp
II- Bổn văn phân hai:
II.A- Trường hàng
II.B- Trùng tụng
II.A- Trường hàng phân hai:
II.A.1- Giáo giới
II.A.2- Thị pháp
II.A.1- Giáo giới phân chín:
II.A.1.a- Nghiệp nhân quả khổ.
II.A.1.b- Sanh lăo bệnh tử.
II.A.1.c- Sanh diệt thời tốc.
II.A.1.d- Vi tục nhập đạo.
II.A.1.e- Danh lợi thất đạo
II.A.1.h- Khải thị tam học.
II.A.1.k- Bất tu học quá.
II.A.1.l- Nghiệp quả thời thục
II.A.1.m- Sách lệ khuyến tu
II.A.2- Thị pháp phân ba:
II.A.2.a- Đạo hạnh
II.A.2.b- Thiền giáo
II.A.2.c- Kiết khuyến
II.A.2.a- Đạo hạnh phân sáu:
II.A.2.a1-Lập hạnh
II.A.2.a2- Trừng giới
II.A.2.a3- Cầu đạo
II.A.2.a4- Trạch hữu
II.A.2.a5- Kiết hối
II.A.2.a6- Tiềm tu
II.A.2.b- Thiền giáo phân hai:
II.A.2.b 1.Thiền học
II.A.2.b 2.Thiền lư
II.A.2.b1- Thiền học phân hai:
II.A.2.b1a- Thị pháp
II.A.2.b1b- Tán miễn
II.A.2.b2- Thiền lư phân hai:
II.A.2.b2a- Thị giáo
II.A.2.b2b- Giới miễn
II.A.2.c- Kiết khuyến phân năm:
II.A.2.c1- Khải phát
II.A.2.c2- Thị giáo
II.A.2.c3- khuyến miễn
II.A.2.c4- Hiển thị nhân quả
II.A.2.c5- Tự hành hóa tha
II.B- Trùng tụng phân ba:
II.B.1- Phiêu tụng đề
II.B.2- Tụng giáo giới
II.B.3- Tụng thị pháp
II.B.2- Tụng giáo giới phân mười một:
II.B.2.a- Hoán sắc
II.B.2.b- Thời tiết
II.B.2.c- Sanh diệt
II.B.2.d- Lưu chuyển
II.B.2.e- Ái thủ hữu
II.B.2.h- Hư sanh không lăo
II.B.2.k- Vô minh hoặc
II.B.2.l- Khái thời mạng tốc
II.B.2.m- Hiện nhân hậu quả
II.B.2.n- Nhân quả sở do
II.B.2.o- Tuần hoàn bất tức
II.B.3- Tụng thị pháp phân bảy:
II.B.3.a- Y sư
II.B.3.b- Trạch pháp
II.B.3.c- Liễu vọng
II.B.3.d- Qui chân
II.B.3.e- Tương vong
II.B.3.h- Tịch chiếu
II.B.3.k- Song dẫn

QUI SƠN CẢNH SÁCH
Thích nghĩa từ câu và lời kư

QUYỂN THƯỢNG

Tỉnh Việt Đông, núi Đảnh Hồ, thầy Sa-môn Thích Hoằng Tán Tại Tham chú giải.

Kẻ môn nhân, thầy Tỳ-kheo hiệu Khai Huưnh làm lời kư.

Sắp giải thích văn Cảnh Sách đây, phân làm hai khoa lớn: Sơ, giải thích đề mục. Thứ, giải thích bổn văn.

 

GIẢI THÍCH ĐỀ MỤC
Phân làm hai:
A- NHÂN
B- PHÁP
A- NHÂN, LÀ TỔ QUI SƠN

Đề mục có bốn chữ là Qui Sơn Cảnh Sách. Hai chữ Qui Sơn là người năng nói; hai chữ Cảnh Sách là pháp bị nói. Nhân, th́ dùng tên núi làm xưng hô; pháp, th́ lấy văn Cảnh Sách làm danh mục.

Với người mà dùng tên núi để xưng danh là như thế, vị trí núi đây ở về phía Tây Bắc quận Trường Sa, nhân Tổ Sư Linh Hựu trú tŕ tại đó, người đời v́ tôn trọng Tổ, nên không dám gọi là Linh Hựu mà tôn xưng là Qui Sơn.

Pháp húy của Tổ Sư là Linh Hựu, họ ngoài đời là họ Triệu, người xuất thân tại đất Trường Khê, vịnh Phước Châu (Phước Kiến).

Năm lên mười lăm tuổi, xả tục xuất gia. Năm lên hai mươi tuổi thụ giới cụ túc. Chuyên tinh nghiên cứu các kinh điển Tiểu thừa, Đại thừa.

Năm lên hai mươi ba tuổi, qua tỉnh Giang Tây, tham yết Tổ Bách Trượng Đại Trí Hoài Hải thiền sư. Vừa một phen thấy, Tổ Bách Trượng cho vào tịnh thất hầu Tổ, thành thử được ở đầu lớp tham học.

Bữa nọ, lúc đứng hầu bên Tổ Bách Trượng, Tổ bảo Linh Hựu bươi ḷ lấy lửa; Linh Hựu bươi rồi thưa rằng không có lửa.

Tổ Bách Trượng tự đứng dậy đi bươi sâu tận đáy ḷ, có đặng chút lửa, gắp dở cao lên mà bảo rằng “Sư nói rằng không có lửa, chớ cái này là thứ ǵ?”

Sư Linh Hựu nhân đó mà được giác ngộ vào cái lư “không trung diệu hữu”, liền làm lễ để kính tạ và tŕnh bày cái chỗ vừa giác ngộ ấy.

Tổ Bách Trượng dạy phân rằng “Đấy là mới tạm thời mà đă chia đường mê giác rồi.” Kinh nói “Muốn biết nghĩa Phật tánh, phải xem thời tiết nhân duyên, hễ nhân duyên đă đến như mê chợt ngộ, dường quên thoạt nhớ, mới biết là vật sở hữu (Phật tánh) của ḿnh, chẳng từ ai cho được”. Nên Tổ Sư nói(1) “Ngộ liễu đồng vị ngộ” (Ngộ rồi đồng chưa ngộ(2)), v́ không tâm cũng không pháp, chỉ là không c̣n các cái tâm phân biệt, nào là phàm, nào là Thánh, tâm pháp vô phân biệt ấy, xưa nay nguyên vẫn sẵn đủ. Chừ Sư đă được thế, khéo tự giữ ǵn lấy”.

Sau đó, sư Linh Hựu sung lên chức Điển tọa.

Bấy giờ, có nhà cư sĩ, họ Tư Mă(3), tu hạnh đầu- đà(4), từ tỉnh Hồ Nam đến viếng Tổ Bách Trượng và tŕnh bày rằng “Vừa rồi, con ở tỉnh Hồ Nam, có t́m đặng một quả núi, tên là Đại Qui, là chỗ ở của một ngàn năm trăm người thiện tri thức, v́ địa linh tất sanh nhân kiệt như thế”.

Tổ Bách Trượng hỏi “Lăo tăng qua trú tŕ đó được không?”

Tư Mă Đầu Đà thưa “Chẳng phải chỗ Ḥa thượng ở”.

- Sao thế?
- Dẫu Ḥa thượng ở đó, đồ chúng không đủ một ngh́n, v́ Ḥa thượng là người xương (già), mà núi kia là thịt (trẻ).

Tổ Bách Trượng bảo thị giả kêu Thủ tọa(5) đến hỏi Tư Mă Đầu Đà rằng “Với núi kia, người này thế nào?”

Tư Mă Đầu Đà yêu cầu thầy Thủ tọa tằng hắng mấy tiếng và đi vài bước thử coi, rồi Tư Mă Đầu Đà nói “Chẳng thể đặng, v́ nhân cảnh không xứng nhau”.

Tổ Bách Trượng lại sai Đạo Hầu kêu Điển tọa(6) đến và hỏi…, Tư Mă Đầu Đà mới thấy lần trước nhất, bèn nhận ngay rằng “Đấy, chính là ông chủ của Qui Sơn”.

Đến tối, Tổ Bách Trượng kêu sư Linh Hựu vào tịnh thất phú chúc rằng “Ta có bổn phận hóa duyên tại chốn này, c̣n Qui Sơn kia là thắng cảnh, Sư phải đến đó để nối dơi tông môn của ta, rộng độ lớp hậu học”.

Sư Linh Hựu vâng lời, qua trú tŕ nơi Qui Sơn.

Núi đây đảnh cao chót vót, cây mọc chần vần, suối hang sâu tột, chu vi ước có mấy ngh́n trăm dặm, làm hang ổ cho các loài thú dữ như gấu, beo, cọp, đây ít có dấu người.

Hằng ngày sư Linh Hựu chỉ bạn cùng vượn, khỉ. Mỗi bữa lượm trái cây tượng lật(7) (cây keo su) rụng để ăn thay v́ cơm cháo. Măi thế trải qua sáu, bảy năm nhân dân ở làng gần núi ấy lần lần nghe biết, hiệu triệu nhau một số đông người, tự động lên núi, cùng kiến thiết thành ngôi chùa, cúng dường tổ Linh Hựu.

Do đó, hóa đạo của Ngài truyền khắp trong thiên hạ quanh vùng, lớp thiền học rần rộ. Bèn lập thành một tông Qui Ngưỡng.

Tổ sư Linh Hựu, Ngài khắp nêu chánh giáo hơn mười năm, số người được ngộ đạo nhiều không kể xiết, số được nhập thất(8) hơn bốn mươi người.

Khi thị tịch súc miệng, rửa tay, ngồi kiết già mà tịch một cách vui tươi, nhằm ngày mùng 9 tháng Giêng, năm đầu Thái Trung thứ 7(9), đời Đường.

Tuổi sống theo đời là tám mươi ba; tuổi tăng lạp(10) là sáu mươi bốn. Ngôi tháp xây dựng nơi gộp đá phía nam Qui Sơn. Vua Đường sắc tặng là Đại Viên Thiền Sư. Sắc tặng ngôi tháp là Thanh Tịnh.

Kư: Truyện chép Tổ Sư Linh Hựu trú tŕ nơi Qui Sơn đă lâu, tự biết(11) tiền thân đă làm nhà Tăng thụ tŕ kinh Pháp Hoa tại chùa làng Việt Châu. Năm Tổ Sư thị tịch cách với năm Như Lai diệt độ là một ngh́n tám trăm năm.

Họ Tư Mă Đầu Đà, là người trong tâm chứa cái tông trực chỉ thiền(12); ngoài thân đủ cái gương nhân luân, gồm thông suốt phép địa lư, nên các nơi sáng lập chùa viện, đều nhờ ông chỉ điểm cho.

Thủ tọa, tức là ngài Hoa Lâm Ḥa thượng(13).

B- PHÁP, LÀ VĂN CẢNH SÁCH

Hai chữ Cảnh Sách, chính là cái tông chỉ của một bộ luật này. Cảnh, là cảnh tỉnh kẻ chưa giác ngộ. Sách, là sách tấn người hậu học.

Nhân v́, đương thời (mạt pháp, đời Đường), Tổ Qui Sơn đại sư, Ngài thấy người chân tu lần mỏn, hiu quạnh, sự t́nh tệ ngày càng bành trướng, bởi hành vi của chư Tăng phần nhiều đồng thói hèn tục, v́ đă tham của, lại tham ăn mà trễ nải, lười biếng, không có cái chí cương quyết lướt tới. Thành thử Tổ, Ngài chép văn Cảnh Sách đây, để hiểu dụ, giác ngộ, khuyên miễn cho học giả lo tiến bộ.

Kư: Xét các kinh, luận, hoặc dùng riêng tên người mà làm tên sách; hoặc dùng riêng tên pháp làm tên kinh; hoặc dùng luôn cả nhân pháp làm đề mục. Chừ văn Cảnh Sách đây là lấy cả nhân (Qui Sơn) và pháp (Cảnh Sách) hiệp lại làm danh đề.

Hai chữ Qui Sơn là do người đời sau để thêm, chứ phi Đại sư tự đặt. Theo lệ thường đồ chú thuật, th́ với dưới đề mục, để riêng biệt cái danh của tác giả, mà ở đây lại đem cái danh của tác giả để ngay vào trong đề mục nên nói lấy nhân và pháp làm danh đề là Qui Sơn Cảnh Sách.

II. GIẢI THÍCH BỔN VĂN

Phân làm hai:
A- VĂN TRƯỜNG HÀNG
B- VĂN TRÙNG TỤNG.

II.A- TRƯỜNG HÀNG
Phân làm hai:
1. Giáo giới
2. Thị pháp
II.A.1- Giáo giới
Phân ra làm chín:
a- Nghiệp nhân quả khổ.
b- Sanh lăo bệnh tử.
c- Sanh diệt thời tốc.
d- Vi tục nhập đạo.
e- Danh lợi thất đạo
h- Khải thị tam học.
k- Bất tu học quá.
l- Nghiệp quả thời thục.
m- Sách lệ khuyến tu.

II.A.1.a- Nghiệp nhân khổ quả

Xét Nghiệp buộc chịu thân, chưa khỏi hữu h́nh hữu lụy.

Câu trên, nói rơ cái nghiệp nhân. Câu dưới, nói rơ các khổ quả. Đấy là chỉ ra cho biết rằng nghiệp nó buộc lấy cái tướng (cái thân) khổ.

Nghiệp(14), thuộc về đời quá khứ; khổ; thuộc về đời hiện tại. Rằng, trong cái thời tạo nhân có sự ràng buộc nên chi trong thời chịu quả tất phải khổ lụy. Mà cái lụy phi chỉ một điều, nên nói chúng khổ.

Chúng khổ, nói hẹp th́ có ba khổ, tám khổ; nói rộng th́ có cả tám vạn bốn ngh́n các khổ trần lao.

Số là, bởi chúng phàm phu nó không rơ được tự tâm của nó, sanh khởi những quan niệm mê hoặc, tạo tác bao điều nghiệp chướng, như thập ác và thập thiện hữu lậu. Do v́ cái nghiệp (mười thiện, mười ác) ấy nó cột buộc nơi thần thức (đă mang lấy nghiệp vào thân), nên khó khỏi những khổ lụy của thân h́nh phần đoạn sanh tử.

Tổ Thiên Thai Trí Giả nói “Tất cả những tâm niệm hành động hữu vi, thường bị những bệnh hoạn, khổ lụy của pháp vô thường nó biến đổi làm ép ngặt, nên gọi là khổ.”

Luận Trí Độ nói “Vô lượng chúng sanh có ba món khổ về cái thân là lăo khổ, bệnh khổ và tử khổ; ba món tâm khổ là tham lam, sân hận và si mê; ba món khổ về đời sau là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.”

Kinh Pháp Cú chép rằng: Xưa có bốn sư tân học Tỳ-kheo tranh luận về sự khổ của đời

- Sự dâm dục nó làm khổ năo cho người.
- Cơn đói khát nó làm ép ngặt thân thể.
- Chứng sân nhuế nó làm rối loạn tâm thần.
- Điều hoảng hồn nó làm cho người phải e sợ.

Cùng nhau đua giành phải chăng. Phật dạy rằng “Các sư tranh luận như thế là chẳng xét thấu nghĩa của khổ. Đây cái thân nó làm gốc cho các khổ, cái nguồn của mọi điều hoạn nạn! Vậy, phải cầu chứng quả tịch diệt, ấy là rất vui!”

Kư: Luận sở dĩ có ra muôn điều lụy là gốc ở nơi cái thân; mà sở dĩ sanh ra cái thân là do nơi cái nghiệp nó buộc lấy; cái nghiệp lại do nơi phiền năo mà có; v́ phiền năo vô minh hoặc(15) mà tạo tác ra các hạnh nghiệp; v́ bởi cái nghiệp ấy nó trói buộc chúng hữu t́nh, nên chẳng đặng giải thoát, thành thử bị xuống lên ba giới, qua lại sáu đường, để chịu các điều khổ lụy của mỗi mỗi thân h́nh.

Thế là, nhân nghiệp tạo đời trước mà chịu cái thân đời nay, đương có thân đời nay lại tạo ra cái nghiệp cho đời sau nữa, tất nhiên, hễ hữu thân là hữu khổ, hữu h́nh là hữu lụy!

Đức Lăo Tử cũng nói “Ta có cái khổ hoạn lớn, v́ ta có cái thân. Nếu ta không thân, th́ có lo chi”.

Muốn được không thân, cần đặng không tâm, tâm nó làm cái dụng cho nghiệp, nghiệp nó theo cái duyên mà sanh, nếu tâm không sanh khởi một vọng niệm ǵ hết th́ cả khổ hoạn, hệ lụy đều mất.

Nên Triệu Luận nói “Muôn điều lụy nảy bày, gốc ở nơi vọng tưởng, đă dẹp được vọng tưởng rồi, th́ vạn lụy đều thôi”.

Rằng tam khổ: 1-Khổ khổ, là cái gốc của khổ (cái thân). 2-Hoại khổ, là cái khổ của sự biến hoại.

3-Hành khổ, là cái khổ của hành chuyển. Nghĩa là, chúng sanh bẩm thụ lấy cái thân phần đoạn của hữu lậu ngũ ấm, tánh cách nó thường thường ép ngặt, thế là khổ rồi, lại cùng tương ương nhau với cái khổ thụ(16), tức là trên cái khổ (cái thân) gia thêm nhiều khổ khác nữa, nên nói là khổ khổ. Nếu đến thời cái tướng vui (lành mạnh sức khoẻ) nó bại hoại, th́ cái tướng khổ (lăo bệnh) nó liền đến, nên gọi là hoại khổ. Cái pháp hữu lậu th́ bốn cái hành tướng (sanh, trụ, dị, diệt) nó trôi dời (biến chuyển sanh diệt) luôn luôn, không hề an ổn được, nên nói là hành khổ.

Rằng bát khổ, nghĩa là 1-Khổ về khi sanh. 2-Khổ về khi lăo. 3-Khổ về khi bệnh. 4-Khổ về khi tử.

5-Đương thương yêu mà cảnh ngộ buộc phải biệt ly là khổ về sanh ly. 6-Đương thù oán mà phải đối đầu gặp nhau là khổ. 7-Mưu cầu sự ǵ cũng bất thành là khổ.

8- Thân ngũ ấm nó lừng lẫy đủ mọi khổ. Nghĩa là các cái khổ chánh như sanh, lăo, bệnh, tử và đông nhiều khổ phụ đều tụ hội dồn trong một cái thân, nên gọi là ngũ ấm thành (đụng) khổ.

Rằng phần đoạn, bởi tâm c̣n chấp nơi pháp tướng chẳng quên, nên Bậc Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát c̣n phải thụ lấy cái khổ của thân biến dịch sanh tử, v́ là nhân di quả dịch; c̣n chúng lục phàm th́ bị cái bệnh ái kiến(17) nó che phủ, không rơ cảnh giới là hư vọng (cho căn thân, khí giới là vật chất thực có), nên sanh khởi kiến hoặc, tư hoặc, mà tạo những nghiệp của thân tam, khẩu tứ, và ư tam để rồi thụ lấy các khổ của thân phần đoạn sanh tử.

Rằng phiền năo, nghĩa là những cái pháp hôn phiền, làm cho tâm thần (ư thức) năo loạn, cùng với tâm làm phiền muộn, khiến cho tâm phải năo loạn; nói hẹp th́ tam độc, thập ác, nói rộng th́ một trăm lẻ tám điều phiền năo, cho đến tám vạn bốn ngh́n các cửa trần lao. Cửa trần lao, tức là muôn điều khổ lụy vậy.

II.A.1.b- Sanh, lăo, bệnh, tử

Bẩm chịu cha mẹ thể vóc, mượn các duyên chung nên thân này.

Câu trên nói rơ cái gốc sắc thân. Câu dưới nói rơ mượn duyên hợp thành. Hai câu ấy, tổng quát thuộc về cái pháp sanh khởi (chúng sanh tự tạo kho), tức là cái nguyên thỉ muôn khổ lụy đấy.
Bẩm tức bẩm thụ. Thể vóc, tức cái sắc thân tứ đại. Từ thuở đầu tiên một niệm điên đảo(18) lẫn lộn vào hai điểm cấu uế là bạch tinh của cha, xích huyết của mẹ để tổ hợp họp lại thành cái thân thể của con, nên nói là “thể vóc”.

Mượn các duyên, mượn là tạm mượn, cũng là nương nhờ.
Các duyên, tức bốn đại, sáu căn, và mười hai nhân duyên.

Kinh Viên Giác nói “Bốn duyên mượn lẫn với nhau hợp lại bằng cách giả dối thành thân có sáu căn. Trong thân có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Bốn đại là địa, thủy, hỏa và phong; với đất, nước, lửa, gió nơi ngoài vũ trụ, hiệp lại thành thân thể.”

Rằng tứ đại, tức đất, nước, lửa, gió là bốn nguyên chất là đặc, lỏng, ấm và hơi. Cả bốn đại ấy, thể nó đều khác nhau, không có cái tánh chắc thực, cũng chả thành chủ tể, mà chỉ hay tự ḥa hợp làm thân. Ắt nhờ nơi cái nhân (mười ác, mười thiện) đời trước và các nhân duyên(19), ba việc mà thành thân thể. Trái lại, th́ sắc thân không thành được nếu chẳng đủ các duyên.

Mười hai nhân duyên, là nói “Bởi có cái đây nên mới có cái kia, cái đây sanh khởi nên cái kia mới sanh khởi.” Nghĩa là, từ cái vô minh duyên qua cái hành, hành duyên qua thức, thức duyên qua danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thụ, thụ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lăo tử mà sanh khởi ra lắm điều ưu bi khổ năo. Với cái khổ uẩn (sắc thân) trọn lớn như thế, là bởi nhiều nhân duyên tích tập lại mà sanh thành.

Song, mười hai pháp ấy, lần lựa hay chiêu cảm lấy kết quả, nên nói là nhân, lẫn nhau cậy mượn mà có, nên bảo là duyên, hễ nhân với duyên tiếp tục nhau th́, đường sanh tử cứ qua lại măi không biết đến đâu là bờ mé!

Bằng phá được cái vô minh rồi th́, chẳng c̣n sanh khởi cái thủ, cái hữu… nữa, thế, đều dứt hết sanh tử của hai mươi lăm hữu (loại) cả tam giới. Chính chỗ bảo rằng đây (vô minh) không nên kia (hành) không, đây diệt nên kia diệt. Là nói từ cái vô minh diệt th́, cái hành diệt… nhẫn đến cái lăo tử diệt, tức cả những ưu bi khổ năo, cái “khổ ngũ uẩn” trọn lớn chứa nhóm từ nhiều đời đều diệt hết.

Kư: Thân thể con người do mượn các duyên tổ thành, nên chi, hễ duyên hiệp lại th́ hiện khởi lên làm sanh, c̣n duyên tan ră th́ diệt mất làm tử.

Bởi thế, tất cả các pháp, pháp nào cũng đều tùy theo nhân duyên chẳng tự có, mà hễ nhân duyên đă sanh khởi nên chẳng không. Đă theo các duyên mà có, nên trong cái pháp (thân thể) ấy, không có phần tự chủ chắc thực thường c̣n.

Sách Chỉ Quán nói “Ngay nơi cái thân thể của ta, từ đầu đến chơn, nào lóng, nào đốt, mỗi mỗi xét cho kỹ, hẳn không thấy có cái ta chủ tể th́, chỗ nào có người và cả chúng sanh? Bởi cái nghiệp là (mười thiện, mười ác) làm cơ quan, mượn nhau làm nhóm ngũ uẩn luống không chủ tể đó thôi, v́ theo các duyên sanh khởi nên chẳng có phần tự chủ.”

Mười hai nhân duyên, cũng tên mười hai duyên khởi, lại tên mười hai duyên sanh. Nghĩa là, nguyên trước không có thân thể mà, theo các duyên kia nên có sanh ra ḿnh vóc, th́ gọi là nhân, sẵn có mỗi phần mà theo cái nhân kia sanh khởi, th́ gọi là duyên.

1-Vô minh tức là tối tăm, nghĩa là, bị cái vọng hoặc phiền năo là tham, sân, si… của đời quá khứ, nó phủ che lấp cái chân tánh (Phật tánh), không c̣n thấy biết rơ hiểu ǵ cả.

2-Hành hành tức là hành nghiệp, nghĩa là, tại nơi đời quá khứ cái thân và cái khẩu làm và nói ra tất cả những nghiệp hoặc thiện hay bất thiện. Hai chi vô minh và hành ấy là cái nhân của đời quá khứ.

3-Thức thức tức là cái thức tâm. Nghĩa là, do cái nghiệp mê hoặc (thiện và ác) của quá khứ nó lôi cuốn khiến cho cái thức ấy gá vào mẫu thai, chỉ trong một sát-na (thời gian rất ngắn), nhiễm cái ái làm giống, nạp cái tưởng nên thai(20), tức thời, cái nghiệp thức nó lẫn lộn với hai điểm tinh, huyết của cha mẹ, tổ hợp thành một điểm, lớn bằng hột đậu, trụ trong bào thai, cùng ḥa hợp nhau với ba sự này: một là cái mạng căn, hai là cái hơi ấm (dục hỏa), ba là cái thần thức. Trong đó có cái báo phong(21), cái bào thai nương theo báo phong (hơi thở), đó gọi là cái thọ mạng(22). Tinh của cha, huyết của mẹ ra đồng thời rập một nhịp th́ nó chẳng hôi chẳng rữa, tên là noăn (ấm, lửa dục(23)), trong đó (tinh huyết) cái tâm ư (của đứa con) tên là thức. Ba sự (tinh, huyết, thức) như thế, nếu thiếu một cái nào th́ cái bào thai ấy rục hư, không thành trụ được. Đó là cái vị trí bảy ngày đầu tiên của thai nhi ở trong mẫu thai, tên là Ca-la-ra, nghĩa là cái trạng thái nó giống như vết sữa đặc; từ đó về sau, cái thai nó theo nơi hơi thở ra vào của mẹ mà nó cũng ph́nh lên xẹp xuống, cứ mỗi bảy ngày th́ cái thai nó biến triển một lần.
Sách Chỉ Quán nói “Khi mà con người đi đầu thai, thần thức mới bắt đầu hợp cùng tinh huyết, cái khối “tinh huyết thức” dính nơi chỉ máu như sợi tơ ở cái rún của mẹ, v́ cái rún liên lạc qua để duy tŕ cái thai ấy. Nghĩa là cái rún nó làm cái nguồn cho các ruột già, ruột non và cái bao tử, trong khi cái thai nhi c̣n ở nơi mẫu thai, lấy cái rún của mẹ, để nhỏ giọt vào cái rún của con, nên mẹ ăn uống chi, sinh tố từ nơi rún thấm vào để tư dưỡng cho con, hơi thở cũng thế. Đứa con khi ở trong thai vẫn nương hơi thở của mẹ, nên lời tục nói “Nó ỷ hơi mẹ nó”.

4-Danh sắc, Danh là tâm, v́ tâm nó chỉ có cái danh tự, chớ không có cái h́nh chất. Sắc là sắc chất, nghĩa là từ sau khi gá vào thai bào của mẹ, đến tuần thứ năm, tên là h́nh vị, v́ bấy giờ, đă nảy các căn h́nh, như mắt, tai, mũi, lưỡi, tay, chơn đều phân biệt, thế gọi là sắc; lấy tinh huyết của cha mẹ làm thân căn chủng, thần thức (tâm) lẫn ở trong đó, nên nhập chung lại xác và hồn, gọi là danh sắc.

5-Lục nhập, nghĩa là từ ngày vào mẫu thai về sau, đến tuần thứ sáu, tên là phát-mao-trảo-xỉ vị. Đến tuần thứ bảy tên là cụ-căn vị, nghĩa là sáu căn đều mở trương ra, có cái tác dụng tiếp xúc với sáu trần, nên gọi là lục nhập.

6-Xúc, tức là xúc đối, nghĩa là, từ ra khỏi mẫu thai nhẫn đến cái thời gian khoảng ba, bốn tuổi, cả sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư, tuy tiếp xúc với sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mà chưa được mấy rơ biết nảy ḷng tưởng là khổ là vui ǵ, nên gọi là xúc.

7-Thụ, tức là lănh nạp, nghĩa là, từ khi năm, sáu đến mười hai, mười ba tuổi, sáu căn xúc đối với sáu trần, liền biết nạp thụ các sự tốt xấu trước cảnh, mặc dù đă hiểu rơ phân biệt, song cũng chưa mấy sanh khởi cái tâm tham ái dâm nhiễm.

Năm món trên là cái quả của hiện tại.

8-Ái, ái tức là tham ái, nghĩa là, từ cái thời gian mười bốn, mười lăm đến mười tám, mười chín tuổi, mới thực là ham thích mỗi mỗi đồ vật tốt đẹp, và các cảnh dâm dục, nhưng hăy có thể rộng khắp ra để theo dơi t́m ṭi, nên gọi là Ái.

9-Thủ, thủ là t́m lấy, nghĩa là, từ hai mươi tuổi về sau, cái ḷng tham ái càng thạnh, đối với năm cảnh trần sắc, thanh, hương, vị và xúc, biết rong ruổi cả bốn phương để t́m kiếm, nên gọi là Thủ.

10-Hữu, hữu là hậu hữu, v́ nhân quả chẳng mất, nghĩa là, nhân v́ t́m lấy các cảnh, tạo ra nghiệp thiện hay nghiệp ác, đă có chứa chất những nghiệp ấy rồi nó sẽ lôi cuốn đi thụ sanh để chịu quả trong ba hữu là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

Ba cái chi trên đây là cái nhân của hiện tại.

11-Sanh, sanh tức là đi thụ sanh, nghĩa là, đời nay ta tạo nghiệp thiện hay nghiệp ác của thân, khẩu, ư th́ nghiệp ấy nó dẫn đi qua đời sau phải thụ sanh trong lục đạo giữa tam giới.

12-Lăo tử, lăo là cái thân căn đă già như trái cây chín muồi. Tử là cả các căn đều hư hoại. Nghĩa là, với đời sau, đă thụ sanh ra đến thời kỳ mà thân ngũ ấm già muồi, gọi là Lăo; đă chín muồi rồi th́ phải hoại diệt, nên gọi là Tử.

Hai món ấy là cái quả của đời vị lai.

Cả mười hai chi trên là cái pháp sự của nhân quả ba đời tuần hoàn chẳng dứt. Do v́, cái vô minh và hành làm “nhân” từ đời quá khứ nên chiêu cảm lấy các cái thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ làm “quả” cho đời hiện tại; kế đó, v́ do cái quả ấy, lại sanh khởi cái ái, thủ, hữu làm “nhân” cho đời hiện tại; v́ do cái nhân ấy, lại chiêu cảm lấy cái quả sanh lăo tử cho đời vị lai.

Ôi! Trong thời chịu quả lại tạo ra nhân, bởi có nhân lại phải chịu quả, ba đời cứ tiếp tục nhau luôn, không hề ngớt dứt, tỷ như cái vành bánh xe lăn tṛn, nên nói rằng luân hồi.

Tuy là, bốn đại giúp giữ, mà thường trái nghịch nhau.
 

âu trên giả họp, v́ lấy bốn đại làm thân; câu dưới quai thuận, v́ khí huyết bất điều, như thủy thạnh, hỏa suy, phong cường, địa nhược, nên nói là tương vi.

Nguyên con người bao lăm lấy bốn nguyên chất tế bào là địa, thủy, hỏa, phong bên ngoài để hợp tập lại thành lập thân thể, cùng giúp giữ nhau để chấp tŕ sanh mạng, sống ở một thời kỳ bao nhiêu tuổi đó.
Song, với trong thời gian ấy, nó thường thường khi thuận, khi nghịch lẫn nhau hễ một đại chẳng được điều ḥa th́ sanh ra một trăm lẻ một chứng bệnh; nếu bốn đại đều chẳng điều ḥa th́ bốn trăm lẻ bốn chứng bệnh đồng thời đều làm đau đớn.

Nói đại ấy, nghĩa là bốn pháp đây, không chỗ nào chẳng có nó, thể nó khắp cả các phương sở, khu vực, nên gọi là Đại.

Vạn sự, vạn vật đều do tứ đại tổ họp thành tượng thành h́nh. Ở bên ngoài (vũ trụ) th́ là đất, nước, núi, sông. Ở nơi trong (căn thân) th́ làm tứ chi, bách hài(24). Bốn đại tụ lại th́ làm sanh, tán ra th́ làm tử. Khi sống th́ làm đặc, lỏng, ấm, hơi trong thân thể; khi chết th́ làm đất, nước, lửa, gió ngoài khí giới.

Thế, trong ngoài dù khác, mà tứ đại chẳng lạ ǵ nhau.

Những thứ mà tánh chất cứng là thuộc về địa đại, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương…. Các thứ đây chẳng tự ḥa hợp được, nếu chẳng mượn thủy đại.

Những thứ tánh chất lỏng, ướt thuộc về thủy đại, tức là nước mắt, nước miếng, đồ khạc nhổ, nước tinh dịch(25), nước tiểu tiện…, mấy thứ đây, nếu chẳng mượn địa đại th́ liền tan chảy.

Thứ có tánh chất nóng th́ thuộc về hỏa đại, tức là noăn khí(26) trong thân người. Ôn độ này nếu chẳng mượn phong đại không thể tăng trưởng được.

Thứ có tánh diêu động th́ thuộc về phong đại, tức hơi thở ra vào, và sự động chuyển của thân thể, nếu chẳng có cái phong đại này th́, thi thể không cựa quậy, làm lụng ǵ được.

Song, bốn đại ấy, tánh cách nó riêng vốn không bệnh hoạn chi; duy v́ các duyên tập hợp lại, hoặc cái này tăng phần cái nọ giảm, thạnh suy, xung khắc với nhau, thành thử bệnh hoạn do đó phát sanh.

Nên chi, hễ địa đại tăng phần th́, nó làm cho cái thân thể phải trầm trọng. Thủy đại mà tích ứ lại th́, nó trái với b́nh thường, v́ sổ mũi nước, khạc nhổ. Hỏa đại thạnh th́, đầu và hông nóng ngăn. Phong đại nổi động th́ hơi thở kḥ khè. Tức là những chứng bệnh trầm trọng (thuộc địa đại), đàm ấm (thuộc thủy đại), hoàng nhiệt (thuộc hỏa đại) và khí phát thuộc phong đại.

Do bốn bệnh gốc ấy, mà nảy ra nhiều bệnh chi tiết, kể có bốn trăm lẻ bốn chứng bệnh. Nghĩa là, phong bệnh một trăm lẻ một chứng, hoàng bệnh một trăm lẻ một chứng, bệnh đàm ấm có một trăm lẻ một chứng, bệnh tổng tập(27) có một trăm lẻ một chứng.

Với các chứng bệnh hoạn như thế, không giờ nào chẳng có, nên nói “thường trái nghịch nhau”.

Kư: Đại Luận nói “Mượn bốn đại làm thân, mà nó thường xâm hại nhau, nên trong mỗi mỗi đại đều sanh khởi ra một trăm lẻ một món bệnh.

Bệnh hàn lănh có hai trăm lẻ hai chứng, v́ thủy đại, phong đại phát khởi. Bệnh viêm nhiệt có hai trăm lẻ hai chứng, v́ địa đại, hỏa đại phát khởi.

Bệnh thuộc hỏa đại th́ hiện cái tướng nóng; bệnh thuộc địa đại th́ hiện tướng chắc (bỉ ngảnh), bởi tướng chắc, nên vật thực khó tiêu, khó tiêu nên có thể phát sanh bệnh nhiệt.

Huyết, nhục, gân, cốt, mạch, tủy… thuộc về phần địa đại; trừ ra cái bệnh nghiệp báo(28). Tất cả pháp (bệnh chứng) đều bởi nhân duyên (nguyên nhân) ḥa hợp mà phát sanh thành chứng bệnh.

Sách Phụ Hạnh nói “Người mà tứ đại chẳng điều nhuận là hành dịch (lao động) không giờ khắc (quá độ), như ỷ mạnh dạn gánh vác quá sức, xông pha khi quá lạnh quá nóng, nhiệt độ bên ngoài nó giúp cho hỏa đại bên trong, hễ hỏa thạnh th́ phá thủy, thế là tăng hỏa bệnh. Cơn lạnh rét bên ngoài nó trợ thủy đại, hễ thủy tăng th́ nó hại hỏa, thế là bệnh thuộc về thủy. Phong bên ngoài nó xúc động cho phần khí bên trong, khí (hơi thở) nó thổi nơi hỏa đại, lửa nó nóng động nơi thủy đại, thế là bệnh thuộc về phong đại.

Hoặc ba đại kia đều tăng lên bằng cách đồng phần th́ làm hại cho địa đại gọi là bệnh đẳng phần; hoặc thân phần tăng lên (quá ph́) th́ hại cả ba đại (thủy, hỏa, phong) cũng gọi là bệnh đẳng phần, thuộc về địa bệnh.

Ăn uống không chừng đỗi, chẳng hợp cách vệ sanh, cũng có thể sanh bệnh, như gừng, quế, ớt là vật vị cay độc th́ nó tăng cho bệnh thuộc về hỏa; mía, mật vị nó ngọt lạnh th́, nó tăng cho thủy đại (thủng nước). Ăn trái thơm, trái khóm nhiều th́, nó tăng cho bệnh phong; ăn nhiều dầu mỡ chất nhớt th́ nó tăng cho địa đại tức bệnh trầm trọng; ăn dưa vàng (bí ngô, bí rợ) nhiều th́ nó làm trợ duyên cho bệnh nhiệt (bệnh ṭng khẩu nhập), tức là ăn những vật thực không yên lành mà sanh ra bệnh.

Người xưa nói “Bệnh bởi miệng vào, họa từ miệng ra”. Đây gọi thế chăng?!

Cơn vô thường (chết), già, đau chẳng cho người hẹn.

Câu trên, rơ ba cái tướng khổ; câu dưới, rơ rằng không phần làm chủ. Ba cái tướng ấy vốn không, với trong đó t́m ra, nguyên chẳng có ta th́, có chi làm tự chủ đặng, để tự ư ḿnh cùng đó hẹn ḥ. Trừ chăng người đă thức tâm đạt bổn (minh tâm kiến tánh) rồi, mới có thể làm chủ hẹn ḥ được, kêu bằng “sanh tử tự do”. C̣n những kẻ mê muội th́ chẳng biết ǵ cả, v́ vẫn cũng “túy sanh mộng từ”.

Vô thường: không thường c̣n bền bỉ ǵ, nghĩa là, nguyên trước vốn không mà nay in tuồng như có, nhưng có bằng cách giả tạm mà rốt lại cũng không, tức là một sát-na cũng không đ́nh trú v́ mỗi niệm, mỗi niệm, biến đổi luôn luôn, nên bảo là vô thường.

Từ ra khỏi mẫu thai, đến lớn (ba mươi tuổi), đến già (sáu mươi tuổi), đến bệnh, đến lúc sanh mạng cùng tận, mà trong chặng giữa đều mỗi niệm trôi dời, ư thức chẳng hề an trụ, nên nói là vô thường, mà nó cũng là cái tên khác của cái chết đấy!

Lăo: Già, các căn muồi mẫn già nua, thân h́nh khô khan, nhan sắc tiều tụy, tinh thần lú lẫn, tóc bạc mặt nhăn, nghĩa là sắp chết chẳng c̣n bao lăm nữa.

Bệnh: Bốn đại đều chẳng điều ḥa, do đó, lần hồi sanh ra bốn trăm chứng bệnh, thân lực b́ quyện, ăn uống không tiêu, tinh thần sút kém, khi ngồi lúc dậy nhờ người nâng đỡ, nên gọi là bệnh.

Vô thường, tức là tử, bằng theo thứ lớp nương nhau của pháp hệ th́, cái tử ở rốt sau (như sanh, lăo, bệnh, vô thường), mà nay đây để vô thường ở đầu câu là, v́ thể nó phổ biến hết thảy suốt trùm cả các pháp sanh, lăo, bệnh, tử, phải vậy.

Kư: H́nh luôn luôn chẳng trụ, ư niệm niệm không dừng, gọi là vô thường. Kinh nói “Sức của vô thường quá lớn, chóng kíp hơn núi lở, nước lên”. Chiết Luận nói “Có ba thứ vô thường 1-Mỗi niệm hoại diệt. 2-Vừa ḥa hợp rồi ly tán. 3-Sự vật chi chi, rốt cũng vô thường như thế.”

II.A.1.c- Sanh diệt thời tốc

Sớm c̣n tối mất, sát-na đời khác.

Câu trên, nói về đời hiện tại; câu dưới, rằng đời sau. Hai câu ấy đều giải thích về nghĩa của vô thường; văn dưới kia, lại dùng các vật sương, móc để tỷ dụ cho rơ thêm.

Rằng sát-na là thời giờ cực kỳ ngắn và chóng. Nghĩa là người mà đến khi sắp thở hơi cuối cùng, để xả mạng sống th́, chỉ ở trong một sát-na rốt sau, tức là cái ngày mà sáu căn hoại diệt, lúc thần thức dời ĺa là, cái thời mà nghiệp thức nó bỏ cái xác cũ, riêng thụ cái thân mới khác.

Thức, tức là thức thứ tám tên là A-lại-da. Khi người ta chết th́ thức này ở rốt sau mới ĺa xác, khi đi đầu thai th́ nó đến trước nhứt, nghĩa là, chỉ trong một sát-na, thức ấy bị hít lẫn vào tinh huyết của cha mẹ, kết tinh trụ trong thai tạng, để rồi cũng vẫn làm cái căn cho sanh tử và, là cái nguồn cho khổ quả.

Kư: Thức có tám món 1-Nhăn thức. 2-Nhĩ thức. 3. Tỷ thức. 4-Thiệt thức. 5-Thân thức. 6-Ư thức. 7

Mạt-na thức. 8-A-lại-da thức.

Ví như sương xuân, móc sớm, chốc lát liền không.

Câu trên lập dụ cái thể vô thường; câu dưới giải thích cái tánh vô thường. Do v́ sương móc hễ gặp ánh nắng của mặt nhật th́ liền tiêu tan, thể nó chẳng bền chắc mà tánh nó cũng vô thường.

Thí như, là lập lời tỷ huống. Thúc hốt: chốc lát, tức tạm có rồi không.

Kư: Hai câu bổn văn đây là, để giải thích hai câu “Triêu tồn tịch vong…” trên kia là, chung rơ cái thời giờ quá chóng. Thúc hốt: rất chóng quá phi ư nghĩ toan kể ǵ kịp đặng.

Sách Tông Cảnh nói “Tuy sống trăm tuổi, dường một sát-na, in tuồng làn sóng sắp nhào khơi, ví tợ ánh thừa hầu khuất núi, ví đốm lửa đánh đá nháng, như bóng ngựa trước song (cửa sổ) nhanh, là móc sớm đọng đầu ngọn cỏ, đèn mọn chong giữa gió dông, cây c̣i cọc nơi mé sông, luồng chớp nháng ḷa con mắt. Đó, thân mạng người mong manh vô thường như thế, vẫn ắt đọa nơi u đồ, nếu chẳng gặp được chánh pháp.

Cây vực, dây giếng, đâu được lâu dài!

Câu trên, chỉ ra cái thể của thân mạng, câu dưới giải rơ nghĩa của kiếp sống. Ôi! Cây mọc nơi mé sông, phi dài năm, hai chuột cắn dây, há lâu thuở!

Kinh Đại Tập nói “Xưa có một người, v́ sợ tránh hai con voi say, bện dây đùng đeo xuống giếng, dưới đáy giếng có ba con độc long hà hơi trương móng, người liền nắm dây ṭn ten ở lưng chừng; trên miệng giếng có hai con chuột đen và trắng cắn dây sắp đứt. Chung quanh có bốn con độc xà muốn cắn nhả nọc độc. Người ngửa mặt trông lên, thấy hai thớt voi đă tới sát miệng giếng, lo sợ vô cùng không chỗ nương gá!

Chợt có con ong mật bay đến, để năm nhỏ mật vào miệng, người ấy nuốt mật rồi, quên hẳn điều nguy sợ(29).

Chừ, đem hai con voi say để tỷ cơn sanh tử. Dây là dụ cái mạng căn; vào giếng là ví cơn vô thường; hai con chuột(30) là dụ nhật nguyệt; bốn rắn thí tỷ tứ đại; ba rồng là ví tam độc; năm nhỏ mật là dụ ngũ dục lạc. Tam độc, là cái nguyên nhân ba ác đạo, nên hễ dây mà đứt, tức có cái hoạn nạn đọa lạc!

Kư: Bổn văn có hai câu, để giải rơ một câu “Bất dữ nhân kỳ”, đấy là chỉ cho người đều biết cả năm, tháng, ngày, giờ rất chóng qua (ngày tháng như thoi, người dễ già).

Thân căn dường cây đứng mé sông, gió nghiệp một khi thổi đến, phi sức mạnh nào có thể tŕ giữ vững được; mạng sống như dây ḅ trong giếng, ngày tháng mỗi kém ṃn qua, khiến người không nhớ biết. Cây đứng nơi ngàn sông, là tỏ cho biết rằng năm tuổi chẳng dài lâu; dây giếng, là ví rằng ngày tháng chóng mau.

Rằng dây giếng, là cái dây nó mọc ḅ tḥng nơi bên giếng; hoặc nói rễ cây nó đan vào ḷng giếng, nghĩa là cái giếng khô trên g̣ nổng.

Ngài La-Thập pháp sư nói “Thuở xưa có người tội phạm, sợ tội h́nh vượt ngục trốn chạy. Nhà vua truyền thả voi say rượt theo, tội nhân sợ quưnh tự gieo ḿnh xuống giếng khô…”

Tam độc là tham lam, sân hận và si mê. Tam ác đạo là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Ngũ dục: năm điều ưa muốn, tức sắc đẹp, tiếng tốt, chất thơm, mùi ngon, thân ưa cảm xúc sự sang trọng, sung sướng. Hoặc có chỗ dùng tài, sắc, danh, thực, thùy làm ngũ dục. Nghĩa là, chúng sanh say mê nơi chút vui ngũ dục đó mà, trọn quên các khổ rất hiểm nguy của sanh tử!
Niệm niệm chóng mau.

Niệm, là cái vọng niệm nơi tâm sanh diệt của phàm phu, nghĩa là, niệm trước chưa diệt, niệm sau tiếp sanh, mỗi niệm cứ sanh diệt măi như thế. Tỷ như đèn cháy tim, lửa cháy đến đâu tim tàn đến đó, măi thế chẳng ngừng; với cái hiện tượng sanh diệt quá chóng mau như thế, phi bực đủ huệ nhăn th́ chẳng thấy.

Kư: Đấy là nói rơ cái “niệm” quá nhanh, là bởi vọng niệm, nên sanh diệt măi chẳng hề tạm đ́nh, chớ như chân tâm th́, vẫn thường trụ không dời đổi.

Trong một sát-na, hơi thở tắt rồi, tức là đời sau.

Tiếng Phạn là Ksana (sát-na), đây rằng một niệm, tức là cái thời gian cực kỳ ngắn mau.

Luật Tăng-kỳ nói “Hai mươi niệm làm một thuấn (nháy mắt), hai mươi thuấn, kêu là một đờn chỉ (khảy móng tay).

Luận Câu-xá nói “Trong một cái đờn chỉ của tráng sĩ, có sáu mươi lăm cái sát-na”.

Song, có đại niệm, tiểu niệm, trong một đại niệm, có chín mươi cái sát-na, trong một cái sát-na có chín trăm cái sanh diệt.”

Trên đây nói một sát-na đó, tức là cái tiểu niệm.

Tức, là hơi thở ra hít vào, cái hơi thở ấy, gọi là cái mạng sống, nghĩa là, dùng một thời kỳ làm tuổi thọ, giữ liền được cái sanh thân nói rằng mạng. Trong một thời kỳ giữ liền hơi thở chẳng dứt, nên gọi hơi thở ra vào là thọ mạng. Chuyển tức là hơi thở ra rồi mà không hút vào lại nữa, nên nói tắt thở, tức là mạng chung. Đấy, chỉ ở trong khoảng một sát-na, tức là khi thức thứ tám nó bỏ thân tiền ấm để đi thụ cái thân hậu ấm.

Ở đây, chẳng nói cái trung ấm là, hễ nói lên cái trước, cái sau th́ có kiêm cái trung ấm rồi.

Lại, tuổi của thân trung ấm, hoặc chậm hoặc mau không nhất định hễ chậm th́, chỉ bốn mươi chín ngày là măn kỳ, v́ đi đầu thai; c̣n mau th́, rất chóng hơn tâm niệm, nó liền xả thân trung ấm mà thụ thân hậu ấm.

Lai sanh: Đời sau, tổng quát lục đạo, v́ tùy theo sở hành thiện nghiệp, ác nghiệp như thế nào mà, phải thụ quả báo sanh ở vào chỗ nấy.

Kư: Hai câu của bổn văn đây, tức giải thích nghĩa của một câu “sát-na dị thế” (sát-na đời khác) nơi văn trên kia. Văn đây, nói rơ sát-na là rất chóng kíp.

Hành mười thiện bực thượng, được sanh lên thiên đạo; hành mười thiện bực trung sanh lại giữa nhân loại; hành thập thiện bực hạ sanh ở cơi A-tu-la.

Hành thập ác hạng nặng, đọa ở địa ngục; hành thập ác hạng vừa, sanh làm ngạ quỷ; hành thập ác hạng nhẹ đọa làm súc loại.

Thuấn là con mắt nháy động.

Thân trung ấm, là con người khi mạng chung, sau cái lúc mà hơi thở ra hút vào dứt hẳn, thức thứ tám rời thân tiền ấm (tử thi), liền hóa sanh ra thân trung ấm, h́nh bằng con nít ba tuổi của nhân gian, ở giữa hư không, mắt của nó chỉ thấy mịt mờ mà thôi, ăn hưởng hơi hương để sống.

Dầu ở cảnh giới tối tăm, v́ nghiệp chướng khiến thế, nhưng chỉ với chỗ nào có duyên, nó liền thấy cái ánh sáng dục hỏa của giống đực giống cái (sẽ làm cha mẹ nó) đương giao hội hành dâm, tùy ư niệm của nó tức th́ đến liền, nạp lấy cái tưởng điên đảo(31), trong một sát-na, thức nó hút lẫn vào hai điểm bạch tinh, xích huyết của cha mẹ (thân trung ấm diệt) mà tổ thành thân hậu ấm.

Hoặc kẻ sắp làm cha mẹ của nó không giao hội, v́ bệnh duyên hay chuyện chi khác, hoặc địa phương đi thụ sanh của nó chưa ổn định th́, cái thân trung ấm của nó, mỗi bảy ngày phải chết một lần, rồi hóa sanh trở lại (để đợi chỗ có duyên giao hội), nhẫn đến bốn mươi chín ngày, ắt quyết định được gá sanh. Nên chẳng sớm th́ chầy, không ngoài bảy lần bảy ngày(32).

Bằng như, nghiệp duyên của thân trung ấm đă định hoặc sanh làm chúng sanh ở cơi người, cơi trời, hoặc đọa làm chúng sanh ở loài quỷ, loài súc th́, chỉ trong một sát-na, nó bỏ thân tiền ấm, thụ thân trung ấm, xả thân trung ấm, thụ thân hậu ấm. Trong thời gian xả thụ như thế, chóng hơn cái chớp sáng, phi cái tâm nhăn của phàm phu thấy xét được mà, duy có Phật mới thấy biết kịp.

Thế sao? Yên lặng bỏ trống qua.

Hà năi như hà vi: Thế sao, mần răng!? Cũng là lời hỏi giằn gạn lại và, cũng là lời thừa tiếp văn trên chuyển qua văn dưới. Do v́ trên, chỉ thị ra cho biết điều quá hoạn của sanh tử, cơn vô thường vội gấp! Đến dưới, khiến cho giác ngộ rằng đă xả tục nhập đạo, y nơi pháp tu hành, kỳ cho ra khỏi luân hồi.

Yến nhiên như là an nhàn vô sự; là có ư chung lại bảo rằng sáng bóng (ngày đêm, giờ phút) nhanh chóng, sanh mạng của người là vô thường! Cớ sao? Trọn ngày, chỉ cốt lấy ăn no, tâm vô dụng vào giới định huệ ǵ mà, mải cứ yên rảnh, ăn rồi ngồi không, bỏ luống qua ngày, chẳng toan tiến lên, để hầu giải thoát sanh tử ư!?

II.A.1.d- Vi tục nhập đạo

Đối với cha mẹ, đă chẳng dâng mùi ngon ngọt, sáu thân hẳn đă xa ĺa.

Câu trên, thiếu về nghĩa phản bộ sú lại(33); câu dưới, thiếu về nghĩa kính ḥa.

Phụ mẫu là thiên địa(34) của kẻ làm con.

Kinh Thi(35) nói “Thương thương cha mẹ, khó nhọc sanh ta, muốn trả ơn ấy, trời cao chẳng tột!”(36).
Kinh nói “Người có cúng dường cha mẹ đặng vô lượng phước”.

Phật dạy “Đối với con cái, cha mẹ có công tăng ích rất lớn, v́ bú sú chắt chiu, tùy thời dưỡng dục, thân thể trưởng thành. Dẫu có người, vai hữu cơng cha, vai tả cơng mẹ, trải đủ trăm năm ỉa đái trên lưng, không có ḷng giận. Bốn việc cúng dâng(37) không cho chậm thiếu, làm con được thế, hăy chẳng đủ trả ơn sâu của cha mẹ”.

Người con muốn báo ân, cần khuyên cha mẹ đối với các pháp nhân quả của Phật, Pháp, Tăng, như chưa tín ngưỡng, phải khởi ḷng tin, hoặc đă tin rồi, khuyên càng tăng trưởng; như chưa giữ tịnh giới, khuyên thụ tŕ giới; hoặc có ḷng rít tham, khuyên tu bố thí; như có ngu muội, khuyên tu trí huệ, khiến ở an lành, để tự sửa tánh. Làm con được vậy, mới bảo báo ân một cách chân thật.

Lục thân: 1-Cha. 2-Mẹ. 3-Anh. 4-Em trai. 5-Vợ.

6- Con, là sáu nghĩa thân.

Lại nói: 1-Cha. 2-Con. 3-Anh em con nhà túng phụ(38). 4-Anh em con nhà túng tổ (39). 5-Anh em con nhà tằng tổ(40). 6-Anh em trong cả họ.

Khí ly: bỏ ĺa, kinh nói “Người thụ giới xuất gia Bồ-tát, đă xả ly sáu nghĩa thân, chẳng ghi chẳng nhớ, siêng tu đạo hạnh, v́ để được mau thành quả Bồ-đề, hầu cứu độ thất tổ cửu huyền.”

Kư: Cam chỉ là món ăn rất ngon. “Hăy c̣n chẳng đủ trả ơn của cha mẹ” đó, là dù có kính nuôi, không trái sắc mặt của cha mẹ(41) chăng nữa, cũng không thể đem tinh thần của cha mẹ để siêu lên cơi trên đặng. Muốn lợi ích cho thần linh cả nhiều đời th́, ắt phải khuyên cha mẹ thọ ngũ giới, tŕ tịnh trai, lo tu phước huệ.

Như người con đă xuất gia rồi, mà cha mẹ nghèo thiếu không thể tự sống được; Phật dạy “Người làm con về khuyên cha mẹ phát khởi ḷng tín ngưỡng, trao cho tam quy, ngũ giới, nhiên hậu người con đi khất thực để cúng dường”.

Tổ Nam Sơn nói “Người chân chánh xuất gia là, sợ bốn oán thù(42) nhiều khổ, chán ba cơi đều vô thường, từ biệt t́nh chí bi của lục thân, hy sinh ḷng đắm sâu nơi ngũ dục. Đó, xuất gia được như thế, mới gọi là chơn xuất gia. Thế th́, nối thạnh ḍng Tam Bảo, độ thoát cả tứ sanh, lợi ích rất sâu, công đức vô lượng.”

Đă không tài trị an việc nước, lại chấm dứt nối dơi nghiệp nhà.

Câu trên là thiếu giúp nước ơn dân; câu dưới là thiếu thờ nhà con nối.

Người xuất gia làm Thích tử là, bỏ sự đẻ nuôi nối thờ thay v́ nối thạnh giống họ Tam Bảo(43), dù tợ hồ có thiếu sự trung hiếu. Song, lo lập thân hành đạo, để rồi đem đức giải thoát báo đáp ơn mẹ cha; thuyết pháp khuyến thiện, để rồi phổ biến tu tŕ, tự nhiên giúp dân nước. Đó, báo đức như thế, tưởng không chi bằng. V́ trung hiếu trên tinh thần đạo đức, cả pháp giới chúng sanh, chứ chẳng chỉ một cha nhà, vua nước.

Thuở xưa, Tống Văn Đế bảo ông Hà Thượng Chi rằng “Ước được cả nước đều thấm nhuần thuần thục Phật hóa th́, trẫm được ngồi yên để hưởng phước thái b́nh”.

Hà Thượng Chi thưa rằng “Vả chăng, trong làng chừng trăm nhà, có mười người thụ tŕ ngũ giới th́, mười người ấy được hiền lành; một thành ấp chừng ngh́n gia đ́nh, có trăm người tu hành thập thiện th́, trăm người đó ḥa thuận. Nghĩa là, người mà có thể làm được một việc lành th́ bỏ được một điều ác; hễ cá nhân bỏ một điều ác th́ chánh quyền dẹp được mọi luật h́nh. Tại nơi nhà khỏi một luật h́nh th́, nơi nước nghỉ luôn vạn điều luật h́nh.

Đấy là cái ư chỉ rất rơ về chỗ bảo rằng “Ngồi yên trên ngai mà tạo nên cảnh huống thái b́nh đó vậy”.

Kư: Văn trên, nói rơ về nghĩa trái với hiếu trung của tục đế; văn dưới, nói rơ về nghĩa thuận với đạo đức của chân đế.

Xa ĺa nơi làng xóm, cạo tóc vâng đức thầy.

Câu trên ĺa tục đế, câu dưới vào đạo đế.

Miến: xa, nghĩa là xa ĺa nơi hương tục, hướng đến cảnh vô vi(44), tức là hy sinh gia đ́nh mà tiến nơi phi gia thất (chùa chiền).

Xuống tóc vâng thầy bỏ cái dung nghi ngoài tục, dẹp cái tốt đẹp trong đời, giống hệt Như Lai, v́ đủ cái đức tướng viên đảnh phương bào của Phật; vâng chịu mạng lệnh của đức thầy, v́ theo thầy để chịu học đạo, đấy chính là cái quy thức nhập đạo, cái hồng phạm xuất thế.

Kư: Người thế tục họ dùng râu tóc để trau tria cho thêm vẻ đẹp nơi dung nghi; người xuất gia làm Tỳ-kheo, đă khác tục, mộ đạo, bỏ sự tốt của đời mà dứt hẳn ân ái.

Thời đại ngày nay, giới xuất gia cũng có kẻ để râu, dài tóc mà tự hào là tu hạnh đầu đà, thế cái danh tướng đă mâu thuẫn mà, cái điệu hạnh cũng trái ngược nữa.

Tiếng Phạm là Dhùta (đầu-đà), dịch đẩu tẩu, là phủi giũ, nghĩa là phủi giũ những bụi trần lao là phiền năo cả ba giới.

Tu hạnh này, có mười hai pháp(45). Ngày nay, họ để đầu tóc chơm bơm mà tự hào là đầu đà đó rất là sái quấy!
Phật quở “Để dài râu, tóc, móng là cái tướng phá giới của ác Tỳ-kheo. Hoặc Tỳ-kheo riêng ở một ḿnh nơi a-lan-nhă, không người cạo giùm th́, cho phép để tóc dài chừng một tấc, nếu cũng không biết tự cạo, móng tay dài chừng một hột thóc, chẳng đặng để dài hơn.”

Bỏ gia đ́nh, đến chốn phi gia, bỏ cái nhà có sanh đẻ của thế tục mà vào nơi cái xá thanh tịnh vô vi.

Đức Văn Thù Bồ-tát bạch Phật rằng “Đức Như Lai đă nói ơn rất lớn của cha mẹ, chẳng khá chẳng trả, lại nói thầy (bổn sư) và chúng tăng có ơn cũng lớn, chẳng thể cân lường; vậy, th́ ơn bên nào rất lớn hơn?”

Phật dạy “Kẻ tại gia dẫu thường lân la dưới đầu gối của cha mẹ để phụng sự hiếu kính đi nữa, cũng chưa đủ trả ơn sanh thành, do công ơn quá sâu v́ sanh dục, nên nói ơn của cha mẹ rất lớn; c̣n như người theo thầy xuất gia học đạo th́, ơn này cũng rất lớn, v́ nhờ bổn sư mở bày cho ta được thấy, nghe, hiểu biết đạo lư giải thoát sanh tử, để ra khỏi sông mê biển khổ.

“So ra để cân nhắc người xuất gia là đă bỏ cái nhà có sanh đẻ của cha mẹ, tiến vào trong pháp môn, thụ học cái pháp vi diệu, đó là do đạo lực của bổn sư sanh trưởng cho cái Pháp thân, đưa ra cái pháp tài, để nuôi lớn cái mạng trí huệ th́ không cái công nào lớn bằng, vói so ra th́, cái ơn sở sanh của phụ mẫu chỉ lớn ở hạng thứ mà thôi”. V́ ơn sanh trưởng huệ mạng hơn ơn sanh trưởng nhục thân, huống nữa là giải thoát sanh tử.

Hương đảng, hương: hướng tới, nghĩa là chỗ của chúng nhân qui hướng; đảng: bằng đảng, xưa định lấy năm gia đ́nh làm một đảng. Sách Chu Tể nói “Trong khu trăm gia đ́nh, sắp làm một hương”. Sách Hán Chí ghi “Sắp năm gia đ́nh làm một lân; năm lân lập làm một lư; bốn lư lập làm một tộc; năm tộc lập làm một đảng; năm đảng lập làm một châu; năm châu lập làm một hương. Đấy là lấy số một vạn hai ngàn năm trăm nóc nhà sắp làm một hương.

Bẩm: Thụ mạng.

Trong siêng cái công hay chánh niệm, ngoài rộng cái đức chẳng chấp giành.

Câu trên, rơ cái niềm chánh niệm, câu dưới rơ cái đức ḥa kính. Nghĩa là, trong ḷng rất thiết quán niệm trí huệ, ngoài hạnh mở rộng nghĩa vụ lục ḥa. Đấy là cái công huân nhập đạo, cái cơ bản lập đức.

Ngài Tăng Triệu nói “Nhà sư mà phi chân tâm th́ không lấy đâu đủ sáu pháp; phi sáu pháp th́ chẳng do đâu ḥa hợp quần chúng. Đấy là phi cái gốc kính thuận, nên chúng không phục ḥa!”

Kư: 1-Với giới phẩm, ḥa hợp đồng thụ đồng tu. 2-Với tri kiến, ḥa hợp đồng chỉ đồng hiểu. 3-Với thân khu ḥa hợp đồng an trụ. 4-Với tài lợi ḥa hợp đồng chia hưởng. 5-Với khẩu thiệt ḥa hợp không cải giành. 6-Với ư niệm ḥa hợp đồng vui mến.

Giải thoát gia đ́nh, mong hẹn ra khỏi.

Câu trên, ly khai nhà thế tục; câu dưới siêu xuất nhà tam giới. Người mà muốn thoát ly cơi trần tục th́, cần phải cất bước siêu việt hẳn địa phương. Kỳ cho được thoát ly tam giới luân hồi, lục đạo sanh tử th́, cần nhất phải đoạn hẳn phiền năo, thế mới phu phỉ cái bổn thệ(46) lúc xuất gia.

Hai câu của chánh văn đây là tổng kết văn trên, để phát khởi văn dưới.

Kư: Câu trên (giải thoát gia đ́nh) là xâu kết cả năm câu trên cha mẹ… sáu thân… việc nước… nghiệp nhà… làng xóm…; câu dưới (mong kỳ ra khỏi) là kết cả ba câu, như cạo tóc… trong siêng… ngoài rộng…

Hoảnh thoát (giải thoát). Hoảnh: chỗ xa vắng. Kư: muốn, trông.

II.A.1.e- Danh lợi mất đạo

Cớ sao? Vừa lên giới phẩm, liền khoác (dóc) ta là Tỳ-kheo.

Câu trên, mới thấm thể vô tác. Câu dưới, chưa đủ đức chỉ ác. Do v́, danh và hạnh chưa đáng, chẳng xứng với nghĩa Tỳ-kheo.

Từ biệt song thân, vào nhà Tam bảo, trong siêng… ngoài rộng… đấy là, vốn v́ kỳ cho được ra khỏi đường sanh tử. Cớ sao mới vào trong số đại tăng, liền vội tham tài, tham thực, cả danh lẫn lợi, buông chơi lung t́nh, gây cái nhân hữu lậu, kết cái quả sanh tử, mâu thuẫn với sơ tâm, bỏ mất cái hạnh xuất ly ư ?

Vừa lên giới phẩm, mới thụ giới cụ túc, thể vô tác mới thành.

Giới phẩm có bốn hạng: 1-Ngũ giới, 2-Thập giới, 3-Cụ túc giới, 4-Bồ-tát giới. Hai giới trước và sau là đều thông đồng chúng tại gia. Hai giới giữa là, chỉ riêng cuộc về chúng xuất gia.

Ta là Tỳ-kheo, là người đă thụ giới cụ-túc.

Tỳ-kheo, tiếng Phạm là Bhiksu, hàm có cả ba danh nghĩa: 1- Phá ác, 2- Bố ma, 3- Khất sĩ. Bởi bao hàm ba nghĩa ấy mà chữ Nho Trung Hoa không thể phiên dịch được, nên vẫn c̣n để nguyên bổn âm (tiếng Phạm).

Kư: Vô tác, cũng gọi là vô giáo, lại là vô biểu sắc, tức là giới thể, từ khi “Bạch tam Yết-ma” mà đắc, đắc giới thể đây rồi, mặc ư thôi dứt điều ác, tha hồ tự tiện làm lành, không dụng tâm làm đi làm lại việc sái quấy nữa, nên gọi là vô tác. Chỉ: thôi dứt các điều ác, khiến chẳng cho gây lại.
Phá ác, đứng về khi ban đầu đắc giới, do nghe ba lần pháp Yết-ma, mà nảy ra cái “thiện luật nghi”, nên phá được ác luật nghi.

C̣n như về mặt phổ thông tu hạnh giải th́, hay phá được các điều ác của kiến hoặc và tư hoặc.

Bố ma, đă hay phá ác, nên trời ma vương lo nghĩ rằng “Người ấy chẳng những chỉ siêu xuất ngoài cơi xứ của ta, hoặc c̣n có thể truyền đăng kế Tổ, chuyển hóa quyến thuộc của ta nữa, bỏ trống cung điện không ai ở, v́ chúng đă xả tà qui chánh”. Nên ma vương lấy làm lo sợ!

Khất sĩ, khất là cái danh khất cầu, sĩ là tiếng xưng thanh nhă. Nghĩa là, bên trong th́ tu tạo cái đức thanh nhă, với ngoài th́ xa ĺa món ăn tứ tà(47), tự xử lấy cái mạng trong sạch, để làm phước lợi cho chúng sanh, phá cái tâm kiêu mạn, giữ cái hạnh khiêm nhượng tự thấp, rao xin nuôi thân, để tạo thành cái đức thanh nhă.

Kẻ xuất gia ngày nay, mưu cầu đă nhiều, chứa để cũng lắm th́ đâu có xứng với cái đức thanh nhă, thế đă mâu thuẫn với cái danh khất sĩ, đâu c̣n là Tỳ-kheo ư!?

Hoặc tiêu xài của đàn-na, hoặc ăn dùng của thường trú.

Câu trên rơ của tín thí; câu dưới rơ của tăng vật. Th́ ra, dẫu một tấc tơ, một nhỏ nước, cũng khó mà tiêu đặng, nếu ta chẳng có cái đức giữ giới, phương chi là cả bốn món của đàn-việt cúng dường và hằng ngày thụ dụng của tăng-kỳ ư?

Đàn việt, Đàn là tiếng Tây Vực, đây dịch là thí; Việt là lời của phương đây. Nghĩa là, người mà năng hành cúng thí, th́ về sau mỗi đời vượt (việt) qua khỏi biển khổ bần cùng. Như kinh Địa Tạng nói “Thí nhứt đắc vạn báo”.

Một danh từ thường trú mà, có bốn mặt luật:

1-Thường trú thường trú: của chùa trong chùa như Tăng tự, Tăng pḥng, Tăng xá, cả các khí cụ, cây cối, hoa quả, ruộng vườn, già-lam dân và súc vật…, do là thể nó chỉ cuộc của chùa đương xứ, không đồng với các chùa nơi khác chỉ ở đó th́ được thụ dụng tại đó, chứ chẳng được thông đồng chia bán, nên nói lặp lại hai chữ Thường trú.

2-Thập phương thường trú: như tứ sự cúng dường trong chùa mà chúng tăng thực dụng hằng ngày, dù thể nó thông đồng tăng khách nơi mười phương (v́ tới lui thết đăi nhau), nhưng chỉ cuộc ở nơi chùa bổn xứ.

Hai thể dụng trên, chung gọi là của tăng-kỳ vật(48).

3-Hiện tiền hiện tiền, nghĩa là, chúng Tăng hiện diện được lănh tài vật của người cúng thí, v́ chỉ cúng thí cho chư Tăng hiện diện tại chỗ chùa này.

4-Thập phương hiện tiền (dù chư Tăng các chùa khác mà có sự hiện diện tại đây), giả như, đồ đạc, vật mọn của năm chúng (Sa-di, Sa-di ni, Thức-xoa-ma-na, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni) đă qua đời, nếu chưa làm pháp Yết-ma th́, vật mọn ấy thể nó thông đồng thập phương Tăng, c̣n như đă làm pháp Yết-ma rồi th́, tài vật ấy thuộc về chúng tăng có mặt hiện tiền.

Hai thể dụng ấy gọi là của hiện tiền Tăng vật.

Kư: Sở tu là cần dùng (tiêu xài) nghĩa nó thông đồng cả ăn lẫn dùng. Khích dụng, khích: nuốt vào, nghĩa nó chỉ cuộc về uống và ăn, như y dược. Dụng: dùng, nghĩa nó thông đồng cả y phục, ngọa cụ, pḥng xá…

Chẳng biết xét nghĩ chỗ đến, bướng rằng lẽ phải cúng dâng.

Câu trên, mất quan sát (ngũ quán); câu dưới, luận nghị si mê. Do v́ không có cái huệ quán xét, nên chẳng biết cái phép tư duy. Bởi ngu si u ám, nên riêng sanh cái ư kiến ngây dại. Thế, không biết xấu, chẳng hổ ngươi, nên nhân đó mà phát sanh ra cả các thói ngă mạn, giải đăi, tham lam và tật đố.

Thổn: Kể đo nghĩ kỹ. Tư: tính lường. Vị ngôn: nói bướng, tức tự thốt ra lời nói phi nghĩa. Pháp nhĩ là lẽ phải vậy. Hiệp cung có hai nghĩa, 1-Thí chủ kia lẽ phải cúng dường nơi ta. 2-Ta đáng phải thụ người cúng.

Lai xứ: chỗ đến. Người thụ phải quán xét: kể ra, cơm trong một bát đây, kẻ làm ra cơm, công lao chẳng ít, người thí chủ bớt phần của vợ con, đến cúng cho ta, để gây ruộng phước, giới đức của ta nếu chẳng hoàn toàn, đâu nên thụ người cúng! Mặc dù các giới đức đều đủ, c̣n cần phải tu hạnh quán tưởng mới có thể tiêu dùng của tín thí.

Kinh Văn Thù Vấn nói “Với cơm của thí chủ, cũng chẳng nên ăn, nếu Bồ-tát không tư duy ngũ quán”.

Kư: Kinh Ca-Diếp chép rằng bấy giờ, có năm trăm vị tân học Tỳ-kheo tự kiểm thảo rằng “Chúng ta chẳng thể tinh tiến tu học ǵ, e không kham nổi tiêu dùng của tín chủ cúng dường, thôi chúng ta nên xin phép huờn tục”.

Đức Văn Thù Bồ-tát khen phải chấp thuận rằng “Như đă tự xét, chẳng thể tiêu rỗi được vật thực của thí chủ cúng thí, thà nên một hôm nọ mà mấy trăm Tỳ-kheo huờn tục c̣n hơn, chứ chẳng nên phá giới rồi mà, chỉ ở lại một ngày để thụ của người tín thí”.

Phật bảo Văn Thù rằng “Có kẻ lo tu thiền giải thoát, ta cho kẻ ấy được phép thụ vật thực của tín thí”.

Từ Ân pháp sư nói “Chẳng nuôi tằm, dệt vải mà mặc áo, không cày ruộng cấy gặt mà ăn cơm, cô chức nữ, anh nông phu nhọc đổ mồ hôi, v́ ta nên đạo nghiệp, nên thí chủ đem dâng, đạo nghiệp chưa thành đâu tiêu được”.

Từ Thụ Thâm thiền sư quở rằng “Ngày nay có bọn sơ học Tỳ-kheo, chỉ thích ăn no ngủ kỹ, mặc t́nh qua ngày, c̣n than phiền là chẳng được mấy xứng ư. Chứ họ có biết đâu rằng người xuất gia, tỷ như một viên đá mài dao, nghĩa là, tất cả ai nấy (các thí chủ) cũng đều tự muốn lưỡi dao của họ bén (muốn được phước), nên đem dao đến mài trên viên đá, mài đi, mài lại (cúng thí nhiều lần), mỗi lưỡi dao của chúng đều được bén, mà viên đá của ḿnh (người xuất gia) dần dần ṃn mỏng (bị chúng lễ cúng mà tổn phước).

“Có bọn (cũng kẻ xuất gia) kia, lại c̣n trách cứ người ta (thí chủ) sao chả đem dao đến mài trên đá hắn, v́ hắn tự hào đá của hắn có chỗ hay lắm”.

Lời của ngài Từ Thụ rất thiết đáng, tỷ như chích mũi kim vàng trúng vào chỗ bệnh của người (kẻ xuất gia ham cúng dường)! Giả sử, viên đá của ḿnh đă cứng như ngọc kim cang (giới đức hoàn toàn), th́ chẳng ngần ngại trách chúng chẳng đem dao đến mài.

Trí Độ Luận nói “Gẫm nghĩ cơm đây, từ vỡ đất cày bừa, gieo cấy, giẫy cỏ, cắt gặt, đạp lúa, giũ rơm, xay thóc, giă gạo, vo gút, xôi nấu đây mới thành ra cơm, công dụng nặng nề lắm. Kể ra, cơm trong một bát đây những người làm ra, thiếu điều đổ mồ hôi cục, mới thành ra được, nên chỉ một bát đây tuy chả bao lăm mà công lao mồ hôi quá nhiều. Đấy, làm ra cơm đây, công nặng tân khổ như thế”.

Ăn nuốt vào khỏi cổ rồi, liền thành đồ bất tịnh, lại không c̣n giá trị ǵ nữa, trong khoảng cách đêm, nó biến thành vật đại tiểu tiện, đó, nguyên là mỹ vị, ai cũng ưa thèm, liền biến thành bất tịnh, ai cũng gớm chả muốn ngó!

Hỡi các hành giả! Tự phải nghĩ nhớ món tệ thực như thế, ta mà tham đắm, phải đọa địa ngục, để rồi trả quả bằng cách nuốt hoàn sắt đốt đỏ…!

Từ địa ngục ra rồi, phải đọa vào súc sanh, như là trâu, ngựa, ḅ, dê, lạc đà, để rồi đền bồi nợ đời trước của thí chủ, hoặc đọa làm con heo, con chó, thường ăn đồ bất tịnh như phẩn uế.

Đối với vật thực, chúng ta cần quan sát như thế, sanh cái ḷng tưởng chán ĺa, nhiên hậu mới xiết thụ thực.

Đạo An pháp sư nói “Cơm của thí chủ giảm bớt phần ḿnh nên quá thâm trọng, sở dĩ, một hột gạo mà có thể nặng bằng bảy cân, kẻ xuất gia mà không giữ giới, ăn của tín thí, sau khi chết rồi, đọa vào chốn Thái Sơn Phủ Quân, đốt hoàn sắt cho ăn, nấu nước đồng cho uống, chịu thống khổ như thế, kinh Pháp Cú đă kể bày”!

Chính chỗ bảo “Kẻ học đạo mà bất thông lư, đem thân trả nợ cho tín thí, trưởng giả tuổi đến tám mươi mốt, cây trong vườn chẳng mọc nấm nữa”. Bằng như một niệm sáng suốt lại, chợt cùng hợp với đạo lư, muôn lượng vàng ṛng cũng tiêu được.

Ăn rồi, dụm đầu reo reo (ào ào), chỉ nói chuyện bậy nhân gian.

Câu trên nêu chung; câu dưới thích riêng. Do reo reo, chưa rơ ra lời chi,nên thích rằng “nói câu chuyện xằng bậy của nhân gian”.

Khích liễu: ăn no rồi. Tụ đầu: cùng nhau dụm đầu. Tạp thoại: lời nói của thế tục, chả dính líu ǵ với tiếng nói của kinh luật. Hăy trong không hay chính niệm, nên ngoài thốt lời bậy bạ. Không tu pháp quán huệ, đâu biết xét nghĩ. Chẳng riêng kiểm thảo ba nghiệp, th́, cái tâm sở điếu cử là những cái mà hạnh thô, tướng tục, tưởng bậy nói xằng do đó sanh ra.

Kinh Di Giáo nói “Hễ mỗi lời hí hước, th́ tâm niệm tán loạn, dù đă xuất gia, hăy chưa giải thoát! Thế nên, kíp phải xả ĺa cái tâm hí luận tán loạn, để cầu lấy cái vui vô vi tịch diệt. Muốn đắc cái vui tịch diệt, chỉ phải khéo thâu nhiếp cái phóng tâm, để diệt trừ cái bệnh hí luận(49)”.

Trường Lô Sách thiền sư tự cảnh văn nói “Nếu mà trộm bàn việc chánh trị của triều đ́nh, riêng phẩm b́nh các quận huyện quan liêu, giảng năm đặng mất mùa trong cơi nước, luận thói tốt xấu của phong tục. Nhẫn đến, việc mọn của kẻ thợ, lái buôn, chuyện phiếm nơi chợ quán, giếng nước. Cơn binh qua ngoài bờ cơi, trận giặc giă chốn trung nguyên. Áng văn chương hay dở, phường kỹ nghệ sang hèn. Quần áo, uống ăn, hàng hóa, của cải. Khoe chỗ hay của ḿnh, giấu việc tốt của chúng. Nêu bày điều lỗi trống, vạch chỉ chỗ vít kín. Đă trái phước nghiệp, vô ích đạo tâm. Du ngôn(50) như thế, đều tổn thật đức! Ngồi không luống tiêu của tín thí, ngửa mặt hổ với long thiên! Tội mới đầy chén, hoạn trọn ngập đầu!(51)

Sao thế! Chúng sanh bị lửa khổ(52) đốt cháy tứ bề(53), há khá rỗi yên, ngồi bàn vô nghĩa. Cổ Đức (thiền sư) c̣n rằng tự cảnh (răn ḿnh), chúng ta là người hạng nào sao chẳng tự nghĩ!?

Kư: Huyên là nói lớn tiếng reo ồn. Điếu cử, có ba:

1-Cái thân điếu cử, nghĩa là, cái thân ưa đi dạo chơi, làm các tṛ hí hước, chẳng chút ngồi yên, thế là cái thân lau chau. 2-Cái khẩu điếu cử: miệng lưỡi lua khua, nghĩa là, ưa thích ngâm vịnh, giành căi thị phi, vô ích hí luận, tán tỉnh chuyện thế gian. 3-Tâm điếu cử: ư thức tháy máy như là, tâm t́nh buông lung, thả niệm vướng víu lung tung, lo nghĩ làm bài vở, học nghề nghiệp của đời, bao điều ác giác quan(54)…

Đời nhà Tống tại chùa Quang Hiếu, ngài An thiền sư, khi ở trong giờ tọa định, thấy hai ông sư đứng dựa ngoài cửa sổ dưới hiên để nói chuyện với nhau, ban đầu thấy có vị thiện thần ṿng tay nghiêng ḿnh để nghe, giây lâu rồi bỏ đi nơi khác; xảy lại có ác quỷ đi đến tỏ thái độ khinh bỉ, khạc nhổ, lấy chổi quét dấu chơn của hai ông sư. Sau giờ ra định, gạn hỏi duyên cớ th́ biết rằng hai sư ấy, ban đầu luận về câu chuyện Phật pháp, có thứ tự rỗng răng; rốt sau nói về chuyện tư sanh trưởng dưỡng! Từ đó nhẫn đi, ngài An thiền sư trọn đời, chưa hề nói đến chuyện đời.

Luận nói “Có hai Bật-sô, cùng đi dọc đường, nói những câu chuyện phi pháp; bấy giờ có quỷ dạ xoa tên là Bất Tín, muốn hớp hồn của hai sư ấy!”
Phật dạy “Bật-sô khi đi trên đường, cần phải suy nghĩ việc lành, có hai điều kiện: 1-Nói những lời pháp ngữ. 2-Hoặc làm thinh như bậc thánh yên lặng; đi đến chỗ nghỉ, thuyết bài già-đà của Phật giáo”.

Người đời nay, trọn ngày rảnh ngồi bàn chuyện lăng xăng bậy bạ, hăy c̣n chẳng khỏi bị quỷ thần quở trách thay, mà muốn cầu các Ngài ủng hộ th́, đâu có thể được ru!?

Thế th́, một kỳ đua vui, đâu biết vui là nhân khổ.

Câu trên rơ quá lung vui, câu dưới rơ nguyên nhân khổ. Nghĩa là, đời nay lung t́nh thả theo cuộc truy hoan trong trường dục lạc, tức là tạo cái nhân khổ cho đời đương lai. Cái khổ nhân đă tích tập từ đây th́, cái khổ quả đưa đến. Nên nói “Tạo nhân chẳng ngay th́, kết quả quanh vạy, trả liền trước mặt, chết rồi trầm luân”, đây bảo thế chẳng.

Một kỳ: sự thụ thân của các chúng sanh, tuy rằng thọ mạng (mạng sống lâu) mà, hoặc dài hay vắn chẳng đồng nhau, song, đều là cái quả báo trong một thời kỳ.

Thế th́, một đời (một kỳ) rượt theo cuộc chơi vui, thực là, để rồi tự chịu khổ ương cả muôn kiếp!

Kư: Vui năm điều dục lạc, tức là tài, sắc, danh, thực, thùy. Cũng gọi ngũ trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nghĩa là, năm điều ấy hay khiến người sanh ra cái tâm tham dục, nên gọi là Dục; cũng là hay làm ô nhiễm chân lư, nên gọi là Trần. Sách Chỉ Quán nói “Ngũ trần chẳng phải là dục mà, trong đó, nó có cái mùi vị bị hành nhân năng sanh cái tâm tham dục, nên nói là ngũ dục”.

Trí Độ Luận 17 nói “Thương cho chúng sanh, thường bị ngũ dục làm khổ, thế mà, chúng cứ tham cầu măi không thôi. Với ngũ dục, hễ cầu được lại càng hăng sướng, tỷ như bệnh lác được hơ lửa. Ngũ dục không ích ǵ, như chó nhăn cây đuốc lửa. Ngũ dục càng giành, như bầy chim giành thịt. Ngũ dục đốt người, như cầm đuốc lửa đi ngược gió. Ngũ dục hại người như đạp lên con rắn độc. Ngũ dục không thực, như nằm mộng được vật ǵ đó. Ngũ dục chẳng bao lâu, như tạm mượn trong giây phút. Người đời ngu lầm, tham đắm ngũ dục, đến chết không buông, làm cho đời sau, chịu vô lượng khổ!”

Kiếp trước theo trần (trần túc, tập quán), chưa hề xét lại.

Câu trước, rơ thuận theo tập quán trần tục. Câu sau, rơ mê mất nhăn quang trí huệ.

Bởi từ vô thỉ lại, chỉ một bề thuận theo cái tập tánh mê hoặc của tự ḿnh, rượt măi theo những cảnh vọng ảo của trần tục, cho đến ngày nay vẫn c̣n tưng bừng trong tâm khảm, chưa hề một niệm hồi đầu soi xét lại để biết là quấy th́, làm ǵ có thể siêng tu định huệ, để phủi trừ những tập tục mê hoặc kia, hầu ra khỏi cảnh trần lao.

Kư: Văng kiếp là kiếp trước, ngày kia. Kiếp: thời kỳ cực dài(55) tức là từ kiếp vô thỉ đến nay. Trần, trần cấu: bụi nhơ, nghĩa là ô nhiễm, tức là các điều vọng trần, mê hoặc, tập quán, nó thường làm cho chân tánh tự tâm bị nhiễm nhơ, chẳng thấy được đạo, nên gọi là Trần.

Giờ, ngày lu lấp, tháng, năm chần chờ.

Câu trên bỏ mất qua ngày đêm. Câu dưới bỏ mất qua năm tháng. Yếm một: vùi lấp. Ta đà: luống mất ngày giờ. Nếu chẳng chuyên tu định học, huệ học, chẳng những mai một quang âm mà thôi, lại thực là luống mất trăm năm nữa.

Kư: Nói giờ ngày là cả ngày lẫn đêm. Thời là nói cả mười hai can chi(56). Quang là tam quang(57).

Tiêu xài quá nhiều, lợi chủ càng lắm.

Câu trên, là tự tiêu dụng. Câu dưới, là thí chủ v́ cầu phúc, nên cúng dường không nhàm; mà kẻ thụ thí, phải sanh cái niệm biết tàm quư, biết tự lượng mà thụ dụng.

Rằng thụ dụng là thu nạp để tư nhuận nơi thân tâm bằng cách lung t́nh hưởng của thí chủ.

Ân phiền (quá nhiều) là bốn món cúng dường càng nhiều, ngoài trăm món mỗi một, lại thêm dư dả.

Thí lợi (lợi chủ) là cả tứ sự cúng dường, với bách nhứt sở tu(58). Quá nhiều (ân phiền), càng lắm (nồng hậu), cái danh chữ dù khác mà đồng nghĩa với nhau.

Kư: Ngài Huệ Hưu pháp sư, hơn ba mươi năm chỉ mang có một đôi giày, có rách th́ chằm chắp, chứ không đổi bỏ, mỗi khi đi đường, gặp chỗ đất mềm bủn th́ cởi xách mà đi chơn truồng; người ta hỏi sao thế? Ngài thường đáp rằng tín thí nan tiêu. Ngài từng dạy chúng “Các người ngày nay, với mỗi món thụ dụng, chưa đói đă ăn lặt vặt, chưa rét đă bận áo ấm, chưa dơ đă đi tắm giặt, chưa buồn ngủ đă đi nằm ngủ, đạo nhăn chưa sáng suốt, vọng tâm chưa diệt hết, thế th́ làm sao tiêu nổi được của tín thí!?”

Ân: thạnh lắm. Phiền: nhiều lắm. Nồng: chẳng lợt lạt. Hậu: chẳng mỏng mẻo. Tứ cúng: ẩm thực, y phục, ngọa cụ, y dược. Bách nhứt là đồ đạc vật dụng của thầy Sa-môn để cần dùng hộ thân.

Trải lâu năm tuổi(59) chẳng toan bỏ ĺa.

Câu trên, nói về thời gian; câu dưới, nói về tâm mê. Do tiêu xài quá nhiều, đắm mùi chẳng thôi nên đến đỗi lửng quên, đă trải qua từng bấy tuổi năm mà, chưa từng sanh một quan niệm chán nhàm ĺa bỏ.

Kư: Nghĩ là toan liệu trước rồi sau mới làm, tức xét soi để đợi dịp tiện bề thi thố.

Ngài Chu Dung thiền sư nói “V́ chán khổ trần lao, cầu thoát đường sanh tử, thôi thức tâm, dứt vọng niệm, đoạn tuyệt hẳn cái t́nh cảnh phan duyên (sáu căn vín vướng với sáu trần), nên gọi là xuất gia; đâu nên húng hính theo lợi dưỡng, đành mai một cả b́nh sanh. Chỉ cần hai đầu(60) vẹt ra, chính giữa buông xuống. Gặp thanh gặp sắc, như trên đá trồng hoa, thấy lợi thấy danh, như trong mắt bị bụi. Phương chi, từ vô thỉ lại, không phải không từng đă trải qua rồi, cần ǵ c̣n khắn khắn tham luyến? Nếu nay chẳng thôi, đợi khi nào nữa!?

Chứa nhóm ê hề, tưng tiu xác huyễn.

Câu trên, súc tích những tài vật không kiên cố. Câu dưới, bảo dưỡng cái nhục thân như mộng hoạn. Nghĩa là, nhóm chứa tài vật không bền chắc của tứ cúng, để giữ ǵn thân vật chất mộng ảo của ngũ ấm. Một mai cơn vô thường đến th́, của chứa cất kia dùng chi? Thân tứ đại phân tán, công giữ ǵn ấy đâu c̣n!?

Nên Tịnh Trú Pháp nói: Với cái sanh chẳng thể bảo đảm mà, chỉ muốn kinh doanh cái sanh; với cái tư nó nhất định đến mà, chả biết đoái lo cái tử. Huống chi cái sanh mạng nguy kịch đây, nó hung hiểm, biến đổi vô thường trong một chốc lát bất ngờ thoạt chết!

Song, với nguyên nhân ác, đă nhóm chứa từ đây, th́ với quả báo ác cũng khó trốn! Hễ, cái h́nh vạy th́ cái bóng xiên đâu phải lời dối ru?

Kư: Tiền tài đồ vật, đều thuộc về năm nhà sau đây nên nói là không bền chắc: 1-Bị nước ch́m trôi. 2-Bị hỏa hoạn cháy mất. 3-Bị đạo tặc cướp trộm. 4-Bị kiện đến quan lại được dâng. 5-Bị ác tử làm hư gia phá sản.

Ngài Vô Tác thiền sư nói “Người mà phước yếu (ít), tiền tài mạnh (nhiều) th́ tất nhiên bị ương họa v́ tiền tài; đức mỏng nhỏ mà lănh trách nhậm to tát th́ mau thành tai hại v́ trọng nhậm! Người xưa, chỉ cầu cho cái tâm được thông đạt, chứ chẳng cần cho cái thân hiển đạt. Với người bực hiền, ta chẳng nên che giấu, ḿnh mà được bực hiền, không nên khoe bày. Nếu được như thế, là tự biết cái mạng, hợp cùng cái đạo, tự bảo toàn được trọn một đời của ḿnh vậy”.

Đức Đạo sư có dạy răn nhắc thầy Tỳ-kheo “tiến đạo nghiêm thân, ba thường chẳng đủ” (không tham nhiều dư).

Hai câu trên, răn bảo gắng cần, hai câu dưới, khai thị pháp huấn. Đức Như Lai là ngôi pháp vương cả tam giới, đấng Đạo sư của tứ chúng. Biết hết tánh người, xem theo căn cơ, truyền trao pháp lư, như hợp bệnh nào cho thuốc nấy. Thế nên lập thành phương pháp, chế ra giới luật, dạy bảo các hàng đệ tử, tu hành tấn đạo, cốt phải tinh chuyên cần mẫn, ít muốn, biết đủ, dùng ba sự để tự sửa ḿnh. Ba sự là ẩm thực, y phục và thùy miên.

V́ ba sự ấy khiến người bị che tối, thành ra cái nhân duyên chướng ngại đạo. Nên Phật dạy thường cần chẳng đủ, mới hợp với đạo.

Kư: Đạo sư là Thầy hướng đạo dẫn đường chỉ ngơ cho chúng sanh, ra khỏi nhà lửa tam giới.

Kinh Tư Ích nói “Đối các chúng sanh, phát tâm đại bi, khiến vào chánh đạo, chẳng cầu trả ơn, nên gọi là Đạo sư”.

Kinh Báo Ân nói “Mở bày nẻo Niết-bàn, khiến đặng chân thường, chân lạc nơi cảnh vô vi, nên gọi là Đại đạo sư”.

Kinh Di Giáo, Phật dạy “Các ông Tỳ-kheo! Nếu muốn thoát ly mọi điều khổ năo, cần phải xem ngay pháp tri túc, v́ pháp tri túc, tức là chỗ giàu vui an ổn. Người mà tri túc, dẫu nằm mặt đất, cũng là an vui. Người chẳng tri túc, tuy ở thiên đường, cũng chẳng vừa ḷng. Người chẳng tri túc, tuy giàu mà nghèo. Người mà tri túc, tuy nghèo mà giàu. Người không tri túc, thường bị ngũ dục lôi cuốn, làm cho người tri túc thấy mà xót thương!”

“Các ông Tỳ-kheo! Thụ món ăn uống, phải như uống thuốc, với ngon và dở, chớ muốn thêm bớt, vừa đủ nuôi thân để dứt đói khát, như ong hút hoa, chỉ dùng cái vị, chẳng tổn sắc hương. Tỳ-kheo cũng thế, chịu người cúng dường, vừa đủ dứt ngặt, chớ đặng tham nhiều hoại thiện tâm người.”

Lại nói “Các ông Tỳ-kheo! Tự rờ đầu ḿnh, đă bỏ trau chuốt, bận áo hoại sắc, tay bưng b́nh bát, đi xin sự sống”.

Lại nói “Các ông Tỳ-kheo! Ngày th́ ḷng siêng, tu tập pháp lành, đừng cho mất giờ, đầu đêm, sau đêm, cũng chớ bỏ tu, giữa đêm tụng kinh, để tự tiêu tức(61), chớ quá ư ham ngủ, khiến luống qua một đời, không sở đắc ǵ! Phải nhớ lửa vô thường đốt cháy thế gian, sớm cầu độ ḿnh, chớ ham nghỉ ngủ”. Húc: khuyên gắng. Nghiêm: chính.

Người nhiều với ấy, đắm mùi chẳng thôi, ngày qua tháng lại, thoạt đă bạc đầu.

Hai câu trên là tham lợi dưỡng. Hai câu dưới là lửng qua đời ḿnh. Ôi! Măi tham thế lợi, hăy c̣n chưa nghỉ, phút đă tóc bạc đầy đầu! Ngày qua tháng lại, như lửa quay tṛn(62), tin chết(63) chẳng bao lâu lại hầu đến.

Kư: Với ấy là ba sự (ẩm thực, y phục, thùy miên) trên kia. Tạp: thoạt, như gió thoạt vậy liền đến. Như kinh A Hàm nói “Có bốn việc trước chẳng bảo với người là 1-Đầu bạc, 2-Già nua, 3-Đau ốm, 4-Chết”. Thế là, với bốn sự ấy, chẳng thể trốn lánh, cũng không trừ khước.

Kẻ hậu học chưa nghe chỉ thú, cần phải rộng hỏi bực tiên tri.
Câu trên, là nói người thiếu ích lợi; câu dưới, khiến nương trước được lợi ích. Nghĩa là, luống uổng sống già, mà không lời chi để tiếp dẫn kẻ hậu lai!

Muốn làm được sự lợi ích cho người th́ phải lo cho phần tự lợi trước đă. Muốn được tự lợi th́, phải rộng hỏi bực tiên tri, hiểu suốt cái nguyên lư tâm tánh của Phật Tổ. Muốn được lợi tha th́, ḿnh phải rơ thấu chân tông, rộng bày cái môn phương tiện của sự lư.

Rộng hỏi th́, chẳng phân biệt là người bực tôn hay bực ty, là không lấy làm hổ đến với kẻ thấp nhỏ hơn ḿnh, chính chỗ gọi “y pháp bất y nhân” (căn cứ nơi pháp, phi cứ nơi người)
Rộng bày th́, bất luận là kẻ oan người thân (kẻ ơn người thù), không phân biệt kẻ sang người hèn. Chính chỗ bảo “Tâm từ thể chánh, pháp thí b́nh đẳng”.

Dẫu c̣n ôm ấp cái thành kiến bỉ ngă th́, ḿnh với người đôi bên đều mất lợi.

Kinh Pháp Cú nói “Phàm là sự học th́, trước phải nghiêm chính lấy ḿnh, nhiên hậu mới nghiêm chính cho người. Ḥa ḿnh vào huệ, ắt là trên tất cả.
Thân của ḿnh chưa thể được lợi ích, đâu có thể làm ích ǵ cho ai! Tâm đă điều ḥa, thể đă nghiêm chính th́, nguyện ǵ không được.

Tuy đọc được ngàn lời mà, chẳng thực hành th́ ích chi, chẳng bằng chỉ nghe một lời mà, siêng tu được lợi ích. Dẫu đọc ngàn lời, không cầu lối thoát, chẳng bằng chỉ tỏ ngộ một lời, ĺa hẳn tam giới. Dù đọc thuộc ḷng một ngàn lời, chẳng ǵn bi trí; không bằng chỉ nghe rơ một lời, ḿnh cùng người đều được lợi.

Kư: Chỉ là tông chỉ của bộ kinh bộ luật. Thú, là chỗ sở qui của Tông. Tôn, là cao, là chuộng. Chỉ, là ư chỉ. Nghĩa là, kinh luật ma chỗ phải tôn sùng, phải chủ trương là ư chỉ, tức là chỗ qui thú cứu cánh.

Bác: rộng, lan rộng giao kết tham cứu. Vấn, là xin hỏi học thêm. Tiên tri là tiên giác.

Sự Sao chép: Cổ Đức nói “Rộng học là v́ để cứu giúp cái nghèo về hiểu biết”.

Cao Tăng Truyện nói “Chẳng rộng học th́, lời nói không chỗ điển cứ, nên với sự học, chẳng chán sự rộng hỏi, hễ học hỏi được rộng th́ là thông”.
Khổng Tử nói “Quân tử rộng học nơi văn tự, dón rút lại lấy lễ pháp, cũng khá dùng chẳng trái đạo vậy chăng? Dẫu sống mà nghèo nơi sự học là đứa nhụ phu(64), chết mà giàu nơi đạo học là người quân tử”. Thế được biết rằng, rộng học là giúp cho kiến thức khỏi bị nghèo thiếu.

Thầy Trang Tử nói “Người mà chẳng học, gọi là con thị nhục, học mà chẳng hành gọi là cái toát nang”.

Phất bạn: Chẳng trái đạo hạnh.

Toan rằng xuất gia, quí cầu ăn bận.

Hai câu đây là xâu kết văn trên, phát khởi văn dưới.

Tương toan, tức muốn, nghĩ, cũng là lời giằn gạn lại. Song, đă bỏ t́nh tục lụy đi xuất gia, vốn là lấy đạo làm trọng, chứ phi lấy ăn bận làm quí.

Kư: Ngài Đạo An pháp sư răn chúng rằng “Các ngươi đă xuất gia, bỏ tục từ vua, chẳng đoái tài sắc, không họp quần với đời, chả quí vàng ngọc, chỉ đạo là báu, khép ḿnh giữ tiết, đành khổ hạnh vui phận nghèo, thân cận bực có đức, để tự độ ḿnh, rồi ra độ người”.

II.A.1.h- Khải thị tam học

Phât trước chế luật, dựng mở kẻ mờ.

Câu trên, rơ năm thiên bảy tụ. Câu dưới, rơ khai sáng sơ cơ. Dựng: xây dựng. Mở: phát minh. Do Luật là môn học đầu tiên. Định Huệ, là nền gốc cả muôn lành.

Mông là mờ, tức là mông muội, nghĩa là, từ chưa lên ngôi Thánh (Thập địa Bồ-tát) nhẫn xuống, đều là kẻ mông muội (v́ Tam Hiền c̣n trần sa hoặc, tứ quả Thanh Văn mới chỉ đoạn tư hoặc), huống chi là cả lục phàm phu nơi bạc địa ư!(65).

Phật trước chế luật, số là, bởi chúng sanh phiền năo tưng bừng, tam độc bồng bột, điên đảo, loạn tưởng che mất ánh sáng trí huệ, tạo tác ra nghiệp sanh tử; thế nên đức Như Lai ứng hợp theo căn cơ, thi thiết giáo pháp, ban đầu, lấy giới Mộc xoa, để ngừa quấy dứt dữ, kế lấy pháp thiền định để chỉ tức tư lự (vọng tưởng), quên mất cái niệm duyên trần, sau đó, lấy trí huệ phá vô minh hoặc, chứng tỏ chân như.

Nên Tổ Nam Sơn Đạo Tuyên nói “Hễ cái nghiệp do nơi thân và khẩu phát ra th́, việc đề pḥng cần ở nơi giới; c̣n tam độc có sôi nổi lên là, cốt do nơi thức tâm (thức thứ 6) nó sai khiến. Nên, trước lấy giới bắt, kế lấy định trói, sau lấy huệ mà sát nó, là cái lẽ thứ lớp phải vậy”.

Kư: Phật, tức là đức Bổn Sư Thích Ca Như Lai. Tiếng Phạm là Buddha (Phật-đà), dịch: Tri giả, cũng rằng giác giả, nghĩa là, tại nơi cội cây Tất-bát-la Bồ-đề, lảu lảu giác tri, sáng suốt tất cả các pháp tam thế số chúng sanh, số phi chúng sanh, hữu thường vô thường(66)… Ba giác tṛn sáng cho nên xưng là Phật.

Ba giác: 1-Tự giác, là tự giác ngộ cho ḿnh tỏ được tánh chân thường rơ vọng hoặc là luống dối,

2-Giác ngộ cho người vận ḷng từ vô duyên(67) hóa độ cơi hữu t́nh, 3-Hạnh giác ngộ viên măn, v́ cả ba ấy đều đă cùng nguyên cực để, hạnh măn quả viên.

Tiếng Phạm Vi-na-ya (Ty-ni), đây rằng Luật. Luật là phân phán, nghĩa là phân minh, lường xét cả các trường hợp khinh, trọng, khai, giá, tŕ, phạm(68).

Tiếng Phạm Pratimoksa (Ba-la-đề-mộc-xoa), dịch biệt giải thóat, tức “giới”, nghĩa là, với ba nghiệp (thân, khẩu, ư), bảy chi (thân ba, khẩu bốn), mỗi mỗi đều có giới để pḥng ngừa điều quấy, để được riêng riêng mỗi mỗi giải thoát, nên nói biệt giải thoát.

Lại, khi thụ rồi, tùy theo trường hợp các điều sát sanh, thâu đạo, dâm dục, vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu, đều không tạo tác nữa, thế, riêng riêng mỗi nghiệp, đă chẳng gây nhân th́, riêng riêng mỗi điều đều không mắc quả báo, nên nói là “Biệt biệt giải thoát”. (biệt biệt tức chủng chủng mỗi mỗi hay món món).

Sáng (xây dựng) ban sơ bắt đầu, thành lập luật pháp, sáng tạo công nghiệp.

Ngũ thiên thất tụ rơ đủ ở trong Đại Luật, chính là hai trăm năm mươi giới pháp của Tỳ-kheo tăng; Tỳ-kheo ni th́ ba trăm bốn mươi tám giới pháp.
Trí Độ Luận chép “Sư ni thụ giới pháp, lược th́ năm trăm, rộng th́ tám vạn điều luật”.

Quỉ tắc uy nghi, sạch như giá tuyết.

Câu trên, chỉ thị luật pháp; câu dưới, đặt lời tỷ dụ. Quỉ tắc, là quỉ phạm pháp tắc của luật. Người mà năng bẩm thụ pháp tắc ấy, tức là tiến ngay đến cái đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Uy nghi là với uy nghiêm, ta khá sợ, với hạnh nghi, ta khá kính.

Do thầy Tỳ-kheo vâng giữ đủ cấm giới, các giới được uy nghiêm, tự nhiên khiến cho người ta trông thấy khá sợ th́ với đi, đứng, nằm, ngồi, dung nghi đoan trang, h́nh biểu đường chính; tự nhiên khiến người ta khá kính. Thế th́, trong nghiêm ngoài chính, chẳng bợn một mảy trần, nên được như giá sạch, như tuyết trắng.

Kư: Hai câu của bổn văn đây, là nói về cái thể của tịnh giới; bốn câu của hai văn dưới kia là, nói về cái dụng của giới điều.

Thôi giữ, làm phạm, buộc thu ḷng đầu.

Câu trên, rơ giữ giới, phạm giới. Câu dưới, rơ công năng của giới đối với kẻ mới phát tâm.

Song, chỉ (thôi dứt) ác tức tŕ giới, tác (làm) ác là phạm giới. Chỉ, th́ ba nghiệp (thân, khẩu, ư) không giong ruổi nơi vọng cảnh (lục trần), các điều ác chẳng sanh khởi; tŕ (giữ) th́ giữ chí kiên trinh, tâm ĺa tán dật (buông lung), thế là thúc liễm (buộc thâu). Chính là cái điều ước đầu tiên để nhập đạo, cái cửa ngơ ban sơ của định huệ, nên nói là sơ tâm (ḷng đầu, là mới bắt đầu học giới).

Kư: Chỉ (thôi, dứt), th́ các điều ác không sanh khởi, tŕ (giữ) th́ đột-kiết-la(69) chẳng phạm. Lại, Chỉ th́ tâm không vọng động; Tŕ th́ chấp mà chẳng mất; Thúc (bó) th́ niệm không buông lung; Liểm th́ nước định đứng trong.

Phụ Hạnh nói “Có kẻ tự hào rằng tu Đại thừa th́ cần ǵ phải chế giới ấy là sai lầm hẳn!”. Rằng bất chấp đấy, chính là tŕ giới mà không chấp nê. Nếu cho chẳng tŕ giới mà gọi là bất chấp, đấy tức là chấp phá rồi th́ sao gọi là bất chấp được? Cái chấp tŕ c̣n chẳng có, th́ cái vọng tŕ đâu c̣n.
Mảy múm điều chương, đổi các xấu tệ.

Câu trên, rơ về giới tướng; câu dưới, rơ về đối trị. Do v́ giới là đủ cả ba ngàn uy nghi, tám vạn tế hạnh, nên nói là mảy múm điều chương; để trị tám vạn bốn ngàn các trần lao (phiền năo), nên nói rằng đổi các xấu tệ.

Kư: Điều chương tức là các điều tướng vi tế trong hai trăm năm mươi giới của Tỳ-kheo. Cách: đổi, tức thoan trừ. Ổi tệ: xấu tệ, tức cả tam độc thập sử(70) các vọng hoặc thói tập nhiễm.

Các vọng hoặc, nói sơ lược là tam kiết(71); mười sử, nói rộng ra là tám mươi tám sử, nhẫn đến tám vạn bốn ngàn trần lao, v́ nó thường gút trói chúng sanh lùa khiến trôi lăn nơi tam giới, chẳng đặng giải thoát.

Tam kiết: 1-Thân kiến, 2-Giới thủ, 3-Nghi kiết; lại thêm tham, sân, si, mạn, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, tức là mười sử. Mười sử đây, trải qua dưới tứ đế cả tam giới, hoặc tăng, hoặc giảm chẳng đồng, cộng thành tám mươi tám sử.

Số là, dưới Khổ đế của Dục giới, th́ trọn đủ mười sử; dưới Tập Diệt hai đế, đều có bảy sử, nghĩa là trừ ra ba sử thân kiến, biên kiến và giới thủ; dưới Đạo đế có tám sử, nghĩa là chừa ra hai sử thân kiến, biên kiến, th́ cả bốn đế đă kể trên hiệp lại là ba mươi hai sử.

Dưới bốn đế của Sắc giới và Vô sắc giới, đều như Dục giới, chỉ với dưới mỗi đế, lại trừ ra cái sân sử, v́ chúng sanh ở hai giới trên, sân sử không hiện hành nữa.

Một giới có hai mươi tám sử, cả hai giới nhập chung lại cộng là năm mươi sáu sử; chung với ba mươi hai sử của dục giới, tổng cộng thành tám mươi tám sử.

Xem hai phụ biểu ở sau
Đệ nhứt Dục Giới

Dưới Khổ đế …
Dưới Tập đế …
Dưới Diệt đế …
Dưới Đạo đế …

10 Hoặc
7 Hoặc
7 Hoặc
8 Hoặc Thân. Biên. Tà. Thủ. Giới.
Tham. Sân. Si. Mạn. Nghi.
Tà. Thủ. Tham. Sân. Si.
Mạn. Nghi.
Tà. Thủ. Tham. Sân. Si.
Mạn. Nghi.
Tà. Thủ. Giới. Tham. Sân.
Si.Mạn. Nghi.

Khổ đế mười hoặc: 1-Thân kiến: Lấy khổ quả (cái thân) bằng năm uẩn giả ḥa hợp mà mê chấp làm ngă kiến là thường là nhất. 2-Biên kiến: Nhận cái thể của ngă kiến sau khi chết, nó vẫn thường trụ, hoặc cho sau khi chết, nó đoạn tuyệt hẳn. Với thường và đọan ấy, đều chấp một bên, nên gọi biên kiến.

3-Tà kiến: Với cái thân hiện tại đây là cái quả báo đối với cái nghiệp nhân của đời quá khứ, thế mà lại bác đi, cho là không có lư lẽ ấy, nên gọi là tà kiến.

4-Kiến thủ kiến: V́ chấp mê lấy ba cái kiến giải trên đó, cho là chánh kiến. 5-Giới cấm thủ kiến: Mê chấp cái khổ thân hiện tại, làm mỗi mỗi khổ hạnh của tà giới, như giữ ngưu giới, cẩu giới, nằm trên gai, gieo ḿnh vào lửa… tu khổ hạnh như thế làm cái nhân cho thân đây sau được sanh lên chỗ vui của trời hay người, nên gọi giới cấm thủ kiến. 6-Tham: Hàm yêu lấy năm cái kiến hoặc trên đó cho là phải là đúng. 7-Sân: Chấp lấy năm kiến hoặc đă kể trên đó, cho là phi là quấy mà nổi sân khuể. 8-Si: V́ chẳng biết cái lẽ năm kiến thức trên là mê hoặc, là phi lư, nên gọi là si. 9-Mạn: chấp lấy năm kiến hoặc trên cho là phải, là cao kiến mà tự hào, tự sanh tâm kiêu mạn. 10-Nghi: V́ đối với cái chân lư thiết thực của Khổ đế mà nghi là phi thiết thực.

Với mười hoặc (tức 10 sử) trên, năm kiến và nghi, chỉ lấy đế lư làm sở mê, nên gọi là cái hoặc về phần “thân mê”, c̣n bốn cái tham, sân, si, mạn ấy, lấy năm cái kiến hoặc làm sở mê, nên gọi là cái hoặc về “sơ mê”. Cả mười hoặc thân sơ đó, là v́ mê muội cái chân lư khổ đế của Dục giới mà phát khởi ra mười cái phiền năo (hoặc hay sử), nên khi chứng vào ngôi kiến đạo (Thanh văn thừa là ngôi Dự lưu hướng, Bồ-tát thừa là ngôi nhập tâm của Sơ địa), khi mà quán xét cái Khổ đế của Dục giới, đồng nhứt thời đoạn hết mười hoặc đă kể trên.

Tập đế bảy hoặc: 1-Tà kiến là với cái lẽ rằng “Vọng hoặc nó làm nguyên nhân cho sanh tử” mà lại bác bỏ đi, cho là không có lẽ ấy, nên gọi là tà. 2-Kiến thủ kiến là mê chấp lấy tà kiến để làm chánh kiến.

3-Nghi là nghi ngờ cái lư của Tập đế; c̣n bốn cái tham, sân, si, mạn ấy, là lấy ba cái hoặc trước làm sở mê mà sanh khởi ra bốn ấy.

Diệt đế bảy hoặc: Diệt đế là Niết-bàn, lại bác đi, cho là không phải Niết-bàn, ấy là tà kiến, đó là một hoặc. Chấp lấy tà kiến ấy cho là chánh kiến, ấy là kiến thủ kiến, đó là hai hoặc. Với Niết-bàn lại nghi, không có ḷng tin quyết định, ấy là nghi đó là ba hoặc. Do ba cái thấy lầm đó làm duyên mà sanh ra bốn cái tham, sân, si và mạn. V́ bị mê muội không hiểu cái lẽ Diệt đế mà sanh ra bốn hoặc ấy.

Đạo đế tám hoặc: V́ mê không rơ cái lẽ của Đạo đế mà khởi ra tám hoặc. Với bảy hoặc trước của Diệt đế, gia thêm một cái giới cấm thủ, thành tám cái. Nhân có một phái ngoại đạo, tu về cái định Vô tưởng, nhận lầm cái định ấy là cái chánh đạo nhập Niết-bàn, ấy là do mê muội không hiểu lẽ của Đạo đế mà sanh khởi ra cái “Giới cấm thủ kiến” là phi đạo lại kể làm đạo đấy.

Nhẫn trên gồm làm 32 hoặc (32 sử) của Dục giới.

Đệ nhị Sắc Giới, Vô Sắc Giới

Dưới Khổ đế …
Dưới Tập đế …
Dưới Diệt đế …
Dưới Đạo đế …
9 Hoặc
6 Hoặc
6 Hoặc
7 Hoặc

Cơi Sắc và cơi Vô sắc, công có hai mươi tám hoặc ấy, là với các hoặc dưới tứ đế, đều chừa mỗi một sân hoặc, v́ chúng sanh ở hai cơi này là Định địa, chứ phi như chúng sanh ở Dục giới là Tán địa, nên chúng sanh ở hai cơi trên ư thức không sanh khởi cái phiền năo thô động là sân khuễ nữa.
Kể cả những hoặc sử dưới tứ đế suốt tam giới, cọng là tám mươi tám; giữa mười lăm tâm của ngôi kiến đạo đoạn hoặc ấy, nên nói là kiến hoặc của bát thập bát sử.

a-Thập ngũ tâm: Là trải qua những niệm số của ngôi kiến đạo bên Tiểu thừa Câu-xá tông, có tám nhẫn, tám trí cọng làm mười sáu tâm.

1-Khổ pháp trí nhẫn là cái trí đoạn các kiến hoặc dưới khổ đế của Dục giới. 2-Khổ pháp trí là cái trí đoạn khổ hoặc rồi mà chính là chứng đế lư. 3-Tập pháp trí nhẫn là cái trí đoạn các kiến hoặc dưới Tập đế của Dục giới. 4-Tập pháp trí là cái trí đoạn tập hoặc rồi mà chính là chứng đế lư. 5-Diệt pháp trí nhẫn là cái trí đoạn các kiến hoặc dưới Diệt đế của dục giới. 6-Diệt pháp trí là cái trí đoạn diệt hoặc rồi mà chính là chứng đế lư. 7-Đạo pháp trí nhẫn là cái trí đoạn các kiến hoặc dưới Đạo đế của Dục giới. 8-Đạo pháp trí là cái trí đoạn kiến hoặc của Đạo đế rồi, mà chứng là chứng đế lư. 9-Khổ loại trí nhẫn là cái trí đoạn các kiến hoặc dưới Khổ đế của sắc giới và vô sắc giới. 10-Khổ loại trí là cái trí đoạn kiến hoặc dưới khổ đế của hai giới trên rồi mà chính là chứng đế lư.

11-Tập loại trí nhẫn là cái trí đoạn các kiến hoặc dưới Tập đế của hai giới trên. 12-Tập loại trí là cái trí đoạn kiến hoặc dưới Tập đế của hai giới trên rồi mà chính là chứng đế lư. 13-Diệt loại trí nhẫn là cái trí đoạn kiến hoặc dưới Diệt đế của hai giới trên.

14-Diệt loại trí là cái trí đoạn kiến hoặc dưới diệt đế của hai giới trên rồi mà chứng là chứng đế lư.

15-Đạo loại trí nhẫn là cái trí đoạn kiến hoặc dưới đạo đế của giới trên. 16-Đạo loại trí là cái trí đoạn kiến hoặc dưới Đạo đế của hai giới trên rồi mà chính là chứng đế lư.

Trong mười sáu tâm ấy, mười lăm tâm trước là thuộc về ngôi “kiến đạo”, c̣n một cái tâm rốt sau tên là “ Đạo loại trí” đó, th́ thuộc về ngôi “tu đạo”.

Nhẫn: nhẫn hứa, là ngôi đă tin nhẫn chân lư rồi, không sanh kiến hoặc nữa, nên lấy đó làm phần “đoạn đạo”. Trí: quyết định, là ĺa hoặc rồi, chính là ngôi quyết định chân lư, nên lấy đó làm phần “chứng đạo”. Pháp: cơi Dục giới gọi là pháp đó, là v́ lấy pháp ấy làm cái sở kiến hiện tiền. Loại: hai giới trên gọi là dục đó, là v́ lấy cái pháp ấy để tỷ loại với Dục giới.

Với kiến hoặc của tam giới th́, ngôi kiến đạo của Thanh văn đốn đoạn; c̣n với “tư hoặc” th́ phải đoạn dần dần từ phần, v́ Thanh văn là độn căn.
Nhân v́ pháp hệ, nên chép luôn “tư hoặc” ra đây, để tiện bề t́m hiểu.

81 phẩm tư hoặc.

Với thập hoặc (10 sử) phân làm cửu phẩm cho Cửu địa để mà đoạn đó. Cửu địa: Dục giới ngũ thú tạp cư địa là một; Sắc giới tư thiền thiên là năm, Vô sắc giới tứ không thiền là chín.

Cửu phẩm: Với tư hoặc của chín địa, phân làm thượng thượng phẩm, thượng trung phẩm, thượng hạ phẩm; trung thượng phẩm, trung trung phẩm, trung hạ phẩm; hạ thượng phẩm, hạ trung phẩm, hạ hạ phẩm. Nên thành số 81 phẩm.

Đấng Thánh giả, đă đoạn rồi “kiến hoặc” là quả Dự lưu; lại tiến lên đoạn từ một phẩm nhẫn đến năm phẩm tư hoặc của một địa ngũ thú tạp cư, là ngôi Nhất lai hướng; đến chừng đoạn hết sáu phẩm ấy rồi, là ngôi Nhất lai quả. Do v́ c̣n ba phẩm hạ tư hoặc của Dục giới, nên c̣n phải một lần qua lại giữa nhân gian và sáu Dục thiên để tu đoạn. Kế đó đương đoạn ba phẩm hạ tư hoặc, là ngôi Bất hoàn hướng; đến chừng đă đoạn hết rồi, là ngôi bất hoàn quả, do v́ chẳng trở lại sanh ở dục giới nữa. Kế đoạn dần dần 72 phẩm tư hoặc của tám địa của hai giới trên là ngôi A-la-hán hướng; chính sau khi đă đoạn hết 72 phẩm tư hoặc ấy rồi, là ngôi A-la-hán quả. Dịch Bất sanh, là do v́ đă đoạn sạch hết rồi 81 phẩm tư hoặc, nên không c̣n trở lại thụ sanh ở trong tam giới nữa. Nghĩa là ra ngoài tam giới.

Nhẫn trên, là rút ở quyển 12 của bộ Câu-xá Luận.

Tám vạn bốn ngàn các trần lao lấy tham hành, sân hành, si hành và đẳng phần hành(72), đều đủ hai vạn một ngàn, cọng là tám vạn bốn ngàn.
Tam thiên uy nghi, bát vạn tế hạnh 250 giới pháp, lấy hành, trú, tọa, ngọa là bốn uy nghi ấy, đều có 250, hiệp lại là 1000, chạy ṿng cả quá khứ, hiện tại, vị lai ba đời ấy, cọng lại là 3000; lấy 3000 ấy, phối với thân ba khẩu bốn, cọng thành hai vạn một ngàn; lấy hai vạn một ngàn ấy, lại đối trị cả bốn món phiền năo là tham, sân, si và đẳng phần, cọng thành là bát vạn tứ thiên tế hạnh, ấy là để đối trị bát vạn tứ thiên các trần lao môn.
Tiệc pháp (pháp hội) Tỳ-ni, chưa hề gần gũi, liễu nghĩa thượng thừa, làm ǵ rành rơ!

Đây là lời nương nhau thừa tiếp văn trên phát khởi văn dưới.

Hai câu trên, với giới luật, chưa học tập. Hai câu dưới với kinh giáo không thể tỏ biết.

Tằng vị thao bồi: chưa hề gần gũi, là chưa từng năm thời kiết hạ nương Bổn sư, mười pháp tịch đến nghe học luật.

Giới là môn học đứng đầu tam tạng pháp môn ở trước định huệ, thế mà học lại toan vượt bực lớp th́ làm ǵ rành rơ được giáo lư? Tỷ như với cửa ngoài chưa vào, th́ làm sao quan sát được nội dung nơi nhà trên và trong pḥng kín (buồng gói)?

Thế biết rằng với giới luật mà chưa được tinh nghiêm, huệ giải do đâu phát sanh th́, với tông chỉ “Vô lượng liễu nghĩa” làm ǵ phân rành, mở tỏ, chứng nhập được ư ?

Rằng liễu nghĩa, là các bộ kinh giáo Đại thừa, chính là lời nói quyết chọn rơ ràng, giải rộng cái nghĩa thực tướng của trung đạo một cách minh bạch, phi như các kinh điển Tiểu thừa, và bao thuyết “che tướng, kín ư, ngậm giấu” là mập mờ, bí mật hay huyền bí.

Kư: Ngài Trung quốc sư nói “Người mà tu học pháp Thiền Tông cần phải tuân y theo lời Phật dạy, với các kinh “Nhứt thừa liễu nghĩa” phải khế ngộ lấy bổn nguyên tâm địa, để rồi lần lựa trao truyền cho nhau cùng đồng với đạo Phật; chứ chẳng nên ỷ y nơi vọng t́nh của ḿnh v́ kinh giáo bất liễu nghĩa, để rồi làm cách hiểu bướng thấy càn, gây sự nghi lầm cho hậu học! V́ đă là ḿnh và người đều chẳng lợi ích chi, lại phá hoại Phật pháp nữa! Tỷ như con trùng trong thân sư tử, nó tự ăn được thịt của sư tử (chứ phi con thú nào dám hại sư tử – chính đệ tử Phật làm hại pháp Phật) chứ phi thiên - ma vương, các phái ngoại đạo nào mà có thể phá diệt được Phật pháp.

Tỳ-ni pháp tịch: Tiệc pháp Tỳ-ni, là chỗ giảng diễn giới luật.

Luật dạy Thầy Tỳ-kheo nào dẫu tu chứng được tam minh lục thông(73) đi nữa, cũng cần phải nương theo Bổn sư để học luật đủ năm trường hạ lạp, nếu chưa thông rơ luật học, nhẫn đến trọn đời không được rời y chỉ nơi Bổn sư”.

Tư Tŕ nói “Luật chế rằng sau khi thọ giới Tỳ-kheo, luôn năm hạ lạp trước, cần phải chuyên học bộ luật cho được khế ngộ, nếu thông được các trường hợp sao là tŕ giới, sao là phạm giới, biện rành được sự của Tỳ-kheo, nhiên hậu mới có thể tập học các kinh luận; đời nay Tỳ-kheo vượt lớp bỏ học luật mà học kinh luận, đấy, lối tu hành đă mất thứ tự, thời không do đâu chứng nhập đạo quả được, tất nhiên, bị Đại thánh quở trách, rốt phi học đồ rồi”!

“Người đời nay, vừa mới thụ giới phẩm, liền cho nghe kinh, luận hoặc học tham thiền, thành thử, làm nhà Tăng mà với tế hạnh, uy nghi không hiểu một ǵ ráo. Huống lại c̣n khi dễ giới kiểm, kích bác Tỳ-ni, chê việc học luật là Tiểu thừa, khi kẻ tŕ giới là chấp tướng”.

“Nhân đó mà, hoang mê theo trần tục, buông lung thói ngu ngoan; vả lại, với giới mà có thể khinh được, th́ sao ngươi đến đàn xin thụ? Với luật mà có thể hủy được, th́ sao ngươi cạo tóc nhuộm áo hoại sắc?

“Thế th́ khinh giới, tức toàn là khinh lấy ḿnh, hủy luật; tức tự hủy lại ḿnh; vọng t́nh dễ quen, chí đạo khó nghe, nên chi số vạn người xuất gia, khó được một người thoát tục vượt bầy. Xin rơ lời Phật dạy, không thể không theo ư!?

Đáng tiếc! Bỏ trống qua một đời, sau ăn năn khó vói!

Hai câu đây, là lời thương và than! Nghĩa là với luật kinh đă bất minh, tức tự bỏ mất giới đức của thân, lấy tâm huệ của tâm mà với huyền đạo(74) không nhân đâu tỏ ngộ được! Thế là tự bỏ trống qua cái đời của ḿnh, đến khi con ma sanh tử đáo đầu (mắt lờ tóc bạc, gối mỏi răng long) th́, chừng đó, có ăn năn, đă chẳng kịp nào? nên nói nan truy: khó vói!

Kư: Luật là giới học, kinh là định học. Trên đó đă chỉ thị môn học rồi; dưới đây sẽ nói rơ về môn huệ học. V́, với “đạo” là do nơi Bát-nhă diệu huệ, mới có thể tỏ hiểu được.

Với giáo lư, chưa từng để ḷng, th́ huyền đạo, không nhân đâu khế ngộ.

Câu trên, huệ giải (trí sáng hiểu) chưa đủ. Câu dưới, đốn ngộ (chứng liền tỏ) không do đâu.

Giáo lư, thuyên lư, gọi là giáo, sở thuyên của giáo nói là lư. Giáo pháp mà nói rơ về lư, tức là mười hai bộ kinh.

Nguyên bởi đức Như Lai ngài y nơi chân lư, thành lập ra lời nói, khiến cho chúng sanh y giáo tu hành, để chứng lấy chân lư.

Tứ Giáo Nghĩa nói “Nói cái lư năng thuyên, để hóa chuyển ḷng người, nên nói là giáo.”

Hóa chuyển có ba nghĩa: 1-Chuyển đổi điều ác, làm điều lành; 2-Chuyển đổi điều mê mờ, làm điều giải ngộ; 3-Chuyển đổi tâm phàm làm nên tâm Thánh.

Nói rằng thuyên lư, là nói rơ cái lư chân đế và cái lư trung đạo. (thuyên: biện bạch rành rơ)

Huyền đạo, tức là tâm ấn của Phật Tổ, gượng mà nói th́ là, cái “Đạo lư u huyền, vi diệu, tịch diệt vô tướng”

Nếu không lấy “giáo lư” của Như Lai để làm chánh nhân th́, chẳng do đâu đốn ngộ được cái “Vô thượng diệu đạo” của Phật Tổ.

Nên đức Đạt-ma từ phương Tây đến Trung Hoa, Ngài c̣n lấy bốn cuốn kinh Lăng Già để làm tâm ấn; núi Hoàng Mai, đức Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, khuyên học giả thụ tŕ kinh Kim Cang Bát-nhă; núi Thiên Thai đức Trí Khải, tụng kinh Pháp Hoa, chứng thấy vào hội Linh Sơn chưa giải tán; Tổ Khuê Phong chứng nhập vào kinh Viên Giác.

Nên sách Tông Cảnh chép “Hai mươi tám đức Tổ bên Tây Thiên, sáu đức Tổ tại Trung Hoa, nhẫn đến các vị Tổ như Mă Tổ, Nam Dương, Nga Hồ, Không San thiền sư…, các Ngài đều rộng thông kinh luận, trọn giác ngộ được tự tâm, với những chỗ khai thị cho đồ chúng, các ngài đều dẫn ra chứng cứ thành thực, hoàn toàn không bao giờ tự đem nơi hung ức ra đặt điều đặt chuyện chỉ bày vọng hoặc.

Thế nên, vẫn trải lâu tuế hoa(75) mà, chân phong(76) không suy đổ. V́, lấy Thánh ngôn (Phật ngôn) làm định luật, chúng tà ngụy khôn đổi dời, dùng chánh giáo làm chỉ nam(77) nương bằng có chứng cứ.

Nhưng chớ chấp lấy văn tự trên nghĩa, tùy theo lời nói mà sanh ra nhận thấy, chẳng phải ḍ thấu ư chỉ dưới chân thuyên, họp tỏ nơi gốc chủ, th́ cái trí vô sư(78) được hiện tiền, và đạo thiên chân(79) không mê muội.

Thế, biết rằng giáo pháp nó có cái sức trợ đạo, kẻ mới phát tâm tu học đâu thể tạm quên được ư!

Sở dĩ, từ trước các tiền Thánh, các nhà Tổ, đâu chẳng nghiên cứu cùng cực chí lư của tam tạng, để ấn khả nơi tự tâm, rồi ra xem xét theo phong tục mà khai hóa người đời.

Các học giả ngày nay, chẳng thể hoàn toàn được thế, lại khinh khi kinh giáo, là cái tâm ǵ ru!?

Dẫu là hạng người “đặng cá quên nơm” th́ kinh luật có lỗi ǵ đâu?

Đức Như Lai kim khẩu thuyết ra, với một lời một chữ; dù trăm kiếp ngàn đời, c̣n chẳng đặng nghe thấy, nếu ta là hạng người vô duyên thiếu phước, huống nữa được thụ tŕ hiểu tỏ. Nên biết, giáo điển chẳng làm mê mờ cho người mà, chính tự người mê mờ giáo điển vậy thôi.

Tổ Khuê Phong nói “Môn hạ của các tông phái, đều có người thông đạt, nhưng đều yên phận theo chỗ học tập, nên lối thông suốt th́ ít mà, chỗ cuộc chấp lại nhiều. Chỉ lấy theo cái lề vâng chịu cửa ngơ, rồi đều mỗi tự khai trương, dùng kinh luận làm can qua(80) rồi măi lẫn nhau công kích. T́nh ở nơi hàm thỉ(81) mà dời đổi, pháp theo nơi nhân ngă làm thấp cao. gây nên thị phi hoang mang, không thể giải quyết được! Kinh như dây mực, để nảy tánh ngay xiên, dây và mực phi khéo, mà anh thợ khéo ắt dùng dây mực để làm bằng; kinh luận chẳng phải là thiền, mà người tham thiền ắt phải dùng kinh luận làm chuẩn đích(82)”.

“Phải biết rằng Kinh là lời của Phật, thiền là tâm của Phật, luật là hạnh của Phật. Ba nghiệp Thân, khẩu, ư của Như Lai, vốn chẳng trái nhau.”

Chỉn bởi, người với pháp sái nhau, nên pháp cùng người thành bịnh! Các học giả hễ bỏ được một điều nọ, lại chấp một điều kia, tự làm điên đảo lấy ḿnh!

Nếu là người học hiểu đến nơi đến chốn, quày muôn pháp trở về ḿnh (ngoài tâm không pháp, tâm diệt pháp diệt) th́, nào có thị, nào có phi, nào có trái nhau ru!? (Là tự học giả phân biệt thiên chấp, chớ giới luật, kinh giáo và Thiền Tông đâu có phải, chăng, trái nhau).

Kư: Hai câu của bổn văn đây, là nói người mà chẳng có huệ học th́ tức là không nhân đâu để đốn ngộ được huyền đạo. Thế th́, nhân học giới luật, mới rơ được giáo pháp; nhân giáo pháp mới rơ được đạo lư.

Hỏi: Đốn ngộ là cái tông của trực chỉ Thiền rồi, thế cần ǵ c̣n phải dùng kinh giáo để làm chỉ nam ư ? V́ tông này bất lập văn tự đấy mà!

Đáp: Há chẳng nghe rằng “Hiểu nghĩa bằng cách y kinh là kẻ thù của Phật ba đời. C̣n nói pháp mà ĺa kinh chừng một chữ, tức đồng ma thuyết” (thế, chấp kinh, ĺa kinh, đều chẳng đặng cả). Lại nói “Người nay coi kinh xưa chưa khỏi trong ḷng rộn! Muốn khỏi rộn trong ḷng, cần phải xem kinh xưa(83).

Bảo Tạng Luận nói “Gương xưa chiếu yêu(84) tinh, yêu tinh tự lộ h́nh, kinh xưa chiếu vào tâm(85), tâm ấy tự tỏ sáng”.

Nếu biết tất cả pháp, vốn là tánh đức diệu dụng trong Như Lai tạng, thế, th́ có chi là thị, có chi là phi, có chi là văn tự ư?

Mười hai bộ kinh: Đức Như Lai thuyết pháp trong bốn mươi chín năm, giáo pháp ấy phân làm mười hai phần mà, thống nhiếp cả ba tạng: 1-Phần khế kinh, 2-Phần trùng tụng, 3-Phần thụ Kư: 4-Phần già-đà, 5-Phần vô vấn tự thuyết, 6-Phần nhân duyên, 7-Phần thí dụ, 8-Phần bổn sự, 9-Phần bổn sanh, 10-Phần phương quảng, 11-Phần vị tằng hữu, 12-Phần luận nghị.

Nam Dương: Trung quốc sư. Nga Hồ: Đại Nghĩa thiền sư. Tư Không Sơn: Bổn Tịnh thiền sư.

II.A.1.k- Lỗi chẳng tu học

Kịp đến, năm tuổi lớn già, ḷng dạ trống cao, chẳng chịu gần gũi bạn lành, chỉ biết khinh khi kiêu ngạo.

Hai câu trên, rơ cái ngă tướng, hai câu dưới, rơ cái mạn tướng. Lại, câu đầu sanh niên, tăng lạp cao mà chả có giới đức; câu thứ đó ḷng cống cao mà không có đạo lễ nên nói là bụng trống. Chẳng khứng gần gũi là tự thị. Chỉ biết kiêu ngạo là lướt người. Hai cái thói đề cao và xấc xược ấy đều thuộc về cái tướng khinh mạn.

Song, cái mạn tướng nó có sáu thứ:

1- Quá mạn: Đối với trong pháp tương tợ, chấp ḿnh là hơn người.
2- Mạn quá mạn: Nguyên người vốn hơn ḿnh, mà cưỡng nói bướng rằng ḿnh hơn người.
3- Ngă mạn: Ỷ thị ḿnh hơn mà lấn lướt người ta.
4- Tăng thượng mạn: Nguyên ḿnh chưa đắc đạo, mà nói dóc rằng đă đắc đạo.
5- Hạ liệt mạn: Vốn ḿnh chả có tài năng ǵ mà lại tự khoác khoe khoang.
6- Tà mạn: Chấp trước cái thói tà kiến của ḿnh để khinh lướt, khi dễ người khác.

Chừ đây, với sáu cái mạn kể trên th́, cái ḷng cống cao và kiêu ngạo ấy, thuộc về cái mạn quá mạn, ngă mạn và cái hạ liệt mạn.

Kư: Luống tự tuổi già mà đức hạnh chả bằng ai cả, chỉ biết kiêu ngạo mà không có đạo phẩm ǵ khá tôn.

Niên là tuổi sanh, tức từ lọt ḷng mẹ đến già. Lạp là giới lạp tức từ thụ giới Tỳ-kheo về sau. Thân phụ là thân cận. Lương bằng là thiện hữu. Cứ ngạo là chẳng khiêm nhường, tức ngạo khi nơi người.

Chưa làu pháp luật, trọn không hạnh kiểm.

Câu trên, mất giáo học, luật học. Câu dưới, mất thân giới tâm huệ. V́ chẳng khứng thân cận minh sư thiện hữu, th́, làm ǵ biết được giáo, luật để tu tŕ? Chưa biết tu tŕ th́, đâu có thể thu tóm thân tâm cho vén khéo?

Kư: Kinh giáo, là để pḥng ngừa tam độc; luật giới, là để cấm thất chi tội. Vị am: Chưa biết. Trấp liễm: thu nhiếp.

Hoặc lớn tiếng nói càn, thốt lời không lễ độ, chẳng kính bực thượng tọa, trung tọa, hạ tọa,(86) chẳng khác nào tục Bà-la-môn hội họp, bữa ăn khua chén bát nổi tiếng, hễ ăn rồi trước là đứng dậy trước.

Hai câu đầu, quấy về khẩu nghiệp; hai câu thứ, quấy về ư nghiệp cũng lỗi mất uy nghi quỷ tắc nữa; hai câu rốt, quấy về thân nghiệp, cũng mất luôn qui củ. Do chẳng biết pháp luật, ba nghiệp không qui phục, nên gây ra cái điều quá thất ấy. Nếu hay thâu tóm lại th́, không sự chi mà chẳng xong.

Bà-la-môn: Tục sĩ, là một trong bốn tánh của nước Tây Vực. Tục lệ của họ là, chỉ trọng tuổi cao, chứ chả quí đức lớn, thành thử, không kính thượng, trung, hạ tọa, v́ ai đến trước th́ được tôn lên trước, kẻ tới sau th́ phải ngồi sau. Khi tụ hội không qui củ trật tự, reo ồn lắm chuyện!

Các nhà sư mà không trấp liễm uy nghi, nên không khác ǵ với Bà-la-môn kia!

Kư: Tiếng Phạn Bràmana (Bà-la-môn, đọc đủ Bà-la-ha-ma-noa), dịch Tịnh hạnh, cũng dịch Phạm chí.

Tứ tánh: 1-Sát-đế-lợi, là ḍng giống vua. 2-Bà-la-môn, ḍng sang trọng. 3-Tỳ-xá, ḍng buôn bán.

4-Thủ-đà, ḍng nông nô.

Vô độ là không có pháp độ. Tụ hội là nhóm họp, như hoặc ngày tế tự mà họp, hoặc ngày tiết hội (87) mà họp, hoặc luận nghị mà họp. Vô thù là không khác.

Người xuất gia, lấy giới lạp làm cao, nên đức lớn; chứ chẳng luận sanh niên làm tôn trưởng.

Tới lui trái phép, toàn không tư cách nhà Tăng.

Câu trên, mất đạo pháp, câu dưới, uy nghi cũng mất luôn. Qua lại chẳng c̣n mảy mún quy tắc, như ngọc Khuê mất cái h́nh vuông, nên nói là quay giác (sái cách), lúc hành động, khi yên tịnh, chẳng đủ mọn mạy uy nghi, như ḍng Bà-la-môn tụ hội, nên nói là toàn vô.

Kư: Quay: trái bề. Giác: vuông. Phương: pháp, đạo. Lui tới trái phép, là đặt để sái bề vuông. Thể của ngọc Khuê là trên tṛn dưới vuông, là tượng trưng cái thể quy củ phương viên của thiên địa. Ngọc Khuê mà mất cái bề vuông, tức là phi ngọc Khuê; cũng như nhà Tăng mà trái phép tức phi nhà Tăng, nên nói là toàn vô.

Đứng ngồi tháy máy, động ḷng niệm người.

Câu trên tự mất uy nghi, câu dưới, người mất tịnh niệm. Ba nghiệp chẳng cẩn thận, nên khi ngồi lúc dậy không chừng, lắm điều thô tháo, khua khún, bởi thế, khiến người động tịnh niệm.

Kư: Trung Chư, là ư thức lô xô lởm xởm, tánh t́nh không yên ổn, cử chỉ không đề đạm.

Ngài Từ Thụ Thâm thiền sư nói “Khiến người động niệm, dễ sanh ma chướng. Tỷ như “đông miệng nát vàng”(88), tâm ḿnh nào vui. Dẫu làm phước nhiều, chẳng bằng tránh tội. Trong ḷng người động niệm, ḿnh mê muội chẳng biết. Ngày qua tháng lại, mặt úa thân gầy!”.

Chẳng c̣n mọn mạy quỉ tắc, chút đỉnh uy nghi, lấy chi làm mô phạm để thúc liểm kẻ hậu côn, lớp tân học Tỳ-kheo không nhân đâu bắt chước.
Hai câu trên, tự mất quy pháp, hai câu dưới, chẳng thể làm gương cho ai. Đă phần ḿnh không c̣n quy pháp, có ǵ làm mực mẫu cho kẻ khác, thế nên kẻ lai học không do đâu học đ̣i phép tắc.

Kư: Tân học là sơ học. Hậu côn là hậu hiền, tức hậu học. Phơng Hiếu nghĩa như Thủ pháp. Sách nói “Chẳng ǵn tế hạnh th́ rốt lụy đức lớn”. Người Nho c̣n thế, phương chi kẻ xuất gia ư?

Vừa xét nhắc nhau, th́ tự hào rằng tôi là sư ở núi.

Câu trên, người nhắc nên cho, câu dưới, ḿnh tự khinh mạn. Nghĩa là, người hiền chính muốn lấy lời lành giúp thành nhau, mà lại tự tiện sanh ngă mạn, thành thử buông ra lời không biết hổ ngươi ấy!.

Kư: Rằng “Tôi là thầy núi” nghĩa là, ta đây là người ở núi, chỉ cần một câu thoại đầu(89)đủ rồi, chứ quản chi những sự kinh luật uy nghi tế hạnh cho phiền phức!

Ngài Pháp Xương thiền sư nói “Có một hạng người, chỉ ghi nhớ lấy một bụng cát đằng(90) (chữ nghĩa), rồi lên chưn, khua môi múa mơ, lời Hồ tiếng Hán(91) (cũng như tiếng Anh, tiếng Pháp), tự hào, rằng ta biết thiền, hiểu đạo, khinh dể người hiền, làm cái nghiệp của địa ngục vô gián. Một mai, mắt lờ ngươi tối, cái cảnh nghiệp nó hiện tiền, bấy giờ tỷ như con cua con c̣ng sa vào nước sôi, thôi th́ mặc sức queo ngoe rụng càng, và tay run run, chơn bủn rủn! Từ trước học đặng cái hoạt kế(92) ǵ đó, chừ đều vô dụng! Nếu nghe ai có kẻ vạch trúng việc trong bụng của hắn th́ ḷng giận phừng nổi, nói bướng rằng “sự ấy có dính líu ǵ với Phật pháp, hễ là đại ngộ th́ có câu chấp chi nơi tiểu tiết”. Bọn ấy, in tuồng đem phân trâu sánh với gỗ hương chiên đàn, có nhằm ǵ đâu!”

Ngài Từ Giác thiền sư nói “Hoặc có người tự thị cái tánh thiên chân(93) của ḿnh, mà bát bỏ hết cho là không nhân không quả, nói bướng là “Việc nầy chỉ từ trong bụng đem ra”, chớ họ không y theo địa vị tu hành. Sở dĩ, ông Thô Giải(94)pháp sư, chẳng thông giáo nhăn(95), ông Hư Đầu(96) thiền khách chẳng quư hạnh môn(97). Đó là phạm cái tội về bịnh thiên khô(98)! Hoặc có kẻ, cả thân thây đày đọa, đầy mặt mũi phong trần, ba ngàn tế hạnh trọn không, tám vạn uy nghi đều thiếu, hoặc th́ quản lư việc người, gom thâu bổn đạo, thân th́ rông trong thành thị, tâm th́ nhiễm thói thôn quê; sở dĩ các ông thường tăng ở núi ở đồng, cho khỏi bị tiều phu nông phu chế giễu, các Thích tử ở thành ở chợ, lại mắc phải nho sĩ tục sĩ khinh khi. Đó đều là phạm cái tội lười biếng!”

Dưới đây, chỉ ra chỗ sở do không tế hạnh và lười biếng.
Chưa nghe Phật dạy tu tŕ, một bề ḷng c̣n thô tháo.
Câu trên, mất nghe và tu, câu dưới, mất định và huệ.

Chưa nghe, học đến pháp luật th́ làm ǵ biết được việc tu tŕ? Với giới và định chưa tu, nên đến đỗi tánh t́nh đồng vượn, ngựa (tâm viên ư mă).

Kư: Văn là văn huệ. Hành tŕ tức tu huệ. Thế, với cả ba huệ văn, tư, tu mà chỉ nói lên Văn, Tu là để gồm Tư huệ trong đó rồi. Ba ấy, đều nói là Huệ, nghĩa là, do ba pháp ấy đều hay phát sanh cái huệ vô lậu của bực Thánh; nếu không có cái huệ ấy th́, không thể đoạn hoặc vọng, chứng chân như(99) được.

Chỗ thấy biết mà tệ như thế là, bởi lúc đầu đi tu, tâm ưa lười biếng, mài miệt theo thói tham của và tham ăn.

Câu đầu thừa tiếp lời trên phát khởi lời dưới, câu thứ, lúc vào học đạo chẳng cần mẫn, câu rốt, v́ tham lợi mà bỏ mất qua ngày.

Thấy biết như thế, là chỗ kiến thức theo tập quán đê hèn trên kia.

Bởi lúc đầu, ḷng lười biếng… là do ban đầu vào đạo mà tâm không siêng, nên nói là lười biếng.

Chưa nghe Phật dạy tu tŕ, thành thử tham lam danh lợi, chẳng khứng gần gủi bạn lành, bởi thế, lần lựa qua ngày, cái ḷng tạp nhiễm càng sâu, thói ác tập thêm lớn, nên khiến cái thấy biết như vậy. Chính chỗ bảo “Ban đầu chẳng gặp đấng tác gia(100)” đó vậy.

Kư: Nhung: biếng trễ. Thao: tham tiền tài. Thiết: tham ẩm thực.

Kinh pháp diệt tận ghi lời Phật tiên tri rằng “đến cái thời giáo pháp muốn diệt, các vị ma vương trá h́nh làm Sa-môn, làm hoại loạn đạo pháp của ta, chúng mặc quần áo theo kiểu, màu của thế tục, ưa sắm cà-sa rất tốt bằng hàng lụa ngũ sắc. Không thực tu theo giới luật, với nửa tháng, nửa tháng dù rằng tụng giới bổn, mà chán mỏi trễ lười, chẳng muốn chăm nghe, không thích đọc tụng kinh luật.

“Dẫu có đọc tụng, chẳng biết trật chữ, phân câu, lại cưỡng cho là phải, chứ không cần hỏi han người biết rành. Chỉ biết, phách lối cầu danh, luông tuồng thả lội, lấy làm vinh quí, để mong người ta cúng dàng.

“Sanh mạng cuối cùng, chết rồi sẽ đọa xuống địa ngục vô gián, rồi ra, đâu chẳng trải qua, lội lại hoặc làm người trong tội ngũ nghịch, hoặc làm ngạ quỉ, hoặc làm súc sanh; măi vô biên hằng sa kiếp số, chịu hết tội ấy rồi, mới được xuất sanh làm người khỏi tội mà phải ở nơi ranh b́a của cơi nước là chỗ không có ngôi Tam bảo”.

Xem như lời Phật đă sấm kư “Nửa tháng nửa tháng tụng giới, c̣n chẳng muốn nghe”, thời đại ngày nay, tụng giới đă ít lần, huống nữa đặng lóng nghe! Hởi ôi! Cái hiện trạng của chánh pháp đă sắp diệt!

Đời xưa, thuở nhà Tề, ông Tăng Vân trú tŕ Bửu Minh tự nơi thủ đô Nghiệp Hạ, lấy cái giảng diễn được nổi tiếng, và được xếp đặt luôn chúng lư.
Với ngày 15 tháng 4 là thời tụng giới bổn, tăng chúng tề tựu; ông Tăng Vân ngồi đầu bàn chủ tọa, đối chúng, báo cáo rằng “Giới luật là vốn để đề pḥng điều phi pháp th́ mỗi người ai tụng cũng đặng, cần ǵ mỗi nửa tháng nghe hoài; chừ nên đề cử một Đại đức lên pháp tọa, lập danh đề giảng nghĩa, khiến cho kẻ hậu sanh được mở mang giác ngộ là có ích hơn”.

Cả chúng không dám phản kháng, thành thử bỏ việc tụng giới. Đến mờ sáng, rằm tháng 7, bỗng nhiên, ông Tăng Vân đâu mất! Chúng đạo đều tứ tán ra đi t́m kiếm khắp nơi, măi lâu mới thấy được ông nơi g̣ mả xưa cách ngoài chùa chừng ba dặm mà máu me chảy ướt cùng ḿnh!.

Chúng hỏi duyên cớ ǵ? Ông thuật lại rằng “Thấy một viên mănh sĩ, tay cầm con dao lớn, xẳng tiếng quở trách rằng “Sư là người bực nào, dám bỏ lễ Bố-tát, lại quấy sung việc thụ nghĩa?”. Liền lấy dao cắt cứa vào thân tôi, quá đau khó chịu!”

Chúng nhân bè đem về chùa; từ đây ông Tăng Vân hết ḷng thành sám hối, trải qua mười năm, chí thành tận kính, thuyết giới bố tát, đọc tụng các kinh, giữ làm cái công nghiệp thường tu.

Đến ngày lâm chung, ai cũng đều nghe thấy có mùi thơm lạ đến rước, ông vẫn vui tươi mà tịch. Đương thời ai cũng khen là răn ḿnh, đổi lỗi hiện đời, chẳng sa xuống lớp hèn.

Lại, chùa Đại Giác có ông Tăng Phạm, là bực giới đức thanh cao, thường thường đến ngủ nghỉ nơi chùa khác. Với bữa rằm, chúng tăng đề nghị và chấp thuận đ́nh lễ Bố-tát, đưa lên một ông Sư lập đề diễn nghĩa. Bấy giờ, có một Đại đức lên pháp tọa, tŕnh bày rằng “Lập luận pháp tướng, dễ hiểu sâu được ư nghĩa của Phật, nhọc chi phải bố tát, v́ là chúng tăng đă thường nghe rồi”.

Chợt thấy có một vị thần, thân cao hơn trượng, tướng mạo uy mănh hăi người, tay chỉ vào Sư thụ nghĩa rằng - Nay là ngày ǵ? - Dạ, ngày Bố-tát.
Vị thần liền dùng tay đè đầu, kéo xuống dưới tọa, thoi tát gần chết! Kế đó, vị thần cũng hỏi một Thượng tọa nữa, đáp cũng như ông trước. Vị thần cũng đè đầu, kéo xuống, đánh thoi như thế, khiển trách luôn đến hai, ba ông sư rồi, vị thần buông tay, đùng đưa bước ra, biến mất. Đương thời, tại tọa kẻ đạo người tục cùng đủ thấy nghe.

Sư Tăng Phạm đă thấy nghe tận mắt, do đó mà càng thêm tự gắng cả đời, nào là Tăng sự, nào là chuyện riêng của ḿnh, cũng không thuyết dục(101). Nhẫn đến khi có bệnh nặng, không thể chỗi dậy, ngồi xe, c̣n rước một vị tăng về pḥng ḿnh, để cung kính thuyết giới.

Thời đại ngày nay, các ngài thiên về sự cao chuộng học kinh, học luận, học thiền mà, khinh dể giới luật đó. Xin xem sự tích trên, rồi tự nghĩ nhớ lấy!.

Lễn mễn nơi nhân gian, thành ra thưa vụng, quê mùa, chẳng ngờ cốm rốm già hủ, chạm đến sự chi, ngơ mặt vào vách.

Hai câu trên, lội theo thế tục nên quê mùa, hai câu dưới, già suông, chứ không học thức ǵ. Lại, câu đầu là giao thiệp, xông ướp lấy mùi đời, câu kế đó là đă thành tập quán, câu ba là thoạt đă đến suy già, câu bốn là cái vô minh hoặc ngày càng che tối.

Số là, v́ không lo học tu theo đạo nghiệp chân chánh, chỉ mải miết luông tuồng buông thả, ngày càng giong ruổi chuyện thế, vín níu cảnh trần, buông lung sáu t́nh(102), nên đến đỗi ḷng nết thành ra đần độn, thói nhiễm ngày càng sâu đậm, mà không có sức quán chiếu th́ đâu có biết bốn hiện trạng đổi dời, bỗng chốc cái tướng suy già đă đến mà, nẻo ḷng bất thông, trăm việc chả hiểu một nào, chạm đến vật ǵ đều thành bít lấp như người day mặt vào vách(103).

Những người ấy, đều bởi chẳng khứng rộng hỏi bực Tiên giác, nên khiến đến già, thành ra cốt đổng(104) (xáo lộn,).

Kư: Nhẩm nhiễm, nghĩa như tán mạn (lần lựa) xâm tầm (buông thả, không tự kiểm thảo).

Lủng chủng, là chơn đi mà bước không tới trước được, v́ thân thể suy bại. Hủ, tức là suy hủ, chính chỗ gọi “Tuổi đă già hủ mà, không có 3 thứ mùi, luống uổng cái kiếp sanh và tử, bỏ không qua một đời!”.

Không ba thứ mùi, là ví như cây mía ngọt mà đă bị ép hết nước rồi, cái xác bă không c̣n vị mùi ǵ nữa. Ôi! cái tuổi trẻ sắc tươi, nay đă bị cái già hủ nó ép không c̣n ba món vị là 1-Không thể tụng kinh giải nghĩa; 2-Không thể ngồi thiền tu quán; 3-Không thể xiết việc nhọc và làm phước.

Tứ tướng: bốn hiện trạng là: 1-Sanh ra; 2-Ở đời; 3-Dị: h́nh sắc khác lần, 4-Diệt: chết mất.

Cốt đổng, Mặc Đàm nói “Các ông già ở núi La Phù(105) ưa dùng các vị ăn uống nấu chung lộn làm một, là tên của một món ăn). Ngày nay, người thế tục nhiều nơi mượn dùng cái danh vị đó, như là gọi nấu xá bần, nấu kiểm. Cốt đổng: bún lộn xáo, xáo lộn bún. Chính là nói già lẫn, lộn đầu lộn đuôi.

Hậu học có thưa hỏi điều chi, cũng không lời ǵ dẫn dắt, dù có bàn nói, chẳng nhằm điển chương nào!

Hai câu trên, người mất nhờ nhuận ích, hai câu dưới, lời ḿnh thốt chẳng quan thiệp với sách.

Đă là chạm việc mặt vách, th́, đem chi để chỉ vẽ cho hậu côn, dù có nói ra một lời nửa câu ǵ, cũng chả ăn nhập vào điểm mô nào của Phật Tổ.

Thế có khác nào với câu “chẳng thấy con hạc già dưới nước” ru!

Kư: đức Như Lai nhập diệt chưa bao lâu, có một thầy Tỳ-kheo đọc lộn bài kệ trong kinh Pháp Cú như vầy “Người mà sống trăm tuổi, chẳng thấy hạc già nước, chẳng bằng sống một ngày, mà thấy được rồi đó”.

Bấy giờ, ngài A-nan Tôn giả vừa nghe rồi, bùi ngùi than rằng “Chánh pháp của Như Lai diệt sao chóng ru?” Rồi bảo Tỳ-kheo kia mà cải chính rằng:

Như lời Phật thuyết th́, “Nếu người sống trăm tuổi, chẳng thấy pháp sanh diệt, chẳng bằng sống một ngày, mà được thấy rồi đó”.

Tỳ-kheo kia về chùa, đến nói với Thầy nghe lại câu chuyện trên, Thầy y bảo rằng “A-nan già cả, nói hay sai lầm, chẳng nên tin theo, ngươi phải đọc lại như trước”.

Xét, thuở xưa, đương thời chánh pháp mà hăy c̣n sai ngoa thế đó, huống chi ngày nay cách Phật đă xa, mà nếu chẳng gần gủi thầy hay bạn giỏi mà có thể thốt lời có quan thiệp với điển chương được ư!?

Hoặc bị lời chúng khinh, liền trách hậu sanh sao vô lễ, ḷng giận phừng nổi, nói lấn lướt người.

Câu đầu, không đức bị khiển trách, câu hai, chẳng tự xét lỗi ḿnh, hai câu dưới, ḷng nổi sân thốt lời độc, tổn thương người (như chưởi, mắng, rủa…!)

Lời nói đă chẳng nhằm kinh điển th́, có lạ ǵ bị người ta khinh rẻ! Chẳng tự xét lỗi ḿnh, trở lại trách cái quấy của người. Một phen lửa giận phực lên, không chi chẳng cháy ráo (như một niệm sân tâm nổi lên, trăm vạn cửa chướng đều mở!).

Kư: Sân: giận, là cái hơi giận phừng phừng xông trào lên. Phẩn: hờn, là đối với kẻ làm nghịch ư mà căm hờn. Lại, hờn người ta là sân, tự hờn lại ḿnh là khuể. Hận: hờn căm căm chứa kết trong ḷng. Khuể: hờn người không theo ư ḿnh.

Ngài Đạo An pháp sư nói “Đối với kinh, đạo, ḿnh đă bất thông, với giới đức lại toàn chẳng có, tất nhiên, bị bằng hữu x́ hơi mũi cười giễu, bạn đồng học bỏ rơi, người xuất gia mà như thế là, luống uổng mất tuổi sống dưới ṿm trời!”

II.A.1.l- Nghiệp quả thời thục

Một mai, bịnh nằm tại giường, các khổ buộc ràng ép ngặt! Sớm tối lo nghĩ, trong ḷng hồi hộp!

Hai câu trên, cái thân bị khổ, hai câu dưới, cái tâm bị khổ! Cái thời Dị thục(106) đă đến, thân tứ đại trái thường hễ một đại chẳng điều ḥa th́, cả trăm mạch và gân đều giựt rút! Nép đầu xuống gối, đă nghĩ lại lo, th́ ra, không có một điều lành ǵ khá ghi, thôi thời, bó tay chịu chết xuống cửa Hoàng Tuyền, chứ có ngờ ǵ nữa, thế, há chẳng bối rối lo sợ ru?

Kư: Hoanh: buộc cột, Triền: trói ràng. Bức bách: là dường như bị xua đuổi quá gấp ngặt. Hiển tịch: sớm mai và xế chiều. Tư thổn là suy nghĩ xét đo. Hồi hoàng là mờ rối e gấp!

Trước đường mờ mờ, chả biết đi đâu. Từ nay mới biết ăn năn lỗi, như đến khát mới đào giếng(107) sao kịp!?

Hai câu trên, chẳng biết sẽ đi đến chỗ nào, hai câu dưới, chừ vói ăn năn chẳng kịp!

Lục đạo như đường hiểm nạn, sanh tử như đồng mênh mông, chẳng biết chỗ sanh lai, đâu biết chỗ tử khứ (sanh bất tri ṭng hà xứ lai, tử bất thức ṭng hà xứ khứ), ngày trước chẳng sớm tính toan, đến giờ rồi ăn năn sao kịp?

Phật ngài giác ngộ cho rằng “Người ta v́ si, nên mới có sanh tử. Kẻ nào là si? Vốn từ trong si (vô minh vi phụ, tham ái vi mẫu) mà sanh lai, đời nay lại vẫn tạo si (cũng vô minh cũng tham ái) nữa, tâm đă không giải thoát, không khai ngộ, nên chả biết sau khi chết sẽ thú hướng đến chỗ nơi nào?”

Chính chỗ bảo “vị tri hà văng”.

Kư: bổn văn đây, câu đầu: tam đồ, lục đạo quá rộng ŕnh không bờ mé. Câu thứ hai: cái tâm thức nó chẳng biết chỗ để đi. Câu thứ ba: đến lúc cuối cùng mới ăn năn tội khiên từ trước. Câu thứ tư: lập lời dụ để cho rơ ra. Kinh Bách Dụ nói:

“Thuở xưa, ở ngoại quốc có một kẻ bần cùng, giả làm tiếng con oan ương kêu giống hệt, anh học giả làm tiếng chim ấy kêu là, muốn để bẻ trộm hoa sen. Liền vào ao sen của vua, ứng tiếng kêu Oan ương! Oan ương!

Người giữ ao nghe mà sanh nghi, hỏi “Thứ ǵ kêu trong ao đó?” Gả bần nhân hốt hoảng vấp miệng đáp rằng “Tôi là con chim oan ương” - Ủa? Oan ương sao biết nói tiếng người!? Chết! Chú nầy giả oan ương kêu để trộm hoa sen đây mà.

Kẻ giữ ao bắt trói, đem đi để nạp lên vua. Đi được nửa đường anh chàng lại ứng tiếng làm chim oan ương kêu Oan ương! Oan ương! Người giữ ao phẩm b́nh rằng:

- Sao khi nảy, tại trong ao mà tôi hỏi đó, chú đă không kêu như thế, lại ứng tiếng rằng “Tôi là chim oan ương”, bây giờ c̣n làm cái cách đó ích ǵ đâu?

Vả lại, chính chim ấy kêu như thế này Oan (là con trống kêu) ương (là con mái kêu) Đó là trống kêu, mái ứng, nên mới gọi là oan ương, v́ mỗi con kêu mỗi tiếng; c̣n đây chỉ một ḿnh chú là đàn ông mà lại kêu luôn cả hai tiếng oan ương như thế, trách sao không ḷi mặt nạ của tṛ bịp! Thực “có gian mà không có ngoan”.

Kẻ mà giàu cái tánh chất ngu si ở thế gian, cũng lại như thế, v́ trọn đời tạo đủ các nghiệp ác, chả có một phút nào tập tành tâm hạnh khiến cho hiền lành, để đến khi gần đất xa trời, sắp xuống miệng lỗ rồi mới nói cái câu toàn vô hy vọng rằng “ta nay muốn tu phước thiện”.

Th́ ra, bấy giờ đây, quỉ vô thường, lính ngục tốt sắp bắt đem đến nạp vào chỗ Diêm-la vương, thế, chừ đây, mặc dù có muốn tu phước hành thiện ǵ, cũng chẳng cứu văn chi kịp được! Tỷ như anh chàng giả chim kêu để đánh lừa trộm hoa sen kia, bị chúng lôi họng gần đến chỗ vua, chừ mới lấy hai cánh tay làm như vỗ cánh, đập đuôi rướn cổ lên mà kêu rằng Oan ương! Oan ương! Th́ quá muộn rồi!

Giận ḿnh sớm chẳng dự tu, tuổi xế (già) nhiều điều quấy lỗi, khi sắp chết đi, tay quơ quào, chơn run giựt, sợ hăi dớn dác!

Hai câu trên tự trách lại ḿnh. Hai câu dưới mất sức tự chủ. V́ ngày trước chẳng chừa ba độc, đến lúc bóng xế tuổi già, tội chất như núi. Thuở sanh mạng cuối cùng, cái cảnh ác nghiệp nó hiện ra trước, giờ đây, ví dẫu miễn cưỡng có làm chủ trương đi nữa, cũng khó khỏi cái tấn kịch phách bố chương hoàng!

Chính là, ngày trước gót chơn chẳng vững (chả có lập trường tu học ǵ chắc chắn), nên chi, lúc thần thức sắp ĺa thân nầy để đi thụ thân khác th́, tay run, chơn rủn!

Kư: Quá cửu: quấy lỗi tức tội khiên. Hoác: tay chơn tráo trớ lật úp, vặn trái. Huy: cánh tay bị gân giựt lay động. Hoác: cánh tay bị rút gân lật trái. Nghĩa là, như trong khi lật bàn tay, là nói rất chóng mau. Phạ bố chương hoàng là quá ư e gấp sợ sệt!

The lủng sẻ bay, thức tâm theo nghiệp. Như người thiếu nợ, ai mạnh kéo trước. Tâm dệt nhiều mối, chỗ nặng mích sa.

Hai câu trước thân tâm theo nghiệp, hai câu thứ nghiệp mạnh lôi tâm, hai câu sau quả báo thiên lệch, do tâm tạo nặng.

Lại, câu đầu tỷ dụ cái quả nghiệp (báo thân) của đời trước nay nó đă tàn tạ rồi. Câu thứ hai tâm theo nghiệp đi. Hai câu ba, bốn ví dụ hễ nghiệp nào mạnh hơn, phải trả quả trước. Câu năm vọng niệm phi một. Câu sáu quả báo theo tâm mà đọa.

Song, nghiệp mà thiện hay ác, mạnh yếu bởi tâm; với chỗ mà chịu quả báo, nặng nhẹ tự chia. Nghĩa là, cái tâm mà cấu uế trọng trược, tức nhiên phải đọa nơi tam đồ; cái nghiệp lành th́ nhẹ bổng, là siêu thăng lên cơi người hoặc cơi trời.

Nếu căn cứ trong pháp xuất thế gian th́, cơi nhân, cơi thiên, vẫn c̣n là quả báo hữu lậu, cũng gọi là đọa; chỉ có kẻ mà nhất tâm chẳng sanh vọng niệm, mới giải thoát được cái cảnh luân trụy tam giới.

The lủng sẻ bay, sẻ: chim se sẻ. Đại luận nói “Con chim sẻ chun vào trong cái b́nh (lọ), người ta lấy tấm vải the bịt miệng b́nh, bất ngờ tấm the có rách lổ, sẻ chun ra bay đi mất, là thức thần theo nghiệp giong”.

Chừ lấy cái b́nh, dụ thân tứ đại. Tấm the dụ mạng căn. Chim sẻ dụ thức thần. Thức thần tức là cái thức tâm.

Nhân v́, nương nơi cái nghiệp thiện hay ác của đời trước đến chịu cái thân quả báo của đời nay; tỷ như chim vào b́nh bị nghiệp nó ràng buộc , như tấm the bịt miệng b́nh. Khi mà thân quả báo sắp tàn tạ, liền phải theo nghiệp. Như the lủng, chim bay đi, mà đi ắt cũng theo nghiệp, nên gọi là tùy tẩu.

Do thức tâm nó bị buộc lấy cái dây nghiệp (mười thiện, hay mười ác) tại nơi sắc b́nh (ngũ ấm thân) mà, không chỗ nào (ba giới, sáu đạo) nghiệp nó chẳng đến. Cái dây nghiệp chưa dứt th́, đi rồi c̣n trở lại (luân hồi), b́nh bể dây dứt (rời thân phận đoạn sanh tử) th́, đi mà không trở lại (biến dịch, chớ không luân hồi).

Nghĩa là, hiện nay, thân tứ đại hoại diệt, gọi là đi, để thụ cái thân đời sau, gọi là trở lại. Người mà tiến đến quả Vô học (La-hán), mới gọi là cái b́nh bể (diệt thân hữu lậu rồi). Hết cái nghiệp đời sau, gọi là chẳng trở lại (không sanh diệt lại thế gian nầy nữa).

Rằng thức tâm ấy, tức là cái thức A-lại-da, một tâm vương thứ tám, nó chứa giữ hột giống của mười thiện, mười ác, để làm tổng báo chủ cho một báo thân.

Tùy nghiệp là cả sáu thức trước, sở tạo ra nghiệp thiện, nghiệp ác, để rồi cùng dẫn cái thức thứ tám đi thụ cái tổng báo thân ở trong một đạo giữa sáu đạo. Thế, nghiệp là năng dẫn, thức là sở dẫn, nên nói là theo nghiệp.

Kéo trước: giữa hai nghiệp thiện và ác, cái nào mạnh, nặng hơn th́, nó kéo ngă về phía nó, để đến thụ quả báo cho tương lai trước đă, c̣n cái nghiệp nào nhẹ, sẽ thụ quả báo sau.

Tâm dệt nhiều mối: cái thức thứ sáu (ư thức) nó có mỗi mỗi vọng tưởng, phân biệt nhiều lắm, nó thường vín leo nơi sáu cảnh trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), làm mọi điều ác nghiệp, sa đọa xuống tam đồ. Hễ cái tâm vọng nhiều th́ đọa nặng (đại địa ngục), ít th́ đọa nhẹ (tiểu địa ngục).

Tổ Khuê Phong nói “Làm việc có nghĩa, là cái tâm tỉnh ngộ, làm việc vô nghĩa, là tâm tán loạn. Tán loạn là theo cái vọng t́nh nó xây chuyển, khi lâm chung phải bị ác nghiệp lôi kéo; người mà tâm tỉnh ngộ chẳng do nơi vọng t́nh th́, khi lâm chung có thể tự chuyển đổi được ác nghiệp. Muốn nghiệm biết sau khi lâm chung đi thụ sanh, được tự tại hay chẳng tự tại, chỉ nghiệm xét lấy tầm thường hằng ngày, cái tâm hành động đối với cảnh sáu trần, được tự do hay bất tự do, trong hai mươi bốn giờ, ta tự phải kiểm xét lấy”.

Thế, đấy là Tổ Khuê Phong ngài dịch thêm cho học giả một phương thuốc phát hạn tán (đổ mồ hôi giải cảm), vậy, chư nhân giả! Tốt hơn tự xét nghiệm lại ḿnh coi, rốt chớ chầy (chậm trễ) qua!

Kư: A-lại-da, đây rằng tàng thức, nghĩa là, v́ nó thường hàm tàng những hột giống các pháp thiện ác của thế gian và xuất thế gian.

Do v́, lúc rốt trước (khi đi đầu thai) cái bất giác (mê) vọng động (nhân ái vi chủng, nạp tưởng thành thai) lên, mà thành ra cái vô minh, vô minh nó xông ướp vào cái chân như (chân vọng ḥa hợp) mà thành làm cái thức A-lại-da. Thức đây nó hay chấp tŕ hột giống của các pháp thiện ác, thường khiến cho cái ḍng sanh tử tiếp tục chuyển măi chẳng dứt, nên thức đây cũng tên là Chấp tŕ thức. Hoặc tên là Dị thục thức, là nó thường dẫn dắt cái quả dị thục cho thân sanh tử giữa nghiệp lành và nghiệp chẳng lành.

Dị thục, là tại trong đời nay ta làm nghiệp chi, qua đời sau ta phải chịu báo nấy (trồng dưa được dưa…), hễ cái nhân nọ diệt th́, cái quả kia sanh, thời nầy sanh, qua thời khác (dị) mới chín (thục), nên gọi dị thục quả, cựu dịch rằng quả báo, thực thế.

Bộ Lục Tông Cánh, hỏi “Đến ngày các căn hoại, đến giờ thần thức dời ĺa, bỏ cái xác cũ đây , đi thụ cái thân mới khác, thế th́, cái thức đi lại ấy, tướng trạng nó như thế nào?

Đáp, như kinh Hiển Thức chép rằng “Sự hành động, vận chuyển, dời diệt, qua lại của thức, dường như luồng gió, dù không màu sắc, không h́nh tướng, không thể rơ bày trạng mạo ǵ ra, mà nó có thể phát động được cả vạn vật, làm ra các h́nh trạng như hoặc là lay rung cây rừng, xô găy tách toát, reo tiếng tăm lớn; hoặc làm cho lạnh, làm cho nực, nó xuông đến thân của chúng sanh làm khổ, làm vui!

Đấy, gió nó chẳng có tay chơn h́nh dáng ǵ, cũng không các màu đen trắng; thức giới cũng thế vô sắc vô h́nh, không quang minh hiển hiện, vậy mà, v́ những nhân duyên huân tập, nó rơ bày ra mỗi mỗi công dụng, như là thấy nghe hiểu biết, phân biệt nhớ ghi…

Kinh Đồng Tánh nói “Chúng sanh khi mà bỏ cái thân tiền ấm đây rồi, do sức mạnh của gió nghiệp(108) nó thổi dời thần thức đưa đi đến chỗ mà thức nó chịu nghiệp báo để thụ lấy quả”.

Hộc là thứ vải the rất mỏng mà lổ vuông, dùng bận mát mùa hạ.

Cơn vô thường là quỉ dữ, mỗi niệm mỗi niệm chẳng ngừng, sanh mạng chẳng thể kéo dài, thời giờ không thể chờ đợi!

Hai câu trên, cơn vô thường rất mau; hai câu dưới, thời gian sanh mạng rất chóng.

Lấy vô thường làm sát quỉ là cái vô thường kia, tuy nó không h́nh chất ǵ khá thấy được mà, nó hay dứt đứt cái mạng căn của con người, nên bảo nó là sát quỉ.

Sách Chỉ Quán nói “Cơn vô thường là quỉ dữ, v́ nó chẳng chọn chừa bực anh hào, đấng hiền tài ǵ, thể nó ngặt nghèo, gịn bở không bền chắc, rất khó mà nương cậy! Thế mà, sao người ta yên đành nề nếp mong sống trăm tuổi!? Như mải miết rông t́m bốn phương, thu nhóm chứa chất, thu nhóm chưa đủ (thế vô bách tuế nhân, uổng tác thiên niên kế), thoạt chốc qua đời! Sở hữu bao của cải, đều luống làm cái có cho kẻ khác(109)!

Một ḿnh ra đi trong cơi mờ mờ, có biết ai đâu hỏi thăm phải trái!”

Mỗi niệm chẳng ngừng, là nghĩa dời trôi không đ́nh trú.

Trí Độ Luận nói “Vô thường có hai thứ: 1-Cái pháp tiếp tục nhau giữa sáu căn sáu thức bị hoại, nên gọi là vô thường; 2-Trong tâm thức mỗi niệm sanh diệt luôn, nên gọi là vô thường.

Kinh Niết-bàn nói “Bồ-tát tu pháp tử tưởng, là quán xét cái sanh mạng đương sống đây, thường bị vô lượng(110) điều oán thù theo vấn vít! Mỗi niệm hao bớt dần, chớ chẳng có niệm nào tăng trưởng! Dường như ḍng nước nơi bộc bố(111) chẳng đặng đ́nh trú. Cũng như sương móc ban mai, thế nó chẳng dừng lâu. Như đứa tù bị dẫn đến chỗ xử tử, mỗi bước kề cái chết.

Mạng chẳng khá dài, mạng là thọ mạng, chính là cái thân dị thục do nghiệp báo từ đời trước đă nhất định rồi, nên nay chẳng có thể kéo dài thêm nữa được.

Thời chẳng thể đợi, thời, tức là thời khắc, đă là do nghiệp đời trước quyết định cho báo thân nầy rồi th́, phi sức mọn của con người mà có thể cầm lại hay là chờ đợi ǵ được. Chính chỗ bảo rằng “Diêm vương chủ định tam canh tử, định bất lưu nhân đáo ngũ canh: Diêm Chúa đă phê giờ Tư chết, chẳng cho người hẹn đến canh năm”. Đấy là “với cái nghiệp đă tiền định nay khó trốn”, đây gọi thế chăng?

Kư: lung chủng lăo hủ: lửng chửng già mục là khổ về tướng lăo. Ngọa bịnh tại sàng: nằm đau tại giường là khổ về tướng bịnh. Vô thường sát quỉ: không thường quỉ giết là khổ về tướng chết.

Kinh Chính Pháp Niệm Xứ nói “Đến giờ sanh mạng cuối cùng, có luồng đao phong(112) đều chuyển động khắp thân thể, quá đau nhức như có ngàn mũi đao đâm xẻ cùng ḿnh mẩy! Trong mười sáu phần, hăy chẳng c̣n một(113). Ai có nghiệp lành th́, ít khổ năo (đời gọi là thiện chủng, sanh thuận tử an sách Phật gọi là hảo tử…)

Ba hữu, người, trời, hẳn chưa khỏi đặng thụ thân như thế chẳng kể kiếp số!

Hai câu trên khó trốn nghiệp quả. Hai câu dưới đường sanh tử không cùng tận!

Nói ba hữu th́ đă bao gồm cơi người cơi trời rồi mà muốn cho văn và nghĩa lẫn chương, nên đă nói tam hữu, c̣n lại nói người và trời nữa.

Ba hữu: Tam hữu tức tam giới, là chúng sanh tạo tác những cái nghiệp nhân hữu lậu thiện, hữu lậu ác, trí sử chiêu cảm lấy cái quả báo hữu lậu thiện hữu lậu ác(114), v́ nhân nào quả nấy, không sai không mất, nên gọi là hữu (có).

1-Dục hữu: Là bốn châu nhân loại, sáu cơi trời dục, bốn ác thú (a-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục), v́ chúng sanh trong các cơi đây đều không ĺa ḷng dục nhiễm(115), nên gọi là Dục hữu.

2-Sắc hữu: Là sắc giới, có bốn loại trời thiền, tuy đă ĺa được cái ḷng dục nhiễm(116), nhưng c̣n cái thân sắc chất(117), nên gọi là sắc hữu.

3-Vô sắc hữu: Là vô sắc giới, có bốn cơi trời không, v́ thân tứ đại đă không c̣n, nên chẳng có cái sắc chất, chỉ c̣n bốn uẩn (thụ, tưởng, hành, thức), nên gọi là vô sắc hữu.

Tất cả chúng sanh trong tam hữu đây, đều bởi gây cái nhân về hữu lậu, nên buộc cái quả về hữu vi, th́ đă là vô thường, nên đi đầu thai và thụ thai, đều không rời tam giới, nên nói là hẳn chưa khỏi đặng.

Trong khi chịu quả, lại tạo ra cái nhân mới, đă có nhân đương thời, lại phải chịu quả sau nữa, cứ quanh đi quẩn lại luân hồi măi như thế, không biết đâu là đầu cuối bờ mé, nên nói chẳng kể kiếp số(118)!

Kư: thế giới có bốn thời kỳ là thành, trụ, hoại và không (đó là bốn trung kiếp), mỗi một thời kỳ trung kiếp ấy, trải qua hai mươi tiểu kiếp, cả bốn thời kỳ ấy cọng là trải qua tám mươi tiểu kiếp.

Một tiểu kiếp cọng kể là một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm, tám mươi tiểu kiếp, gom lại là một đại kiếp, suốt kể là một chục ba vạn bốn ngàn bốn trăm vạn năm.

Hiện nay, loài người ở trong kiếp này là kiếp túc (trung kiếp) có hai mươi tiểu kiếp, cọng kể là ba vạn ba ngàn năm; mà nay là đương tiểu kiếp thứ chín, hăy c̣n mười một tiểu kiếp(119)nữa, qua rồi tức đến thời kỳ kiếp hoại.

Bốn uẩn(120): thụ, tưởng, hành, thức. Sáu cơi trời dục, bốn ác thú, bốn cơi thiền thiên, bốn cơi không thiên, đều giải thích như dưới.

II.A.1.m- Sách lệ khuyến tu (Gắng gỗ khuyên tu).

Quá thương tiếc uổng, rất đau đớn ḷng, đâu nở làm thinh, cùng nhau nhắc nhở.

Hai câu trên: Cảm thương tiếc lắm! Hai câu dưới: Khuyên người gắng sức.

Tổ Qui Sơn ngài nhận thấy hàng truy lưu(121) này, phần nhiều ham ưa tài lợi, bỏ bê đạo, rồi phải xa ch́m biển sanh tử! Thành thử Ngài cảm thương than thở, ḷng thống thiết chẳng nở nín lời, nên phải chép thành văn Cảnh sách đây, hầu thay lẫn với nhau để mà nhắc thức và khuyến khích đấy.

Kư: Nhá là lời than v́ lấy làm quái gở quá! Giam: Bịt niêm, như nói giam khẩu bất ngôn. Để người ta đạc đệ: truyền đệ, đem truyền cho nhau.

Hiềm v́! Đồng sanh nhằm thời tượng quí. Cách với thời Phật quá xa, bậc truyền Phật pháp thưa ít, người tu phần nhiều giải đăi!

Hai câu trên, thương v́ chẳng c̣n Phật ở đời. Hai câu dưới, thương v́ đời pháp rốt, ḷng người ngoan cố!

Tượng quí, quí là ngọn, chót. Số là, do đức Thích-ca Như Lai, giáo pháp của Ngài để lại, có phân ra ba thời là chánh, tượng và mạt.

Chánh pháp, chánh như chứng, là sau khi Như Lai diệt độ, trong khoảng một ngàn năm đầu, phàm là người có bẩm giáo xuất gia, đều năng tu hành, tức năng chánh quán nên gọi chánh pháp, v́ chánh tức chứng.

Tượng pháp, tượng tương tự, là có bẩm giáo cũ có tu hành, thời này tương tợ nhau với thời chánh pháp, nghĩa là sau đức Phật nhập diệt, trong khoảng ngh́n năm thứ hai (thời chánh pháp là một ngàn năm thứ nhất, tượng pháp là một ngàn năm thứ nh́), người có bẩm giáo, có tu mà phần nhiều chẳng thể chứng quả, chẳng được chính đích, nên gọi là tương tự.

Mạt pháp(122), mạt là mạt hậu (rốt sau), cũng là nhỏ chót. Nghĩa là, đức Phật Niết-bàn, sau hai thời chánh và tượng, trong khoảng một vạn năm, đối với giáo pháp để lại đời người ta mặc dầu có bẩm giáo mà, phần nhiều chẳng thể tu hành chứng quả được mấy. Hoặc có chỗ nói đời mạt pháp có ba ngàn năm.

Tổ Qui sơn xuất thế nhằm đời Đường, cách với đức Như Lai diệt độ, hầu đă một ngàn tám trăm năm, nên nói “đồng sanh tượng quí”, là phần rốt đời tượng. Lại cách nhau với đức Như Lai hầu hai ngàn năm, nên nói là “khứ Thánh thời diêu”, là cách thời Phật đă xa.

Thời đại đă xa cách, bậc đại nhân truyền pháp đă dần dần ít thiếu, nên nói là “Phật pháp sanh sơ”. Đă như ông Lương Đạo(123), lại nhằm đời mạt kiếp, căn khí của người hạ liệt, không có chí hướng thượng, nên nói là “nhân đa giải đăi”.

Kư: Quí là cái thời ở sau thời mạnh, thời trọng, như quí xuân, quí hạ, lại mạt thế cũng kêu là quí thế, nếu lấy một ngàn năm của thời tượng pháp để nói th́, ba trăm năm sau là thuộc về quí; nếu lấy ba thời chánh, tượng, mạt mà nói th́ quí là thời sau chánh và tượng.

Thánh thế là đời Phật, tức là ngày mà đức Như Lai c̣n hiện tại nơi đời. Lại cái thời chánh pháp cũng gọi là Thánh thế.

Xổi bày chỗ quản kiến, để hiểu rơ lớp sau nếu chẳng bỏ chừa (thói hủ bại), thực khó đem lại (đạo chánh chơn).

ai câu trên chỉ thị ra lời dạy (văn cảnh sách), hai câu dưới lời răn khuyên gắng.

Đă có chỗ cảm thương như thế, đâu chẳng có lời đưa ra để khuyên tu tŕ.

Lược thân quản kiến, (Xổi bày ống ḍm) lược: hẹp, sơ lược, như chưa rộng. Thân là thân thuật lại. Quản kiến như chỗ thấy trong ống ḍm trời.

Đấy là lời khiêm nhượng của tổ Qui Sơn.

Để hiểu rơ lớp sau nghĩa là, lấy văn cảnh sách đây, để hiểu dụ kẻ hậu học, cần phải răn chừa điều ác dời qua việc lành.

Hai câu “nhược bất quyên căn, thành nan luân hoán” là lời xâu kết văn trước, để mà khuyến tu. Nghĩa là, nếu chẳng chừa sạch các thói xấu như trên đă dẫn ác dục tập nhiễm, ngạo mạn và phóng dật… th́ thực là khó mà văn hồi lại chánh đạo!

Kư: Quyên: rửa giặt, chừa khỏi.

Căng là kiêu căng tự phụ. Lại là khoe khoang trau chuốt lấy ḿnh.

Hoán là chuyển đổi, luân hoán, nghĩa như văn hồi.

Giới miễn là khiến cho đoạn các cái hạnh ác tập mà gắng tu các việc thiện hạnh.

 


CHÚ THÍCH
1. Tổ sư nói: Tây Thiên đệ ngũ thế Tổ sư, tức Đề-đa-ca tôn giả, nói bài kệ phú pháp cho Di-cha-ca tôn giả làm đệ lục thế Tổ rằng:

Suốt thông vốn không tâm,
Không pháp không chẳng pháp,
Ngộ rồi đồng chưa ngộ,
Không tâm cũng không pháp. Thông đạt bổn vô tâm,
Vô pháp vô phi pháp,
Ngộ liễu đồng vị ngộ,
Vô tâm diệc vô pháp.

Ư nói cái tâm nó phi có h́nh sắc lớn nhỏ ǵ, mà tức pháp tức tâm, cũng pháp phi pháp, tâm phi tâm, v́ là chân không bất không, diệu hữu phi hữu. Người được minh tâm kiến tánh rồi, cũng như khi chưa ngộ, v́ bất tăng bất giảm, Thánh cũng tâm ấy, phàm cũng tâm ấy chớ phi Thánh mà tăng cái ǵ, phàm giảm cái ǵ, chỉ giác ngộ là Thánh, mê muội là phàm, nên nói “Ngộ liễu đồng vị ngộ, vô tâm diệc vô pháp”. Cổ nhân phụ kệ rằng “Ngộ liễu hoàn đồng vị ngộ th́, phương thị ni cô vị nữ nhi, thuận nghịch tung hoành trí, văng lai tam giới chứng Bồ-đề”.

2. Ngộ rồi đồng chưa ngộ: Cái tâm pháp đă nói như trên, hễ được giác ngộ là Phật mà c̣n đương mê là chúng sanh. Nhưng đâu phải giác ngộ rồi có thêm cái ǵ, c̣n đương mê bị bớt cái chi, nên nói “Ngộ rồi đồng chưa ngộ”. Đức Lục Tổ nói “Bồ-đề bổn vô thụ, minh cảnh diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”. Tâm kinh nói “…Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố…”.

3. Họ Tư Ma: Họ đôi là dùng hai chữ làm họ. Nhà Châu thuở vua Tuyên, cha ông Tŕnh Bá Hưu là chức quan Tư Mă, có công lớn, vua ban cho họ quan là Tư Mă thị. Họ đôi như Chung Li, Khổng Minh, Hạ Hầu…

4. Đầu-đà: Du-già Luận Kư cuốn 6 nói “Đọc chính Đổ-đa, dịch là tu trị”. Hành pháp này để phủi giũ ba món tham trước là y phục, ẩm thực và chỗ ở. Người tục bảo Tăng sĩ đi hành cước, khất thực là tu hạnh đầu-đà cũng gọi là hành giả…

5. Thủ tọa (chức vị): Là ngồi đầu ḍng giữa hội tọa. Tăng sử lược trung nói “Thủ tọa tức là Thượng tọa, ở nơi đầu pháp tịch, ngồi trên chúng tăng, nên kêu là thủ tọa”. Tùy địa vị có nhiều chức: 1-Tam giống áo thủ tọa (đời Đường, vua Tuyên Tôn tặng thưởng). 2-Giảng giáo thủ tọa (đời Đại Tống quan tặng). Trong thiền môn có những: 3-Tiền đường thủ tọa, 4-Hậu đường thủ tọa, 5-Lạp tam thủ tọa, 6-Danh đức thủ tọa, 7-Khước lai thủ tọa. Tổ Đ́nh Sự Uyển cuốn 8 nói “Thủ tọa tức là vị Thượng tọa từ xưa. Phạm ngữ Tất-thế-da, đây rằng Thượng tọa… xưa nay lập chức vị đây, đều lựa dùng người có tuổi tác, đức hạnh cao độ đảm nhận…”
6. Điển tọa: Là chức vị chủ các việc cho đại chúng như giường, chỗ ngồi, cơm cháo… Luật Tăng-kỳ quyển 6 nói “Phật trú nơi thành Xá-vệ, bấy giờ có Tỳ-kheo tên là Đà-phiêu-ma-la-tử, chúng tăng đưa lên làm chức điển tọa, chủ hay chín việc: 1-Chủ thứ lớp phân phú sàng ṭa. 2-Chủ thứ lớp sai đi mời họp nghị. 3-Chủ thứ lớp phân chia pḥng xá. 4-Chủ thứ lớp chia y phục thập vật. 5-Chủ thứ lớp chia hoa hương. 6-Chủ thứ lớp chia quả phẩm. 7-Chủ thứ lớp biết ấm lạnh. 8-Chủ thứ lớp chia các thứ bánh. 9-Chủ hay tùy ư cử lên người biết việc. Thế, là chúng tăng cho làm chức điển tri cửu sự”. Điển là chủ hay giữ. Truyền Đăng Lục chép rằng Ngài Linh Hựu khi ở dưới pháp hội của Tổ Bách Trượng, được làm chức điển tọa… Xét, nhà Thích gọi điển tọa, như nhà cư sĩ gọi tư trù (chủ việc nhà khói). Đại phàm, các tăng chúng trong các tự viện, lệ thường phân ra làm Đông tự, Tây tự, những chức mà hay về các việc thô sơ, đều thuộc về Đông tự, như điển tọa… – Ngũ Đăng Hội Nguơn chép Ông Tuyết Phong làm chức Phạn đầu nơi Động Sơn; ông Khánh Chư làm chức Mễ đầu ở nơi Qui Sơn; ông Đạo Khuông làm chức Thông đầu ở nơi Chiêu Khánh; ông Quán Khê làm chức Viên đầu ở Mạt sơn; ông Thiệu Viễn làm chức Điền đầu ở nơi Thạch môn; ông Trí Thông làm chức Trực tuế ở nơi Qui sơn; ông Hiểu Thông làm chức Đăng đầu ở nơi Vân Cư; ông Kê Sơn làm chức Sài đầu ở nơi Đầu Tử; ông Nghĩa Hoài làm chức Thủy đầu ở nơi Túy Phong; ngài Phật Tâm làm Tịnh đầu ở nơi Hải Ấn. Các chức vụ trên, đều thuộc về Đông tự. Mà cái danh Điển tọa rất rơ nơi đời. Đông tự, Tây tự tức Đông đường, Tây đường.

7. Tượng lật: Tên một thứ trái cây (cây keo su), hột như hột su già, năm mất mùa, người ta hái trái ăn đỡ đói, năm được mùa, hái trái cho heo ăn. Tượng b́ thọ tức keo su, quí hơn vàng, v́ ngày nay người ta chế tạo vật dụng quá tiện lợi mọi điều. Lật: có trái, ăn được, tục gọi là trái chôm chôm.

8. Nhập thất: Pháp Thiền qui bảo rằng kẻ đệ tử nào tham học đă lâu, mới được vào tịnh thất của thầy để tham hỏi đạo, là khám xét đệ tử đă đắc phần, phi người tham học đă lâu th́ chẳng cho vào. Ở về thời xưa, đến cơ duyên mới làm pháp nầy, chẳng có cái Thiền qui riêng; đến các Tổ như Mă Tổ, Bách Trượng về sau, mới riêng lập cái Thiền qui định ngày mà làm. Đời gọi là đắc Sư pháp là đệ tử đă nhập thất. Song người nhập thất đấy, cũng chưa chắc được hết sư pháp. Tổ Đ́nh Sự Uyển cuốn 8 chép, Tổ sư truyền rằng “Đức Ngũ Tổ đại sư đến nửa đêm, bí mật sai thị giả đến nhà giă gạo mời ông Lư Hành Giả vào thất, Tổ truyền y pháp cho làm Đệ Lục Tổ… Sách Sắc Tu Thanh Qui Nhập Thất chép “Cái điều nhập thất là nhà Thiền khám xét kẻ học giả, sách phát chỗ chưa đến, nghiền nát chỗ luống dối cống cao, trị cái chỗ thiên trọng.” Hưng Thiền Hộ Quốc Luận nói “Nhập thất là gặp ngày nào mà Ḥa thượng thầy được rảnh rỗi, mới lập cái nghi nầy”, đó là một việc của Thiền tông. Lại, pháp tu, bên Chân Ngôn Tông, vào cái thất quán đảnh, làm chịu pháp quán đảnh, gọi là nhập thất đệ tử.

9. Năm Thái Trung thứ 7: Tức là Đại Trung, niên hiệu của vua Tuyên Tông nhà Đường, năm Đại Trung thứ bảy, nhằm dương lịch 847.
10. Tuổi tăng lạp: Từ năm thụ Tỳ-kheo giới về sau, cứ mỗi năm đều cấm túc an cư ba tháng mùa hạ, hễ tu được một hạ, gọi là một tuổi, mấy hạ là mấy tuổi. Rằm tháng tư nhập hạ, rằm tháng bảy ra hạ, tháng bảy là lạp ngoạt của nhà Tăng, kêu là pháp lạp, tăng lạp. Lạp là tên của cuộc tế lễ; tức tế lạp; nhà Tần, nhà Hán đều lấy tháng 12 âm lịch làm tháng lạp để tế lễ, người thế thường lấy tháng cuối năm tức tháng 12 làm tuổi.

11. Tự biết: Là cái trí túc mạng thông. Luận Câu Xá nói “Túc trú tùy niệm trí chứng thông, là cái sức thần thông tự tại hiểu biết những sanh mạng và hành sự suốt các đời khác của ḿnh, như biết những việc tự ngày qua về trước của đời hiện tại…

12. Trực chỉ Thiền: Là pháp Thiền nầy chỉ ngay cái tâm của người, để người kiến tánh thành Phật, chứ không dùng đến ngữ ngôn văn tự. Thiền pháp có hai: a-Như Lai Thiền: Trong kinh, luận từng nói đến, đời Tần, ngài Cưu-ma-la-thập ban đầu truyền ra, đến ngài Thiên Thai rất là tường tất. b-Tổ sư Thiền: Tức trực chỉ Thiền, ngoài kinh luận (giáo ngoại biệt truyền) Tổ trước Tổ sau đem tự tâm ấn tâm cho nhau; đời Ngụy đức Đạt-ma ban đầu truyền ra. Phật ở trên hội Linh Sơn, cầm một hoa sen đưa ra trước mặt tứ chúng, cả trăm vạn người và trời mà không ai hiểu ư Phật, chỉ có ông Ma-ha Ca-diếp chúm chím cười, v́ lănh hội được ư chỉ của Phật, nên Phật đem diệu tâm Niết-bàn truyền cho Ca-diếp làm Sơ Tổ. Đấy, niêm hoa vi tiếu mà truyền trao tâm ấn mà thôi, chứ chẳng dùng đến ngữ ngôn văn tự, nên gọi là Trực Chỉ Thiền, v́ “bất lập văn tự giáo ngoại biệt truyền”. Ngài Thái Hư định nghĩa rằng “Lấy chỗ truyền mà lập tông, là Thiền tông bất y văn tự, tuyệt vô kinh điển, xích lỏa lỏa duy chính thị vụ”.

13. Hoa Lâm Ḥa thượng: Ngài thủ tọa, sau đến trụ tŕ chùa Hoa Lâm, nên gọi là Hoa Lâm Ḥa thượng; Ngài có đức cảm hóa hai con Đại hổ và Tiểu hổ, đặt pháp danh là Đại Không và Tiểu Không…

14. Nghiệp: Là người đời, ai cũng có chẳng nhiều th́ ít giữa mười thiện nghiêp, mười ác nghiệp, hễ nghiệp lành th́ nó dẫn đến tam thiện đạo là, thiên đạo, nhân đạo và A-tu-la đạo, v́ hữu lậu thiện mà phân ra có thượng, trung và hạ. C̣n nghiệp ác th́ nó lôi tới tam ác đạo là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, v́ có thượng ác, trung ác và hạ ác. Sách gọi là lục đạo luân hồi.

15. Vô minh hoặc: Là một trong ba hoặc của Thiên Thai lâp ra. Người bị nó ngăn che không thấy được lư trung đạo. Bồ-tát bên Biệt giáo từ bực Sơ địa bắt đầu đoạn trừ hoặc này; Bồ-tát bên Viên giáo từ bực Sơ trụ bắt đầu dứt cái hoặc này, đều để dứt từ phần hoặc chứng từ phần lư trung đạo. Tuy kêu là Hoặc, phiền năo, lậu, cấu, kiết, dù tên có lạ chứ cũng đồng thể là Hoặc cả. Thiên Thai Tông gồm tất cả vọng hoặc phân làm ba loại: 1.Kiến tư hoặc, 2.Trần sa hoặc, 3.Vô minh hoặc, lại tên là chướng trung đạo hoặc, v́ nó ngăn che cái lư thực tướng trung đạo, nó khác với cái si hoặc trong tư hoặc, v́ si hoặc kia nó làm ngăn che cái không lư, nên gọi là “Chi Mạt vô minh”; c̣n cái hoặc đây là nó làm mê mờ cái lư thể căn bản, nên gọi là “Căn Bản vô minh”. Đoạn được mười hai phẩm vô minh đây; tức là quả Phật của Biệt giáo. Đoạn được bốn mươi hai phẩm vô minh đây, tức là quả Phật của Viên giáo.

16. Khổ thụ: Tự lănh nạp lấy cái cảnh trái với ư muốn mà sanh khởi ra cái cảm tưởng chịu khổ năo. Thụ là lănh nạp lấy ngoại cảnh đưa đến, cảnh ngộ có ba trạng thái là, thuận t́nh, nghịch t́nh và phi thuận phi nghịch. Thụ có ba: 1-Khổ thụ: như trên, 2-Lạc thụ: Lănh nạp lấy cái thuận t́nh mà phát khởi ra cái cảm chịu thích sướng, 3-Bất khổ bất lạc thụ: lại gọi là xả thụ, lănh nạp lấy cái cảnh trung b́nh là không thích không thuận không nghịch mà, cùng xả ĺa cái cảnh khổ và vui, nghĩa là không khổ không vui.

17. Bịnh ái kiến: Chấp trước nơi người mà sanh khởi cái ư thức thương yêu. Kinh Duy-Ma phẩm Vấn Tật nói “Đối với chúng sanh, nếu sanh ḷng ái kiến đại bi th́, lập tức phải xả ly”. Ngài La-thập chú giải rằng “Thấy có người mà ḷng sanh quan niệm ái trước, nhân đó nảy cái tâm sở bi thương, gọi là ái kiến đại bi; Lại, ái và kiến là hai món phiền năo, ḷng mê lầm về sự gọi là ái; mê hoặc về lư kêu là kiến. Như các cái tâm sở tham dục, sân khuể là vọng hoặc về mê sự; c̣n các cái bịnh ngă kiến tà kiến… là vọng hoặc về mê lư”. Kinh Lăng Nghiêm quyển 6 nói “Nó khiến chúng sanh sa vào hầm ái kiến, mất cái đường Bồ-đề”. Trí Độ Luận cuốn 7 nói “Phiền năo có hai món, một thuộc về ái, hai thuộc về kiến”.

18. Một niệm điên đảo: Một niệm tráo chác. Xem ở số 20 nói sau.

19. Các nhân duyên: Nghiệp thức của con là thân nhân duyên, tinh của cha, huyết của mẹ là sơ nhân duyên.

20. Ái làm giống, tưởng nên thai: Khi sắp đầu thai, cái thân trung ấm là giống trai th́ nó khởi cái ái niệm yêu người sắp làm mẹ nó, c̣n nếu nó là giống gái th́, nó khởi cái ái niệm yêu người sắp làm cha nó, nên nói rằng “nhân ái vi chủng”. Kể đó, giống trai th́ nó chỉ tưởng chính nó hành dâm với người sắp làm mẹ nó, chứ nó tuyệt nhiên không tưởng thấy có cha nó đương sự; c̣n gái th́ trái lại… Đến đó, ba cái điện dục hỏa của ba đương sự đồng thời hít vào mà thành thai, nên nói rằng “nạp tưởng thành thai”. Lại, nó chỉ ái và tưởng chính nó yêu mẹ ghét cha, hay ghét mẹ yêu cha và nó tưởng chính nó hành dục, chứ nó không tưởng là cha mẹ nó hành dục. Đấy, cái tưởng trái nghịch như thế, nên nói là “Tối sơ nhứt niệm điên đảo”. Tối sơ là rốt trước, là khi sắp đầu thai (rút Du-Già Sư Địa Luận).

21. Báo phong: Cũng gọi là y phong, nghiệp phong. Trong bộ kinh Lăng Già mười quyển, cuốn 9 nói “Nghiệp phong trưởng tứ đại, như chư quả thành thục”. Nghiệp thiện ác nó thường khiến người di chuyển luân hồi tam giới, nên tỷ như gió lùa nghiệp đi. Nghĩa là trước cảm cái thân chánh báo nghiệp phong, nên bẩm thụ cái sanh thân có cái hơi thở ra hút vào, đó là báo phong. C̣n khi ở trong mẫu thai, nương nơi hơi thở của mẹ thở ra hít vào, cái bào thai nó cũng phập phềnh theo đó, để nảy nở biến chuyển lớn lên, nên gọi là y phong. Nghiệp phong, y phong ḥa hiệp, gọi là thọ mạng.

22. Thọ mạng: Sách Phụ Hạnh chép “Sống trong một kỳ hạn mấy chục tuổi đó, gọi là thọ; hơi thở tiếp tục liền luôn, gọi là mạng. Một kỳ hạn duy tŕ liên tiếp, cái gió là hơi thở chẳng đứt, gọi rằng thọ mạng”. Cái mạng căn là thể, cái sống, cái hơi ấm và cái thức biết làm tướng, hoạt động làm dụng, là thể tướng dụng của thọ mạng.

23. Ấm lửa dục. Noăn: ấm, tức lửa dục của thân trung ấm (đứa con), của cha và của mẹ, đồng thời xuất tinh khí huyết ra một lượt mới kết thành thai (xuất ra bằng cách xê xích th́ không kết thành thai, v́ ra không đồng thời, cái ra trước, dục hỏa đă kém nhiệt độ) được, ba nhiệt độ của dục hỏa ba đàng (trung ấm, cha mẹ) này, nó kết tinh thành một điểm sáng ở tại giữa hai thanh cật. Sách Đông y bảo “Nhất điểm chân dương, danh viết mạng môn tướng hỏa”. Cái nhiệt độ dục hỏa (mạng môn tướng hỏa) ấy, tức là nghĩa của chữ “noăn” trong câu “nhứt mạng nhị noăn tam thức” đây vậy.

24. Tứ chi bách hài. Tứ chi: bốn nhánh, thân thể của người, có hai tay, hai chân là tứ chi, nương đó để vận động; con thú có bốn cẳng là tứ chi; con chim có hai cánh hai gị là tứ chi. Bách hài là tiếng gọi chung cả cơ thể thân h́nh.

25. Nước tinh dịch: Dịch lưu chất, tức dịch thể. Lại, tinh dịch là một món dịch thể, nó kết sanh ở trong ngoại thận nơi “sanh thực khí” của hùng tánh (đàn ông). Tinh của cha; Dịch nhựa, chất nhớt, cha mẹ đều có; khí là hơi, cha mẹ đều có. Khi hành dâm đến cực độ, hai cái hơi ấy nó bắn tinh huyết ra. Huyết của mẹ. Tinh huyết của cha mẹ kết thành thai, tinh huyết ấy gọi là tiên thiên khí huyết. Ăn ngũ cốc, khoai, trái, trong ấy có chất tṛng trắng, bảy ngày nó kết sanh được một điểm tinh, tinh này nó sanh ra huyết, tinh huyết này gọi là hậu thiên khí huyết. Trong tinh dịch nó hàm chứa tinh trùng (sanh nguyên), thể nó quá nhỏ, h́nh như con lăng quăng (ṇng nọc), v́ ở nơi tinh dịch trong “sanh thực khí” của nam tánh phân tiết ra, nên gọi là tinh trùng. Dùng gương hiển vi cao độ gấp năm, sáu trăm lần cho vào tinh dịch mới thấy nó; cùng với noăn châu trong sanh thực khí của nữ tánh, đồng gọi là nguồn sanh thực. C̣n sách Phật bảo nghiệp thức là hột giống sanh hóa.

26. Noăn khí: Hơi ấm, tức là ôn độ. Sách Bản Thảo có mục chép “Tạng tâm (quả tim) cái thần làm quân hỏa, c̣n cái mà nó bao bọc chạy giáp ṿng châu thân làm tướng hỏa”. Nhà Đông y xưa, lại gọi là thận hỏa, cũng bảo là dục hỏa (vị trí nó ở tại chính giữa hai quả nội thận là nơi xương sống dưới chỗ buộc dây lưng đó, kêu là mạng môn tướng hỏa, hễ khi mà người ta khởi dục lên th́, lửa ấy nó chạy ra nơi nam căn hay nữ căn đều ấm hiểm cả, nên gọi dục hỏa).

27. Bịnh tổng tập. Tổng: gom chung nhiều. Tổng tập gồm nhiều v́ đối với biệt tập, nên nói là tổng tập. Biệt tập là chỉ bị riêng một chứng nào trong số 101 chứng của một đại. Tổng tập là bị nhiều chứng lộn xộn của cả bốn đại đều có. Như một người trong cơn một khí ban mà có nhiều chứng đồng thời phát sanh. Tỷ dụ sá hàn sá nhiệt, thoạt tỉnh thoạt mê, bịnh biến bất nhứt, nhiều chứng hàn nhiệt văng lai…

28. Bịnh nghiệp báo: Trả cái nghiệp đă tạo từ đời trước, kêu là định nghiệp nan đào. Như tiền kiếp sanh sát quá th́, kiếp sau phải trả 1-Hoặc đau ốm rề rề. 2-Hoặc chết yểu, v́ làm cho chúng sanh bị đau nhức nên nay phải đau hoài, và nó đương sống mà làm cho nó bị đoản mạng, nên nay phải chết non. C̣n phóng sanh th́ sau được trường thọ, v́ nó sắp chết mà ta mua thả, cái sống của nó được kéo dài, nên ta được sống dai. Bịnh nghiệp báo như đức Như Lai bị bối thống dư ương; biến thước không khỏi họa h́nh, y gia đa quái tật. Kêu bằng “diệu dược nan y oan trái bịnh”.
Phụ chú: Với tứ đại, nhân nội thương về một đại nào bị suy tổn mà, trí thành bị ngoại cảm lấy cái khí tà khách của lục dâm: phong khí, hàn khí, thử khí, ôn khí, táo khí và hỏa khí. Địa đại thuộc tỳ thổ mà, huyết nó thất thường chẳng lưu động, nên thân thể phát sanh chứng trầm trọng. Thủy đại thuộc thận thủy mà, thủy nó chẳng đủ hạn chế được hỏa thắng th́, cái chứng hư vọng hỏa nó viêm nhiệt lên, nên sanh ra bịnh đàm ấm. Hỏa đại thuộc tim hỏa mà, hễ hỏa thạnh tức dương cang th́, nó làm hại cho thân thể tiêu khô, nên sanh chứng bịnh hoàng nhiệt. Phong đại thuộc phong khí bịnh, nguyên tỳ thận bị hư tổn mà, mạch can nó đi huyền cường, làm diêu động, hơi thở kḥ khè, phát sanh cái chứng khí phát.

29. Quên điều nguy sợ: Trong trường công danh phú quư, người ta phần nhiều ai cũng chỉ mê lấy ăn rất ngon, ngủ rất sang, si t́nh với tửu sắc, ngày đêm mài miệt truy hoan, v́ hoàn cảnh cá tánh bắt thế phải thế, c̣n đâu là giờ tỉnh để biết được cái chết sắp đến, nên nói “toàn vong nguy cự”! Tức chỗ gọi “túy sanh mộng tử”!

30. Hai con chuột: Hoặc tỷ là ngày đêm, hoặc ví là nhật nguyệt. Ngài Tân-đầu-lô Đột-la-xà, v́ vua Ưu-đà-diên mà nói pháp. Kinh (phi kinh đại tập v́ chẳng có điển này) ấy chép rằng: Ngày xưa có người đi ngoài đồng hoang, gặp con ác tượng lớn, bị nó rượt chạy, hoảng kinh quá sợ! Thấy có giếng loạn, liền níu rễ cây tḥng xuống giếng trốn. Có hắc thử, bạch thử, đều cắn rễ cây. Bốn bên hông giếng, có bốn rắn độc, muốn cắn người ấy. Dưới đáy giếng có con độc long lớn! Với bốn bên sợ bốn rắn, dưới sợ độc long, rễ cây bị níu lay động, làm cho ổ ong trên cây bị rung, rớt năm nhỏ mật vào miệng, bầy ong bay tứ tán, có dă hỏa cháy đến, đốt luôn cây rễ. Đồng hoang dụ tam giới sanh tử; người ấy tỷ chúng phàm phu; đại ác tượng ví vô thường; giếng loạn ám chỉ thân ngũ uẩn; rễ cây tượng trưng nhân mạng; hắc, bạch thử dụ trú dạ; cắn rễ cây tỷ mỗi niệm diệt luôn; bốn độc xà ví tứ đại; mật rơi miệng ám chỉ ngũ dục lạc; bầy ong là dụ ác giác quan; dă hỏa là chỉ cho cái già nua; con độc long là chỉ cho cái chết. Năm, tháng, ngày giờ rất chóng, người xưa đă có bốn câu dưới đây:

Ác vàng, thỏ bạc xâm xâm;
Bóng quang âm thoạt trăm năm mấy hồi!
Ngày nay thôi đă qua rồi!
Mạng căn, huyết mạch lần hồi khô khao!

Ngày tháng mỗi kém ṃn qua, ngày tháng như thoi người đă già; tóc râu tợ nước thấy phi trẻ. Kinh Lăng Nghiêm chép chuyện vua Ba-tư-nặc trông thấy sông Hằng… Bạch phát tỷ bạch thủy; da nhăn tỷ những gợn sóng nhăn đùa trên mặt nước. Tức như kê b́, hạc phát. Thời gian của thân mạng con người tỷ như “thệ thủy hướng đông lưu”.

31. Cái tưởng điên đảo: Xem bài chú thích về câu “Ái làm giống, tưởng nên thai” ở số 20.

32. Không thân trung ấm: Người mà làm thập thiện được bực cực phẩm, nghĩa là làm lành nhiều tột bực th́, xả thân tiền ấm rồi, thần thức siêu ngay lên cơi lành, để thụ sanh, chứ chẳng thụ thân trung ấm. Người mà tạo một ác cực điểm, sau khi xả thân tiền ấm, lập tức đọa ngay xuống ngục Vô Gián ??? hỏa sanh ra cái thân chúng sanh dưới ấy chịu tội, nên cũng chẳng có thân trung ấm.

33. Sú lại: Phản bộ, là sú mồi lại. Phản bộ: báo thân cha mẹ. Sách Bản Thảo chép rằng “Từ ô, tức hiếu điểu (con quạ), nghĩa là, khi mới sanh th́, cha mẹ nó kiếm mồi về sú cho nó; lúc cha mẹ nó già, tự thân nó đi kiếm mồi về sú lại cho cha mẹ nó, nên kêu là hiếu điểu”. Lời thành ngữ “Dưỡng nhi đăi lăo – “Bé cậy cha, già cậy con”.

34. Phụ mẫu là thiên địa: Kinh nói “Đức của nghiêm phụ sánh trời cao, ơn của từ mẫu ví đất dày”. Sách nói “Dục báo chi ân hạo thiên vơng cực”.

35. Kinh Thi: Bộ Kinh Thi, thể Tiểu Nhă, thiên Lục Nga nói “Phụ hề sanh ngă, mẫu hề cúc ngă, ai ai phụ mẫu sanh ngă cù lao, dục báo chi ân, hạo thiên vơng cực”.

36. Trời cao chẳng tột: Hạo thiên vơng cực, nghĩa là ơn của cha mẹ rất lớn, như trời cao không cùng tột. Hạo thiên là nói nguơn khí rộng lớn.

37. Bốn việc cúng dâng: 1-Ẩm thực, 2-Y phục, 3-Ngọa cụ, 4-Y dược.

38. Túng phụ. Túng: Đồng tông, là hàng thứ với chí thân kia là túng, nghĩa là anh em ruột, gọi là “chí thân”; anh em con nhà chú bác ruột cách mới một thứ, gọi là “tái túng”, cách đă hai thứ, gọi là “tam túng”. Tức như túng huynh đệ, túng bá thúc… (chỉ tùng, ở đây phải đọc túng). Túng phụ tức là bá phụ, thúc phụ, là bác ruột, chú ruột.

39. Túng tổ: Túng tổ con đệ, đồng tằng tổ huynh đệ. Theo điển dẫn lời của ông Mă Dung nói rằng “Tằng tổ tôn, với bổn thân (ḿnh) là tổ túng huynh đệ, th́ đồng một tằng tổ mà ra, nên nói là túng tổ huynh đệ tục xưng là túng đường huynh đệ”.

40. Tằng tổ: Ông nội của cha, ḿnh gọi là tằng tổ, sách Nhĩ Nhă gọi tắt là tằng tổ vương phụ. Tục rằng cha xưng hô bằng ông nội, ḿnh xưng hô bằng ông cố.

41. Sắc mặt của cha mẹ: Kính nuôi sao cho cha mẹ đừng buồn. “Như Thục thủy thừa hoan, vấn an thị thiện, ḥa nhan duyệt sắc, tất hạ…” nghĩa là, đậu nước vâng vui, hỏi an hầu bữa, vui mặt đẹp mày, dưới gối không trái. Thục là tên chung các thứ đậu. Kinh Lễ nói: Ăn đậu, uống nước lă mà hết sức là vui!”. Người nay nói “Kính nuôi cha mẹ, là thục thủy thừa hoan”. Tất hạ: Sách Hiếu Kinh nói “Nên ở dưới gối thân sanh (phụ mẫu) để nuôi cha mẹ”. Đường thư Cao Tôn Kỷ nói “Nguyện được ở dưới gối đấng Chí Tôn để phượng thờ”. Đời sau, đối với cha mẹ, kẻ làm con xưng là tất hạ.

42. Sợ bốn oán thù: Tức tứ oán. 1-Phiền năo ma, 2-Sanh tử ma, 3-Ngũ ấm ma, 4-Thiên tử ma, tức Thiên ma Ba Tuần. Hành Sự Sao quyển thượng nói “Chân thành xuất gia giả, bố tứ oán chi đa khổ”. Đồng Tư truyện kư nói “tứ oán tức tứ ma”.

43. Giống họ Tam Bảo: Kính đức Thế Tôn làm cha, v́ cha là Tứ sanh từ phụ; lấy kinh pháp làm mẹ, v́ niệm pháp là tam thế Phật mẫu; bạn đồng học là anh em, v́ là pháp huynh pháp đệ; người đồng chung giới (đồng cụ túc hay sa di) là bằng hữu, v́ là xứ xứ đồng vi pháp lữ; vẫn đồng làm tử đệ của Như Lai, thường làm ḍng họ với Phật Thánh. Chính chỗ bảo xuất gia là phụ mẫu, dữ Phật tổ nhi tôn. Đó là về phái xuất gia; c̣n phái tại gia th́ Bát nhă vi thê, Bồ-đề vi tử, phương tiện vi phụ, Ba-la-mật vi mẫu. Nên có nói “Sanh sanh dữ Phật vi quyến thuộc, thế thế Bồ-đề kết thiện duyên”.

44. Vô Vi. Vi: Tạo tác, vô nhân duyên tạo tác, nói là vô vi. Lại, không sự tạo tác của bốn tướng sanh, trú, dị và diệt, nên nói là vô vi, tức tên khác của chân lư. Vô vi có ba món, sáu món… Vô vi xá là nhà vô vi, tức Niết-bàn, v́ Niết-bàn là an trạch của người, nên nói là xá. Kinh Thiên Thủ nói “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện ngă tốc hội vô vi xá”. Lại, không làm mười điều ác là, những cái nhân đọa xuống súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục; không làm mười việc thiện hữu lậu là, những cái nhân phải luân hồi làm thân a-tu-la, nhân loại và các trời trong tam giới; nên gọi là vô vi; mà chỉ xây dựng đào tạo những chánh nhân vô trước, vô lậu, vô phân biệt, vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, để đồng nhau chứng quả Vô thượng Bồ-đề, nên nói là nhà vô vi. Đó là vô vi của nhà Phật, c̣n vô vi của nhà Nho th́ là năng lấy để dạy nhân dân, không dùng đến chánh sách h́nh phạt. Như sách Luận ngữ nói “Vô vi nhi trị giả, kỳ duy Thuấn dă dư”.

45. Có mười hai pháp: 1-Áo nạp: lại kêu phấn tảo y, lấy những đồ mà chúng nhân đem bỏ nơi đống phân rác rến, giặt rồi chắp may thành áo bận. 2-Tam y: lại nói chỉ ba y chỉ bận y Tăng-già-lê, Uất-đa-la, An-đà-hội, ngoài ra, chẳng dùng ǵ dư nữa. 3-Khất thực: lại nói thường khất thực chính ḿnh tự đi khất thực mà dùng, chớ chẳng dám thụ lănh cơm của người mời đăi và cơm giữa chúng tăng. 4-Chẳng làm vật ăn dư: chỉ làm một lần chính thực vào giữa và trước giờ ngọ, chớ chẳng đặng làm vật chính thực từ hai lần nhẫn lên, v́ món chính thực từ hai lần nhẫn lên, gọi là dư thực (làm món tiểu thực th́ chẳng ở trong hạng nầy, bánh, trái, chè gọi là tiểu thực). 5-Nhứt tọa thực: lại nói nhứt thực làm một lần chính thực vào giữa và trưa giờ ngọ, ngoài ra, chẳng đặng lại làm tiểu thực nữa. 6-Ăn một vắt cơm: lại nói tiết lượng thực chỉ ăn một hoàn cơm trong b́nh bát mà thôi, chứ chẳng đặng thụ nhiều. Giả sử, ăn một vắt hay nhiều vắt th́, lấy làm có hại mà , phải dè ăn cho có chừng lượng. 7-A-lan-nhă xứ: dịch chỗ xa ĺa, hoặc chỗ trống vắng ở chỗ trống vắng xa ĺa nhà người. 8-Ngồi giữa g̣ mả: là trú ở nơi chỗ phần mộ. 9-Ngồi dưới cây: bên gốc dưới tàn cây che mát. 10-Ngồi chỗ đất trống: tức ngồi nơi chỗ đất lộ thiên giữa trời. 11-Tùy nơi chỗ ngồi chỗ đất nào có cỏ: tức là ngồi, bất tất dưới cây, ngoài trời. 12-Thường ngồi chẳng nằm: thường kiết-già mà ngồi, chứ chẳng đặng nằm.

46. Bổn thệ: Lời thệ nguyện xưa, tức là “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”

47. Món ăn tứ tà: (Tứ tà mạng) 1-Hạ khẩu thực: Trồng gieo ruộng vườn, nuôi tằm ươm kén, ḥa hợp thuốc men, để tự nuôi sống. 2- Ngưởng khẩu thực: Xem sao, mặt trời, mặt trăng, mây sấm cả khí tượng thiên văn để sống. 3-Phương khẩu thực: Dua bợ nhà quyền hào thế lực, lảnh mạng đi sứ các nơi, xảo quyệt tham cầu để sống. 4-Duy khẩu thực: Bùa chú Lổ Ban, mách chuyện cát hung, để mà sanh hoạt.

48. Tăng kỳ vật. Tăng kỳ, dịch chúng, tức là Tỳ-kheo tăng, Tỳ-kheo ni, là bực đại chúng là vật của đại chúng chung có phần, nên gọi là tăng kỳ vật. Đại chúng đây, thể gồm thâu cả Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni ở nơi mười phương. Giả sử nhà thí chủ gởi phụ cúng các vật như ruộng vườn, pḥng xá, gạo thóc…th́ chia các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni nơi thập phương, đều có thể hưởng thụ đó th́, gọi là thập phương tăng vật, hay là tứ phương tăng vật. Danh Nghĩa Tập cuốn 7 nói “Tăng kỳ, thử vân “tứ phương tăng vật”. Đồ đạc vật mọn của năm chúng chết chia: đem tài vật của một người giữa năm chúng đă qua đời ra bố thí, tài vật ấy tuy khinh vi (mọn mà thể nó thông đồng thập phương tăng, nhưng thuộc ở nơi bổn xứ th́, hiện tiền tăng được chia, trong khi đương rơ chia tài vật của vong tăng, thập phương tăng đến trước lễ Yết-ma th́ được lănh phần, c̣n đến sau lễ Yết-ma th́ chẳng đặng.

49. Hí luận: Những ngôn luận bằng cách phi lư và vô nghĩa, gọi là hí luận. Lại, với ngôn luận, bất luận có lư hay phi lư, đều quở là hí luận cả. Hí luận đây, nghĩa nó đồng với hoạt kê và nhũng đàm của thế tục thường nói. Đại Nhựt Kinh Sớ 19 nói “Như con hát hí kịch, lấy cái tâm tán loạn, mỗi mỗi điệu bộ thân múa, miệng ca, chỉ đẹp trước khán giả mà thôi, chứ chả có lư nghĩa ǵ. Đời nay, kẻ vọng kiến, đưa tác phẩm ra, cũng đồng như thế, nên gọi hí luận. Đại Thừa Huyền Luận 2 nói “Hí luận là danh từ mượn để thí tỷ, v́ với đạo lư mà tâm chưa sở đắc ǵ hết, mà nghị luận nầy nọ, tỷ như tiểu nhi học nói giỡn chơi thế thôi. Kinh Pháp Hoa phẩm Tín Giải nói “Nay đức Thế Tôn khiến chúng con suy nghĩ dẹp bỏ những phấn uế của chư pháp hí luận”. Kinh Tối Thắng Vương quyển nhất nói “Cái tánh thực tế không có hí luận, chỉ có một ḿnh đức Như Lai chứng pháp thực tế, dứt hẳn hí luận, gọi là Niết-bàn”.

50. Du ngôn: nghĩa như phù ngôn. Sách Kinh Lễ nói “Nên biết đại nhân, chẳng xướng lời phù (du) ngôn.” Du: lội trên mặt nước. Phù: nổi trên mặt nước. Lời nói mà vô căn cứ, thường có đổi thay, gọi là du, nghĩa là không có ư nhất định.

51. Đầy chén, ngập đầu: ư nói lổ mội nước mới bắt đầu chỉ bất quá chừng đầy một chén chung, mà rồi dần dần tràn lan, sâu nhẫy thành sông. Cũng như tội lỗi mới phát sanh chút đỉnh không ngăn dứt, để rồi đến sâu rộng, thành khổ hải mê xuyên. Thương: chung rượu. Lạm thương: đầy chén. Sách Gia Ngữ chép “Phù giang thỉ vu dân sơn, kỳ nguyên khả dĩ lạm thương” là ban đầu phát nguyên, chỉ đầy chừng một chung nhỏ. Ngày nay gọi phàm bắt đầu gầy dựng là lạm thương. Diệt đảnh: ngập đầu, tức trầm nịch. Kinh Dịch nói “Quá tiệp diệt đảnh” lội quá độ hụt gị ngập đầu.

52. Lửa khổ: các khổ phiền năo nung đốt cả thân tâm của chúng sanh, mau khô héo điêu tàn, nên gọi là lửa khổ. Kinh Pháp Hoa phẩm Thí Dụ nói “Tam giới vô an, du như hỏa trạch, chúng khổ sung măn, thậm khả bố úy, thường hữu sanh lăo bịnh tử ưu bi khổ năo, như thị đẳng hỏa xí nhiên bất tức”.

53. Đốt cháy tư bề: Lửa khổ năo đốt cháy cả thân tứ đại. Kinh Pháp Hoa nói “Tứ diện câu phàn” tứ diện tức là tứ đại.

54. Bao điều ác giác quan: a-Tư tưởng hèn xấu, độc ác, tám thứ riêng biệt gọi là ác giác. Sách Đại Thừa Chương Nghĩa cuốn 5 sau rốt nói “Những suy nghĩ nhớ tưởng ḷng tà bất chánh gọi là giác quan, trái nghịch chánh lư, nên xưng là ác, ác giác bất đồng nhau, chia rời có tám. Sách Chỉ Quán cuốn 5 nói “Tám gió ác giác, đều chẳng đặng vào”. Tám gió: bát phong, v́ nó xao động nhân tâm, nên gọi là gió: 1-Lợi, 2-Suy, 3-Hủy, 4-Dự, 5-Xưng, 6-Uy, 7-Khổ, 8-Lạc. Nghĩa là đặng việc vừa ư, gọi là lợi; mất việc sự vừa ư gọi là suy; chẳng có mặt người, bài bác gọi là hủy; chẳng có mặt người, khen tặng gọi là dự; xưng: trước mặt khen tốt; cơ: bài bác trước mặt người; khổ: những tiếng nói ép ngặt khó chịu; lạc: thỏa thích ḷng dạ. Rút ở sách Yếu Lăm. b-Giác quan: Tân dịch tầm từ. Cựu dịch: giác quan. Tư duy mà thô phù gọi là giác, tư duy mà tiêm tế gọi là quan. Hai ấy, đều làm pḥng ngại cái định tâm. Nhơn đó, xét cái giác và quan có hay không, để chỉ phán cái định tâm sâu hay cạn. Trí Độ Luận 23 nói “Giác quan ấy, nó hay làm nhiễu loạn tam-muội, do thế, nên nói hai sự ấy, tầm từ là thiện mà là kẻ giặc của tam-muội, khó mà xả ĺa”. Giác là cái tướng của thân tâm; quan là cái tướng của tế tâm. Giác và quan là cái nhân phát ra lời nói, ĺa cái tâm giác quan th́ không nói năng. Kinh Duy Ma phẩm Đệ Tử nói “Pháp không danh tự, v́ dứt nói năng; pháp không có nói, v́ ĺa giác quan”. Tăng Triệu chú rằng “Giác quan là cái thô tâm, hai nó đều làm cái gốc cho lời lẽ nói năng”.

55. Thời kỳ cực dài: Một tiểu kiếp kể có mười sáu triệu năm (16.000.000 năm). Hai mươi tiểu kiếp làm một trung kiếp kể có ba trăm hai chục triệu năm (320.000.000 năm). Bốn trung kiếp làm một đại kiếp: cọng có một ngàn hai trăm tám chục triệu năm (1.280.000.000 năm). Nên nói là thời kỳ cực dài.
56. Mười hai can chi: Tức mười can và mười hai chi. Thập can là giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí. Thập nhị chi là tư, sửu, dần, mẹo, th́n, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Dùng nghĩa theo như cái súc, cái nhánh của cây. Tương truyền rằng ông Thiên Hoàng sáng lập ra. Thuở ông Hoàng Đế, có họ Đại Náo bắt đầu lấy thiên can phối với địa chi, để làm giáp tư. Đại loại như giáp tư, ất sửu, giáp tuất, ất hợi… tục gọi là lục thập hoa giáp tư, đại phàm, ghi niên, ngoạt, nhựt, thời đều dùng đấy, như lịch ----.

57. Tam quang: Là ba hiện tượng sáng soi xuống nhân gian. Sách Bạch Hổ Thông chép rằng “Trên ṿm trời có tam quang là mặt trời, mặt trăng và các v́ sao.

58. Bách nhứt sở tu: Lại nói bách nhứt cung thân, bách nhứt vật, bách nhứt chúng cụ. Nghĩa là, ngoài tam y, lục vật, tất cả những món đồ đạc để trợ việc hành đạo. Chữ bách là nói tổng quát số nhiều, chứ phi hạn cuộc vào số một trăm. Là nói đối với ngoài ba y, sáu vật, Tỳ-kheo với mỗi vật dụng, chỉ mỗi thứ chứa dùng một cái, nên nói: Bách nhứt cung thân, ngoài một cái ấy, nếu có cái thứ hai th́ gọi là trưởng vật. Giả như: chỉ được sắm một cái b́nh uống nước, nếu có cái b́nh thứ hai nữa, là trưởng vật. Với trưởng vật ấy, nếu chẳng làm một phép “thuyết tịnh” th́ chẳng được chứa để. Sống, Tỳ-kheo có ba phẩm căn tánh: 1-Thượng phẩm chỉ chứa dùng ba pháp y; 2-Trung phẩm lại được chứa bách nhứt; 3-Hạ phẩm lại được chứa trưởng vật.
Lục vật: 1-Tăng-già-lê từ chín điều đến hai mươi lăm điều, chung gọi là một đại điều y. 2-Uất-đa-la-tăng là nhất điều y gọi là trung y. 3-An-đà-hội là ngũ điều y, gọi là hạ y. Tức là cùng trên chung gọi “đại, trung, hạ” và là tam y. 4-Ni-sư-đàn tức tọa cụ. 5-Bát-đa-la, tức thiếc bát. 6-Lự-thủy-nan là đồ hộ vi trùng trong nước. Thế là tam y lục vật. Tam y ở trong lục vật, song, lại là căn bản trong sáu vật, nên được nêu riêng ra, tỷ như gọi thi, thư, lục kinh, v́ kinh Thi, kinh Thư cũng ở trong ngũ kinh mà được gọi riêng là ngũ kinh lại c̣n riêng có Thi Thư nữa.

59. Trải lâu năm tuổi. Động kinh niên tể, tể: năm tuổi, làm chủ, cầm quyền. Đọc tế th́ có bốn nghĩa đó. Đọc tái: vâng, như câu thiên phú địa tái; tái: bắt đầu; Tái: ghi chép việc; đọc tải: chở như vận tải.

60. Chỉ cần hai đầu. Lưỡng đầu tạc khai. Tạc: tản ra, buông ra, như nói hai tay buông ra. Hai đầu: Tâm cảnh, nhân ngă, bỉ thử, oán thân, thiện ác, phú bần, quí tiện… tâm ta đều buông bỏ tất cả, không phân biệt, trú trước vào bên nào, như nói“Trung gian, lưỡng ngạn bất cư” “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.

61. Để tự tiêu tức: Để tự nghiệm xét coi, sự cần tu và ư thức của ta, khi thức, lúc nghỉ, đă được như thế nào mà, nhận xét tin tức giác hay mê, định hay loạn động? Tiêu tức: âm tín. Lại, việc người chỉ có cát hung, thiện ác, nên gọi thư tín là tiêu tức.

62. Cầm lửa quay tṛn. Triền hỏa luân: đêm tối, cầm lửa quay tít làm thành h́nh ṿng tṛn, với cái ṿng tṛn ấy tợ hồ có mà phi thực, để tỷ dụ hiện tượng giả dối của tất cả sự pháp. Kinh Lăng Nghiêm cuốn 3 chép “Sanh tử tử sanh, sanh sanh tử tử, như ṿng tṛn quay lửa, chưa có thôi nghỉ”. Sách Chỉ Quán cuốn 6 nói “V́ bị cái ngă kiến đó mà, tạo ra các kiết nghiệp (kiết sử), sa xuống tam đồ, trầm luân không thôi, như ṿng quay lửa, nếu muốn thôi dứt, cần phải dừng tay”. Trí Độ Luận cuốn 6 nói “Như ṿng quay lửa, chỉ lầm mắt người”.

63. Tin chết: Đầu bạc, răng long, mắt lờ, tai điếc, đó là những cái tin chết đưa đến trước cho biết vậy! Hoặc trong bà con cḥm xóm, những người nhỏ tuổi hơn ta mà họ đă chết trước ta, đó là cũng tin chết cho biết trước vậy!

64. Đứa nhụ phu. Nhụ: tài năng thấp yếu. Nhụ phu: đứa yếu kém là lời tự khiêm, kẻ nam tử không có khí tiết. Sách Mạnh Tử nói “Nhụ phu hữu lập chí”.

65. Bạc địa phàm phu. Bạc: ép bức, là bị áp đè ở sát nơi mặt đất, tức là địa vị bị các khổ bức bách, chính cái cảnh giới của chúng phàm phu. Tịnh Tâm Giới Quán cuốn hạ nói “Chúng phàm phu ở nơi bạc địa cái thân hôi hèn xấu, quả báo thấp lút”. Trong Phát Chân sao chép lời của Văn Tuyển chú thích rằng “Bạc: bức, là ở sát mặt đất mà thôi,đấy là chỉ cả nhân loại ở nơi tứ bộ châu”. Giới Độ Kư cuốn hạ nói “Bạc, âm Bác”. Đại Bộ Bổ Chú cuốn 11 nói “Bác địa rộng răi, mênh mông, và nhiều, v́ đất hạ phàm rộng nhiều”. Căn cứ thuyết trên th́, chữ Bạc là mượn thay cho chữ Bác đấy. Lục phàm phu: Thiên đạo, nhân đạo, a-tu-la đạo, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục đạo, gọi là lục phàm: sáu chúng phàm phu.

66. Phật trí hiểu suốt ba thế gian, thể tánh nó bất sanh bất diệt, gọi là “thường”; c̣n cái tướng nó có sanh, có trụ, có dị, có diệt, gọi là “vô thường”. Ba thế gian: 1-Chúng sanh thế gian, là thuộc về chúng hữu t́nh, v́ có cái t́nh thức, hữu tri giác, thực hiện bằng bốn cách sanh noăn, thai, thấp, hóa, đó là số chúng sanh. 2-Tứ thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và Phật, tức là trí giác thế gian. 3-Thế giới, núi sông, đất liền, cây cỏ, vàng, thiếc, sạn, đá là khí thế gian tức vô t́nh loại. Lại, phi chúng sanh số là trong địa ngục, dạ-xoa, la-sát, hổ lang, sư tử… đều là ác nghiệp của phi nhân biến hiện bằng cách huyễn hóa; c̣n những tượng mă, thú vật của các vị Hiền Thánh cỡi đó, đều là do phước nghiệp biến hiện bằng cách ảo hóa, nên nói là phi chúng sanh số.

67. Vô duyên từ: Đọc đủ là “vô duyên từ bi”, duy chỉ chư Phật mới có đủ từ bi đây. Số là, tâm của chư Phật, chẳng trụ trong tánh hữu vi, vô vi, chẳng trụ vào đời quá khứ, tam muội vị lai. V́ biết các duyên đều chẳng thực có, bởi điên đảo hư vọng, nên tâm của chư Phật chẳng duyên (trụ) vào chỗ nào cả, nhưng, Phật thấy chúng sanh chẳng biết thực tướng của các pháp, nên qua lại năm ngả (đạo), tâm chấp trước vào các pháp, v́ thủ xả và phân biệt… mà chư Phật tâm không phan duyên (trụ trước, phân biệt) vào chúng sanh, mới giải thoát được chúng sanh, là khiến cho chúng sanh tự nhiên được cái lợi ích bạt khổ dữ lạc. Nên nói “vận vô duyên (trụ) từ, tức vô duyên từ bi tâm”.

68. Khinh, trọng, khai, giá, tŕ, phạm: Khinh giới, trọng giới, giả như, Sa-di giới bốn giới căn bản trước là trọng, sáu giới sau là khinh. Lại, giới sát sanh dù trọng, mà tùy theo trường hợp cũng có khinh, như cố ư sát là trọng, c̣n ngộ sát (giết lầm, hay rủi ro lỡ tay) là phạm khinh tội. Lại, với cố sát mà giết người có đạo đức, ảnh hưởng nhiều với xă hội, là phạm trọng tội; giết kẻ vô dụng với đời, là phạm khinh tội… Khai: mở ra cho làm. Giá: ngăn cấm không cho làm. Tŕ: hành tŕ, giữ giới. Phạm: phạm giới cấm.

69. Kiết-la: Đọc đủ là Đột-kiết-la, nghĩa là cái danh phạm tội. Giới Sớ cuốn nhất nói “Ố tác ố thuyết, đồng hiệu kiết-la”.

70. Thập sử: Chia ra năm lợi, năm độn. Lợi: do mê mất cái lư tánh của Tứ đế mà sanh khởi ra năm lợi sử, v́ nó bén sướt, lanh lợi giữa tánh mê hoặc, nên gọi nó là lợi (bén). Năm lợi sử như dưới: 1-Thân kiến: Tức ngă kiến và ngă sở, nghĩa là, chẳng biết cái thân ta đây là giả tạm bởi năm uẩn ḥa hợp mà, lại cố chấp là thực tế có ngă thân, đó là cái bệnh ngă kiến; lại chẳng biết các vật chất ở chung quanh nơi bên thân ta đều là không nhứt định sở hữu chủ mà, cũng chấp kể là thực có vật sở hữu của ta, đó là cái bệnh ngă sở kiến. 2-Biên kiến: Sự thấy thiên về một bên, là sau khi đă chấp có ngă thân sanh khởi ngă kiến rồi th́, với cái “ngă” hoặc kể rằng sau khi chết rồi đoạn diệt hẳn, không c̣n có chi cả; hoặc kể rằng sau khi chết rồi hồn vẫn thường c̣n măi chẳng hề dứt mất; đó là cái mê vọng ở bên sau nơi thân kiến. Tức là cái bệnh chấp đoạn (đoạn kiến) và cái bệnh chấp thường (thường kiến). 3-Tà kiến: Cái kiến thức bất chánh, v́ bác bỏ đi cho là không có cái lư nhân quả. Nghĩa là, chấp rằng trong đời không có cái nguyên nhân nào có kết quả, cũng không có cái kết quả nào do nguyên nhân để sanh, với điều ác chẳng đủ sợ, với điều thiện chả đủ ham, như thế là cái bệnh mậu kiến, v́ đă tà mà lại c̣n tà hơn nữa. 4-Kiến thủ kiến: Lấy cái tri kiến hạ liệt làm đầu, chấp lấy mỗi mỗi sự hạ liệt khác, nghĩ cho đấy là tối thắng. Chữ kiến trên, tuy chỉ về các cái thân kiến biên kiến, song nó c̣n hàm súc mỗi mỗi sự vật khác nữa. 5-Giới cấm thủ kiến: Do cái kiến thủ kiến trên, mới nhận lấy điều giới cấm phi đạo lư, phi quá thất làm đầu trước, rồi nhận lấy mỗi mỗi phép tu hành khác, để làm cái nhân được sanh lên thiên đ́nh, hoặc đắc đạo quả Niết-bàn. Trong đây có hai cách tu: 1-Giữ ngưu giới (ăn ở cách như trâu, ḅ), kê giới (hành động như gà) để làm cái nhân sanh lên trời, đó là với cái giới cấm thủ kiến phi nhân mà chấp lấy làm nhân. 2-Tu đạo Đồ-thán, Ni-kiền-tử… tuyệt thực, ở lơa thể, nằm trên đống gai, gieo ḿnh vào lửa, mỗi mỗi cách khổ hạnh, để làm cái đắc đạo Niết-bàn, đó là cái giới cấm thủ kiến phi đạo mà chấp rằng đạo. Năm cái kiến thức trên đó, là do nơi một phần của ác trí huệ, nên gọi lợi-sử. Năm độn sử là tham, sân, si, mạn, nghi, bốn sử trước, đều là do nơi mê chấp lấy các sự vật giữa thế gian mà sanh tâm khởi vọng hoặc; cái sử sau là Nghi, là đối với lư tứ đế, không hiểu mà khởi ra cái hoặc vọng này, Nghi lấy do dự chẳng quyết là cái tánh của nghi mà tánh nó đều tŕ độn, nên gọi là độn sử.

71. Tam Kiết: 1-Thân kiến kiết là cái ngă kiến, v́ với trong sắc uẩn, mê vọng chấp kể có thân, cưỡng lập làm có ngă chủ tể. 2-Giới thủ kiết là hành tà giới, tức trong phi giới mà lầm lấy làm giới, chấp lấy để tiến tu… 3-Nghi kiết là với chánh lư hồ nghi, chẳng tin tứ đế Tam Bảo, ḷng do dự không quyết được. Đoạn được ba kiết này là quả Dự-lưu.

72. Đẳng phần hành: Tức thân kiến, giới thủ, nghi kiết, mạn kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến. Hành: hành động, như tham hành, sân hành, si hành, thân kiến hành, giới thủ hành… mấy cái ấy cũng đồng phần hành động như nhau, nên nói đẳng phần hành. Lại đối trị tham, sân, si và đẳng phần cũng như trên là tham hành, sân hành, si hành, thân kiến hành, giới thủ hành… Bốn món phiền năo cũng kêu là trí hoặc, Thành Duy Thức Luận quyển 4 nói “Cái thức thứ bảy là Mạt-na, nó thường hằng tương nhau với bốn món căn bản phiền năo. 1-Ngă si, tức là cái vô minh, nó ngu muội nơi cái tướng ngă mà quên mất cái lư vô ngă. 2-Ngă kiến, tức là ngă chấp với cái pháp phi ngă mà mê vọng kể là ngă. 3-Ngă mạn tức là kiêu ngạo giữ lấy cái ngă sở chấp, khiến tâm đề cao lên.4-Ngă ái tức là ngă tham với cái ngă sở chấp, sanh tâm chấp trước quá sân”.

73. Tam minh, Lục thông.
Tam minh: Ở nơi Phật gọi là tam đạt, ở nơi A-la-hán gọi là tam minh; cái trí mà biết rơ rành các pháp, nên gọi là Minh. Lại gọi trí minh, lại gọi trí chứng minh, chứng cái cảnh của trí một cách rơ ràng phân minh. 1-Túc mạng minh: biết được cái tướng sanh tử từ các đời trước của thân ta và thân người. 2-Thiên nhăn minh: thấy được cái tướng sanh tử nơi đời vị lai của thân ta và thân người. 3-Lậu tận minh: biết được cái khổ thân của đời hiện tại, dứt hết tất cả phiền năo. Lậu là phiền năo. Song, tam minh ấy, tức ba thông là túc mạng, thiên nhăn và lậu tận trong lục thông.

Lục thông: Thần thông của các Thánh trong tam thừa sở đắc có sáu món, là 1- Thiên nhăn thông, 2- Thiên nhĩ thông, 3-Tha tâm thông, 4-Túc mạng thông, 5-Thần túc thông, 6- Lậu tận thông. – Tác dụng tự tại vô ngại, gọi là thông. Đều là chỗ sở đắc của Phật, Bồ-tát, ngoại đạo, chư thiên, tiên nhân và quỉ thần – Có ba thứ riêng biệt: 1-Báo đắc thông lực, như các trời trong ba giới, đều có năm món thần thông, nhẫn đến quỉ thần cũng có một vài tiểu thông; v́ các thông ấy đều y nơi quả báo mà tự nhiên cảm được. 2-Tu đắc thông lực: các Thánh tam thừa, tu tam học mà đắc lục thông; ngoại đạo tiên nhân tu thiền định mà hiện được ngũ thông. 3-Biến hóa thông lực: các Thánh tam thừa, dùng sức thần thông mà biến hiện ra mỗi mỗi phép lạ. 1-Thần cảnh trí chứng thông: Cũng gọi thân như ư thông, thân thông, thần túc thông tức là cái thông lực biến hiện ra cảnh giới bất khả tư nghị th́, gọi là thân cảnh thông; cái thông lực qua lại dạo chơi tự tại th́ gọi là thần túc thông; cái thông lực mà tự thân được biến hiện tự tại, nên gọi là thân như ư thông; thế là đều đến một kêu mệnh danh. Trong đó cái danh thần cảnh thông, rất là phổ thông thường gọi.

2-Thiên nhăn trí chứng thông: Được cái con mắt của trời Sắc giới, chiếu lâu mà không ngại, gọi là thiên nhăn trí chứng thông. 3-Thiên nhĩ trí chứng thông: Đắc cái thính giác trời Sắc giới, nghe rơ vô ngại. 4-Tha tâm trí chứng thông: Biết được cái tâm niệm của người khác mà không chi ngăn ngại. 5-Túc mạng trí chứng thông: Biết được sự sanh nhai các đời trước của ḿnh và chúng sanh cả lục đạo mà không chi chướng ngại. Năm thông trên, là hoặc tu thiền định hữu lậu, hoặc y nơi sức thuốc, sức thần chú mà chứng đắc, nên các tiên nhân, ngoại đạo đều cũng có thể chứng được; năm ấy đều tên là trí chứng thông, là do v́ đều y nơi trí mà chứng được thông lực. 6-Lậu tận trí chứng thông: Phép tột bực của các Thánh tam thừa, v́ các lậu (tất cả phiền năo) đă đoạn sạch hết, không chi làm chướng ngại; thành tựu được cái thông thứ sáu đây là, chỉ hạn riêng về các thánh tam thừa, chứ các vị trí tiên nhân, ngoại đạo thần quỷ đều không có, bởi không có nên c̣n phải luân hồi. Trí Độ Luận cuốn 2 “Hỏi: Thông với Minh có khác nhau những ǵ? Đáp: Chỉ biết ngay được việc túc mạng từ đời quá khứ th́ gọi là thông; biết được những nhân duyên, hành nghiệp đời quá khứ th́ gọi là minh; chỉ biết ngay được tử nơi đây, sanh nơi kia là thông; biết hành nghiệp nhân duyên phải gặp gỡ nhau, ảnh hưởng chẳng mất, là minh; chỉ mới dứt hết tam kiết, thập sử, chẳng biết c̣n phải sanh lại hay chẳng sanh, là Thông; nếu biết những hoặc lậu hết, chẳng c̣n sanh trở lại nơi tam giới nữa, là Minh.” Bà-sa Luận 77 “Hỏi: Với lục thông, ba cái kia sao chẳng gọi là Minh? Đáp: Thân như ư (thần cảnh thông) nó chỉ hay về công xảo; thiên nhĩ thông nó chỉ hay về nghe tiếng; tha tâm thông nó chỉ biết được tâm niệm của người khác. Nên ba ấy chẳng lập làm minh; c̣n ba cái kia, sở dĩ là minh ấy, là thiên nhăn thông nó gồm thấy biết được cái khổ của vị lai; túc mạng thông nó gồm thấy biết được cái khổ của quá khứ; đều hay chán ĺa sanh tử. Lậu tận thông nó kiêm hay làm chánh quán mà dứt sạch hết các phiền năo.”

Tam minh lục thông là A-la-hán đầy đủ tài đức ấy. Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói “Nghe những âm thanh, khen pháp tứ đế, tức thời đắc A-la-hán đạo đầy đủ tam minh, lục thông và bát giải thoát”.

74. Huyền đạo: Là cái đạo huyền diệu, tức thông thường gọi đạo Phật là đạo huyền diệu.

75. Tuế hoa: Nghĩa như tuế thời. Sách Cựu Đường, truyện Trương Duyệt nói “Tích thị xuân tụng, trù mù tuế hoa” (xưa hầu xuân tụng, triền miên năm mùa).

76. Chân phong: Cái thói giáo hóa chân thực. Phong ở đây có ba nghĩa: 1-Giáo hóa, kinh Thư nói “Hàm ngưỡng trẫm đức, thời năi phong: đều ngửa trông đức của ta, theo thời giáo hóa”. 2-Tục thượng: đời chuộng, kinh Lễ nói “di phong dịch tục”. 3-Cảnh tượng, như nói “phong quang, phong cảnh”.

77. Chỉ nam: Dụ, là nói chỉ dẫn định theo hướng, khiến kẻ hậu học chẳng đến nỗi quên lầm. Chỉ nam xa: chiếc xe có cây kim cứ chỉ ngay về hướng nam. Hoàng đế cùng đánh nhau với Xuy Vưu tại nơi cánh đồng trạc lộc, Xuy Vưu làm trận mù lớn tối cả trời đất, tướng sĩ đều chẳng biết đâu là phương hướng, Hoàng đế chế tạo ra chiếc xa chỉ nam, để chỉ phương hướng. Lại, thuở nhà Châu, họ Việt Thường Thị (tức nay là Chàm hay Chiêm Thành ở tại Phan Rang Phan Thiết Trung Việt) qua cống con Bạch Trĩ, chừng về sứ giả quên đường, Châu Công làm chỉ nam xa cho về nước (nước của họ Việt Thường xưa, tức là toàn cơi Trung Việt của Việt Nam ngày nay).

78. Trí Vô Sư: Là cái Phật trí không do thầy dạy trao mà chỉ một ḿnh ḿnh giác ngộ ra, kinh Pháp Hoa phẩm Thí Dụ nói “Nhứt thế trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí”. Gia Tường Sớ cuốn 6 nói “Vô sư trí ấy, là ba trí trước đều chẳng do nơi thầy mà đặng, nên nói là vô sư trí”. Kinh Đại Nhật cuốn nhứt lời sớ nói “Như thế, với cái cảnh tự chứng, kẻ nói không lời, người xem không thấy, cái mà không lời, không thấy đó, nó chẳng đồng như quả am-ma-lặc trong tay có thể chuyển trao cho người khác được; nếu có thể lấy lời nói trao cho người th́, khi mà Thích-ca Bồ-tát nhờ Phật Định Quang trao quyết, liền được thành Phật mới phải. Cớ sao c̣n đợi tu đủ phương tiện, đến chừng do vô sư tự giác ngộ, mới gọi là thành Phật ư?” Trí: với sự, lư đều quyết đoán được cả. Đại Thừa Nghĩa Chương cuốn 9 nói “Cái tâm huệ an pháp, gọi là nhẫn, với cảnh quyết đoán, nói là trí”. Duy Thức Thuật Kư cuốn 9 nói “V́ nhẫn là nói cái trí để quyết đoán”.

79. Đạo Thiên Chân: Là cái đạo lư thiên nhiên mới là chân thật, cái chân lư thiên nhiên, phi người tạo tác ra. Sách Chỉ Quán cuốn nhứt nói “Cửa pháp trong mầu, là thiên chân độc lăng”. Phụ Hạnh nói “Lư phi tạo tác, nên gọi thiên chân, chứng trí viên minh, nên nói độc lăng”. Thiên chân tức pháp thiên.

80. Can qua: Can, tức cái thuẫn là cái khiên, làm bằng da, xưa, khi ra trận, dùng mang để che đỡ mũi tên bên địch bắn, phóng qua. Qua: mũi nhọn mà có một chi chỉa ngang ra gọi qua, c̣n hai chi đều chỉa ngang, gọi là cái kích, đều là đồ binh khí xưa. Can qua là tên chung của vũ khí. Can qua là gọi chiến tranh. Như nói “Nhựt tầm can qua”. Nghĩa là, thuộc về người phản bạn th́ nói đảo qua tương hướng. C̣n đồng nhơn mà tự tranh đấu nhau th́ nó đồng nhất thao qua. Người học Phật mà phân môn biệt phái với nhau, học đâu chấp đó, lấy kinh luận tranh đấu công kích, nên nói là lấy kinh luận làm can qua.

81. Hàm thỉ: Hàm, vỏ áo để giắt gươm hay giắt tên. Hàm nhân: thợ thuộc da làm vỏ áo giắt gươm tên đem bán, chưa mấy ác nghiệt. Thỉ: mũi nói tên hoặc mũi lao. Thỉ nhân: thợ chuốt vót tạo mũi tên đem bán. Sách Mạnh Tử nói “Thỉ nhân duy khủng bất thương nhân: người làm mũi tên chỉn e chẳng hại người” th́ cũng chưa mấy là ác. - Người mà mua hai món ấy, để làm điều sát hại, mới là đại ác! - Cũng như các nhà trứ tác xưa, chưa chi là thực ác; chỉ có các người hậu học chấp lấy các tác phẩm của tác giả, rồi phân biệt, chấp nhứt công kích lẫn nhau, mới là thực ác! Nên nói t́nh ở nơi hàm thỉ mà đổi dời. Hàm thỉ là áo giắt mũi tên.

82. Chuẩn đích. Chuẩn: b́nh, cái ni, cái cỡ, cái ống thủy dùng để lấy mực b́nh, tục gọi là cái thủy b́nh chuẩn. Đích: chắc, cái phiêu chuẩn để nhắm bắn, mục đích. Nên nói “Người tham thiền phải lấy kinh luận làm chuẩn đích”.

83. Xem kinh xưa rộn trong ḷng: Tổ Dược Sơn xem kinh Niết Bàn. Có một nhà Tăng thấy hỏi: - Thường thường Ḥa thượng không cho học giả coi kinh, nay sao Ḥa thượng lại tự coi? Đáp: - Chỉ v́ để che con mắt. Hỏi: - Học giả này xem có được không? Đáp: - Ông nếu xem, dù da trâu cũng lủng, huống là giấy!

Đấy, chỗ gọi là “vị miễn tâm náo”! Cổ nhân nói kệ:

Bộ trụ đăng lung xí nhiên thuyết,
Mạc học lư niên chỉ thượng toàn.
Khán kinh tu cụ khán kinh nhăn,
Đa kiến khán kinh kị nhăn man!

84. Gương xưa chiếu tinh: Thuở nhà Tùy, ông Vương Độ, có đặng một mặt bửu kính. Khi ông được thuyên chuyển đi nhậm Huyện lịnh, ghé trọ nơi lữ quán, thấy trong nhà hàng này có một thiếu phụ rất kiều diễm, hỏi chủ quán: - Nàng ấy phải chăng là con dâu ǵ của chủ nhân?. Đáp rằng: - Trước kia, có một hành khách dắt nàng đến, xin tạm gởi, rằng vài ngày sẽ lại làm lễ cưới, nhưng đă vài tháng rồi chả thấy người trở lại. Quan huyện nghi là phi nhân, liền lấy bửu kính ra. Nhanh như chớp, thiếu phụ liền thấy, rất sợ hăi! Xin thú thực rằng: -Tôi là Lăo hồ tinh, bấy nay đánh lừa đă nhiều người mà, chừ phải chịu chết nơi tay Quan huyện, v́ Ngài có cái gương báu, xin Ngài cất bửu kính đi. Vương Độ nói: - Cất gương, đặng ngươi trốn sao? Hồ tinh nói: - Bửu kính là thần vật soi sáng th́, c̣n chỗ nào ẩn h́nh được! Thôi trăm lạy quan lớn, làm ơn cho tôi no say một tiệc rồi chết. Vương Độ bảo chủ nhân cho nó một mâm rượu thịt, nó ăn uống rồi nằm ngủ, coi lại th́ chỉ thấy nó lộ nguyên h́nh là con chồn cáo cái già…

85. Cổ giáo chiếu tâm: Như nói đem ngọc minh châu để xuống chỗ nước đục th́, nước đục chẳng đặng chẳng trong; pháp niệm Phật ấn vào nơi loạn tâm th́, loạn tâm không đặng không Phật. Nên nói “Cổ giáo chiếu tâm kỳ tâm tự minh”.

86. Thượng trung hạ tọa: Tỳ Ni Mẫu nói “Thụ giới Cụ túc rồi, từ chưa có tuổi hạ (chưa kiết hạ an cư) đến 9 hạ an cư, là bậc Hạ tọa; 10 hạ đến 19 hạ, là bậc Trung tọa; 20 hạ đến 49 hạ, gọi là bậc Thượng tọa. 50 hạ nhẫn lên, là bậc Kỳ túc Trưởng lăo, đối với bậc này, tất cả sa-môn, các quốc vương, đều phải tôn kính.

87. Ngày tiết hội: Phong tục của nước Ấn Độ, cứ hai tháng làm một tiết, một năm kể có sáu tiết hội, với ngày tiết hội, tập họp tổ chức một cuộc tiệc hí lạc…

88. Đông miệng nát vàng: Là câu chữ “chúng khẩu thước kim” của sách Quốc Ngữ. Thước: lấy lửa thét (đốt nướng) vàng cho tiêu tan ra, phàm những tiêu tổn là nghĩa chữ thước. Đông miệng nát vàng: ư nói dụm miệng nói ồn ào, làm cho người ta động niệm th́, ḿnh phải bị tiêu tổn phước đức rồi!

89. Thoại đầu: Đầu câu chuyện; đầu câu chuyện tức là cái tâm, v́ tâm nó không h́nh tướng ngữ ngôn, mà h́nh dung lời nói, đều do tâm niệm phát sanh, nên thoại đầu là cái tâm. Đọc đủ là thoại đầu công án là cái công án về thoại đầu chi. Thoại đầu là một câu vô nghĩa, v́ do nhà thầy trao cho học giả nghiên cứu. Như khô mộc lư long ngâm…; Nam-mô A-di-đà Phật, cũng là niệm Phật thoại đầu. Công án: Bên nhà Thiền đối với cái cơ duyên của Phật Tổ sở hóa, mà đề khởi ra lời nói vượt hẳn ra ngoài cách thức, để chỉ thị cho động tác. Người đời sau gọi đó là công án. Công án tức là nhân duyên. Công án là án độc của công phủ, tức là luật lịnh, v́ rất nghiêm mà chẳng thể phạm, khá dùng làm phép tắc, khá dùng đoán điều thị điều phi. Từ trước Phật Tổ để lời chỉ thị, là chính lịnh của tông môn, để phán quyết điều mê điều ngộ, nên giống với công án kia, thành thử người ta kêu là công án, bảo là một ngàn bảy trăm phép công án. Thực thế.

90. Cát đằng. Cát: Dây cỏ Cát, Đằng: dây mây, hai thứ dây cỏ này, đều là thực vật mà, sanh trưởng cả lùm bụi, tàn lan. Lại, cát đằng thí dụ là phiền năo; lại chê là sự phiền toái của pháp môn. Lại gọi là ngôn ngữ (lời lẽ chữ nghĩa), lời của nhà Thiền thường nói. Kinh Xuất Diệu cuốn 3 nói “Phàm là chúng sanh mà đọa vào lưới ái, ắt làm hư chánh đạo… dường như cát đằng leo quấn lên cây, ḅ lên tới ngọn, khắp bủa phủ che th́ cây phải chết khô”. Chủng Điển Sao quyển nhứt nói “Cát đằng là ngữ ngôn”. Tùng Lâm Thạnh Sự nói “Các tu sĩ bên Thiền tông, hễ thấy nói việc chi mà phức tạp như nhánh dây tràn lan không chóng tắt th́, gọi cát đằng”.

91. Hồ Hán. Ho: Dưới hàm thịt no tḥng xuống và râu mọc dưới hàm. Đối với các giống dân ở phía bắc Trung Hoa, người Tầu gọi là các nước Hồ, v́ địa các (dưới hàm) phong hậu, râu mọc. Các nước mà người gọi là Hồ như Hung Nô, Tiêu Ty, Yết, Đê, Khương. Với các nước ấy, họ gọi là Ngũ Hồ, đời Đông Tấn có cơn giặc loạn Ngũ Hồ. Sách chép là Ngũ Hồ loạn Hoa. Với Ngũ Hồ họ cũng gọi là Bắc địch. Hồ ngôn: nói tiếng nước Hồ, v́ học tăng lúc bấy giờ, phần nhiều thiên về đua học tiếng ngoại ngữ, nên bị Tổ quở; c̣n học tăng Việt Nam ngày nay cũng nhiều người, nội điển chưa thông mà, ư ức đua học ngoại ngữ th́, Tổ nào quở đây!? Hán: người nước Trung Hoa, họ tự xưng nước họ là Hán, như Hán địa, xưng ḍng giống là Hán tộc, xưng nam tử là Hán tử, gọi người bổn bộ là Hán nhân, gọi văn tự là Hán văn, Hán ngữ, Hán tộc là v́ đối với Măn, Mông, Hồi, Tạng và Miêu tộc.

92. Hoạt kế: Là cái kế hoạch để sanh hoạt. Vương Kiến thi rằng “Vạn sự phong xuy quá nhĩ luân, bần nhi hoạt kế diệc tằng văn”. Tục ngày nay, người ta cũng bảo nữ hồng (công) là hoạt kế.

93. Tánh thiên chân: Là cái tánh thiên nhiên, là nói tự thị ḿnh có cái tánh thông minh sẵn có, chấp trước cái không (ác thủ không), thế là thông minh nhẫn bị thông minh ngộ.

94. Thô giải: Đối với Phật pháp chỉ hiểu thô thiển, nên gọi là thô giải pháp sư.

95. Giáo nhăn: Tức pháp nhăn, là con mắt coi giáo pháp, chỉ hiểu biết nông cạn bằng cách như b́ phu chi học!

96. Hư đầu: Cái đầu óc trống lép. Hư đầu tức không đầu.

97. Hạnh môn: Tức hành môn công vụ, nhưng hư đầu thiền khách này chỉ ỷ lại vào trực chỉ thiền mà, chưa được chân tham thực ngộ, lại hay nói bướng là không cần hữu vi, nên ăn rồi ngồi không, chả có một mảy vận thủy ban sài ǵ cả, nên nói “bất quí hạnh môn”. Người mà như thế, quá ư vô ích, chẳng bằng cục phẩn, v́ phẩn c̣n có chó ăn, cá ăn, hoặc người ta dùng làm phân bón.

98. Bịnh thiên khô: Là thiên lệch về cái bịnh khô tâm, v́ chẳng được có pháp thủy, huệ lưu triêm nhuận ǵ! Như Ngũ Đăng Hội Nguơn nói “Xưa có một nhà tín nữ, thường tứ sự cúng dường một ông khất sĩ mà bà rước về ở nơi tịnh xá của bà lập trong vườn, trải qua hai mươi năm, thường sai một thiếu nữ mười sáu tuổi đem cơm hầu họ. Bữa nọ, bà bảo con gái của bà ôm ông Sư và hỏi rằng: - Chính lúc này như thế nào? Sư đáp: - Khô mộc ỷ hàn nham, tam đông vô noăn khí (Cây khô nương núi lạnh, mùa đông không hơi ấm). Con gái về thuật lại với mẹ. Bà than: - Hai chục năm nay, ta cúng một ông sư chết khô . Bà buộc sư phải t́m thầy hỏi học đă, rồi hăy tu. Người đời bấy giờ thêm hai câu nữa, thành một bài kệ: Khô mộc ỷ hàn nham tam đông vô lănh noăn, khả tích nhị thập niên, dưỡng nhứt cá tử hán (Khá tiếc hai chục năm, nuôi một thằng cha chết!)”

99. Đoạn hoặc chứng chân. Hoặc: cái tâm mê vọng, mê với cái cảnh sở đối mà, điên đảo sự lư, gọi là hoặc, là cái tên gọi chung các tham, sân, si mọi phiền năo. Tham Huyền Kư 13 nói “Tâm mê tiền cảnh, gọi đó là hoặc”. Nhân Vương Kinh Hiệp Sớ nói “Hoặc là cái tâm mê vọng”. Đoạn hoặc: là đoạn cái vô minh hoặc, v́ nó là căn bản vô minh, hay làm che ngăn cái lư trung đạo (chân như). Bên Biệt giáo, các Bồ-tát bực Sơ địa bắt đầu đoạn nó, các Bồ-tát bên viên giáo, từ Sơ trụ bắt đầu đoạn nó, đều nghĩa là mỗi bực địa dứt một phần vô minh là, chứng một phần chân như (Trung đạo, Pháp thân, Niết-bàn), cứ thế tiến lên, mỗi địa mỗi địa mỗi đoạn hoặc chứng chân, măi cho đến bực Đẳng giác Bồ-tát đoạn một phần rốt sau là vi tế hoặc, cũng kêu là tối hậu nhứt phần sanh tướng vô minh, cũng rằng tối hậu phẩm vô minh, đến đây mới là dứt sạch hết vô minh hoặc chứng cứu cánh tam giáo viên minh, tức thành Phật quả.
Phu: Tối hậu phẩm vô minh là cái phần vô minh này thể nó cực vi tế; đối với thứ lớp sanh khởi th́, gọi nó là “vô thỉ vô minh”, “căn bản vô minh”, “ngươn phẩm vô minh”; về thứ đệ đoạn diệt th́, kêu nó là “tối hậu phẩm vô minh”, “chung phẩm vô minh”.

100. Tác gia: Là danh từ để xưng hô bực “Đại hữu cơ dụng” bên Thiền tông, Bích Nham nhị tắc b́nh xướng nói “Ngài Triệu Châu là bậc tác gia”. Lại nói “tác gia tông sư”. Tác gia: làm nhà, tức Phật pháp đống lương, Phật Tổ gia phong. Nghĩa là bậc thầy của nhân, thiên.

101. Thuyết dục: Nói muốn, là thay v́ nói kia muốn đồng sự. Dục nghĩa là hi cầu. Duy Thức Luận 5 nói “Dục là tánh nó hi vọng, tác dụng nó là cần y”. Thuyết dục: với các pháp sự như thụ giới, thuyết giới… mà ḿnh v́ có lư do sự duyên, chẳng thể thân đến pháp hội được, nhưng với pháp sư ḿnh sẵn có cái hi vọng tùy hỉ cọng đồng với việc ấy, gọi là Dục, đem cái dục ư ấy trao lại cho một vị Tỳ-kheo khác, gọi là Dữ dục, vị Tỳ-kheo ấy chịu lời ủy thác, gọi là thụ dục, ra giữa chúng tăng để tŕnh bày nói, gọi là thuyết dục.

102. Sáu t́nh: Các kinh luận của Cựu dịch, phần nhiều gọi lục căn là lục t́nh, do v́ căn nó có t́nh thức, t́nh là một của ư, là cái danh đương thể, do v́ ư căn là tâm pháp, c̣n năm kia sanh ra t́nh thức, nên do nơi quả sở sanh mà gọi là t́nh. Thập Trụ Tỳ-bà-sa nói “Cấm sáu t́nh như buộc cột chó, nai, cá, rắn, vượn và chim”. Gia Tường Trung Luận Lục T́nh phẩm nói “- Hỏi: với ư, có thể gọi là t́nh, c̣n năm kia, sao gọi t́nh được? - Đáp: ư, đương thể nó gọi là t́nh, c̣n năm kia là cái quả sanh ra t́nh thức, thế là do theo quả xưng t́nh. Lục t́nh, cũng bảo là lục căn, v́ năm căn năng sanh ra năm thức, ư căn năng sanh ra ư thức. Lục t́nh cũng gọi là lục y, v́ chỗ sở y của lục thức”.

103. Day mặt vào vách: Kinh Thư nói “Bất học diện tường: chẳng học mặt vách”. Lời chú “Người mà không học, như kẻ đứng day mặt vào bức tường”. Hán Thư nói “Học thói mặt vách, chả biết phải chăng!”

104. Cốt đổng: Nghĩa là xăng lộn, món ăn bằng cách nấu chung lộn nhiều thứ, như xứ ta gọi là nấu kiểm, hay xà bần. Bên Tàu gọi là Cốt đổng canh. Sách Phi Tuyết Lục nói “Ông Tô Đông Pha thường nấu canh cốt đổng”. Sách Cừu Tŕ bút kư nói “Tại xứ La Phù Sơn, các người già yếu, phần nhiều ưa dùng cá thịt các vị nấu chung mà ăn, gọi là cốt đổng canh”. Ở đây nói “Đáo lăo toại thành cốt đổng” ư rằng già lẫn lộn, hết biết dơ sạch, xấu hổ, phải chăng ǵ ráo!

105. Núi La Phù: Vị trí tại phủ Huệ Châu (Huệ Dương huyện), tỉnh Quảng Đông.

106. Cái thời dị thục. Thục: chín. Bổ Chú 11 nói “Cựu dịch quả báo (cái thân là quả báo), Tân dịch dị thục, Duy Thức Thuật Kư cuốn 2 nói “Nói dị thục ấy, là hoặc dị thời (thời khác) mới thục hoặc biến đổi khác lạ mà thục, hoặc khác loại mà thục”. Nên nói cái thời dị thục đă đến. -Nương nơi nghiệp thiện hay ác của đời quá khứ mà đặng cái tên chung của thân quả báo đời nay. Nghĩa là cái quả nó khác với tánh chất của cái nhân mà thành thục. Như tạo thiện nghiệp th́ cảm lấy lạc quả; tạo ác nghiệp cảm lấy khổ quả, là cái lạc quả phi thiện tánh mà là vô kư tánh (phi thiện phi ác là vô kư), đối với cái nghiệp thiện tánh có thể nói là dị loại (thiện tánh loại nó khác nhau với vô kư tánh), khổ quả đối với ác nghiệp th́, khổ quả phi ác tánh mà là vô kư tánh, thế cũng là tánh chất của nhân nó khác nhau với quả (hai quả khổ lạc đều là vô kư tánh). Nhân đó, gọi rằng dị thục quả. Là nghĩa nhân cùng quả ắt cách đời với thời khác mà thục. Nên Câu Xá Luận cuốn 6 nói “qua loại khác mới thục (chín), là nghĩa của dị thục”.

107. Lâm khát quật tỉnh: Sách Yến Tử Xuân Thu nói “Để cho chết ch́m rồi mới hỏi cách sa đắm, quên lối đi rồi mới hỏi thăm đường, tỷ như lâm nạn rồi mới đúc binh khí, khát khô nghẹn rồi mới đào giếng, dẫu có cần cấp đến đâu, cũng không kịp nào!” Đời nói lâm khát quật tỉnh là điển trên đây. Xứ ta họ nói “Để nước đến trôn rồi mới nhảy!”

108. Gió nghiệp: Cái nghiệp thiện ác, nó thường khiến người chuyển di để luân hồi trong tam giới, nên tỷ là gió. Kinh Chánh Pháp Niệm cuốn 10 nói “Trong tất cả gió, gió nghiệp là đệ nhất”. Đại Thừa Nghĩa Chương cuốn 7 nói “Sức nghiệp như gió, nghiệp thiện, gió đưa chúng sanh ấy đến chỗ tốt mà thụ lạc; ác nghiệp, gió thổi chúng sanh ấy đến chỗ xấu mà chịu khổ”.

109. Làm cái có kẻ khác: Ông Trang Tử ca rằng “Nhà bị người khác ở, ruộng bị người khác cày, ngựa bị người khác cưỡi, con bị người khác khiến, vợ bị người khác yêu…”. Chính chỗ bảo rằng “ṭng tiền kim ngọc phú tha nhân, thế thượng dĩ canh tân nghiệp chủ!”

110. Vô lượng: Sách Thống Tôn toán pháp, ghi số vô lượng này “100.000.000.000.000.000.000.000.000.000”.

111. Ḍng nước bộc bố: Suối bay, là nước do trên đầu tảng đá đứng cao chót vót đổ ngay xuống, thế nó dội vọt trào, bọt nước bay văng tung tóe, ở xa trông thấy như lụa bạch kê bức giăng thả xuống, nên gọi là bộc bố. Bên Trung Hoa có chín, mười bộc bố mà suối bay ở huyện Tinh Tử tỉnh Giang Tây là thắng cảnh hơn cả. Ở nước ta có bộc bố (thác) Prenn trong Đà Lạt, cũng là thắng cảnh.

112. Đao phong: Thân mạng của con người khi sắp cuối cùng, có cái phong khí nó giải phẫu cả chi tiết như dao xẻ, gọi là đao phong, chỗ gọi là cái khổ “đoạn mạt-na”. Kinh Chánh Pháp Niệm 66 nói “Khi mà cái hiện mạng cuối, đao phong đều động, da thịt gân xương mỡ tủy tinh huyết, tất cả đều bị như xẻ dứt”. Kinh Ngũ Vương nói khi muốn chết, đao phong xẻ h́nh, không chỗ nào chả đau!” Hành Sự Sao Tư Tŕ Kư nói “Hay róc chi tiết, nên dụ như dao”. Đoạn mạt na Dịch là chi tiết, lại dịch là tử huyệt, trong thân của con người có những chi tiết (huyệt) lạ hẳn, vật khác chạm đến th́, đau rất nguy kịch, sanh mạng ắt phải chết; khi con người sắp chết, trong ba đại thủy, hỏa, phong, hễ một đại tăng phồn thạnh lên, nó chạm đến cái mạt-na, khiến cái mạng phải dứt hẳn, gọi là đoạn mạt na. Đoạn: phi cắt dứt mạt-na, chính là một đại nào (trong ba đại) chạm đến cái tử huyệt (mạt-na) mà cái mạng nó đoạn tuyệt. Câu Xá Quang Kư 10 nói “Mạt-na là cái tử huyệt trong thân thể con người, cái lượng nó rất nhỏ, chạm đến phải chết!”. Trong Pháp Tạng nói “Trong thân chúng sanh, có cả trăm chỗ (huyệt) tên là mạt na, đụng nhằm phải chết”. Tụng Sớ nói “Ba đại thủy, hỏa, phong hễ một nào tăng thạnh th́ bén như gươm dao, chạm đến mạt na, nhân đó mạng chung nên gọi là đoạn. Đoạn: phi như chặt củi, đứt thành hai khúc; chỉ do một nào trong ba đại cho đến mạt na, khiến thân không biết nên gọi là đoạn”.

113. Mười sáu phần hăy chẳng c̣n một: Là nói, hằng ngày lúc b́nh thường, sự khỏe khoắn vui sướng đầy đủ mười sáu phần thư thái mà, khi sanh nghiệp cuối cùng chả c̣n một phần nào cả! V́, từ trước chẳng làm thiện nghiệp, như là ưa thốt lời châm biếm dèm pha làm cho người bị đau đớn thốn tim, nên lúc cuối cùng, bị cái quả khổ đao phong đủ cả mười sáu phần! Bên Chân ngôn Mật giáo, dùng con số 16, để tiêu biểu cho số viên vô tận. Các kinh đều lấy số 16, để gồm thâu cho tất cả, như Bát-nhă th́ thập lục không, mặt nguyệt th́ thập lục phần măn. Giả tỷ như nói một thù đủ mười sáu lượng…

114. Hữu lậu thiện ác: Tỳ Bà Sa Luận nói “Hữu tức có nghiệp, cái nghiệp nó thường khiến tiếp tục sanh qua đời sau, nên gọi là tức có sanh. Lậu: lọt, rịn ra, là sáu căn lọt rịn ra sáu trần, tức là nghĩa lưu ở lại khiến chúng sanh lưu ở lại trong tam giới”. Kinh Niết Bàn nói “Pháp hữu lậu có hai (1-Nhân, 2-Quả), hữu lậu quả th́ gọi là khổ, hữu lậu nhân th́ gọi là tập”. Hữu lậu thiện pháp: nghiệp nhân hữu lậu có thiện và ác là tam qui ngũ giới, thập thiện, tức thiện pháp; tam độc, ngũ nghịch, thập ác là ác pháp. Hữu lậu thiện pháp th́, đưa đến kết quả vui hữu lậu, như đắc quả làm người làm trời; ác pháp hữu lậu, chiêu cảm lấy khổ quả hữu lậu, quả báo làm ngạ quỷ súc sanh. Lậu là cái tên khác của phiền năo, nó hàm có sự vật phiền năo nên gọi là hữu lậu; những sự thể của tất cả thế gian, đều là pháp hữu lậu, sự thể xuất thế gian đều là ĺa phiền năo, đều là vô lậu pháp.

115. không ĺa ḷng dục nhiễm: Loài vũ tộc đều có giống trống mái, loài mao quần đều có giống cái đực; cả nhân loại trên bốn quả địa cầu là Đông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lư Châu đều có nam tánh nữ tánh; đến cả sáu cơi trời Dục giới, cũng cùng đều có thiên nam, thiện nữ; tất cả đều do ḷng dục nhiễm để sanh, nối ṇi với nhau. Kinh Lăng Nghiêm nói “Nhứt thế chúng sanh giai do dâm dục nhi chứng tánh mạng”.

116. Ĺa ḷng dục nhiễm: Trong bốn thiền thiên, gồm có một cơi trời Phạm, toàn là thiên nam, chứ chẳng có thiên nữ, do tu bốn thiền định mà, cảm cái quả báo sanh nở bằng cách hóa sanh, nghĩa là tự nhiên biến hóa xuất hiện ra, chứ phi thai sanh như chúng sanh ở cơi Dục giới này, nên Sơ thiền thiên đă được gọi là “Xả dục thanh tịnh địa”; cả đến mười tám Phạm thiên, đều bội phần thanh tịnh, v́ đă ĺa sự dâm dục, nên không phạm, nghĩa là thanh tịnh.

117. Thân sắc chất: Trường Thủy Khan Định Kư cuốn nói “Các trời Hữu sắc, tức là lấy sắc uẩn làm thân, nên gọi là sắc chất. Các trời Vô sắc, tức là lấy bốn uẩn thụ, tưởng, hành, thức làm thân, nên gọi là “Vô sắc”.

118. Chẳng kể kiếp số: Kinh nói “Đời sanh tử về quá khứ như số thạch kiếp khôn cùng, ṿng luân hồi về vị lai như số giới thành chẳng hết”. Thạch kiếp: Lấy bàn thạch, giới tử để tỷ dụ cái lâu của kiếp. Trí Độ Luận cuốn 5 chép “Phật lấy thí dụ để nói nghĩa của kiếp, tỷ như một quả núi đá cao, lớn tư vuông bốn mươi dặm, có người sống lâu, cứ mỗi một trăm năm đến một lần, lấy cái áo tế nhuyễn lau qua một bận, như thế măi chừng nào núi đá ấy tiêu ṃn hết mà cái kiếp chưa hết. Lại, một cái thành lớn bằng bốn mươi dặm, hột cải chứa đầy trong thành ấy, có người trường thọ cứ mỗi một trăm năm đến một lần, bốc bỏ ra một hột cải, như thế măi chừng nào hết thành hột cải mà cái kiếp cũng chưa hết, nên gọi là kiếp bàn thạch, kiếp giới thành”.

119. Đương tiểu kiếp thứ chín, c̣n mười một tiểu kiếp nữa là đến hoại kiếp. Cái biểu dưới đây:

Biểu đồ

Hai lần tăng và giảm: Trong mỗi tiểu kiếp, thuở mà cả nhân loại mọi người đều chỉ sống c̣n có mười tuổi là trọn đời, đó là thời giảm đă cực độ; từ đấy, cứ qua trăm năm là mỗi người được tăng lên một tuổi, măi như thế; đến thuở mà cả nhân loại mỗi người đều sống đủ tám vạn bốn ngàn tuổi, đó là thời tăng đă cực điểm. Từ đó, cứ qua trăm năm giảm một tuổi, măi cho đến chỉ sống mười tuổi. Một giảm một tăng như thế là một tiểu kiếp…

120. Bốn uẩn: thụ, tưởng, hành, thức. Thụ: Đối với cảnh mà, cái tác dụng của tâm nó thừa thụ sự vật. Tưởng: Đối với cảnh mà, cái tác dụng của tâm nó tưởng tượng lấy sự vật. Hành: Đối với cảnh mà, cái tác dụng của tâm nó quan hệ với tham, sân, si, thiện, ác tất cả. Thức: đối cảnh mà, bản thể của tâm rơ riêng hiểu biết sự vật.
Sắc uẩn: Gồm trùm cả năm căn, năm cảnh là vật chất có h́nh trạng. Lấy một hữu t́nh để tượng trưng, th́, một sắc uẩn tức là thân, cả bốn uẩn tức là tâm. Trong tâm: thụ, tưởng, hành ba ấy trên tâm tánh, chúng đều là mỗi một uẩn tác dụng đặc biệt, nên gọi là tâm sở hữu pháp, tức cái pháp sở hữu của tâm. Một cái thức ấy là tự tánh của tâm, nên gọi là Tâm vương. Số là, ngũ uẩn là hai pháp thân và tâm, như chúng hữu t́nh ở Dục giới, Sắc giới th́ có cái thân là do cả ngũ uẩn mà thành thân; như chúng hữu t́nh ở Vô sắc giới th́ không có cái thân bằng h́nh sắc, mà từ nơi bốn uẩn để thành cái thể bằng tư tưởng, nghĩa là bằng tinh thần, chứ phi vật chất.

121. Truy lưu. Truy: vải nhuộm màu thâm thâm, là có hơi đen (phi thực đen) mà ửng đỏ, tức tục gọi là màu đà. Nhà tăng mặc truy y, nên gọi Truy lưu, hoặc Truy đồ. Lưu là nghĩa lưu loại, tức chúng loại mặc y. Thích Thị Yếu Lăm nói “Truy lưu, đấy là do nơi màu áo mà đặt tên”.

122. Đời mạt pháp: Mạt pháp là một trong ba thời (chánh, tượng, mạt). Nghĩa là cách với đời Phật c̣n tại thế rất lâu dài mà, cái thời kỳ giáo pháp thỏn mỏn cuối rốt. Kinh Pháp Hoa Gia Tường Sớ cuốn 5 nói “Lại cuối mảy rốt, gọi thời mạt pháp”. Ba thời, có nhiều thuyết, như nói “Thời chánh pháp năm trăm năm; thời tượng pháp một ngh́n năm; thời mạt pháp một vạn năm. Phần nhiều dùng thuyết này”. Ba thời chánh, tượng, mạt, nghĩa là, sau khi Phật nhập diệt, bảy chúng đệ tử chân thật tu hành đúng chánh pháp, gọi là thời chánh pháp. Sau thời chánh pháp, thất chúng đệ tử tu hành mường tượng giống với chánh pháp, là thời tượng pháp. Cái thuở mà pháp của tượng pháp dần dần suy diệt, là thời mạt pháp.

123. Ông Lương Đạo: Lương là thiện (hay, khéo) hơn người; đạo: dẫn dắt. Lương đạo là vị tăng sĩ có đức hạnh, tài năng hơn người, có thể thay Phật làm đạo sư để hướng đạo cho học chúng.

QUI SƠN CẢNH SÁCH
CUỐN THƯỢNG HẾT

 

 


 

 

 

Qui Sơn Cảnh Sách

Tỉnh Việt Đông, núi Đảnh Hồ, thầy Sa-môn Thích Hoằng Tán Tại Tham chú giải.
Kẻ môn nhân, thầy Tỳ-kheo hiệu Khai Huưnh làm lời kư.

Ḥa Thượng Thích Khánh Anh dịch

 

http://www.tangthuphathoc.com/hlink/line.gif

 

Quyển Hạ

II.A.2- Thị pháp.

Chia ra làm ba phần:

a.    Đạo hạnh.

b.   Thiền giáo.

c.    Kiết khuyến.

II.A.2.a- Đạo hạnh.

Chia làm sáu:

a1- Lập hạnh.

a2- Trừng giới.

a3- Cầu đạo.

a4-  Trạch hữu.

a5- Kiết hối.

a6- Tiềm tu.

II.A.2.a1- Lập hạnh.

Luận: Kẻ  xuất gia là, dấy chơn vượt cơi, tâm h́nh khác tục, nối thạnh giống Phật, khủng bố quân ma, dùng trả bốn ân, cứu vớt ba hữu.

    Câu  đầu là phiêu tông (nêu gốc), câu 2 là siêu trần (vượt tục), câu 3 vào bậc Thánh, câu 4 nối giống Thánh, câu 5 dẹp ma, câu 6 báo đức, câu 7 làm lợi chúng sanh. Do v́, giới đức đầy đủ, nên có thể đả đảo giống ác, thành lập giống thiện.

    Luận kẻ xuất gia. Xuất gia có hai hạng:

    1-Ra khỏi nhà thế tục (thế tục của lục thân) là chơn ĺa chỗ trần tục đến phương xa học hỏi bực tri thức.

    2-Ra khỏi nhà phiền năo (phiền năo của tam giới) là  dứt vọng hoặc, chứng chân lư (1), chóng vượt tam hữu.

    Dấy chơn vượt cơi, nghĩa là, từ ban đầu phát tâm  đi xuất gia, liền phải noi bước nơi đại phương (chân lư Đại thừa), chớ sa nơi ḍng tầm thường, lối hẹp nhỏ (phương tiện Tiểu thừa). Do không tuần tự nơi giai cấp nên nói là siêu phương (vượt cơi).

    Tâm h́nh khác tục: ngoài thân h́nh th́ viên đảnh phương bào, đồng với cái đức tướng của Như Lai; trong ḷng dạ th́ bối trần hiệp giác bằng với cái tâm trí của Phật huệ.

    Nối thạnh giống Phật: tiếp tục cái huệ mạng của Phật  đặng nối gót đức Như Lai, rao truyền chánh pháp, do đấy, ngôi Tam Bảo được chấn hưng cao thạnh.

    Chấn chiệp (2) (rúng khiếp) ma quân: giới đức cao, trí huệ rộng, th́ quần tà thất kinh sợ hăi! Nói pháp, mở rộng đường đạo th́, tâm đăm của thiên ma (3) sảng sốt bể rụng!

    Dùng trả bốn ân: lập thân hành đạo, để báo đáp cái ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha, đức đầy đạo lớn, tự nhiên phước nhuần giúp cả bốn ân:

    1-ân của quốc vương (chính phủ). 2-ân của phụ mẫu. 3-ân của sư hữu. 4-ân của thí chủ (xă hội, chúng sanh).

    Cứu vớt ba hữu: Tất cả chúng sanh, mê say nơi ngũ  dục lạc, ch́m đắm sông ái t́nh; ta thuyết pháp giáo hóa, khiến ra khỏi biển khổ sông mê,  đồng tiến lên cơi vui ngàn giác.

    : Chấn chiệp ma quân, chiệp: sợ, nép, là bị uy thế làm khủng bố thất khí, nghĩa là mất hồn khiếp vía!

    Đại phương, kinh Đạo Tiên nói: Đại phương vô ngung, là phương lớn không góc. Chừ mượn để tỷ cái chân lư không bờ mé. Do là ban sơ xuất gia, phải noi nơi đại lư chân thực, chớ sa đắm nơi thói tục đương thời, lẫm dẫm nơi lề lối Tiểu thừa.

    Quốc vương (chánh phủ) có cái  ơn trị an đất nước, v́  tất cả nước non, ruộng vườn, đều thuộc về của quốc vương; lại nhờ cái sức trị b́nh khai mà khỏi phải sự lo kẻ mạnh xâm lướt kẻ yếu mà, Thích tử chúng ta được yên tu đạo nghiệp th́, ân ấy đâu phải nhỏ ru?

    ân của phụ mẫu là, sanh thành dưỡng dục, như  trời cao vô cùng, lại cho ta đi xuất gia hành đạo th́, ơn nào lớn bằng?

    ân của thầy bạn là Thầy có  ân dạy bảo, sanh trưởng giới thân huệ  mạng; đạo bạn có cái  đức mở mang giải rơ.  Đó là cái ân  đức của đạo xuất thế  gian, c̣n ai mà có  thể so sánh được ru?

    Đàn-việt, có cái ân tứ sự cúng cấp, khiến cho ta đặng an thân để sửa sang đạo nghiệp th́ ân chẳng nhỏ vậy.

    Có  chỗ, đem ơn Phật thay v́  ơn thầy bạn, làm tứ ân; c̣n với Bồ -tát th́, lấy Tam Bảo, chúng sanh thế  cho sư hữu, đàn-việt làm tứ ân.

II.A.2.a2- Trừng giới (Răn đe)

Nếu chẳng như thế, xen lộn chúng tăng.

    Câu trên, trái với việc tu; câu dưới, lộn vào pháp chúng. Nghĩa là, chẳng noi tu như trên chỉ vẽ, lộn xộn vào trong đám pháp chúng. Tức là kẻ phi người tục, phi chúng tăng, tội lỗi nhẫy trời! Tỷ như con lừa lộn bầy trâu, với sừng và lông dù có tương tợ, mà cái đầu và sừng chẳng đồng giống nhau, đến cái tiếng kêu cũng khác lạ hẳn!

    : Lám (tục đọc sai là lạm): nước nhẫy đầy tràn lan, là xen lẫn lộn xộn.

    Với kẻ có cái thân năm thước mà  chẳng có trí huệ, Phật gọi là  si tăng (ông sư ngu si), có  cái lưỡi ba tấc mà nói pháp không được, Phật bảo là á  dương tăng (4) (sư dê câm). Người mà chẳng phải kẻ tục v́ cũng đầu tṛn áo vuông, chẳng phải tăng, v́ ḷng nhiễm trần tục, Phật cho là điểu thử tăng (5) (thầy chim chuột), cũng gọi là thốc cư sĩ (6) (ông cư sĩ sói đầu).

    Phật dạy “Thế nào là kẻ đạo tặc? - V́ giả dối bận cái pháp y của ta, đem h́nh tượng và đạo pháp của ta ra làm sự buôn bán (7) tạo tác ra mỗi mỗi ác nghiệp”. Đó, chánh chỗ bảo là “lám xí tăng luân”.

Lời nói việc làm hoang đàng thưa thớt, luống uổng ăn dùng của người thí chủ.

    Câu trên hiểu và làm; câu dưới ăn hao của thí  chủ. Lời nói, nết làm, phẩm tánh chẳng thuần túy, nói là hoang đàng; chẳng có công đức  để đền đáp cái ơn của tín thí, nên nói là luống uổng ăn dùng.

    Hiền triết xưa nói “Với đạo đức không tu, đấy là uổng phí áo cơm”. Đây gọi là thế!

    : Ngôn là lời nói, tức trí hiểu; hành tức là tu hành; hoang là hoang vu, tức cỏ, dây mọc ḅ lan hàng lan lối; sơ là lai rai rải rác, cũng là sơ lược, nghĩa là lổm xổm. Đây chẳng có cái đức hành và giải tu hành và hiểu biết, thành thử thí chủ chẳng được phúc, nên nói tín thí mất!

Chỗ  đi năm trước, tấc bước không dời, ngơ ngáo một đời, toan chi nương cậy?

    Hai câu trên thói cũ chẳng quên; hai câu dưới không có điều thiện ǵ khá ghi.

    Năm trước, tức thuở cũ; chỗ đi là hành động của tâm, như là điều vọng hoặc, thói quen đắm nhiễm. Đây có hai: một, cái vô minh hoặc từ vô thỉ thuộc về đời quá khứ; hai, cái thói quen xông ướp những ngày trước.

    Tấc bước chẳng dời: Với các thói quen, chưa hề có  một niệm bỏ lỗi để sửa lại ḿnh cho được tân tiến.

    Ngơ  ngáo một đời, … nghĩa lứ, chẳng có cái tinh thần yên lặng để soi xét lại ḿnh, trọn ngày ư thức măi rượt theo cảnh giới lục trần, có biết đâu, tháng đă qua, năm vẫn lại mà chả có một chút lành ǵ khá nương, cũng chẳng có công đức ǵ khá nhờ!

    Đại Trí Luật Sư nói “Vói xa trả ơn, từ Nho qua Thích. Gọt bỏ thói cũ, rửa sạch duyên đời. Ngăn dứt các ḍng, vách đứng ngàn nhẫn (8). Văn chương nghiên bút, đều đă đốt dẹp, trăng tuyết gió hoa, chớ nhọc vịnh ngâm (9). Lại chớ quày đầu vào tửu sắc tài khí (10), đâu cho ghé mắt nơi danh lợi vinh hoa.

    Ḍng rốt điên dại, chánh pháp suy đồi! Chỉ muốn  đổi h́nh (cạo đầu nhuộm áo), không hề dính đạo (tâm tŕ trần tục). Dẫu rằng bỏ tục, thói tục không chừa, đều nói ra trần, duyên trần chẳng dứt.

    Mới gần trường giảng luật, đă toan làm thầy Xà -lê. Chưa vào chốn tùng lâm, vội lên chưn cụ trưởng lăo.

    Tránh chết đắm, vào chết thiêu, đâu biết đui ngơ muốn tới trước lại bước lui, thực là quá ư điên đảo.

    : Hoảng hốt: sật sừ, tức là ngó bằng cách vô t́nh, chớ không để ư coi cho thiết thực ǵ. Nghĩa là ngơ ngáo lơ lửng.

Phương chi, rỡ rỡ tướng tăng, dong mạo khá  xem, đều là trước trồng căn lành, nên cảm được báo tốt.

    Hai câu trên cái quả đời hiện tại; hai câu dưới là rơ rằng do cái nhân tốt nơi trước mà  đưa đến cái quả đẹp đời nay.

    Huống năi (phương chi) là thốt ra ngữ từ.

    Rỡ rỡ tướng tăng: đường đường (rỡ rỡ): dung mạo. Lại, sáng láng, nghĩa là đủ dong nghi của Phật (viên đảnh phương bào), vượt trần riêng bước, thầy thợ của người và trời vọi vọi ngôi Tăng bảo vậy.

    Dong mạo khá xemD: sáu căn thâu nhiếp, năm quan không vọng động. Uy nghi trọn đủ, chẳng dự với hạng thường lưu, nên chi được người ta trông thấy phải hân hoan kính ngưỡng, nên nói là khá xem.

    Đều là trước trồng căn lành nên cảm đặng báo thân tốt lạ đây: Số là đời trước gieo trồng cái nhân tốt, thành thử đời nay cảm được cái kỳ báo siêu trần việt tục như thế há chẳng lạ đời khác thường ru!

    : Năm quan là: 1-Miệng chủ việc nói, 2-Mũi chủ việc ngửi, 3-Tai chủ việc nghe, 4-Mắt chủ việc thấy, 5-Thân h́nh chủ việc chạm đụng biết ấm lạnh trơn nhám. V́ mỗi bộ phận đều có chủ hay mỗi việc, nên gọi là ngũ quan (11) chủ biết.

Liền toan chễm chệ ṿng tay, chẳng quí  tấc bóng, không siêng năng tu hành, sự nghiệp chẳng do đâu xong nên công quả.

    Hai câu trên ăn rồi ngồi không bỏ mất qua bóng quang âm (th́ giờ); hai câu dưới cái nhân chẳng có, nên mất luôn quả.

    Liền toan ngồi chễm chệ ṿng tay … Người xưa quí tiếc tấc bóng mà, khinh thường thước ngọc; một ngày không công tác th́, một ngày ấy không dám ăn cơm của chùa! Chúng ta là người bực nào lại ṿng tay ngồi không qua ngày mà, chẳng lo tu phúc huệ ư?

    Với sự nghiệp chẳng cần: Sự nghiệp tức là giới định và huệ cùng các việc lành. Chẳng cần là không lo phải thắng tấn. Với chân tu thực hành, đă chẳng cần mẫn, th́ công hạnh không thể thành tựu mà, cái quả phúc trí nhị nghiêm cũng mất luôn cái tạo nhân nữa!

    : Khuê Phong thiền sư nói “Thời đại ngày nay, những hậu sanh, mới vào trong chúng, chẳng hái một ngọn rau, không lượm một lọn củi, mười ngón tay chẳng hề thấm đến nước, trăm việc chẳng bận ḷng, tuy th́ một thuở khoái chí, khôn nài ba đồ khổ thân! Khát tấc bóng, giờ chẳng đợi người, một mai nhắm mắt bị đọa, ruộng truy y (12) không có công một ky đất (13), ngục Thiết Vi có sa hăm trăm tội h́nh.

    Ngài Xứng pháp sư nói “Ṿng tay chẳng công tác, ở không chẳng làm việc, đi giỗn dễnh trên đất chùa, ngồi ch́ ́ trong nhà rỡ. áo trùm thân, cơm trong miệng, đâu dễ tiêu ư? Vuông đồ bận, tṛn cái đầu, làm sự ǵ đó? Ca-sa hết bận mất thân người! Thực là chí khổ! Địa ngục đọa vào chịu báo thân khác, khá gọi bao đành!

Chẳng những một đời bỏ trống qua, mà  cũng nghiệp sau không ích lợi!

    Câu trên, cái nhân mất; câu dưới, cái quả mất.

    Chẳng tu phúc huệ, ấy là bỏ trống qua một đời. Há cho đời nay bỏ trống qua, chả có sở đắc ǵ, song, với hạnh nghiệp của tương lai cũng chẳng có chỗ bổ ích nữa!

    : Tương lai tức là đời hậu lai vậy.

II.A.3.a3- Cầu đạo.

Từ song thân, quyết chí bận truy y, ư muốn siêu lên chỗ bực nào! Mai chiều nghĩ xét, đâu nên chần chờ qua giờ!

    Câu  đầu là chỉ rơ nơi gốc. Câu hai là  gạn hỏi lại. Hai câu sau là nhớ nơi gốc, phải chuyên mộ đạo.

    Từ thân quyết chí bận truy y là phát cái tâm dũng mănh, để tạm thời từ giă đôi thân, lập cái chí quyết định, đi sâu vào đại đạo.

    ư  muốn là cái chỗ của ư thức hi vọng. Vượt lên chỗ bực nào v́ vượt lên giai cấp chi? Đồng bực (đẳng) với Phật Tổ nào?

    Mai chiều nhớ xét… ta chưa rơ được ḷng dạ của ta (chưa minh tâm kiến tánh), cái sanh tử ở trong hơi hô hấp, với chỗ vắng lặng lo lường, đâu chẳng lo cho cần cấp mà có thể c̣n dời đổi chần chờ, kéo dài cho qua thời, để luống mất qua tấc bóng ngày đêm ru!?

    : Người mà được đốn ngộ (14), tức siêu hẳn giai cấp (15), t́nh thức (16) quên hết, tức đồng với Phật, v́ đă chuyển thức thành trí rồi.

    Truyện Bửu Lâm chép “Dương Huyễn Chi hỏi Tổ Đạt -ma rằng “Bên nước Tây Trúc, chỗ truyền với nhau mà xưng Tổ là như thế nào?” “Rơ được cái tâm tông của Phật (minh tâm kiến tánh), sự rơ và lư hiểu xứng nhau, gọi là Tổ Sư””.

    Truy: màu đen thâm thâm có  ửng đỏ, tức hoại sắc y, chính là y phục của Sa -môn thường bận, phi năm màu chính (thực xanh, thực đỏ, thực trắng, thực đen và thực vàng). Cám: xanh mà có ửng màu.

Ḷng hẹn làm đống lương cho Phật pháp, để làm qui cánh cho hậu lai. Thường mong lấy cái hi vọng như thế mà, chưa được ảnh hưởng nhau chút nào?

    Hai câu trên lập chí nguyện để lại mô  phạm. Câu thứ ba cái chí nguyện vẫn c̣n. Câu thứ bốn sự hành và lư hiểu chưa đủ. Lại, câu ba là túng, tức buông ra cái chí nguyện. Câu bốn là đoạt, tức bắt lại, v́ hạnh nguyện bị hỏng.

    Ḷng hẹn làm rường cốt Phật pháp phát tâm lập nguyện  để gánh giữ cái chánh pháp của Như Lai.

    Dùng làm bối gương cho hậu lai là để mẫu mực cho học giả đương lai.

    Qui kính tức là nghĩa sư phạm. Do v́ cái mai qui để bói cho biết những sự đă qua và  sẽ đến; cái gương cốt soi rơ được h́nh tốt xấu trước mặt.

    Thường lấy như thế là cái chí nguyện chẳng quên vậy.

    Chưa thể chút phần hợp nhau. Tuy sẵn chí nguyện mà hành và giải chưa đủ; ắt cần hành giải tương ưng th́, cái nguyện mới chẳng hỏng. Nhược bằng, có hành mà không nguyện; th́ cái hành ắt phải côi quạnh; có nguyện mà không hành th́ cái nguyện ắt phải lép. Vậy biết, vừa hành vừa nguyện được song toàn; mới là tương ưng.

    : Chỏi đ̣n dông nhà là cây đống. Đội cây đống là cây lương. Đều có nghĩa là nó hay cơng đội nóc nhà.

    Nay đây mượn hai chữ “đống lương”, để tỷ là bực thầy thợ, hay làm đống lương trong pháp môn, do v́ hai ngôi Phật bảo, Pháp bảo đều nhờ ngôi Tăng bảo để hoằng truyền, nên nói “Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân”, thực thế.

Thốt lời, cần quan thiệp với điển chương, nói chuyện, phải bàng thông nơi kê cổ. Dung nghi phải đúng đắn, chí khí cho rỗng rang.

    Hai câu trên lời nói có gốc gác. Hai câu dưới thân tâm tỏ đồ sộ. Nghĩa là, nói năng phải hợp lư nơi kinh điển, luận bàn cốt đúng do rộng xét xưa. Chẳng nên đem ư kiến đặt điều, đồng như lời ma thuyết.

    Song, trí hiểu đủ th́ lời nói không lầm, công hạnh đầy th́ vững vàng cao rảnh. Lại, trong chứa đủ trí đức Bát -nhă, tâm rảnh hướng về một nơi, các tṛ đời danh lợi thanh sắc không thể làm động đến chí cả. Hằng dùng cái đạo hạnh để tự xử, nên nói là “ư khí cao nhàn”. Ngoài bày đủ giới đức uy nghi, chẳng giống hạng phàm, siêu quần quán chúng, thế là “h́nh nghi đĩnh đạt).

    : Bực Cao Tăng như ngài Pháp An là một Tăng nhân xứng đáng, cái thân của Ngài cao tám thước, có ba đặc điểm tuyệt vời: 1-Tư cách đặc sắc, 2-Hiểu nghĩa tột sâu, 3-Tinh tấn sạch ḿnh.

    Cảnh Đức Vân pháp sư nói “ôn làu giáo pháp ba tạng của biển giáo, xem suốt lời lẽ Sáu Kinh (17) của rừng nhu (18). Nói không quấy bàn, lời có sách cứ”. Đây gọi cũng thế.

    Điển là điển tịch, tức các kinh luật luận. Chương là chương chú, là những bài giải thích trong các kinh luật luận. Bàng là gần bên. Kê là khảo xét, là những lời và câu của các vị cổ đức.

II.A.2.a4- Trạch hữu (Chọn bạn).

Đi xa cốt nương bạn lành, thường thường lóng trong tai mắt; dừng ở ắt phải chọn bạn, hằng hằng nghe chỗ chưa nghe. Nên nói “Người sanh ra ta là cha mẹ, kẻ nên cho ta là bậu bạn”.

    Hai câu trên đi đường nhờ bạn giúp ích; hai câu kế đó ở đâu phải cần bạn lợi lạc. Hai câu sau là công đức sanh thành.

    Đại ư rằng ra đi nơi đường xa, cốt nhờ bạn lương thiện, thường lấy những lời lợi ích để trong sạch nơi tai nghe mắt thấy; cư trú với chỗ nào, phải có bạn hiền, hằng đem những pháp chưa được nghe khiến cho ta nghe đó. Hễ tai mắt thanh sạch th́, chỗ thấy biết chân chánh, nghe chỗ chưa nghe th́, cái huệ thắng giải phát sanh. Thắng giải sanh là tỏ ngộ vào pháp vô sanh; kiến thức chánh là chẳng bị người ta lừa dối.

    Thế  nên, cha mẹ có cái ơn sanh cái thân xác cho ta, thầy bạn có cái đức thành lập huệ mạng cho ta. Sở dĩ, được nghe rồi nhớ, tu, giác ngộ và chứng nhập, sanh trưởng pháp thân, thực là do cái sức lực của sư hữu đấy.

    : Giả: nhờ. Lương bằng: thiện hữu. Lại, bằng là anh em bạn đồng học một thầy. Hữu là anh em kết bạn đồng chí.

    Chọn bạn, sách Gia Ngữ chép  “Người quân tử, hễ ở đâu, ắt phải chọn bạn, muốn đi dạo chơi đâu, cũng ắt phải chọn phương hướng”.

    Văn Trung Lễ Nhạc nói “Người quân tử, trước chọn lựa rồi sau mới kết bạn, nên về sau ít có sự lỗi lầm; đứa tiểu nhân kết bạn trước rồi sau mới chọn lựa, nên nhiều khi oán trách nhau. Nên chọn kẻ lương thiện để rồi theo, thấy người bực hiền mà lo ḿnh cho bằng, thế là khéo chọn bạn có ích đấy”.

    Như  lời Xả Duyên Minh chép  “Với tà sư, ác hữu, sợ dường sói cọp; thầy tốt bạn hiền, mến như cha mẹ. Hạ ḷng sát đất, ngọng miệng như ngây, xô đổ cái cờ ngă nhân cao cử, thủ tiêu cái mầm khí kiêu căng”.

    Tổ  Vĩnh Gia nói “Rộng hỏi bực tiên tri, sau khi quyết trạch phải cẩn thận đối xử, như noi đi trên giá mỏng! ắt phải nghiêng tai mắt, vâng tiếng mầu, nghiêm căn trần để thưởng lẽ nhiệm. Quên lời nói, yêu chỉ, rửa tư lự, ăn vị hèn, tối kính sợ, sớm hỏi han, chẳng cho lộn xộn một tơ một tóc. Được như thế rồi th́, mới có thể ẩn h́nh nơi núi hang, để được vắng cái cảnh trần lụy, dứt cái ồn nhân quần”.

Gần gũi người lành, tỷ như  đi trong vùng sương móc, dù  không ướt áo, mỗi giờ có  nhuận.

    Câu trên thân với người lành, ba câu dưới lợi ích của lành giúp. Thân phụ nghĩa như thân cận. Người lành tức các thiện tri thức là lương bằng.

    Sương móc dụ thiện hữu. Hành: đi, là tỷ dụ  thân cận. Dù chẳng ướt áo là dụ chưa chứng quả. Có nhuận là dụ sự hữu ích của thiện hữu. Nghĩa là, thân cận người thiện, mặc dù chưa được liền chứng quả vô sanh, mà sớm được nghe, chiều được ích, đủ để nhuần nhă, thấm thía vào ḷng dạ.

    Như  kinh Bổn Hạnh Phật thuyết kệ rằng “Như có tay cầm hương trầm thủy (19), và cầm xạ hương, hoắc hương… (20), cầm hương giây phút thơm thấm tay; gần gũi bạn lành cũng như thế”. Nếu người thân cận thiện tri thức, tùy thuận kia những chỗ hành nghiệp, dù chẳng hiện chứng lợi thế gian, nhưng sau sẽ đặng hết khổ nhân.

    Lại, gặp nhau với thầy lành, đặng khỏi mọi điều khổ, nếu gặp nhau với thầy ác, sẽ tập làm sự ác, chẳng khỏi các tai họa! Để lời nhắn người sau, chẳng khá chẳng ǵn dè!?

    : Bậu bạn giúp nhau, rằng lệ trạch (ánh gội) kia đây lẫn nhuần, dường mưa gội. Sách Tông Kính nói “Người mà tuy có cái trí mưu ngoài đời, nếu chẳng có người bạn tốt hơn để khai giác cho th́, người ấy chưa có thể tự ḿnh giác ngộ được, v́ thường mê vọng trái với đạo, nên cốt phải nhờ có lương hữu”.

    Thiện tri thức. Tri là được người nghe danh tiếng. Thức là bị người thấy thân h́nh. V́  người ấy giúp ích cái  đạo Bồ -đề cho ta nên gọi là  thiện tri thức.

    ác sư: thầy ác tục (21), thí như phía bắc sông Hà, với người không môn, không cấm cái tục bắt rắn. Bọn ông A --tra(22) Tỳ-kheo, thực vậy.

    Nghĩa là tại xứ miền Bắc sông Hà  (nay là sông Hoàng), người người thường có  cái phép thuật bắt rắn không bị  độc.

Gần quen với kẻ ác, thêm lớn những tri kiến ác, sớm tối gây việc ác, bị quả báo liền trước mắt, chết rồi trầm luân, một khi mất nhân thân, muôn kiếp khó đem lại.

    Câu trên là thân cận với kẻ ác. Sáu câu dưới là nói rơ những quấy lỗi của việc ác. Lại, câu thứ hai là cái kiến thức ác. Câu thứ ba là nguyên nhân ác. Câu thứ tư là quả báo hiện tiền. Câu thứ năm là trả quả ở đời sau. Câu thứ bảy là sẽ chịu báo cách nhiều đời về sau, nghĩa là sau đời sau.

    ác tập là gần gũi, xông ướp lấy thói quen, tức là ông ác tri thức bọn bất lương.

    Thêm lớn tri kiến ác: do bị xông ướp, nên thêm lớn cái thấy ác giác (23) bất chánh. Nên kinh nói “Chính ḿnh không biết, lại không có bạn lành, ắt bị bọn ác hữu làm trọng thương cái chánh hạnh! Tỷ như nhền nhện sa vào trong sữa, tất nhiên sữa ấy biến thành chất độc!

    Mơi chiều tạo điều ác: chỗ kiến thức đă  bất chánh lại trọn ngày chỉ tạo những nghiệp bất thiện.

    Trả  liền trước mắt: đă chứa nghiệp nhân từ nay, ác quả cũng từ đây đưa đến, v́  nhân quả chẳng mất, nên nói liền trả báo trước mắt.

    Chết rồi trầm luân là chết rồi phải đọa xuống tam đồ.

    Như  chỗ Phật đă nói “Nếu người mà thân cận với bạn ác tri thức, hiện đời chẳng được tiếng tăm tốt, ắt bởi thân cận nhau với ác hữu, qua đời sau cũng đọa xuống ngục A -tỳ”.

    Một khi mất thân người là từ đời nay mất hẳn cái thân của loài người.

    Muôn kiếp chẳng đem lại là cái nhân ác chả mất, thế th́ những quả ác cũng khó hết! Nên những hạng đắc nhân thân rất ít, tỷ  như chút đất dính nơi móng tay; c̣n hạng đọa xuống nơi tam đồ th́ quá nhiều, tỷ  như bụi đất khắp trên mặt đại địa. Chúng sanh ở nơi tam đồ mà muốn đắc lại nhân thân thực quá ư rất khó, tỷ như rùa gặp được cái lỗ bộng của khúc cây mục trôi giáp ṿng nơi chơn núi giữa biển há chẳng gian nan ru!?

    : Hiện báo đời nay làm thiện hay làm ác, liền chịu quả báo hiện tiền trong đời nay, nên gọi là hiện báo.

    Sanh báo đời nay, chỗ  đă làm thiện hay tạo ác, qua đời sau mới chịu quả  báo, nên gọi là sanh báo.

    Hậu báo với chỗ đă tác thiện hay ác trong đời nay, khi chết rồi về sau hoặc đời thứ nhứt chưa trả, th́ đời thứ hai, hoặc là đời sau, nhẫn đến trăm kiếp, ngàn đời mới trả, nên nói là hậu báo.

    Nghiệp nhân tức là tam độc tham, sân, si, thập ác, do cái nghiệp nhân đó mà, phải bị những ác quả nơi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh tại đời tương lai. Chao ôi! Cái ngày của địa ngục quá dài, mà cái thọ mạng của chúng sanh ở đấy khó hết.

    Nếu chịu tội ở địa ngục chưa hết mà, cái thế giới này đến thời phải hoại th́, lại đem tội nhân gởi qua nơi địa ngục ở thế giới phương khác. Măi như thế, đến chừng nào trả tội báo nơi địa ngục hết rồi, mới đọa vào loài ngạ quỷ; tại ngạ quỷ, cái thọ mạng cũng vô cùng; đến chừng chịu tội nơi ngạ quỷ hết rồi, mới sanh vào loài súc sanh; luân hồi làm những thân của các con trâu,, ngựa, cầm, thú đến các h́nh hài cá, cua đinh… Đó, chịu sanh cái thân phi chủng loại, nên nói “vạn kiếp nan phục”.

    Rùa gặp lỗ bộng. Kinh Khổng Tước chép rằng “Thí tỷ khó đặng cái nhân thân, như giữa biển cả, có một ḥn đảo. Tại chơn đảo, có một khúc cây mục, cây mục có lỗ bộng, tùy gió thổi trôi giáp ṿng từ đông tây qua nam bắc. Trong biển mé núi, có con rùa đui mắt, trải qua một trăm năm mới ngóc đầu một lần, mà nó muốn chun vô cái lỗ bộng để nương đi kiếm ăn, nhưng than ôi! Biển đă mênh mông, cây theo gió giạt, rùa lại không có mắt, mà mỗi một trăm năm mới một lần ló đầu ra, muốn cho gặp đặng cái lỗ cây mục kia, há dễ ǵ được ru!?

    Biển: sanh tử hải. Núi: ngũ  uẩn sơn. Cây: thân tứ  đại. Rùa: chúng sanh. Gió: gió  nghiệp. Tra: cây nổi trong nước. Kinh nói “Manh qui phù mộc vị kỳ thường…”

II.A.2.a5- Kiết hối (xâu kết lời dạy).

Lời ngay trái tai, há chẳng ghi chạm vào ḷng ấy ru?

    Câu trên là chỉ thị lời dạy; câu dưới là  khuyên phải duy tŕ.

    Người xưa nói “Đắng miệng chính là thuốc hay, trái tai ắt là lời thẳng”.

    Với niềm bà tâm, lời khích thiết của Tổ Linh Hựu Đại Sư như thế, dẫu là người sắt  đá đi nữa cũng phải cảm động đổ mồ  hôi! Mà kẻ có huyết tánh khá chẳng cả sanh ḷng biết xấu hổ, ghi khắc nơi tâm phủ, để làm như qui bói, gương soi trọn đời ru!?

II.A.2.a6- Tiềm tu (tiềm tàng ẩn tu).

Mới có  thể, gội tâm nuôi đức, vùi tích giấu danh, chứa tinh thần sẵn (24), phải dứt hẳn cảnh ồn ào.

    Hai câu trên là với trong tâm th́ tẩy trọc, ngoài thân danh th́ phải ẩn hối (25). Hai câu dưới là nội tâm phải uẩn súc, ngoại cảnh phải chỉ tuyệt.

    Hễ  là người muốn rửa sạch nơi tâm, vun bồi cội  đức th́ ắt phải ẩn tích mai danh, chứa sạch lóng thần mà, phi dứt hẳn cái cảnh huyên náo th́ chẳng thể được.

    Gội sạch tâm th́, liền trừ được vọng hoặc tập nhiễm; nuôi lớn đức th́, cái đạo thể tự cao; tinh thần chứa th́ sáu căn điềm tịnh; dứt huyên náo th́, tư lự vặng lặng, tinh thần an ninh; ẩn danh tích th́, người nhân gian và thần khuất mặt (26) chẳng thể xét thấy được. Chừng đó, hoặc trú bên suối nước, hoặc ở dưới rừng cây, để trưởng dưỡng Thánh thai (27) là nghĩa đâu gọi thế chăng?

    : Rửa, nuôi, chứa và học tập, là cái nhân bên trong, tu là phần tự lực; vùi, giấu, dứt, bặt, là cái duyên bên ngoài, tức là phần trợ lực.

    Song, cái thể tánh chân như, vốn vẫn trống sạch, mà bị vô lượng phiền năo trần cấu bấm nhuộm, nếu nay chẳng mượn cái duyên ngoài xông ướp lẫn nhau với cái nhân trong, để mỗi mỗi đào thải cho triệt để th́, không do đâu thanh tịnh được, hầu khôi phục lại cái thể sáng suốt của chân như xưa.

    Nên Khởi Tín Luận nói “Do v́ dẹp bỏ phiền năo, nên hành giả cần phải xa ĺa cái cảnh reo ồn, thường ở chỗ vắng lặng, để tu tập các hạnh đầu đà…”

    Tổ  Qui Sơn nói “Mặc dầu đă nhứt niệm đốn ngộ được cái chân lư của tự tánh rồi, nhưng, hăy c̣n có những tập khí (chủng tử) của bao đời từ vô thỉ kiếp, chưa có thể chóng liền trong sạch ngay với nhứt niệm đốn ngộ ấy, nên cần phải dạy ngươi dẹp bỏ cho sạch hết những cái thức lưu lộ nơi nghiệp (thân ba, khẩu bốn, ư ba) hiện tiền, đấy tức là tu vậy, chớ phi có cái pháp ǵ riêng khác, ḥng dạy ngươi để thú hướng tu hành đâu?

    Cốt là, từ nghe mà hiểu vào lư, nghe và  lư đă tiến đến chỗ thâm diệu th́, cái tâm nó tự tṛn sáng, chẳng c̣n lẩn quẩn ở nơi địa vị mê hoặc (kiến hoặc, tư hoặc…) của chúng sanh trong tam giới.

    Lấy cốt yếu mà nói “Th́ chỗ lư thực tế chẳng bợn một mảy bụi (sự chướng), trong môn vạn hạnh (sự tu) không bỏ một pháp”.

    Nếu thế, tỷ như chỉ  cầm một mũi đao xông ngay vào trận tuyến (28) th́, cái phân biệt là Thánh (bốn Thánh) là phàm (sáu phàm) đều sạch tất thể chân lộ ra, lư sự phi hai, tức như như Phật đấy.

    Chứa tinh thần (29) sẵn cái linh minh tột bực của tâm gọi là tinh; với linh minh mà khó xét lường được gọi là thần.

    Tâm thể càng yên tịnh mà, hành tướng càng quảng th́  (phổ biến) cùng với cái thái hư (30) hợp đức; tinh thần chứa mà, tâm rất sáng suốt, vắng lặng mà thường tỏ soi.

    Nên Tổ Vĩnh Gia nói “Phát khiển cái tinh thần xưa cho trong sạch th́ phong nghi (thái độ) nó vẫn cao thượng. Tâm thần trong, vọng lự sạch, nghiên cứu đến mức ngỏ mà c̣n nghiền ngẫm nữa”. Đấy cũng gọi thế chăng?

    Dứt hẳn cảnh ồn ào là với trong th́  chứa cái trí chân không của Bát -nhă,  để lóng tinh thần; với ngoài th́  lánh cái tṛ hay đẹp của sắc thanh, để sạch sáu căn. Được thế, là do nạp thụ lời nói ngay mà mới có thể được như thế.

    Hối tích cũng như ẩn tích, là  vùi giấu tông tích. ẩn danh ẩn tàng. Hiêu: chỗ  huyên náo. Điềm: đạm bạc vô  vi điềm tịnh.

II.A.2.b- Thiền giáo.  
 Chia làm hai phần:

b1-Thiền học. 
b2
- Thiền lư.

II.A.2.b1-Thiền học.  
 Chia làm hai phần:

b1a- Thị pháp. 
b1b
- Tán miễn.

II.A.2.b1a- Thị pháp (chỉ rơ cách học thiền)

Như  muốn tu pháp tham thiền  đặng học cái đạo vô  thượng, để chóng vượt qua các pháp môn phương tiện th́, phải xét thấu lẽ tinh yếu (31) đặng cho cái tâm nó khế hợp bến mầu(32), quyết chọn chỗ kín nhiệm, để mở tỏ tánh chân nguyên.

    Hai câu đầu là nêu cái tông lên. Câu thứ 3 là đắc cái diệu chỉ. Câu 4, 5 là cùng tột cái lư. Câu thứ 6 là đạt đến cái nguồn. Lại, câu thứ 3 là thấy đạo. Câu 4, 5 là thao thủ tiển lự, tức t́m ḍng. Câu 6 là tỏ gốc, tức thấu nguồn.

    Tham là tham cứu pháp thiền trực chỉ; học là học cái đạo Vô thượng.

    Chóng vượt qua pháp môn phương tiện (33) là tuyệt hẳn pháp quyền thừa (34), chẳng sa mỗi giai cấp (35).

    Tâm khế hợp bến mầu là một niệm hệt nhau, liên hợp với đạo.

    Xét thấu lẽ tinh yếu. Nghiên: xét. Cơ: tâm u vi: cái tâm nó rất u huyền, rất vi diệu, khó thấy khó rờ được. Nghĩa là, nghiền xét cái thể u vi chí lư của tự tâm, nên nói là tinh yếu.

    Quyết chọn chỗ kín nhiệm: dùng cái trí huệ vô  lậu, để quyết đoán chọn lực, bỏ những cái thô thiển mà, lựa lấy phần u huyền.

    Mở tỏ tánh chân nguyên là cùng nguyên cực để  vậy.

    : Phương tiện là pháp tạm thích hợp dễ dàng, tức là giáo pháp quyền thừa. V́, giáo có quyền thực, nghĩa là, pháp mà quyền là thuộc về sự tướng; pháp mà thực mới cùng lư, nên nói là cùng nguyên.

    Như  trải tam a -tăng-kỳ (36) kiếp (ba vô số kiếp), rộng ra, tu đủ sáu độ muôn hạnh, để chứng lần lên tam hiền, thập thánh, đó, đều gọi là quyền thừa.

    Kinh Tư ích nói “Người tu Phật mà đắc cái chánh tánh của các pháp (37), chẳng lần hồi chứng từ một quả địa này, đến một quả địa nọ, nên nói là bất lạc giai cấp”.

    Rằng một niệm hệt nhau liền hợp với đạo: Nếu đặng một niệm xứng với chân như th́, c̣n hoặc đâu mà đoạn, c̣n lư đâu mà chứng, c̣n hạnh đâu nữa khá tu, c̣n quả vị đâu nữa khá đắc, nên nói là liền hợp với đạo (chân như tâm).

    Tâm tuy đă khế hợp với đạo, nhưng mà chủ lực chưa được tự do, v́ mắt c̣n thấy có cái huyễn tướng mà tâm chưa trừ cái quan niệm phân biệt ưa ghét, tiền trần vốn không mà chưa giải thoát được sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu thế th́ nên dùng cái trí như huyễn (38), để đoạn cái huyễn hoặc (39), chứng cái huyễn lư (40), tu cái huyễn hạnh (41), cầu cái huyễn vị (42). Nên nói: Nghiền xét cái chí lư của tự tâm, chọn lấy phần u huyền.

    Chỉ  cần, với “hoặc” đoạn đến chỗ vô đoạn, với “quả” th́ chứng đến chỗ vô chứng. Đến đó, mới nói là cùng nguyên cực để.

    Tổ  Khuê Phong nói “Song, một cái hạnh tu thiền định, rất là thần diệu, v́ nó hay phát khởi cái vô lậu trí huệ trên tánh. Phải biết rằng tất cả phép diệu dụng, muôn hạnh muôn đức, cho đến phép thần thông, ánh quang minh, chi chi, cũng đều từ nơi thiền định mà phát sanh. Nên các hành nhân tu tam thừa, muốn cầu chứng lên Thánh đạo (Phật quả), ắt phải tu tham thiền, rời thiền định ra th́ không c̣n cửa ngơ đường lối nào hơn”.

    Chí  ư, hành giả tu niệm Phật, cầu sanh tịnh thổ  (ñoä), cũng phải tu mười sáu pháp thiền quán, cùng các pháp niệm Phật tam muội, ban châu tam muội…

    Lại, chân tánh tức bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, dầu lục phàm, tứ Thánh, vẫn  đồng chân tánh ấy, chứ không sai khác. C̣n thiền môn th́ sự lư tu chứng có  thiển có thâm, giai có  khác bực.

    Nhưng, nếu tu thiền mà kèm theo cái kế lạ, như ham muốn bực trên, chán nhàm bực dưới (43), thế là cách tu thiền của ngoại đạo (44).

    Người có tâm chánh tín với lư  nhân quả để tu thiền bằng cách cũng ham trên chán dưới, là phàm phu thiền (45).

    Kẻ  tu thiền mà nguyên  đă giác ngộ được cái lư  ngă không thiên chân (46), tu thiền như thế là Tiểu thừa thiền.

    Hành giả mà đă giác ngộ  được ngă không, pháp không, hiển hiện ra cái chân lư, như thế mà  tu thiền, là Đại thừa thiền.

    Bằng đốn ngộ được tự tâm, xưa nay vẫn thanh tịnh, nguyên không có phiền năo (các vọng hoặc), vốn tự trọn đủ cái vô lậu trí tánh, tâm đây tức Phật, cứu cánh không khác, người mà được thế, y nơi Thiền để tu, là Tối thượng Thiền, cũng gọi Như Lai thanh tịnh Thiền, cũng kêu là Nhất hạnh tam -muội, cũng tên là Chân như tam muội, đấy là căn bản của tất cả tam muội; nếu hay mỗi niệm như thế, đều tu tập thiền định, th́ tự nhiên dần dần đắc trăm ngàn tam muội.

    Môn  đệ của Tổ Đạt -ma, lần lựa truyền trao cho nhau, đó là pháp Tối thượng Thiền  đây vậy.

    Khi tổ Đạt -ma chưa đến về  trước, từ xưa, các đấng cao tăng đều nương tu theo bốn pháp Thiền trước (ngoại  đạo thiền, phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền và  Đại thừa thiền), và  Bát định (47), đều được có công dụng.

    Đến các Tổ Thiên Thai, Nam Nhạc… đều bảo các học giả y nơi cái lư tam đế mà, tu pháp tam chỉ, tam quán. Giáo nghĩa: Đế, Chỉ, Quán ấy, tuy tối diệu tối huyền, nhưng, cái thứ lớp tiến vào môn hộ, cũng chỉ là cái hành tướng của các thiên trước kia, người mà thực học chân tu theo Đế, Chỉ và Quán ấy, được chứng lên giai thê tam Hiền thập Thánh.

    Duy Tổ Đạt -ma sở truyền ra, đồng ngay với Phật thể, khác xa với các thiền môn kia, nên các học giả tu tập theo thiền môn của Tổ Đạt -ma, phần nhiều khó đắc tông chỉ hễ đắc là mau chứng Bồ -ñeà, liền thành Phật ngay, nếu thất th́ thành tà ma, chóng vào nơi đồ thú, thế là cũng tùy nơi căn khí của mỗi hành nhân.

    Nhưng, phải biết cái danh Thiền tuy đồng, mà chỗ nhập môn chẳng phải một. Hễ thâm nhập một môn nào, cũng được chứng đạo quả cả. Tỷ như một vị thuốc thạch cao, mà dược tánh nó phân ra có lạnh và nóng, thạch cao sản xuất ở phía Nam th́ tánh chất nó lạnh; c̣n thạch cao phát sanh ở miền Bắc th́ tánh chất nó nóng. Người bị nhiệt bệnh, nên uống nam thạch; kẻ phải lănh bệnh, nên dùng bắc thạch. Dùng lành bệnh là hơn; thế, với cái cốt yếu của đạo xuất thế, học giả cần nghiệm lấy tâm bệnh của ḿnh, nên tu pháp dược nào cho hợp cách mà, tự ḿnh quyết lấy.

    Tam đế: một Chân đế, hai Tục  đế, ba Trung đế. Nghĩa là, phải xét cái tâm nhứt niệm, nó tức sẵn  đủ cái pháp tam đế như quán cái tâm vẫn không th́, tất cả pháp đều không, tức là Chân đế; như quán tâm giả th́ tất cả pháp đều giả, tức là Tục đế; nếu quán tâm trung th́ cả thảy pháp đều trung, tức là Trung đế.

    Đấy là tam đế mà tức tam quán v́ tam quán đây, toàn do nơi tánh phát sanh, chứ hẳn phi tu thành, nên với nhứt tâm, rơ ra có ba tác dụng, chính chỗ bảo nhứt tâm tam quán, thực thế.

    Lại, tam không ngại với nhứt, tức là  viên dung tam đế, rộng như chỗ khác giải thích.

    Tam chỉ: một là thể chân chỉ, tức là  rơ thấu cái vô minh, vọng tưởng tức là  cái chân của thực tướng. Hai, phương tiện tùy duyên chỉ: dầu tùy duyên trải cảnh mà  tâm an bất động. Ba, li nhị  biên phân biệt chỉ: chẳng phân biệt những cái hiện tượng sanh tử Niết -bàn và hữu vô.

    Bát  định: Với trung gian của mỗi: Nhứt thiền, Nhị  thiền, Tam thiền và Tứ thiền, đều có hai định là  sắc và không.

Rộng hỏi bực tiên tri, gần gũi các bạn lành. Với thiền tông này, khó đặng chỗ mầu nhiệm, rất phải chín chắn dụng tâm. Trong đó ngộ được chánh nhân là ra khỏi tầng bực cảnh trần (tam giới).

    Hai câu đầu là tham cứu, xin hỏi nơi thầy bạn. Hai câu kế là tông thẳm, lư rất sâu. Hai câu sau là ngộ được bổn nhân th́ vọng hoặc trừ sạch.

    Là  nói cái tông Trực Chỉ Thiền đây, chính là  tâm địa pháp môn, phi hạng người thô tâm thiển học mà có thể đắc cái mầu của nó.

    Nên phải tham vấn bạn tri thức, xin thêm các thiện hữu mới ngộ được chân nguyên là chánh nhân của tâm địa. Cái hoặc gụt sạch, các nghiệp cổi mở, dần dần ra khỏi trần lao. Nên gọi rằng “Với lư dù đă đốn ngộ, với sự phải trừ lần lần”, thực thế.

    : Tiên tri thiện hữu là phần chính duyên, muốn đặng chơn chánh nhân, ắt phải được sự giúp đỡ nhau của phần chính duyên.

    Đă huyền lại huyền nữa, nên nói là Diệu. Phàm Thánh đă cùng đường rồi nên nói rằng tông u. Chỗ mà lời nói ư nghĩ chẳng thể đến kịp, nên gọi là lư trí. Không có cái trí tột thẳm, gọi là thô tâm. Không khắp tham rộng hỏi, gọi là thiển học.

    Tổ  Vĩnh Gia nói “Cần phải rộng hỏi bực tiên tri, th́ chính ḿnh phải nép ḷng thành khẩn, quỳ gối chấp tay, tâm ư chỉnh, dung nghi đoan, sớm tối quên nhọc, thỉ chung kính ngửa, hi sanh thân khẩu, dẹp bỏ trễ lờn, chẳng đoái h́nh hài. Đó, người mà chuyên tinh nơi chí đạo như thế, mới khá gọi lóng thần nơi vuông tấc”.

Thế  th́ phá tan tam giới, hai mươi lăm loại hữu (48).

    Câu trên là nói chung. Câu dưới là nói riêng. Đây là nói rơ y báo, chánh báo của chúng sanh ước lược (tóm tắt) về y báo th́, chia tam giới, hai mươi lăm xứ; luận về chánh báo th́, đủ bốn sanh, mười hai loại hữu (49).

    Thế  th́ là lời đề cử trên, chường rơ  dưới. Do v́ tham thiền mà được đốn ngộ, ra khỏi cơi trần, nên phá tiêu được cảnh mê mờ tam giới và hai mươi lăm loài hữu.

    Nguyên v́, tam giới là do cái tâm thức (a-lại-da) gầy dựng (tưởng trừng thành quốc thổ), nên hễ tâm hết mê mà giác ngộ lại rồi th́ tam giới bị phá tan (tỷ như thức giấc rồi th́ cảnh chiêm bao không c̣n nữat); hai mươi lăm hữu từ nơi vọng hoặc mà thành lập (tri giác năi chúng sanh), nên hễ vọng hoặc đoạn trừ rồi th́ hai mươi lăm hữu hoàn không (ví như hết bệnh ban bạch rồi th́ không c̣n thấy kỳ h́nh dị tướng ǵ).

    Nên kinh Lăng Nghiêm nói “Các pháp (sự vật) sở sanh ra, là duy tâm sở hiện; hết thảy nhân quả, thế giới, mảy bụi, đều do nơi tâm mà thành thể (tâm sanh chủng chủng pháp sanh), nên một người phát minh được chân quy nguơn (chân tâm) th́, người ấy thấy mười phương thế giới đều tiêu diệt ráo (vạn pháp ṭng tâm diệt)”.

    Cổ  đức nói “Nếu người mà biết được tự tâm, đại địa không c̣n tấc đất (50)”.

    Đây th́, nhứt niệm đốn ngộ được tự tâm, là cả tam giới, hai mươi lăm hữu trọn không thể c̣n (51), thế là bị phá tan cả.

    Tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

    Nhị  thập ngũ hữu: Nói sơ lược th́ tam hữu, nói rộng th́ cửu hữu và nhị thập ngũ  hữu. Do v́, để phá tà, khiển chấp, nên nói phân biệt ra như thế.

    Nội dung của Dục giới th́ có bốn châu, bốn ác thú và sáu Dục thiên; Sắc giới th́ có  trời Phạm vương, trời Vô tưởng, năm trời Tịnh Cư cả Tứ thiền, cộng mười tám cơi trời Phạm; Vô sắc giới th́ có bốn trời Không; cả ba giới cộng là hai mưới lăm hữu.

    Song, trời Phạm Vương, trời Vô Tưởng và năm trời Tịnh Cư đều ở trong bốn Thiền thiên, mà lại nêu riêng cái tên ra như thế là, v́ các phái ngoại đạo họ kể trời Phạm vương là thường sống c̣n vĩnh viễn, bởi họ chấp trời Phạm vương là ông thiên chủ sanh hóa ra vạn vật; c̣n phái th́ chấp trời Vô tưởng là cơi Niết -bàn, v́ họ vọng tưởng rằng Vô tưởng tức là vô tâm; phái th́ chấp rằng năm cơi trời Tịnh cư là cảnh giới chân giải thoát.

    Thế  nên trong các kinh luận chỉ riêng ra tên của ba trời ấy (Phạm vương, Vô tưởng, Tịnh cư) là để  phá những tà chấp của ba phái ngoại đạo kia.

    : Có chỗ nói: “Giữa năm trời Tịnh Cư, có chỗ Đại Tự Tại Thiên Vương, người bên ngoại đạo họ chấp rằng vị Thiên Vương kia là có thể làm căn bản sanh ra mọi vật, hễ quy đầu về đó th́ được giải thoát; đức Như Lai v́ phá cái bệnh tà kiến kia, nên kinh luận cũng nêu riêng tên trời ấy.

    Bốn châu: Đối với núi Tu -di phía  Đông là châu Thắng Thần; phía nam là  châu Thiệm Bộ; phía Tây là  châu Ngưu Hóa; phía Bắc là  châu Cu Lư.

    Tứ ác thú: A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

    Sáu trời dục: 1-Trời Tứ vương, 2-Trời Đao -lợi,  
3
-Trời Dạ -ma, 4-Đâu-Suất-Đà thiên, 5-Hóa Lạc thiên, 6-Tha Hóa Tự Tại thiên.

    Bốn Không thiên: 1-Trời Không xứ, 2-Trời Thức xứ, 3-Trời Vô Sở Hữu xứ, 4-Trời Phi Phi Tưởng xứ.

    Tứ thiền thiên: Sơ thiền có  ba trời: trời Phạm chúng (trời dân); trời Phạm phụ  (trời quan); trời Phạm vương (trời vua). Nhị  thiền có ba trời: trời Thiểu quang, trời Vô  Lượng quang, trời Quang âm. Tam thiền có ba trời: trời Thiểu tịnh, trời Vô Lượng tịnh, trời Biến tịnh; Tứ thiền có chín trời: trời Vô vân, trời Vô tưởng, trời Phước sanh, trời Quảng quả, trời Vô thiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện kiến, trời Thiện hiện, trời Sắc Cứu cánh. Năm cơi trời sau đó, tên là Ngũ Tịnh Cư Thiên, chính là chỗ ở của Thánh nhân quả thứ ba hiệu là A -na-hàm cùng bốn quả Thanh văn, nên cũng gọi là năm trời A -na-hàm (ba cái biển).

    Trời Phạm vương ở nơi trung gian trời Sơ thiền và trời Nhị thiền. Trời Vô tưởng ở trong Đệ tứ thiền.

    Rằng Cửu hữu tức là Cửu địa: lấy nhân gian, thiên thượng (sáu dục thiên) ngạ  quỷ, súc sanh, địa ngục của Dục giới chung lại một địa; bốn Thiền thiên của Sắc giới làm bốn địa; bốn Không thiên của Vô sắc giới làm bốn địa. Cộng là chín địa.

Các pháp bên trong và ngoài, đều biết chẳng thực, từ nơi tâm biến hiện, thảy  đều giả danh (52).

    Hai câu trên là cái tướng chung; hai câu dưới là cái tướng riêng. Trong th́ thân tâm, ngoài th́ khí giới. Lại, trong là bốn uẩn, ngoài th́ sắc uẩn. Bốn uẩn là tâm, sắc uẩn là thân. Cái thân tức bốn đại tổ thành ra, cái tâm chính là bóng của sáu trần duyên vào.

    Khí  giới là cái cảnh của chúng sanh nương ở, tức là ba ngàn cả ngàn thế giới. Số của thế giới tuy nhiều, mà chẳng ngoài tam giới. Chúng hữu t́nh tuy đông mà không ngoài hai mươi lăm hữu. Cả thân tâm và khí giới như thế, đều từ nơi vọng niệm mà có; cái vọng tâm nó không có tự thể, do phân biệt mới sanh ra nó. Rơ cái tâm và cảnh ấy luống dối, biết là chẳng thực có th́, cả thân tâm và khí giới lập tức không thể c̣n được.

    Từ nơi tâm biến hiện thảy đều giả danh: Tất cả  chúng sanh nhận lầm: bốn đại làm cái thân tướng của ḿnh, cái bóng của sáu trần (53) duyên qua làm cái tâm tướng của ḿnh. Chứ có biết đâu bốn đại mượn gộp, trong đó không có ta làm chủ và chẳng có cái ǵ là sở hữu của ta, v́ tất cánh vẫn là không.

    Thế  mà chúng phàm phu mê mờ quên mất cái Pháp thân của ḿnh, nên mới chấp bậy lấy bốn đại làm tự thân tướng. Phải biết sáu trần là cảnh, thức thể là tâm. Tâm đối với căn trần tức có cái tướng (hiện tượng) duyên lự sanh khởi. Sáu trần là cảnh sở duyên (bị duyên), vọng thức là tâm năng duyên (chủ quan). Sáu trần không thực tế, dường như cái ảnh tượng (như cái bóng chiếu trong gương), là từ nơi cái cảnh sở biến của thức, nên cả cái thể của sáu trần tức là không. Thành thử cái tâm duyên lự vốn không có thực. Nhẫn đến mê vọng sanh khởi những thành kiến phân biệt rằng lục phàm, tứ thánh… nên nói thảy đều là giả danh.

    Hiểu thấu được như thế, tức nhiên biết được cái tâm tánh bấy nay (54) vẫn thường là không là tịnh, trọn đủ tṛn sáng th́, hoặc đă là chẳng thể làm mê nhiễm mà, trí giác lại cũng không làm thanh tịnh thêm, v́ tâm nó là chân giác linh minh, thể nó là rỗng vắng lóng trong, vốn phi như cái tâm duyên lự.

    Thế  mà chúng sanh đă lâu lắm rồi, bị mê  mờ quên cái tâm ấy, nhận lầm cái tâm bằng ảnh tượng phan duyên lục trần là cái vọng niệm thoạt khởi thoạt diệt, thực là luống dối mà cho là tự tâm, đó rồi cứ mỗi niệm, mỗi niệm theo măi, thế nên quanh quẩn đi lại với hai mươi lăm hữu giữa tam giới!

    : Tâm tánh bấy nay đă là phi nhiễm phi tịnh, mà cớ sao lại bị sáu căn, sáu trần và sáu thức làm mê hoặc?

    Nguyên do, chúng sanh hồi rốt trước (55), cái “tâm bất giác” mà khởi vọng niệm đảo điên (56), th́ ra tâm bất giác cùng ḥa hợp nhau với cái “niệm sanh diệt" mà tổ thành ra cái “thức a -lại-da”; lại do v́ chấp lấy kiến phần của thức ấy làm “pháp sở hữu” của ngă (57), rồi dần dần chuyển sanh ra bảy cái thức kia (58), cộng thành tám món thức.

    Mỗi thức đều do nơi thức thể  của ḿnh mà sanh khởi ra phần năng kiến, do nơi năng kiến đó, nên thấy tựa hồ  như có ngoại cảnh hiện lên, rồi chấp lấy hiện tượng đó định là  thực tế, mà tạo ra mỗi mỗi nào là biệt nghiệp, nào là cộng nghiệp; nên với trong th́ cảm niệm lấy tự thân, với ngoài th́ cảm thụ lấy khí giới (59).

    Thế  nên biết, tất cả chư  pháp, đă do thức sanh khởi (vạn pháp duy thức) nên hiểu hết thảy đều là chẳng thựùc.

    Thấy phân biệt có phàm có  thánh: trong cơi chân như, không hẳn cái danh giả  dối của chúng sanh và  chư Phật; giữa huệ  b́nh đẳng chả có  cái tướng phân biệt của ta và  người là cái cớ tuyệt  đối đó vậy.

    Bổn văn bốn câu, không ngoài hai pháp là  sắc và tâm, th́ biết rằng: nguyên sắc pháp là do nơi tâm pháp tạo ra, nên toàn thể  sắc tức là tâm. Nên kinh nói: “Cả tam giới không pháp chi riêng hơn chỉ là nhứt tâm tạo tác ra (tam giới duy tâm)”.

    Tỳ--sa nói: “Cái tâm nó hay v́ tất cả pháp mà đặt danh này tự nọ, nên hễ vô tâm th́, không có cả thảy danh tự. Đấy, phải biết cả danh tự của thế gian và xuất thế gian, đều do nơi tâm để sanh khởi”.

Chẳng dùng đem tâm (thức thứ sáu) so ước tính toan, chỉ t́nh (sáu thức) chẳng trú  trước nơi vật (sáu trần) th́  vật há làm chướng ngại với người.

    Câu trên: răn chớ để ư so lường; câu kế: dạy phải tâm nên ĺa cảnh, câu dưới: là nói cảnh chẳng làm pḥng ngại tâm (thế là chẳng bị hoàn cảnh lôi cuốn, v́ tâm đă tự chủ).

    Nguyên là, cái chí lư rỗng mầu, mà hễ vừa toan nghĩ đến là sai xa với thể của nó. Tâm cảnh vốn là trống không, mà hễ vừa tính đến tức lầm to, v́ tâm không cảnh tịch. T́nh mà quên luôn chấp và bỏ, th́ cảnh nó tự nhiên im lặng, tức th́, chí lư (chân tâm) hiện tiền, thế, c̣n vật ǵ đâu mà làm trở ngại người?

    Chính là cái chỗ mà ông Bàng Uẩn bảo rằng: “Chỉ ta vô tâm với vạn vật, ngại chi muôn vật thường vây quanh”.

    Đức Tam Tổ nói: “Muốn lấy pháp Nhứt thừa, chớ ghét cảnh lục trần, với sáu trần chẳng ghét, tức đồng Phật chánh giác. Kẻ trí tự vô vi, người ngu tự trói buộc; pháp vẫn không pháp lạ, ḷng vọng có ham yêu, đem tâm và dụng tâm, há chẳng là lầm to”.

    : Đă là biến sanh, giả danh, th́ c̣n dùng toan tính ao ước chi? Song, t́nh và vật tức là vọng cảnh cả, tâm nguyên nếu dứt vọng niệm, th́ cả pháp giới đồng vặng lặng, c̣n vật ǵ đâu nữa làm ngần ngại người?

Tha hồ  pháp tánh nó giáp thông, chớ dứt chớ nối (chớ hề phân biệt thủ  xả chi).

    Câu trên là đắc tánh. Câu dưới là khế lư. V́ đă chẳng làm chướng ngại người, nên mặc ư để nó khắp lan.

    Pháp tánh cảnh vật (60). Nghĩa là, tâm mà chẳng khởi quan niệm vọng th́ pháp nào pháp nấy toàn là chân như. ở trong chúng hữu t́nh th́ kêu là Phật tánh, tại giữa vật vô t́nh th́ gọi pháp tánh. Pháp nào cũng như pháp nào vốn tự như như, thể nó thường phẳng lặng, dường như chỗ hư không, rỗng rang khắp giáp sa số thế giới.

    Thế, nếu đem tâm mà thủ lấy là bị  mê mờ, c̣n cố ư xả bỏ đi th́ bị tán thất. Hoặc đoạn tuyệt, hoặc tiếp tục, tức đọa về đoạn kiến, thường kiến; chẳng thủ chẳng xả mới là hợp lẽ mầu.

    Nếu là người có thể chứng đắc cái chánh tánh của các pháp th́, nằm ngang nơi pháp giới, tha hồ để cho nó lưu thông phổ biến, tự tại, tiêu dao, vô ngại vậy.

    : Đoạn là diệt, tục là thường. Thường tức là hữu, diệt tức không, th́ ra, sanh diệt, đoạn thường, không hữu, danh dù lạ mà nghĩa đồng nhau. Thủ tức là tục, xả tức là đoạn, nên đọa về hai bên, xả bỏ hai bên, nên khế hợp với lư trung đạo.

    Nếu  đem cái vọng tâm chấp thủ  lấy danh tướng, tức là  tùy nơi cảnh mà sanh diệt, nên hoặc  đoạn hoặc tục. Chân tâm không trú trước, nên mặc ư giáp thông, khắp giáp phổ thông, nên không nhứt định trụ vào đâu cả. Vô trụ, nên rỗng khắp giáp cả sa giới.

    Thanh Lương quốc sư nói: “Chí đạo gốc là cái tâm, tâm pháp vốn là vô trụ. Cái tâm thể vô trụ, thiên biết chẳng mờ tối, tánh tướng vẫn vắng lặng trùm bọc cả đức dụng, suốt thu hết trong ngoài, vừa sâu vừa rộng, phi có phi không, bất sanh bất diệt, vô thỉ vô chung, t́m kiếm đă chẳng đặng, xua bỏ lại chẳng ĺa. Mê quên hiện lượng (61) th́ nào hoặc nào khổ lăng nhăng, tỏ nhớ chân tánh th́ là không là minh (62) rỗng suốt.

     “Dầu tức tâm tức Phật, duy kẻ đă chứng rồi mới biết, nếu c̣n có chứng có biết th́, huệ nhựt (63) bị ch́m mất nơi chỗ có (64). C̣n như kẻ mà không chiếu không ngộ th́, mây mờ che bít nơi không môn (56). Nếu tâm không sanh một niệm vọng, th́ dứt hẳn cái ranh trước sau, soi thấy bổn thể riêng rảnh tự tại, vật ta đều như, đến tận nơi tâm nguyên, không trí không đắc, bất thủ bất xả, không đối đăi, không tu chứng.

    Song, cái mê nó nương nhau với cái ngộ, vọng đối đăi nhau với chân, nếu t́m chân bỏ  vọng, tỷ như muốn bỏ  cái bóng bằng cách chạy tránh dưới ánh nắng nhọc thân, nếu rơ vọng tức là chân, tựa hồ đến chỗ âm u, tự nhiên cái bóng mất.

    Nếu không tâm tưởng, quên xét soi, th́  muôn điều tư lự  đều mất luôn, bằng mặc ư  vắng biết, th́ các việc công hạnh mở toang. Buông rộng, tha hồ đi,, lặng soi biết thấu nguồn ḍng. Nói, nín chẳng mất huyền vi (66), động tĩnh chưa ĺa pháp giới. Rằng “chỉ” th́ vừa mất biết, vừa mất vắng, bàn “quán” th́ vừa soi vắng vừa soi biết nói “chứng” th́ chẳng thể giơ ra cho người xem, thốt “lư” th́ phi chứng chẳng thể rơ.

     “Là bởi, ngộ vắng th́ không vắng, thực biết th́ không biết. Do biết và vắng là cái nhứt tâm chẳng hai, tức khế ngộ cái trung đạo bằng cách không, hữu đôi mất”.

Nghe thanh thấy sắc, số là tầm thường.

    Câu trên nhĩ căn nhăn căn đối nhau với thanh trần sắc trần. Câu dưới rơ thấu tâm cảnh. T́nh quên cho và tạ, như cái gương đối ảnh tượng mà  gương nó không có cái tâm thủ xả ǵ, nên nói là tầm thường.

    Ngài  Đâu Suất Duyệt nói tụng rằng: “Thong thả mà đi, mỗi bước đều như; dù đối sắc thanh, đâu xa không có, nhứt tâm phi lạ, muôn pháp không khác”.

    Tổ  Qui San nói: “Trong tất cả giờ, thấy nghe tầm thường, lại không ch́u vạy, cũng chả nhắm mắt bít tai; chỉ t́nh chẳng nương nơi vật, th́ tức nhiên là được”.

    Từ trước, các đức Thánh, chỉ nói những điều quá hoạn bên ngũ trược; nếu chẳng có  bao nhiêu sự ác giác, phàm t́nh, thành kiến, vọng tưởng, tập quán, th́ tỷ như hồ nước mùa thu lóng đứng, trong sạch, không ǵ xao bợn, im lặng không chi ngần ngại, với người được thế, kêu là Đạo nhân, cũng tên là Vô sự nhân.

    : Giác quan nghe, thấy là thuộc về căn; cảnh tượng thanh sắc là thuộc về trần, trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp là sáu cảnh trần; c̣n cái mà tri giác là tâm.

    Nhưng, biết tâm nó ĺa niệm, rơ  cảnh vốn không. Tai nghe, mắt thấy, mà chẳng khởi cái nghe thấy là chân hay vọng ǵ hết, nên nói là tầm thường.

    ông Bàng Uẩn cư sĩ nói: “Chỉ ta vô tâm với vạn vật, ngại chi vạn vật thường vây buộc; trâu sắt chẳng sợ sư tử rống, in tuồng người gỗ xem chim vẽ (67): chim vẽ gặp người cũng chẳng sợ, người gỗ thể nó vốn vô t́nh. Tâm, cảnh như như chỉ thế ấy, lo ǵ quả đạo Phật không thành”.

Bên  đây bên kia, ứng dụng chẳng thiếu.

    Câu trên đắc cái thể. Câu dưới đắc cái dụng. Trước kia đề cử lên căn: thấy, nghe; trần: thanh sắc th́ đă trùm nốt tất cả các pháp. Pháp nào pháp nấy trọn ḥa, sự nọ lư kia lẫn suốt; cả thân ta ứng đối với sự vật, thể, dụng trọn bày; co, ṿng, cúi, ngửa, ngang, dọc tự thong dong, chạm mắt đều chân, gặp duyên thụ dụng.

    Chỗ  gọi rằng tùy gặp đến cơ duyên cũng bất ngại, ứng đối với sự vật vẫn bất câu. T́nh hết phân biệt thị phi, ḷng không chán ham phàm thánh. Ai đâu đắc, ai đâu thất? Người nào thân, người nào sơ? (vô phân biệt trí)

    Đem đầu làm đuôi, chỉ chắc làm ớp, dấn thân cơi ma quỷ, nêu gót đường tà sư. Rơ phi thuận nghịch, chả phạm công phu.

    Nên ngài Đại Châu nói: “Người mà đă hiểu đạo rồi, đi,, ngồi, nằm, không đâu chẳng là đạo; kẻ nào đă ngộ pháp rồi dọc, ngang tự tại, không đâu là chẳng phải pháp.

    Đức Tứ Tổ nói: “Rỗng rang không chi ngần ngại, mặc ư đi dọc đi ngang, chẳng làm hữu lậu thiện, không tạo hữu t́nh ác, khi đi, lúc ở, hồi ngồi, thuở nằm, chạm thấy đến mắt, gặp gỡ nơi duyên, chi chi cũng đều là những tác dụng vi diệu của Phật sự cả”.

    Chỗ  gọi là  (Hoa Nghiêm hiệp luận): niệm nào, niệm nào cũng đều như Thích -ca xuất thế, mỗi bước mỗi bước cũng dường thể Di -lặc hạ sanh. Phân biệt là hiện cái trí (sai biệt trí) của đức Văn -thù; động dụng là vận cái hạnh (đại hạnh nguyện) của đức Phổ Hiền.

    Môn nào môn đều đưa ra niệm cam lộ, vị nào vị toàn vẫn là mùi đề hồ. Chưa ra khỏi rừng Bồ -ñeà, vẫn ở biển Hoa tạng. Rỡ rỡ không trần nào chẳng thấu suốt; mơi mơi mặt nhựt lên sáng soi. Há cần lời diệu biện để rao bày; nào mượn phép thần thông để chỉ rơ.

    Đấy là bực vô sự đạo nhân (68), mới xử dụng được đại tự tại như thế đó, mà phi cái tâm thức cảnh giới của hạng phàm phu có thể biết được đâu, chỉ người nào đă đắc, tức là như như Phật đấy.

    : Chính nơi toàn thể tánh chân như pháp giới mà, phát khởi ra tất cả các pháp của thế gian và xuất thế gian. Thế th́, cả các pháp toàn là do nơi tự tánh ấy sanh khởi. Nhưng, sanh khởi mà không do cái chi khác để sanh khởi, chỉ do nơi toàn thể của tự tánh ấy mà sanh khởi, nên toàn thể tức là dụng, toàn dụng tức là thể. Thể dụng trọn bày, sự lư lẫn suốt.

    Nên mới được mặc ư phơi phới, thể  giáp dụng khắp, bởi vậy nên  được thông thân ứng vật.

    Từ trên đến đây, là  nói hiểu thấu sự lư  thể dụng; dưới này chính là  nói rơ cái đức dụng ra. Do v́  cái đức đại dụng vô  cùng, cơ hóa độ  trùm tất cả.

    Người mà được như thế, mới có  thể với trên, đáp  đền bốn ân với dưới, cứu giúp ba hữu, nên nói: “Qua lại ba giới, v́ làm pháp tắc cho chúng (69)”.

II.A.2.b1b- Tán miễn (khen gắng).

Thực hành chỉ, tác như thế, hẳn không uổng bận pháp phục, cũng là đều được tứ ân, cứu vớt tam hữu.

    Hai câu trên nói rơ phần tự ích. Hai câu dưới nói rơ về tha ích. Nghĩa là, tu và hành được như trên đă nói th́, thực là  chẳng luống uổng ở trong đoàn thể tri môn.

    Đă thế mà lại đức hạnh đầy đủ, tứ ân tự nhiên nhờ lợi ích. Truyền xướng khắp nêu chánh pháp ra, cả tam giới đều được thấm nhuần lợi lạc!

    : Pháp phục tức là Ca -sa. Đọc đủ tiếng Phạn là KaÅya (ca-sa-dệ), dịch là: màu không chính, màu đă hoại, nghĩa là dùng hoặc xanh, đen và mộc lan, ba màu ấy nhuộm đúng như màu pháp (là thâm thâm, ửng đỏ), v́ các đức Như Lai cả ba đời, đồng bận y đây, nên nói là pháp phục; kẻ mà bận nó, có thể dứt được phiền năo, nên lại tên là Ly trần phục; chúng long được đeo một rẻo liền khỏi cái nạn chim đại bàng bắt ăn, nên tên là Cứu long y; cũng tên là Nhẫn nhục khải; cũng tên Liên hoa phục; cũng tên Giải thoát phục; cũng tên là Phước điền y. V́ nó có mỗi mỗi công năng, thành thử có những danh nghĩa như thế, nên Phật ngài chế tác ra, dạy phải mang theo thân, chẳng đặng rời cách nó mà đi nghỉ chỗ khác.

    Sự Sao nói: “Phật dạy phải kính cẩn hộ giữ ba pháp y như cưng giữ da mỏng nơi thân của ta; giữ b́nh bát như giữ tṛng con mắt; đều chung kính như ngồi tháp, thường phải đem theo bên thân, tỷ như cái cánh mà khi bay lúc chạy, con chim nó thường cũng chẳng ĺa nhau”.

    Mỗi văn trong các bộ luật, đều dạy phải đem theo thân; ngày nay, nhiều tăng chỉ hộ khi ngủ nghỉ không rời mà thôi, thế chẳng hợp pháp. Đă nói: thời đại ngày nay, hiếm có hộ trong lúc ngủ, huống chi thường mang theo thân. Phần nhiều có kẻ trọn đời, thân không pháp phục! Thế th́, với đời mạt pháp, chỉ hộ trong khi ngủ nghỉ, cũng c̣n có phần hơn.

    Chỉn bởi, người thiếu đức tin thanh tịnh, lờn pháp khinh y, nên hiện tiền đến lúc  đau ốm, thân thể ĺa ca -sa, đời sau đọa địa ngục phải mang cái y bằng sắt! Đó, kẻ chân chánh xuất gia, nên kính thuận lời thánh huấn, chớ tự khinh thường!

Mỗi  đời đều có thể  chẳng lui, th́ với ngôi Phật quyết  định khá hẹn, qua lại làm khách tam giới, ra vào v́ làm qui tắc cho kẻ  khác.

    Hai câu trên là tự làm, hai câu dưới là dạy người. Nghĩa là mặc dù đă đốn ngộ  được tự tâm rồi, nhưng, với phiền năo quá  nhiều như vi trần, hà sa, hơi hám thói quen (chủng tử) từ vô thỉ, phi chỉ nội trong một ngày nay mà có thể đào thải hết được; nên cần phải gội ḷng, nuôi đức, tập trung lại những tinh thần sẵn, mới chẳng bị cái mê mờ của thân ngũ ấm gián cách (70), và có thể mỗi đời chỉ tiến không thối, hoặc tập hết, trí đức tṛn, pháp thân hiển lộ, mà quả Phật tự chứng.

    Từ  đây, không bị trụ nơi sanh tử của lục phàm, không trụ nơi Niết -bàn của tứ quả Thanh văn, dùng đại bi phụ giúp lẫn nhau với đại trí, vận  đức từ vô duyên (71), độ thế giới hữu t́nh. Tùy loại chúng sanh, chia mỗi thân ứng hóa, vào chốn triền phược (72) (phiền năo) mà như thả tay tự tại, ḥa đồng cảnh trần, để nhen ánh đạo, khỏi ṿng sáu thú (lục đạo), cùng chúng sanh làm kẻ bạn chẳng đợi mời, để khai thị quỉ tắc cho nhân thừa, thiên thừa cả tam thừa.

    : Khoa trước mở tỏ nguồn chân, là để khế ngộ cái “tánh chân như nhân địa Phật” của tự tâm; khoa đây nói Phật giai đồng chính là chứng “cứu cánh quả vị Phật” vậy.

    Muốn cho chẳng bị cái mê  mờ về thân ngũ ấm sau cách với thân ngũ  ấm trước, th́ cầu cho được cái tâm đây thường thường đừng mê muội, mới có  thể ra vào (sanh diệt) mặc ư  ḿnh, tự do qua lại nơi tam giới.

    Hoặc  có người hỏi: Đă chứng Phật giai là đắc quả Vô sanh, cớ sao lại c̣n có xuất một (sanh diệt) ư?

    Đáp: Chư Phật chứng đắc cái cảnh giới Vô trụ xứ Niết -bàn, phi đồng với sở chứng của Nhị thừa là khôi thân đoạn trí, vô dư Niết -bàn (73), nên chư Phật không bị trụ nơi sanh tử của lục phàm, cũng bất trụ nơi Niết -bàn của tứ quả Thanh văn mà, suốt cả đời vị lai thường làm lợi lạc cho chúng hữu t́nh.

    V́  nếu trụ nơi Niết -bàn th́, chẳng có  cái đức dụng độ sanh; c̣n trụ nơi sanh tử th́, chẳng có cái công dụng đoạn trừ các chướng. Do đó hay đoạn chướng, lại hay độ sanh, nên gọi là “vô trụ xứ”, dù ở đời vị lai, đủ vô lượng cái đại dụng lợi sanh, mà thể tánh vẫn vắng lặng, nên gọi là “Niết -bàn”.

    Lại, trong Phật giáo có đôi pháp môn là  quyền và thực, chân và  tục. Trong môn Chân đế  (đạo), th́ đều bặt hẳn những cái tâm phân biệt là thánh phàm là  vô hữu; trong môn tục  đế  (đời) th́, chẳng không cái tâm nào Thánh phàm nào duyên sanh. Thành thử, hễ có cảm là theo ứng, để làm qui tắc cho kẻ khác.

    Rằng ḥa quang đồng trần ấy; Ḥa là  xen lẫn; quang là trí  dụng; trần là cái cảnh bụi bặm ô  nhiễm giữa tam giới lục đạo mà các đấng thánh nhân xen lẫn vào trong, lấy cái trí quang giáo pháp, để mở mang dắt dẫn, như “tứ nhiếp pháp”.

    Châu triền: giáp ṿng, tức là  văng lai xuất mộc vậy.

Một pháp thiền học đây, rất nhiệm rất mầu, nhưng tỏ khứng ḷng, ắt chẳng lừa (đánh lừa) nhau.

    Hai câu trên là tán thán đạo vô thượng. Hai câu dưới là khuyên gắng tiến tới.

    Rằng: Một tông ngoài tam tạng giáo pháp đây, nó  là cái tướng văn tự, tu học bằng cách tuyệt hẳn nơi ḷng, không sa nơi giai cấp là quả vị của tam thừa, v́ là chỉ ngay nơi nhân tâm, để thấy tự tánh thành Phật mà thôi, thế là tối diệu tối huyền! Chỉ e người đương sự ḷng tin chẳng kịp! Nếu mà thâm tín không nghi, khứng ḷng quyết chí, sấn sướt tiến tới ắt không lừa dối lầm nhau.

II.A.2.b2- Giáo lư.  
 Chia làm hai:

b2a- Thị giáo. 
b2b
- Giới miễn.

II.A.2.b2a- Thị giáo.

Nhược bằng có tu sĩ bậc trung lưu, chưa có  thể đốn siêu được như thiền học trên th́ nên để tâm nơi giáo pháp, đặng ôn t́m bối diệp.

Hai câu trên nói rơ căn cơ. Hai câu dưới là  rơ giáo pháp. Do đức Như Lai Ngài tùy nơi tŕnh độ mà lập thành giáo khoa, quán sát căn cơ truyền trao pháp yếu, nên mới có phân ra tam thừa, mười hai phần giáo - và có một môn khác lạ là “giáo ngoại biệt truyền” như niêm hoa vi tiếu.

    Thoảng hoặc như kẻ tu Phật mà chưa có thể  chóng vượt khỏi môn phương tiện th́, ắt phải  để ḷng nghiên cứu cho thuần thục giáo điển. V́ hễ văn tự đă thuần thục th́ nghĩa lư tự nhiên rơ bày. Tỷ như nhân ngón tay (kinh) của người chỉ (thầy) mà ta thấy được mặt nguyệt (lư). Chính chỗ gọi “t́m theo ḍng mà thấu tận đến nguồn” là thế.

    Kư:  ở đây chẳng nói đến trung sĩ và hạ sĩ là, với hạng người bực trung, có thể dùng nói đến bực thượng. C̣n kẻ hạ sĩ, hễ họ nghe đến câu chuyện đạo th́ họ lại chê cười, thành thử đây chẳng chép dùng đến!

    Lại phải để ḷng nơi giáo pháp ấy, là  e chẳng phải chính con (nhứt niệm bất sanh) của Sư tử (Phật) th́ chẳng thể từ nơi chỗ không (bất lập văn tự) để day trở ḿnh (chuyển uẩn thân y Pháp thân), nên lại phải đi men dọc theo khe (pháp lưu), ḍ lần bên vệ đường (giao đạo), mới khỏi bị cái hoạn nạn tán thân thất mạng (74). Thành thử khiến phải vừa ôn lại bài cũ, vừa t́m học bài mới (ôn tầm bối diệp), để đặng từ nơi giáo lư mà ngộ vào chân lư.

    Bối diệp tức là kinh điển cả  tam tạng. Đọc đủ  tiếng Phạm là Pattra (Bối-đa-la), dịch là ngạn ảnh: bóng ngàn, nghĩa là, thân cây ngay tót vượt khỏi lên cao. Thân cây nó hơi giống cây tông lư (cây kè) ở xứ này (nước Tàu), đă ngay lại cao. Lá nó khá dài và rộng, màu nó sáng và mướt. Bên nước Tây Trúc biên chép kinh sách đều dùng lá bối.

    Bối-đa-la, tiếng người Việt gốc Miên kêu là  cây thốt lốt; mà có  cả ba thứ thốt lốt; ở tại miền tây nam Nam Việt, người Miên có trồng được một thứ. Kinh bằng lá thốt lốt, khéo giữ th́ năm, sáu trăm năm nó mới hoại (mục).

Ṛng xét nghĩa lư, để truyền xướng khắp nơi, tiếp dẫn hậu lai, để đền trả  ân đức của Phật.

    Câu  đầu là tự học hành; hai câu kế là giáo hóa người; câu rốt là trả đức.

    Muốn trả ân của Phật, ắt phải truyền giáo dẫn dắt người. Nên có bài kệ rằng:

Dẫu đầu  đội Phật trải trần kiếp, 
Thân làm giường, tọa khắp ba ngàn, 
Nếu chẳng truyền pháp độ chúng sanh, 
Rốt đều không thể trả ân được.

    Vả  chăng, người mà muốn nêu truyền chánh pháp th́  cần phải trước lo ôn tầm bối diệp, ḍ thấu chỗ thẳm mầu, nghiền xét cả tánh tông, tướng tông, tột hết nghĩa lư, chẳng sa trệ nơi thuyên  đề (75) (nơm, rập) vẹt bày tông thú (76) mở dạy lớp sơ cơ, khiến chúng giác ngộ vào chân lư, thế mới là báo đáp ân đức của Phật.

    Kư: Khoa trên dạy phải xét thuộc giáo văn, khoa đây khiến phải t́m tột nghĩa lư. V́ nghĩa là chỗ sở hiểu của giáo pháp, lư là chỗ sở qui của sự nghĩa.

    Thuyên  đề: với cái nơm là  cốt để bắt con cá, rập là  dùng để gài được con thỏ. Nghĩa là  tạm dùng hai vật ấy là  cốt để bắt cá  thỏ, chứ phi hai vật ấy là  cá thỏ. Cũng như ngón tay là v́ để chỉ mặt trăng, người biết phải nhân ngón tay để thấy mặt trăng, chứ phi chấp ngón tay là mặt trăng, tức kinh sách là để nêu cái thâm ư của Phật chỉ rơ chân tâm, người học phải hiểu thâm ư để ngộ chân tâm, chớự nên chấp nơi ngữ ngôn văn tự, nên nói là đắc ư vong ngôn. Được thế, mới không sa trệ nơi nơm rập, ngón tay và ngữ ngôn.

    Nên Kinh nói “Giáo pháp khế kinh, tỷ như nêu ngón tay chỉ mặt nguyệt, nếu nhận thấy được mặt trăng (Bồ-đề nguyệt là giác tánh) th́ rơ biết chỗ ngón tay nêu kia là phi nguyệt. Người mà biết được như thế, mới có thể nhân giáo tỏ tâm, chả mê mờ nơi ư chỉ của kinh để rồi làm việc tự lợi lợi tha, trả ân đức Phật. Người học tu Phật muốn được như vậy, thực là Tăng bảo trong đạo Phật của nước nhà vậy.”

Với giờ, phút cũng chẳng luống bỏ, ắt phải lấy  đó giúp đỡ, giữ ǵn, đi, đứng, nằm, ngồi đủ  uy nghi, chính là pháp khí giữa chúng tăng.

    Câu  đầu ngợi khen cái đức cố gắng tinh tấn. Câu thứ phú chúc chống chỏi chánh pháp. Hai câu dưới nói sự hành tŕ xứng đáng. Hoàn toàn như trên: trí hiểu, sự làm, trả ân  đức Phật, th́ là chẳng bỏ mất qua tấc bóng giờ phút vậy.

    Nay cách với thuở Phật Thánh đă xa, vắng tiếng thuyết pháp đă lâu, nếu chúng ta chẳng gắng sức phù tŕ th́, ngày Pháp diệt ở gần  đây, thế rốt cuộc phi báo đức được.

    ắt phải trung kiên chí khí, đội giữ chánh pháp, tu ḿnh, độ người, giác ngộ và hành tŕ dần dần viên măn, gọi là chân chính báo ân.

    Đă thế, đức đầy hạnh đủ, trong lư tánh, ngoài sự tướng hiệp dấu (in nhau), tôn nghiêm ngôi Tăng bảo, bực thầy, thợ giữa nhân gian và thiên thượng, tức sứ giả của Như Lai, v́ thực hành pháp sự của Như Lai.

    Nên ngài Trường Lô Trách thiền sư nói “Bực thượng thượng cơ, chỉ một đời là đức và hành dùng xong; c̣n kẻ sĩ bực trung lưu cần phải trưởng dưỡng thánh thai (77); chí như người chưa giác ngộ được tự tâm nguyên, th́ trong mỗi giờ cũng chẳng bỏ trống qua sự học lư tu, để rồi, với gần th́ làm tân lương (78) cho đời mạt pháp, với chỗ rốt sau th́, chứng đến cực quả nhị nghiêm (79)”.

    Kư: Như Lai sứ: Tăng mà ban truyền tông chỉ của Phật nên gọi là sứ. Sứ tức là chỗ sai khiến, nghĩa là đem luật nhân quả của Phật ra để tuyên truyền, nên tên là Như Lai sứ hành Như Lai sự.

    Đức sung túc, hành đầy đủ, trong ngoài hiệp dấu, thế là  đi đứng uy nghi vậy. Ngôi Tăng bảo tôn nghiêm, làm thầy thợ chốn nhân thiên nên nói là Tăng trung pháp khí (80).

    Kinh Hoa Nghiêm nói “Tăng mà thụ tŕ uy nghi và giáo pháp được đầy đủ hoàn toàn th́, hay làm cho ngôi Tam bảo chẳng gián đoạn”; số là hai ngôi Phật bảo và Pháp bảo đều do nhờ ngôi Tăng bảo hoằng truyền. C̣n chỗ tồn tại của ngôi Tăng Bảo, phi giới luật th́ bất thành lập! Nên nói “Hễ Tăng mà thuận theo giới hạnh uy nghi th́, Tam Bảo được thường trụ cửu tŕ, trái lại, hễ vi phạm đến th́, chánh pháp bị lật úp tiêu diệt! Thế, biết rằng với uy nghi, chẳng khá chẳng giữ cho đủ ru.”

Há chẳng thấy dây cỏ các nương cây tùng, lên cao ngàn tầm; nương tựa thắng nhân, mới hay rộng ích.

    Hai câu trên là lời dụ. Hai câu dưới là chỉ  thị phương pháp. Tùng là dụ cái thắng nhân. Cỏ các là dụ nương tựa. Ngàn tầm (81) là dụ ích lợi rất rộng răi. Thắng nhân tức giáo lư. Phụ thác là nương tựa, tức là quán trí. Nghĩa là lấy trí để quán xét cái lư, hầu chứng ngộ vào quả vô sanh, chỗ thấy biết tày bằng với bực Phật. Có cái huệ biện luận vô cùng, khắp nên hoằng pháp lợi ích nhân sanh, thực là chân pháp khí.

    Kư: Lại, cây tùng dụ lư; cỏ các dụ trí; dùng trí quán xét lư, đặng thắng đệ nhất nghĩa đế của Pháp thân.

    Dẫu chưa thân chứng đệ nhất nghĩa đế của Pháp thân, mà pháp nhăn đă sáng, chẳng bị thanh, sắc đánh lừa, mới có thể truyền xướng phu dương để giúp ích cho mọi loài.

    Có  hai cách rộng ích: 1-Rộng ích cho phần ḿnh, v́  thấy tày bực Phật. 2-Rộng ích cho người, v́ khắp nêu lợi vật.

    Rằng đệ nhứt nghĩa đế  là cái lư “tối thượng thậm thâm” thể nó lóng sạch, vắng lặng, tánh nó rỗng trống, dung ḥa, không danh, không tướng, tuyệt bàn tuyệt nghĩ, chân tục phi hai, không hữu đều chẳng phải v́ chỉ hiển rơ nghĩa trung đạo, nên nói là đệ nhất nghĩa đế. Lại, chẳng sa vào các con số và lượng nào hết, nên nói là đệ nhất.

    Như  Kinh nói “Tuy nhứt, cũng chẳng phải là nhứt, v́ để ngoài các số kia.”

Gắng tu tŕ trai, giữ giới, chớ gian trá mà bỏ thiếu, vượt lớp qua, mỗi kiếp mỗi đời, nhân quả tốt lạ.

    Hai câu trên nói cái nhân tốt của giới; hai câu dưới nói cái quả đẹp của giới. Khẩn: khẩn thiết, cố gắng. Tu: tu tŕ, chữ trai là nói “tày”, do mỗi bữa ăn cứ tày một chừng mực giữa ngày sánh đồng với chư Phật, nghĩa là thực hành sự như lư của trung đạo.

    Lại, Phật ngài muốn ngăn dứt cái tập nhân của sáu thú  (đạo) nên khiến chư tăng bữa ăn phải đồng với chư Phật. Như Kinh nói “Các trời ăn bữa sớm mai; chư Phật ăn bữa giữa ngày; có một loại bàng sanh ăn lúc mặt nhựt đă xế về tây; quỷ thần ăn lúc mặt trời sắp lặn tối. Chúng tăng đă học theo Phật, nên bữa ăn phải từ nơi nhựt trung.”

    Song, lúc trước giữa giờ ngọ được ăn ấy, là  để tiêu biểu rằng tiền phương tiện được cái nghĩa có chứng; c̣n sau giữa giờ ngọ  chẳng đặng ăn đó là, để nên tỏ  rằng ngoài cái tánh pháp giới, lại không c̣n pháp ǵ riêng khác nữa.

    Hoặc có kẻ hỏi: Với bữa ngọ thực như  trên th́, bực trung sĩ v́ hộ tŕ giới điều là phải như thế, chứ bực thượng sĩ  làm ra chẳng hạn ở nơi luận ấy.

    Đáp: Thượng sĩ tức Đại sĩ là Bồ -tát th́, các ngài hộ giới c̣n cần cấp hơn Thanh văn; các Ngài sợ cái tội nhỏ cũng như sợ lỗi to. Với Lịch Đại Tổ Sư, chúng tôi chưa nghe có một Tổ nào phá trai phạm giới.

    Như  ngài Thanh Lương quốc sư (82) tức Hoa Nghiêm Bồ -tát tự lấy mười điều luật (83) để nghiêm chỉnh thân nghiệp, ngài Vĩnh Gia chẳng chịu ăn thứ rau do dưới lưỡi cuốc của người xới trồng; ngài Trung Phong chẳng rời cái đăy lược nước; đức Ca -diếp tôn giả, là đầu tiên được Phật truyền tâm ấn, làm vị Tổ trước nhứt giữ tu hạnh đầu đà đến trọn đời. Giữa ngày ăn một bữa, trước giờ ngọ không ăn, phần nửa sau của giờ ngọ chẳng uốơng nước của trái cây ép ra.

    Sự ăn của các Ngài như thế là, chính v́ để dứt cái tập nhân (84) của chúng sanh trong tam giới, chẳng mắc vào cái quấy lỗi của hai bên, thực hành cái chính đích của trung đạo, cũng là để tiêu biểu rằng đốn siêu pháp phương tiện, chẳng do nơi môn hộ (lớp lang của tam thừa) mà để chứng nhập ngay nơi Như Lai thất.

    Hỏi: Việc tu trong Phật giáo, có bốn cách:  
1-Thừa (kinh luận) cấp giới (giới) huởn. 2-Giới cấp thừa huởn. 3-Thừa giới câu cấp. 4-Thừa giới câu huởn; mà ở đây (85), th́ với giới, tựa hồ như khá huởn mà, với thừa phải khá cấp chăng?

    Đáp: thừa là lư, giới là sự. Sự do lư mà thành lập; lư nhân sự để sanh hiển. Người mà có sự tu, có lư chứng, đều viên dung, mới gọi là thượng sĩ (Bồ-tát).

    Tỷ  như với con chim đủ cả hai cánh, nếu thiếu một nào giữa hai cánh ấy th́, mất cái bay lượn nơi muôn dặm. Như người sẵn đủ hai con mắt, nếu hư một con nào giữa đôi ngươi, tức không có cái quán chiếu lẫn dùng nhau.

    Nên chi, người mà tu về thừa th́ cấp (chuyên cần tụng kinh, nghiên cứu luận) mà với giới luật th́ huởn đăi, kiếp sau đọa làm thân A -tu-la hoặc ngạ quỷ, nhưng, c̣n được nghe pháp.

    Người mà do đều cần cấp cả thừa lẫn giới, kiếp sau được sanh hoặc làm người, hay làm trời, rồi đặng ngộ đạo. Thế, đối với học tu kinh luật luận hay giới định huệ, huởn cấp ưu liệt thế nào, đây khá thấy hẳn.

    Giới là ngừa điều phi, dứt việc ác, diệt trừ cả tam độc.

    Khuy du: Khuy: khuy khuyết là, đối với giới, có  vi phạm. Du: du việt, tức vượt bỏ giới luật mà  chẳng học.

    Thù  diệu nhân quả: nhân quả tốt đẹp, do v́  giữ giới được nghiêm tịnh, nên hiện đời th́  thân tâm trong sạch, về sau đời đời được trả lại cho cái thân thể đoan trang, nghiêm chỉnh, nhẫn đến cái ḿnh vóc đủ ba mươi hai tướng tốt, muôn đức rực rỡ là thân Phật, đâu chẳng lấy giới luật làm nhân. Nhân do v́ cái nhân tốt lạ, nên chi cái quả phải nhiệm mầu. Nếu mà, chẳng giữ giới, hăy c̣n chẳng đắc phục nhân thân thay, huống nữa đâu đặng cái quí thể đầy đủ công đức là, hoàng kim măn nguyệt tướng ư!

    Lại, thụ giới mà không giữ cho được thanh tịnh, vả chẳng có ḷng chánh tín, dù có cái khoa ngôn ngữ, tài hùng biện, lời lẽ trôi chảy thao thao bất tuyệt như sông treo suối đổ đi nữa mà, sự làm, lư hiểu đều trái th́, đâu có thể “truyền xướng phu dương báo Phật ân đức” được ư?

    Các nhà thiền học ngày nay, đă khinh lờn giới luật của Phật, lại trái lời dạy răn của Tổ, hăy phi là người tín ngưỡng, đâu gọi là bực thượng sĩ, th́ làm ǵ có thể phu dương lợi vật, ban truyền tâm ấn của Phật được ru!?

    Kư: Quả tương: nước nhựa của trái cây, là lấy các thứ trái cây ép ra nước, lược xác, nước lóng trong, gạn lấy phần trong sạch để uống.

    Các  đức Phật cả ba đời, bữa ăn chẳng qua giữa giờ ngọ ấy, là tánh của chư Phật thường xử nơi trung đạo. Thế nên, đức Như Lai từ lúc giáng đản nơi cung vua, cho đến khi nhập Niết -bàn, với trong thời gian đó, chưa hề có ăn bữa phi thời. Nên Luận nói “Đức Như Lai là tánh Ngài xa ĺa bữa ăn phi thời”.

    Nên Phật dạy “Sau giữa giờ ngọ, chẳng ăn nữa, có năm phước: 1-ít ham dâm dục. 2-ít buồn ngủ.  
3-Được nhứt tâm. 4-Không hạ phong. 5-Thân được an ổn cũng chẳng sanh bệnh lặt vặt.”

    Mạn: chữ mạn này thuộc bộ “ngôn”, nghĩa là lời nói khinh khi, lại cùng đồng với chữ mạn bộ “tâm”, nghĩa là đăi đọa, hốt lược và bất kính.

    Luận Khởi Tín nói “Nhẫn đến với tội nhỏ, ḷng c̣n sanh quan niệm bố úy, tàm quí, lo ăn năn đổi lỗi, chẳng dám coi rẻ lời cấm giới của Như Lai chế sắc, phải ǵn giữ đừng để người ta chê trách, đừng để cho chúng sanh gây cái tội hủy báng v́ ḿnh phá giới!”

    Người xuất gia mà trai giới, nhân quả  thù diệu được thế,  đấy thực là tự lợi lợi tha, đội giữ chánh pháp, phu dương lợi vật, báo Phật ân đức, ấy thế.

II.A.2.b2b- Giới miễn (răn gắng).

Chẳng khá  lơ láo qua ngày, ngồi trơ  trơ qua giờ, khá tiếc sáng bóng! Chẳng cầu tiến lên?

    Hai câu trên là răn chớự bỏ luống qua. Hai câu dưới là thương chẳng tiến lên. Với ngày đă rảnh rang qua, với giờ lại bỏ luống mất! Chẳng toan tiến bộ, ngồi mất quang âm, thực là khá tiếc! Hẳn là “sanh vô ích ư thời, tử vô văn ư hậu”.

    Quang âm: Quang: sáng, là ánh sáng của mặt nhựt, tức là bỏ qua ngày. âm: bóng là ánh sáng của mặt nguyệt, tức là bỏ qua cả đêm. Tọa táng quang âm: ngồi không bỏ mất qua th́  giờ!

    Kư: Vua Đại Vơ ngài tiếc từ tấc bóng, ông Đào Khảng tiếc từ phân bóng; huống chi kẻ v́ thoát đường sanh tử đi xuất gia, phải cần hơn nữa, như chữa lửa cháy trên đầu, mà nên bỏ trống qua giờ phút ru!?

    Ngột ngột: trơ trơ, là cái dạng chẳng cục cựa. Chính là lơ lơ qua ngày, không dụng tâm lo vào việc ǵ, chẳng t́m cách tiến lên, như người bị đau bệnh bại xụi! Bệnh ngủ ngồi và bệnh ngồi tịnh!!!

    Luống tiêu (ăn bận) của tín thí mười phương, cũng là  phụ phàng cả bốn ân; chứa chất càng sâu, ḷng trần dễ lấp, chạm đường (sự lư) nên ngăn (bất thông), người ta khinh dể!

    Hai câu đầu là nói chẳng có đức chi để  báo ân. Hai câu kế: tội sâu chướng nặng. Hai câu sau nói do những hoặc chướng đó mà mất trí huệ!

    Nếu không lo tiến tới th́, chẳng những chẳng có công lao ǵ để đáng tiêu của tín thí, mà cũng chả có đức hạnh chi để báo đáp tứ ân!

    V́  với công, đă chả thi hành điều chi, th́  với đức không do đâu thành lập. Tức nhiên, chứa gốc tội càng ngày càng thâm căn! Nghiệp hoặc bít lấp nơi tâm nguyên, chẳng có cái kiến thức bực đại nhân, mất cái trí sáng suốt của thánh nhân.

    Hành động th́ trái với chân giác, mà hợp với vọng trần nên chi chạm đến sự hay lư ǵ đều thành ra sa trệ cả. Cái huệ giải (sáng biết) đă bị niêm phong rồi th́, đâu có thể mở dạy lớp hậu lai, ví dẫu tuổi sanh đă cao, tuổi xuất gia thụ giới lạp cũng đă nhiều năm đi nữa, cũng nào khỏi bị chúng khinh khi!?

    Kư: Chướng tức là phiền năo vọng hoặc. Do những cái trần cấu là tham, sân, si, nó ủng tế trong ḷng, th́ cái tâm quang đâu có thể sáng suốt ra ngoài được! Đă chẳng có phần tự lợi, lại khuyết phần lợi tha, nên bị kẻ hậu học khi dể.

    Lại, từ vô thỉ đến nay, cái tâm ấy  đă bị những duyên sự chủng tử ác tập nó bao phủ nhiều lớp quá  sâu sắc, bây giờ lại huân tập tô  bồi nữa, há chẳng dễ  bít lấp đó ru!?

    Xúc: chạm gặp, đối chọi. Đồ: đường sá, tức sự lư. Trệ: trệ ngại, nghĩa là bất thông thấu. Do v́ cái tâm nguyên bị trần vọng ủng tắt, thành thử gặp sự ǵ đă bất thông, đối với lư chi cũng bất đạt nữa!

Xưa nói  “Kia đă trượng phu (nam tử) ta cũng thế, chả nên khinh ḿnh chịu lui sụt”.

    Câu trên là khiến bắt chước bực tiên triết. Câu dưới khuyên ḿnh gắng tới.

    Thánh trước Hiền sau, người nào người nấy, ai cũng có  phần. Người kia đă thế, ta sao chẳng thế? Há nên tự khinh lấy ḿnh mà, chịu lui sụt cái chí khí của ḿnh sao?

    Phật răn dạy “La -hầu-la-đa! Mười phương thế giới các Bồ -tát, mỗi niệm đă chứng quả Thiện Thệ (86), kia đă trượng phu ta cũng rứa, chẳng nên khinh ḿnh chịu sút lui”.

    Kinh Niết -bàn nói “Nếu nam tử mà không tự biết ḿnh có Phật tánh th́, tức là nữ nhân, v́ phi trượng phu (87) (đàn ông)!

    Kư: Diệc nhiên, tức diệc nhĩ: cũng thế, cũng vậy và cũng rứa.

    Trượng phu: trí nhân, kia đă trượng phu, ta cũng trí nhân, không nên đề cao cho kia, mà tự thấp tánh linh của ḿnh; phải biết tất cả chúng sanh bản lai vẫn sẵn có Phật tánh. Thế nên, cả lục phàm, tứ thánh, đồng một tâm nguyên, hễ mê muội tâm ấy tức là phàm, c̣n giác ngộ tâm ấy là thành Thánh. Nên chi, với tâm ấy, hễ nhứt niệm được tương ưng là, liền đồng với chư Phật.

    Ai mà chưa được như  thế, cần phải lấy giới nơi thân, huệ  nơi tâm, trong ngoài huân tu th́, mỗi bước mỗi ly khai nơi phàm, mỗi niệm mỗi tiến lên bực Thánh. Nếu được như vậy, th́, chỉ một đời dùng xong, cũng nào có nhượng bộ cho ai ru.

    Thiện Thệ: khéo qua, nghĩa là, lên trên bực đệ nhứt là quả  Phật, vẫn chẳng trở lại làm chúng sanh. Cũng nói hảo khứ: đi tốt, là với đi, th́ đi trong mỗi mỗi các tam muội, và  vô lượng trí huệ mà đi; Thiện Thệ là một trong mười hiệu của Phật.

    Thánh Hiền: Người trong tam thừa, từ ngôi chưa  “kiến đạo” (88) về trước, gọi là Hiền, v́ tu tập “phước, trí” đủ cái đức bực hiền. Từ ngôi kiến đạo về sau, gọi là thánh, như “Thập Địa Bồ -tát”. Thánh chánh, lấy cái trí vô lậu, chính họp với lư, nên gọi là Thánh.

Nếu chẳng như thế, luống ở cửa chùa! Húng hính qua đời không ích chi cả!

    Hai câu trên là trái với giáo. Hai câu dưới là  mất sự lợi cho ḿnh và người!

    Nếu chả tu hành như lời dạy trên, thực là  lộn xộn một đời giữa chúng tăng, luống uổng bận pháp phục, v́ chả có chút công ǵ khá ghi, chẳng có cái đức chi khá chép! Nên nói “thù vô sở ích”: chỉn không chỗ ích!?

    Kư: Đồ: luống trống. Truy môn: do lấy màu sắc đồ bận của tăng chúng mà xưng hô luôn pháp môn.

II.A.2.c- Kiết khuyến.  
Chia làm năm phần:

                  c1- Khải phát

                  c2- Thị giáo

                  c3- Khuyến miễn

                  c4- Hiển thị nhân quả

                  c5- Tự hành hóa tha

II.A.2.c1- Khải phát.

Nép trông: dấy cái chí quyết liệt (sấn sướt) mở cái ḷng đặc đạt (trổi hơn), cử động, phải xem theo bực thượng lưu kia, chớ tự chuyên theo với kẻ tầm thường. Đời nay cần phải quyết đoạn, tự liệu lấy chẳng do ai khác (89).

    Hai câu trên là nói ư khí rỗng rang. Hai câu kế là nói tôn bực Hiền, ngăn kẻ ngu. Hai câu sau là sự giác ngộ phi do ai khác.

    Phục vọng: Nép trông, tức là lời khẩn đảo.

    Dấy chí sấn sướt: Phát cái tâm dũng mănh, cầm vững cái chánh khí trượng phu.

    Mở ḷng đặc đạt: Nới rộng ḷng dạ, lập chí hướng thượng.

    Cử  động xem kia thượng lưu: lúc hành động, lúc yên tịnh, khi noi bước chân đi, phải tôn chuộng bực thượng đức.

    Chớ chuyên theo với kẻ hèn: Chẳng khá tự chuyên, theo học đ̣i bọn thường lưu đương thời.

    Nên ông Phạm Thục Công, đưa ngài Viên Ngộ thiền sư  đi hành khước, mà nói lời tỷ huống như  vầy “Xem nước th́ chớ nên xem nước chỗ ao nhơ, v́ nước chỗ ao nhơ bởi loài cá, cua đinh là những vật thấp hèn; lên núi thời chớ nên lên đồi núi đà lư (lúp xúp), v́ núi đà lư cỏ, cây mọc thưa thớt (tức chỗ sơn bất cao, thủy bất thâm). Thế nên, hễ xem nước, cần xem nước nơi biển khơi, v́ sâu rộng hơn; lên núi, nên lên trên núi Thái, v́ cao lớn hơn. Như vậy là sở đắc chẳng cận, chỗ thấy cũng cao”. ấy là văn đây cũng gọi thế.

    Đời nay liền phải quyết đoạn: Như “Nhứt đao lưỡng đoạn”. Chặt một dao đứt hai khúc, lập tức quyết xong; nay mà nếu chẳng rồi, lại c̣n phải đợi chừng nào nữa!? (Thử thân bất hướng kim sanh độ, cánh hướng hà sanh độ thử thân?).

    Chẳng bởi người khác: tự tâm ḿnh lại tự quyết lấy, hễ tự tu tức tự ngộ, tỷ như ḿnh ăn th́ tự nhiên bụng ḿnh no, không quan hệ với người khác. Ví dẫu t́nh thân thiết như cha con đi nữa, cũng khó mà thay thế cho nhau đặng! Chính chỗ gọi rằng “mượn cái lỗ mũi của người để thở hơi của ḿnh ra, không thể được” thực vậy.

    Kư: Dung bỉ tức là hạng người dung ngu bỉ lậu. Quyết là quyết xong. Lại, là lời quả quyết không do dự. Đoạn là phán quyết. Đà lư là núi đồi thấp nhỏ mà liên tiếp, người ta thường đi dẫm đạp lên đảnh nó vậy.

II.A.2.c2- Thị giáo.

Dứt ư  quên duyên, chẳng cho làm đối đăi với các trần (90). Tâm không cảnh vắng, chỉ v́ bị bít lấp chẳng thông đă lâu.

    Hai câu trên là khiển trừ cái vọng. Hai câu dưới là nguyên (91) lại cái chân.

    Dứt ư quên duyên là dứt cái ư niệm, quên cái duyên trần. ư là phần chủ quan của sáu căn, hễ chủ mà đă thôi dứt rồi th́ cái tâm phan duyên (duyên lự tâm) nó tự quên mất vậy.

    Chẳng cùng tác đối với chư trần: đứa phàm chẳng rơ được tự tâm, thành thử mỗi mỗi vọng hoặc chấp trước, tùy theo sự ǵ phan duyên lấy sự nấy, mà phân biệt cả cảnh giới lục trần; chứ nếu như cái ư thức chẳng sanh một niệm ǵ hết, tức nhiên ĺa được tất cả quan niệm phân biệt th́, cái ư nghĩ dứt, cái duyên quên mất, với lục trần ai cùng làm đối đăi. Thế là sáu căn chẳng duyên với sáu trần mà trần cảnh tự nhiên vắng lặng cả.

    Tâm không cảnh tịch: Chân tâm vốn rỗng trống, trần cảnh nguyên lặng im; chỉn bởi tự quên chân tâm, chấp lấy vọng cảnh (bóng duyên của sáu trần), thành thử mới có các cảnh trần nó xôn xao lăng xăng. Chớ tâm (ưự) ta không chấp th́, dù trọn ngày đối cảnh mà, cảnh hằng vắng lặng, cũng phi bặt dứt tâm cảnh, trừ sạch vạn vật, nhiên hậu mới là tịch tịnh đâu. Chỉ có một điều là chẳng quên chân tâm th́, cảnh nó tự nhiên im lặng.

    Nên Kinh nói “Thấy hết các pháp (vũ trụ vạn vật), mà không chỗ thấy”, nghĩa là không trụ trước chỗ thấy, thực thế.

    Cửu trệ bất thông: đă lâu bị bít chẳng thông, là từ lúc vô thỉ, tâm sanh một niệm bất giác (mê: tức tham, sân, si), th́ đến cả vạn kiếp cái vọng t́nh ấy nó sanh khởi luôn, thành thử chẳng hiểu thấu cái tâm vốn không, lại chấp đó cho là có, thế rồi cái chấp có đó nó che lấp cái chân tâm, bị ngưng trệ chẳng thông.

    Đến đỗi khiến cho cái tánh bổn giác viên minh, biến làm cái vọng kiến của năng kiến; cái vô tướng chân thể, biến làm cái vọng cảnh của sở kiến. Cái vọng làm ngần ngại cho cái chân, nên nói là bất thông.

    Ngày nay, nếu chẳng hồi quang phản chiếu, để phá  những vọng căn vọng trần kia, th́ không thể  khôi phục lại ánh sáng suốt của bổn tâm.

    Kư: Khiển vọng là ĺa các căn, cảnh hư vọng, v́ cái vọng tâm nó nguyên không có tự thể của nó, mà nó xáo lẫn với trần để thành cái thể của nó, nên chi nó tùy theo cảnh mà có và không, nghĩa là hễ có cảnh đến th́ cái thể của nó liền sanh, cảnh đi th́ cái thể của nó liền diệt; đấy, đă nhân cảnh mà sanh, th́ toàn cảnh đó tức là tâm. Lại, nhân nơi tâm để chiếu nơi cảnh th́, toàn tâm đó là cảnh, mà tâm cảnh ấy đều không có tự tánh của nó, mà chỉ là tâm với cảnh duyên lẫn nhau rồi sanh ra tự tánh ấy thôi; nếu tâm ĺa vọng niệm th́, căn và cảnh đều vắng lặng.

    Nguyên chân ấy: Suy xét cho đến nơi  đến chốn th́, chỉ có  nhứt chân tâm mà thôi, cái tánh thể nó là sạch sáng, xa tuyệt căn trần, linh biết vắng soi, trong ngần không ngần mé, giáp khắp pháp giới, ngục Thiết Vi chẳng thể ngăn che ánh sáng của nó, bầu trời xanh không thể trùm đậy cái thể của nó, muôn pháp (sự vật) không thể ẩn khuất cái chân thực của nó, cho đến cả trần lao phiền năo chẳng hay đổi cái chân tánh của nó.

    Do từ trước bị mê  mờ nhứt pháp giới (chân tâm) bất giác vọng động nổi lên mà có cái niệm, tùy theo cái duyên hoặc tịnh hoặc nhiễm rồi tâm cảnh lẫn sanh nhau, trở lại che ngăn cái bổn tánh linh minh, măi đến ngày nay, chưa hề tỉnh ngộ lại được, nên nói là “cửu trệ bất thông”.

    Thấy hết cả các pháp ấy: tâm, cảnh rơ ràng, sờ sờ vậy; mà không chỗ thấy đó: là cái chân tâm nó không biết, cái chân cảnh nó không tướng, v́ không biết nên vẫn không, v́ vô tướng nên vẫn vắng. Không biết là phi đồng như cái không biết của cây đá, mà chính là tâm nó không khởi cái niệm phân biệt, chỉ vắng lặng mà thường tỏ soi. Vô tướng là phi như cái vô tướng bằng cách dẹp hết vạn vật, mà ngay nơi tướng không trụ nơi tướng, mà chỉ soi nhưng thường vắng. Nên nói là “tâm không cảnh tịch”.

    Tâm phan duyên tức là cái tâm vọng tưởng. Với cái tâm đây phân biệt ra mà  nói th́ có ba là  tâm, ư và thức. Nghĩa là  cái tâm đối cảnh có  tri giác, khác với cây  đá, nên tên là tâm. Kế đó, cái tâm tính lường nên tên là ư. Đến cái tâm mà lảu lảu riêng biết, nên tên là thức. Đấy, cái vọng tưởng nếu dứt được rồi th́, ba cái kia đều quên mất, cảnh giới cũng tiêu diệt luôn, duy chỉ có nhứt chân tâm, rỗng thông chẳng ngăn ngại, không chỗ nào nó chả phổ biến mà, c̣n có sự vật ǵ làm trệ ngại ru!?

II.A.2.c3- Khuyến miễn.

Đọc thuộc văn Cảnh Sách đây, mỗi giờ răn gắng. Cố gắng làm chủ lấy ḿnh, chớ theo nhân t́nh (vọng niệm).

    Hai câu trên là y nơi pháp để tự cảnh tỉnh lấy ḿnh. Hai câu dưới là gắng chí sấn sướt lên.

    Thuộc lăm…: xem đọc cho chín…. Nghĩa là cần đọc thuộc văn này, chứa vào ḷng dạ, để thường thường tự nhắc thức lấy ḿnh, với nghĩa, nhớ cho sâu (92), để rồi sách lệ tiến tu. Chứ chẳng nên chỉ một lần trải qua nơi tai mắt rồi liền gác cất lên gác cao, hoặc trong tủ kín (93).

    Gượng làm chủ tể…: Đứa phàm bị cái vô minh hoặc nó xông ướp, hằng lâu thành tánh quen, nên xúc đối với cảnh nào liền tùy theo duyên nấy. Nếu chẳng tự cố gắng lấy ḿnh, lập cái chí quyết liệt, mở cái bụng đặc đạt, cầm cái cung trí huệ, nắm cái tên kiên cố, th́ e, hễ hớ hênh một chút theo vọng lưu, tất phải bị quần tà nó phỉnh dỗ, bốn ma (94) nó làm hại, mà chớ!

    Kư: Tứ ma: 1-Ngũ ấm ma. 2-Phiền năo ma. 3-Tử ma. 4-Thiên ma.

II.A.2.c4- Hiển thị nhân quả (chỉ rơ lư nhân quả).

Nghiệp quả  lôi cuốn, thực khó trốn tránh (95)! Tiếng ḥa vang thuận (96), h́nh thẳng bóng ngay (97), nhân quả rơ ràng (98), há không lo sợ!?

    Hai câu trên nghiệp báo. Hai câu thứ lập lời dụ. Câu thứ năm chẳng mờ quên. Câu thứ sáu khiến cho biết, để mà gắng dè!

    Nghiệp quả kéo lôi…. Nghiệp: tức là, hễ tạo cái nhân chẳng lành, th́ sự kết quả cũng do cái nhân ấy đưa đến. Nhân dời quả chín, nó kéo trả khó trốn! (Nghiệp: tỷ như cái chứng ghiền).

    Như  kinh Pháp Cú chép “Có ḍng Phạm Chí, anh em bốn người, đều tu chứng đặng năm phép thần thông, nên mỗi người tự biết sau bảy ngày, sanh mạng ắt cuối cùng, đến bảo nhau rằng “Chúng ta đều có thần thông tự tại, pháp lực cao cường như thế ni, há chẳng thể lánh được cái tử nạn như thế nớ ư!?

    Người anh cả đưa ra cái kế hoạch để trốn chết như thế nầy “Ta xuống nơi biển cả, trốn ở nơi lưng chừng chính giữa, nghĩa là với trên chẳng gần mặt nước, với dưới chẳng sát nơi đáy biển. Thế, con vô thường sát quỷ, làm ǵ biết được chỗ ta ở, mà ḥng t́m bắt chết đặng ư?”

    Người em thứ hai tŕnh bày diệu kế rằng “Ta vạch hở núi Tu -di ra, chun vô giữa ḷng núi, rồi cho núi hiệp kín liền lại. Thế, vô thường sát quỷ đâu có biết chỗ ta ở mà kiếm bắt chết đặng ư?”

    Người em thứ ba tự hào cái pháp thuật rằng “Ta nhảy vọt lên giữa chốn hư không, rồi ẩn h́nh không để lộ dấu tích chi cả. Thế vô thường sát quỷ mần răng biết được chỗ ta ở mà bắt chết đặng ư?”

    Người em út tán thành rằng “Ba ca -ca có ba phương pháp rất thần diệu, v́ lên cao, xuống sâu và vào chỗ kín đáo; đây, em không cần cao xa huyền bí chi hơn là, chỉ có lợi dụng giữa chốn huyên náo, tức ẩn lẫn nơi chợ lớn đông người, ai chả biết ai, vô thường sát quỷ có đến th́ nó tùy ư bắt một người nào đó không tiện hơn à, chứ hơi mô phải đi điều tra kiếm cho ra tôi phí thời giờ!?”

    Bốn vị tiên ông họp nghị tham mưu kế hoạch trốn chết xong rồi đâu đều đến vào đấy, tức cũng như “dĩ đào vi thượng sách”. Tới ngày thứ bảy kỳ hạn đă măn, than ôi! Bốn tiên ông ở đâu cũng mạng chung tại đó. Nghĩa là ở biển tử thi như chổng nổi lên, sóng đưa tấp vào bờ; ở núi ḷi ra như đất lở đá ḷi lăn tuốt xuống chân núi; ở trên thiên không như phi cơ ngộ nạn sa xuống mặt đất; ở giữa chợ đông như kẻ cảm đại phong ngă ngửa ra chết, thị trưởng sai dân chúng đem tử thi ra đồng chôn.

    Phật dùng đạo nhăn xem thấy bốn ông lăo hóa phép tiên  để trốn tay tử thần mà, rốt cuộc chẳng thể  tránh đặng, nên nói bài kệ rằng:

Phi trốn trên không, cùng giữa biển, 
Và chun ḷng núi, giữa người đông. 
Không đâu nơi, chỗ, phương nào nhá? 
Trốn chết, phép tiên hết ngơ mong!

(Phi không, phi hải trung 
Phi nhập sơn thạch gian 
Vô hữu địa phương sở? 
Thoát chi bất thụ tử.)

    Đấy, chính chỗ gọi là “thành nan đào tỵ” ấy thế.

    Tiếng ḥa … h́nh ngay … là tỷ dụ cái thiện nhân. Vang thuận … bóng thẳng là tỷ dụ thiện quả. Nếu mà, tiếng bạo th́ vang xẵng. H́nh vạy th́ bóng xiên, là lẽ tất nhiên phải như thế. Chứ có lư nào có tiếng mà không vang, và trái với nhau như h́nh vạy lại bóng ngay, h́nh ngay lại bóng vạy bao giờ? Th́ ra, tiếng chả khác vang, h́nh không soi bóng, nhân quả chẳng mất, nên nói “nhân quả lịch nhiên”.

    Đấy, nghiệp báo không sai chạy, há cho không tin, trả liền cái trước mắt, đâu không lo sợ ru!?

    Kư: Đức Như Lai c̣n chịu cái quả “mă mạch (99), kim thương” (100); La-hán chẳng khỏi xà thích (101), ngạ vong (102). Phương chi bọn phàm như chúng ta khá chẳng sợ ru!?

Nên kinh Nhân Quả nói “Dẫu trải về sau trăm ngàn kiếp, chỗ làm nghiệp trước vẫn chẳng mất, hễ khi nhân duyên gặp gỡ nhau, tất nhiên quả báo lại tự chịu”.

    Hai câu trên là rơ cái thời tạo nhân. Hai câu dưới là rơ về thời chịu quả.

    Kinh Nhân Quả nói đó là dẫn lời của  đức Như Lai thuyếỏt ra.

    Giả  sử: ví dẫu, là lập lời tỷ huống.

    Trăm ngàn kiếp là cử lên cái số lớn, để  trùm cả đến đời vô thỉ. Lại, cử lên chỗ gần để tỷ huống chỗ xa, biết chỗ xa để rơ chỗ gần.

    Chỗ  làm nghiệp là những cái hành nghiệp do nơi thân, khẩu và ư đă tạo từ trước.

    Chẳng mất là dẫu ít nhất một hào một ly cũng không sai mất.

    Nhân duyên khi gặp gỡ nghiệp quả nó kéo nhau, hễ cái thời đến th́ tức nhiên phải gặp lấy.

    Quả  báo lại tự chịu: Quả là để đền cho nhân, lẫn nhau vay trả không lầm, nghĩa là tự tác huờn tự thụ, chứ người khác dẫu có thay thế cũng chẳng đặng.

    Kư: Trăm ngàn kiếp là thuộc về cái thời quá lâu xa. Sở tác nghiệp là thuộc về cái nhân cũng lâu xa. Gặp gỡ là cái thời gần đây. Tự chịu là cái quả cũng gần đây.

    Nói lên trăm ngàn kiếp, là  để cho biết từ vô  thỉ, nên nói “cử cận hướng viễn”; nói lên trăm ngàn kiếp, là để cho biết hiện tiền, nên nói “tri viễn hiểu cận” (103).

Quyết biết sự h́nh phạt của tam giới, nó  trăn trói giết người (thế  phàm là người đă  biết cái lư nhân quả, tâm cảnh không mất, th́ phải), nỗ lực cần tu, chớ bỏ không qua ngày!

    Hai câu trên khiến cho biết cái cảnh khổ. Hai câu dưới khiến cho biết tu thiện đoạn ác. Nghĩa là bảo cho biết cái cảnh khổ mà phải cần tu phương pháp xuất ly cảnh ấy.

    Do v́ chúng sanh cả tam giới, hễ có sanh ra là chẳng khỏi các điều khổ lăo, bịnh và tử, nên nói “h́nh phạt”! (bốn cái khổ lớn ấy nó hành phạt cái thân ngũ uẩn).

    Các  điều vọng hoặc như Cửu kiết (104), Thập sử (105) nó vấn trói chúng sanh, phải luân hồi trong tam giới, chẳng đặng ra khỏi, thế là “hoanh bạn: trăn trói”.

    Mọi  điều phiền năo là kẻ thù quân giặc, v́ nó hay dứt đứt huệ mạng, nên nói là “sát nhân: giết người!”

    Nỗ  lực cần tu là với cái đạo quả vi diệu, phi kẻ trễ nải biếng nhác mà có thể  chứng được đâu.

    Chớ bỏ không qua ngày là chẳng nên ăn rồi ngồi không, bỏ mất qua những canh và khắc của quang âm, mà phải cần học và tu mưu cầu cho được tiến lên, mỗi ngày đều có phần thắng lợi.

    Kư: Cảnh khổ là chỗ của chúng sanh chịu quả báo trong lục đạo giữa tam giới.

    Song, cái quả báo ấy là, do trước kia đă chứa cái ác nhân nên sau nó  mới có; nay mà muốn tránh khỏi cái khổ quả ấy th́, cần phải đoạn cái ác nhân đi, đừng tạo ra nữa; muốn đắc cái vui vắng lặng Niết -bàn sau này th́, nay cần phải tu cái đạo xuất ly vô thượng. Khổ quả là cái ác báo của thế gian, Niết-bàn là cái diệu quả của xuất thế gian. V́ gây nhân khổ th́ gặt quả khổ, tạo nhân vui tất huởng quả vui!

    Tu đoạn là đoạn ác mà  tu thiện. Mỗi ngày có  phần thắng lợi. Chỗ gọi rằng “Học hỏi th́ cái thiện mỗi ngày có chỗ ích lợi; hành đạo th́ cái ác mỗi ngày có chỗ tổn giảm.” Hễ phần ác nó tổn giảm đi th́, đạo nghiệp càng lên cao; phần thiện nó tăng ích th́, công học càng tiến lên xa. Tổn ích, tức là tên khác của tu đoạn (106).

II.A.2.c5- Tự hành hóa tha

(Vừa tự tu vừa cảm hóa người).

Rất biết  điều quá hoạn (107), nên mới khuyên nhau hành tŕ; nguyện trăm kiếp ngàn đời, mỗi chỗ đồng làm bạn pháp.

    Hai câu trên giác ngộ cho ḿnh, rồi giác ngộ cho người. Hai câu dưới thệ đồng chúng sanh cả pháp giới.

    Thâm tri: biết rất sâu xa, là tự giác ngộ thấy biết một cách triệt để.

    Quá  hoạn là ngũ dục lạc mà người bị  mê say. Như vị mật ngọt có giấu chất  độc, phi hạng người có trí th́ chẳng dễ ǵ biết được! Tức như với “Tam giới hỏa trạch” chỉ có ông Trưởng giả (Phật) mới biết được mà thôi.

    Khuyên nhau là nghĩa giác tha, tức khiến cho biết cái khổ  độc để giác ngộ cái hỏa trạch ấy! Hành tŕ là y theo lời Phật với Tổ đă dạy mà phụng hành tu đoạn.

    Nguyện bách kiếp thiên sanh…. Đấy, chính là Tổ Qui Sơn ngài ngầm biết suốt cổ kim, phân tích kiếp lâu dài, hiểu sanh tử vốn không, Niết-bàn như chiêm bao, rơ tất cả pháp đều tức chân như, khí giới tức pháp giới, cho đến cả ba tâm, Phật và chúng sanh, không sai khác nhau. Nên Tổ ngài thệ nguyện rằng “Bách kiếp thiên sanh … đồng vi pháp lữ’ (108).

    Kư: Bách kiếp thiên sanh đó, là xướng lên nói con số lớn, để cho người hiểu thấu rằng sanh tử vốn không, Niết-bàn như mộng. Chẳng ly khai tam giới mà, vẫn thường ở nơi Hoa Tạng (109), đồng làm quyến thuộc với Pháp vương (110) trên con đường đạo Bồ -ñeà, và sẵn sàng v́ làm thiện hữu mà chẳng đợi người rước mời, nên nói “đồng vi pháp lữ”.

    Nhẫn trước, phân khoa, thích cú và lời kư  về văn trường hàng đă rồi; dưới đây, về văn trùng tụng. 

II.B- TRùNG TụNG. Chia ra làm 3 phần:

II.B.1- Phiêu tụng đề (nêu tụng lại đề mục)

Năi vi minh viết (bèn - nghĩa là làm lời minh rằng):

    Lời minh (111) đây, chính là y theo những câu văn trong phần trường hàng trước kia, mà trùng tuyên nghĩa lại, để xâu kết làm thành bài tụng, khiến cho các học giả dễ bề ghi nhớ lấy, hầu trọn đời chẳng quên vậy.

    Song, với câu văn, thứ lớp trong phần trùng tụng đây, có hơi khác với phần trường hàng. Vậy, các học giả bất tất câu nệ theo câu văn mà để ư xuyên tạc (112), mà chỉ lấy ư hiểu th́, nghĩa lư đâu chẳng chu tất.

    Kư: Minh là cảnh giới (báo cáo) tức là lời bảo răn, chỗ gọi là khắc cốt minh tâm, như khắc vào đá để chẳng quên mất đi. Chừ đây, đề cử lên đại cương, thâu lấy cốt yếu, kết làm lời tụng, để cho học giả dễ bề nhớ đọc vậy.

II.B.2- Tụng giáo giới. Chia làm 11 phần.

                a- Hoán sắc

                b- Thời tiết

                c- Sanh diệt

                d- Lưu chuyển

                e- ái thủ hữu

                h- Hư sanh không lăo

                k- Vô minh hoặc

                l- Khái thời mạng tốc

                m- Hiện nhân hậu quả

                n- Nhân quả sở do

                o- Tuần hoàn bất tức

II.B.2.a Hoán (huyễn, ảo, hoạn) sắc (sắc thân giả dối).

Thân hoán nhà mộng, vật sắc giữa không.

    Nhà  mộng, vật sắc đều tỷ dụ cái thân hư hoán (giả dối). Song, cái nhà mộng là nhân ngủ mê mà có nhà mộng mị; vật sắc (hoa đốm) là bởi con mắt bịnh mà có thấy như hào quang, đom đóm.

    Bị  nghiệp buộc, mượn tứ đại mà có ra cái thân vốn không thực, v́ là hư vọng, nên kêu là hoán (ảo, dối). Như người thế gian làm tṛ hoán thuật (113): lấy các thứ cỏ, cây, khăn… hoán thuật biến làm thành người, vật, cầm thú cử động qua lại, h́nh tướng rơ ràng, khi mà phép hoán thuật thu rồi th́, người, súc ấy, toàn chẳng thể có. Thân này không thực, cũng lại như thế.

    Giữa trời đă không màu vật, trong mộng đâu có  nhà hoa, chỉn bởi quên chân chấp vọng, nên ngủ  măi trường dạ (114) mà chẳng thức tỉnh (túy sanh mộng tử). Bị cái bịnh ái kiến (115) nó che con ngươi, nên thấy giữa khoảng không - có các cái hoa tướng (không hoa)(116) và mặt trăng thứ hai(117).

    Kư: Mặt trăng thứ hai: Mặt trăng vốn chỉ có một, do con mắt bịnh của người nên thấy có trùng luôn, tựa hồ có hai mặt nguyệt.

    Hư  không và mặt nguyệt chính, là  tỷ dụ cái Pháp thân; hoa đốm và mặt nguyệt thứ hai là  ví dụ hoán chất (xác huyễn).

    Chúng sanh chỉ một Pháp thân, nguyên không hoán chất, bởi mê mờ theo phần sắc và phần tâm, nên nhận lầm cái hoán khu bằng năm uẩn bốn đại làm cái sở hữu của ḿnh. Tỷ như cái sở kiến trong chiêm bao (118) măi kiếp luân hồi mà chưa tỉnh thức!

II.B.2.b- Thời tiết.

Đời trước không tột, đời sau đâu ngằn.

    Đời trước là vô thỉ. Đời sau là vị lai. Trước đă không bắt đầu từ đâu, nên nói là không tột (vô cùng); sau cũng không cuối, nên nói là đâu ngằn.

    Nghĩa là tất cả chúng sanh, với sanh tử từ trước, bỏ thân nọ thụ thân kia, chẳng thể cùng tột được biện lượng của những thân và đời ấy; th́ với sanh tử của những đời sau, làm ǵ hạn định b́a mé. Chỉ có chừng nào tâm chẳng sanh một niệm vọng (chính định vô lậu), th́ mới đoạn hẳn được b́a mé trước sau (bất sanh bất diệt).

II.B.2.c- Sanh diệt.

Mọc  đây lặn kia, lên xuống mỏi mệt!

    Mọc là sanh. Lặn là diệt. Tức là chết thân kia, sanh thân đây. Lên là siêu thăng sanh lên tam thiện đạo, tức làm thân người, thân trời và thân a -tu-la. Xuống là trầm luân đọa xuống tam ác đạo, tức làm thân ở địa ngục, thân ở ngạ quỷ và thân súc sanh (súc sanh là sanh vật bị nuôi, như gia súc và lục súc).

    Rất mỏi mệt là cái tâm thần bị nghiệp (mười thiện mười ác của hữu lậu) lực xua khiến, mà phải trôi lăn không dứt nghỉ, thế, đâu chẳng nhọc nhằn quá ư mỏi mệt ru!?

II.B.2.d- Lưu chuyển.

Chưa khỏi ba ṿng, giờ nào thôi nghỉ.

    Ba ṿng là tam giới luân hồi. Giờ nào thôi nghỉ  là do cái nhân trước, chịu cái quả nay. Với quả nay, lại tạo thêm cái nhân cho sau nữa. Cứ măi như thế, hễ bỏ thân nọ, thụ thân kia, tỷ như con trâu phá hư cái ách (119). Kiếp sanh tử đă không biên tế, th́ nào có thôi nghỉ! Duy có hạng người nào đă phá được cái cảnh không hoa tam giới, tṛ ảo thuật hai mươi lăm hữu, mới có thể thôi nghỉ không luân hồi.

II.B.2.e- ái, thủ, hữu.

Tham luyến thế gian, ấm, duyên nên chất.

    Tham luyến tức là ái, thủ  (yêu, lấy). Lấy ấm và duyên để làm nên xác thân, đó  là nghĩa của chữ hữu. Thế gian là t́nh thế gian và khí thế gian. T́nh tức hữu t́nh, v́ có tri giác (tân dịch là hữu t́nh, cựu dịch là chúng sanh). Khí tức khí giới (120) như vũ trụ, quốc độ là vật vô tri giác, Kinh gọi là cơi vô t́nh, v́ không có t́nh thức; gần là nhà cửa, vật dụng, vườn ruộng, xa là cơi nước và cả thế giới.

    ấm tức là ngũ ấm. Duyên tức là mười hai nhân duyên. Do v́ chúng sanh khởi ḷng tham lam, thương yêu, luyến tiếc đắm trước lấy hai cơi thế gian là t́nh và khí, thành thử phải bẩm thụ lấy phụ tinh, mẫu huyết để tạo nên thân thể, mà nguyên ra cái thân đây vốn không bởi mượn cả năm uẩn, mười hai duyên họp tổ mới có, nên nói là thành chất.

    Kư: Khí thế gian là thế giới h́nh nó như món đồ, mà chúng sanh an trụ trong đó, tức tam thiên đại thiên thế giới.

    T́nh thế gian là những chúng do ngũ  ấm ḥa hợp thành thân có  t́nh thức tri giác, thực thế.

    Kinh Lăng Nghiêm nói “Do đấy, từ vô thỉ, đối với thế giới (thế gian), chúng sanh nảy ḷng ràng buộc (tham luyến), nên với khí thế gian, không thể siêu việt (giải thoát), thực thế”.

    Thế, nghĩa là riêng cách, cũng là  hiện tại, quá khứ và  vị lai. Gian là xăn hở, sai khác, nghĩa là  mỗi mỗi sai khác mà chẳng lầm loạn nhau (v́  tùy phước, tùy nghiệp thụ dụng khác nhau).

    Song, hai cơi t́nh, khí bổn lai không có, do v́  vọng tưởng mà kiến thiết thành lập ra. Kinh Lăng Nghiêm nói “Tưởng trừng thành quốc độ”. Kinh Tịnh Danh nói “Từ nơi các gốc vô trụ (tâm), thành lập ra tất cả pháp – Tam giới duy tâm”. Ngài Thiên Thai giải thích rằng “Nếu mê quên vô trụ th́, tam giới, lục đạo, hiện có lăng xăng, nhân đó mà lập thành tất cả các pháp của thế gian và xuất thế gian, c̣n nếu mà hiểu chứng được vô trụ, tức là cả vô thỉ và vô minh đều phản bổn huờn nguyên, để phát minh chân tâm và thành Thánh quả”.

    Kinh Lăng Nghiêm nói “Người mà phát minh được chân tâm, trở về nguồn gốc th́, mười phương thế giới, thảy đều tiêu tan (121)”. Đấy là hai cơi t́nh, khí thế gian, đều bị phá tan, mà cái huyễn chất cũng không thể c̣n nữa. Đó là nghĩa “t́nh dữ vô t́nh cọng thành Phật đạo”.

II.B.2.h- Hư sanh không lăo (122)

(luống sanh uổng già)

Từ sanh đến lăo, không đặng một chi!?

    Đây là nói cái sanh và cái lăo, v́ sanh mà không ích được sự ǵ, gọi là hư sanh; già mà chẳng đắc được chỗ chi, nên gọi là không lăo.

    Kư: Một không chỗ đắc là đối với môn giới, định, huệ và cả các pháp xuất thế gian, chẳng được một nào là chỗ để chơn đứng.

II.B.2.k- Vô minh hoặc.

Căn bản vô minh, nhân đó  bị lầm.

    Tất cả chúng sanh vốn đủ có cái thực tướng chân như, tức là minh tâm diệu tịnh. Chỉn bởi rốt đầu một niệm (điên đảo: tức nhân ái vi chủng, nạp tưởng thành thai) biết chẳng đúng như thực, cái tâm bất giác (mê) dấy động, thoạt nhiên vọng niệm nổi lên, mơ thấy cảnh giới tên là vô minh. Đấy tức là cái sanh trước nhất của vô minh, nó làm cái nhân cho gốc khổ sanh tử (cái thân) và các nhiễm pháp (mười ác).

    Do v́ cái nhân (sanh tướng vô minh) đó, nó  huân tập vào cái tâm thể chân như, cái nhân tăng trưởng mà thành ra sáu pháp:

    a-Tham (tánh cách nó hay nhiễm trước).

    b-Sân (nó lấy những ghét giận làm tánh).

    c-Mạn (tánh cách nó ưa ỷ ḿnh lướt người).

    d-Vô  minh (cái tánh của nó là mê mờ u ám).

    đ-Nghi (tánh nó là đối với các đế lư, dụ dự chẳng quyết).

    e-Bất chánh kiến (với các đế lư, tánh nó  hay điên đảo xét so, phân ra có cả năm kiến: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ  và giới cấm thủ).

    Sáu pháp ấy, lại sanh ra cả các phiền năo như:  đại tùy, trung tùy và tiểu tùy. V́ cái “sanh tướng vô minh” nó năng sanh ra các chi mạt vô minh, nên gọi nó là căn bản vô minh.

    Do v́ cái “căn” đó, làm mê mờ mất cái tánh viên minh xưa đi, che tối luôn chân tâm, thành thử, đối với các pháp của thế gian và xuất thế gian, không thể sáng suốt đặng, nên bảo nó là vô minh.

    Hết thảy mọi loài, nhân bị cái vô minh ấy, làm mê lầm chân tánh đi, chẳng thể thấy đạo (chân tâm). Rồi ra, chỉ tạo tác những cái nhân hữu lậu (như thập ác và mười thiện hữu lậu), nên nói là “bị hoặc”.

    Nếu người mà có thể một niệm hồi quang phản chiếu lại, th́ với trong vô minh ấy bị chân như un đúc, mà phát khởi cái chánh tín tu hành, để thành cái nhân tịnh nghiệp. Do cái tịnh nhân ấy, nó trở lại huân tập vào chân như, để tỏ rơ được tự tâm, liền đồng với chư Phật. Đấy, là chỗ gọi rằng “nhứt niệm tịnh tâm thành chánh”, tức là Phật vậy.

    Kư:  Do chẳng rơ chân như thực tướng, nên vọng niệm chợt dấy lên, gọi là vô minh. Đă mê mờ chân thực, nên xưng là hoặc; mê mờ vọng hoặc đă thâm sâu, thành thử tam nghiệp tưng bừng, nên tạo cả thiện lẫn ác. Do thiện nghiệp ác nghiệp đó, nó lôi cuốn đến lục đạo, để thụ sanh tử bằng mê vọng.

    Sở dĩ, tất cả mọi loài, mê  mất chân tâm, rượt theo vọng niệm, nên với trên cái cảnh chẳng dời mà  luống chịu luân hồi, đến trong pháp vô  thoát mà quấy chịu trói buộc.

    Tỷ  như: Con tằm mùa xuân làm ổ  kén, để tự buộc giam ḿnh, con bướm mùa thu nhào vô đèn, để tự liều cháy xác; lấy hai sợi tơ năng kiến, sở kiến  để vấn ràng cái ổ  kén vô minh, dùng hai cái cánh vô  minh (vi phụ) tham ái (vi mẫu) để quạt bánh xe lửa sanh tử luân hồi!

    Măi từ đời nọ đến  đời kia, niệm nào niệm nấy tiếp tục nhau, nên chịu sanh tử luân hồi, không  có  lúc nào thôi nghỉ!

    Nếu người mà có thể  ĺa được vọng niệm th́, tất cả phiền năo, sanh tử thảy đều hết nốt.

II.B.2.l- Khái thời mạng tốc

(Thương thời, mạng chóng).

Quang âm khá tiếc (123), sát-na chẳng lường!

    Bỏ  trống qua một đời, thế là khả tích! Cơn vô thường xảy đến, phi nhân lực có thể xét lường đặng! Chánh chỗ bảo “nhứt sát -na gian, chuyển tức tức thị lai sanh”, thực thế.

II.B.2.m- Hiện nhân hậu quả.

Đời nay trống qua, đời sau bít lấp!

    Nếu  đời nay mà chẳng trồng cái nhân minh huệ, th́  làm ǵ gặt được cái quả thông đạt ở tương lai.

    Kư:  Sất tắt là lấp che, tức là nghĩa bất thông vậy.

II.B.2.n- Nhân quả sở do.

Từ mê  đến mê, đều bởi sáu giặc.

    Từ mê là bỏ trống qua. Đến mê là  bị bít lấp. Đấy, cũng là với ba đời lẫn nhau nói lên vậy. Bởi v́ đời trước đă chẳng giác ngộ, đến đời nay lại vẫn cũng hôn mê nữa. Mà chừ nếu chẳng hiểu rơ th́, cái mê nó lại càng thâm căn cố đế thêm!

    Song, cái mê ấy, phi có cái ǵ riêng biệt, mà  đều bởi lục tặc khiến nên; tuy rằng sáu giặc khó đề pḥng, nhưng cái ư nó làm chủ, hễ bắt được chủ rồi (đắc Diệt tận định) th́ năm kia đều mất nốt.

    Kư: Chẳng rơ tức là  mê. Càng sâu (chuyển thêm) tức là  đời sau, măi cho đến sau đời sau nữa.

    Tặc là kẻ làm giặc cướp, nghĩa là  sáu căn chúng nó thường thường trú  trước lấy cảnh giới sáu trần, làm cho nhiễm nhơ  chân tâm, để rồi cướp của công đức, là tan mất trí  huệ.

    Của công đức (124), lược kể có bảy món: 1-Tín, 2-Giới, 3-Văn, 4-Xả, 5-Huệ, 6-Tàm, 7-Quư. Nhẫn đến các pháp vô lậu như ngũ căn, ngũ lực, thiền định…

II.B.2.o- Tuần huờn bất tức

Qua về  sáu đường, trườn tuột ba cơi.

    Nhân quả lần lựa chiêu cảm nhau chẳng nghỉ, nên nói là văng hoàn (qua về). Quá mỏi mệt v́ thăng lên ba thiện đạo và trầm xuống ba ác đạo, nên nói là bồ -bặt (trườn lên tuột xuống), đều bởi bị sáu giặc xua khiến, mà phải trôi lăn sáu ngả, lên ch́m ba cơi, măi không thôi nghỉ!

    Kư: Bồ-bặt: ḅ lết, tức là  ḅ lên lết xuống, nghĩa là  thăng trầm. Lại, là h́nh dung cái cơn kíp vội, lấy ư mà hiểu khá  biết.

II.B.3- Tụng thị pháp. Chia ra làm bảy phần:

(Trùng tụng lại khoa thị pháp).

               a- Y sư.

               b- Trạch pháp. 

               c- Liễu vọng.

               d- Qui chân.

               e- Tương vong.

               h- Tịch chiếu.

               k- Song dẫn.

II.B.3.a- Y sư (nương thầy)

Sớm hỏi minh sư, gần gũi cao đức.

    Minh sư: Thầy sáng suốt, người có thể khiến cho pháp nhăn của ta được minh chánh. Cao đức: Người có đức cao, hay khiến cho giới đức của ta được thanh cao. Sớm hỏi là chẳng nên chần chờ kéo dài thời gian. Gần gũi là nương theo thầy mà ở cho được lâu lâu.

    Kư: Đấng minh sư, hay khiến cái huệ quang của ḿnh được phát minh, nên mới đặng pháp nhăn minh chánh. Bực cao đức hay khiến giới cấm của ta sạch sáng, nên đặng giới đức thanh cao.

    Bởi thế, nên các người học Phật xưa, chẳng nệ  đường xa ngh́n dặm, cũng phải đi t́m hỏi bực thiện tri thức, sau khi được gặp tai mắt của đấng tác gia (125) rồi, liền đem cái bồ đoàn (126) máng lên cao, bẻ dẹp cây gậy (127), như các Tổ: Nam Nhạc (128), Kính Sơn (129) …Nếu rủi mà không gặp được bực thiện tri thức giúp dạy cho, lại không may mà bị tà sư làm mê hoặc, đảo loạn th́, trong tâm dấy tà nhân ngoài thân hành tà nghiệp, đâu có thể quyết chọn điều phải (chánh thiện), bỏ những chông gai (tà vọng) được ru!?

    Vĩnh Gia thiền sư nói “May mà gặp đặng bực chân chánh đạo sưV, rất phải cần tâm thân cận, đời nay, ví dẫu tham thiền mà chưa triệt ngộ, học giáo mà chưa thành tài, chứ đă nghe lọt vào lỗ tai, vẫn làm hột giống đạo rồi, về sau mỗi đời không sa đọa xuống ba ác thú, mỗi kiếp chẳng mất cái nhân thân, đến cái thời đầy đủ nhân duyên, vừa ló đầu ra, nghe một mà giác ngộ đến cả ngàn, thực lợi ích phi nhỏ”.

II.B.3.b- Trạch pháp

Quyết chọn thân tâm, bỏ đồ kinh cức (130).

    Quyết lấy tại tâm, chọn lấy cái huệ. Hành giả! Phải dùng lấy cái huệ vô lậu, để chọn lựa lấy cái thân tâm thanh tịnh, bỏ điều bất thiện, chọn lấy điều thiện mà tu. Tỷ như con ngỗng chúa nó lựa sữa mà uống.

    Kinh cức là vô minh vọng tưởng, ngũ cái, thập tập, với các điều bất thiện.

    Kư: Nước ḥa chung với sữa, con ngỗng chúa nó uống vào miệng, th́ tự nhiên nước ra nước, sữa ra sữa, nó uống sữa mà bỏ nước đi.

    Kẻ  phàm phu ai cũng vậy, đều bị  hai điều thiện và ác nó  tham họp lẫn nhau, chung chứa trong ruộng bát thức (131). Hành giả là kẻ tu hành, cần phải đủ con mắt huệ (132), để chọn điều thiện mà bỏ điều bất thiện, khiến cho thâm tâm được sáng sạch th́, với đạo cách nhau không xa, đấy là cái “trạch pháp giác (133)” trong thất giác ư vậy.

    Ngũ  cái (134): 1. Tham dục, 2. Sân khuể, 3. Thùy miên, 4. Điều hối, 5. Nghi cái.

    Thập tập (135): 1.Dâm, 2.Tham, 3.Mạn, 4.Sân, 5. Trá, 6.Cuống, 7.Oán, 8.Kiến, tức tà kiến, 9.Uổng: ép đè kẻ lương thiện, 10.Tụng: tranh luận với nhau về điều đắc thất.

II.B.3.c- Liễu vọng (Rơ những điều quấy dối).

Đời nó nổi phều, các duyên đâu ép.

    Giữa cơi đời, tất cả các pháp hữu vi, dường như chiêm bao, hoán thuật và mây bay trên không. Pháp hữu vi kia đều do nơi vọng hoặc mà sanh hiện, toàn không có tánh chân thực.

    Các duyên: Tức thế gian chư pháp (vũ trụ  vạn hữu); nó đă tự nổi phều (phập phều: vô căn) th́, đâu có thể làm ép bức. Song, các duyên sự pháp của đời, đều từ nơi chân tánh tùy duyên mà hiện thành. Tỷ như nước (chân tánh) tùy theo đồ đựng hoặc vuông hoặc tṛn (nước chứa: hồ vuông, ao tṛn, sông dài, bể rộng… sự pháp), gặp gió (duyên) th́ sóng dợn (sự pháp) hiện sanh ra.

    Đứa phàm, bị gió vọng tưởng làm xao động nơi tánh bổn nguyên, mà sóng dợn vọt trào, đó rồi thành kiến theo sóng mà lửng quên nguồn nước, cho nên chấp lấy sự pháp mà bỏ quên chân nguyên, phải bị mỗi mỗi sự duyên làm áp bức. Chứ nếu như người mà chẳng bỏ quên chân tâm th́, tức nhiên chẳng bị chúng duyên sự pháp kia nó che tṛng lừa khi đặng.

    Kư: Nước là tỷ dụ  chân tánh. Các đồ  sóng dợn là ví chúng duyên. Sự pháp tức là cảnh vật. Gió  là dụ vọng tưởng.

    Người mà biết sự sự vật vật, tức toàn là  chân, như biết sóng toàn là  nước, tức liễu vọng quy chân, là nói “bất thụ kỳ man: chẳng bị nó giấu t́nh khi nhau”.

II.B.3d- Quy chân (Trở về chân tâm).

Xét tột pháp lư, lấy ngộ làm chừng.

    Nghiên cứu cốt sao cho đến vô nghi điền địa là, cái chỗ mà tâm không c̣n một sự ngờ ǵ nữa. Chưa được thế, th́ măi cần đi cho đến thủy cùng sơn tận là, đoạn hoặc đă cùng, chứng chân đă tận, tức đă đến bực vô học, vô tu, vô chứng, đến đó, mới thôi nghỉ việc cứu xét, v́ đă cùng tận.

    Kư: Pháp tức là pháp sở hữu của tự tâm; chỗ rơ của pháp là lư. Xét tột như lau bụi trên mặt gương, hễ bụi bặm hết th́ ánh sáng hiện, nên nói là “lấy ngộ làm chừng”.

    Song, Pháp là nghĩa quỹ  tŕ – Quỹ nghĩa là mặc ư giữ (tŕ) tự tánh, để làm cách (quỹ) sanh hiểu cho người. Tỷ như sách đây nó tự giữ tánh cách giấy trắng mực đen, để làm cách kiểu cho người thấy mà hiểu là giấy trắng mực đen, chớ không thể hiểu bằng thứ ǵ khác.

    Mặc ư giữ tự tánh: Tất cả chúng sanh, đều có cái chân tánh bổn giác diệu minh, mặc dù lưu chuyển trong sáu ngả, thụ mỗi mỗi thân h́nh mà, cái giác tánh ấy chẳng hề mất diệt.

    Sanh hiểu: Chúng sanh được giác ngộ vào cái tri kiến của Phật, tuy là nhân nhờ thiện hữu tri thức dạy bảo khai thị cho, nhưng mà thực ra th́ cái trí hiểu biết là từ nơi giác tánh phát minh ra. Tỷ như đất nước nó hay nhuần thấm cho ngũ cốc, cây cỏ để nảy nở ra mộng, chồi, rễ, đọt, nhưng mà thực ra th́, những mộng kia đều do nơi hột giống ấy phát sanh, chứ phi từ nơi đất nước sanh ra. V́ hột giống là chánh nhân, đất nước là trợ duyên. Cũng như trí giải là chánh nhân, thiện hữu là trợ duyên.

II.B.3.e- Tương vong (Tâm quên nhau với cảnh)

Tâm cảnh đều quên, chớ ghi chớ nhớ (136)

    Tâm tức là nhân; Cảnh tức là pháp. Chớ ghi chớ nhớ tức là nhân pháp đều quên (137) nốt.

    Đức Tứ Tổ nói “Tất cả chẳng lưu lại, không thể ghi và nhớ, rỗng sáng tự soi, chẳng nhọc sức ḷng”.

    Ngài Bàn Sơn nói “Tâm nguyệt riêng tṛn, sáng nuốt muôn tượng. Sáng phi chiếu cảnh, cảnh cũng phi tồn. Quang cảnh đều quên, lại là vật chi?”

     “Thí như luyện cây gươm huơ trên hư không, bất luận đến đâu hay chẳng đến. Đấy là chốn không chẳng để dấu, lưỡi kiếm cũng không khờn mẻ”

     “Nếu người mà có thể được như thỏ, mỗi tâm niệm (tư tưởng) đều chẳng trụ nơi cái biết, th́ toàn tâm tức Phật, toàn Phật tức nhân, nhân Phật không lạ nhau (139), mới là đạo vậy”.

    Kư: Tâm là năng, Cảnh là  sở, nếu biết năng sở  đều chẳng có thực thể.  Đốn ngộ được nhân không pháp không, chợt rơ  vật và ta không nương nhau, mới tin được cảnh vắng tâm không.

    Vô  tri (140): Chẳng trụ nơi cái biết, Kinh nói “Tâm của Thánh không chỗ biết, mà không chỗ nào chẳng biết, tức là cái bổn giác tâm thể.

    Bổn giác chân tâm: Là tâm tánh nó  vẫn tịch diệt, v́ vốn không trụ trước nơi cái tri giác, nên mới năng tri năng kiến; tỷ như mặt gương nó không lưu những bóng tượng, nên mới có thể soi vật tượng được. Dẫu rằng hay chiếu giám, nhưng chiếu giám mà không trụ nơi cái chiếu giám.

    Cái chân tâm khôn thiêng sáng biết mà  vẫn vốn vắng lặng, nên trọn ngày dù  biết mà chưa hề trụ  nơi cái biết. Nếu có  trụ nơi cái biết th́, tức là  vô minh rồi, nếu có  trụ nơi cái thấy th́, tức là  vọng tưởng rồi. V́ cái trí thể nó không có cái vô minh và vọng tưởng. Do v́ vô tri, nên nói “Trí là dù có cái sáng soi cùng tột đến u vi, mà không chấp lấy cái biết”

II.B.3.h- Tịch chiếu (Vắng soi).

Sáu căn ḥa vui, đi ở vắng lặng.

    Tâm cảnh đều quên, giải thoát hai chướng. Chiếu cái thể  nó độc lập, dứt hẳn điều biết điều hiểu, quên cái năng cái sở. Đặng nơi trong, ứng nơi ngoài, thế nên được sáu căn tự nhiên ḥa thuận, siêu thoát chỗ tiển tiển (141), há chả ḥa vui!

    Đi, đứng, ngồi, nằm, khi hành động, khi chỉ tịnh, đều là như như, nên nói là vắng lặng (tịch mặc).

    Tổ  Vĩnh Gia nói “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói, nín, động, tịnh thể vẫn yên” thực thế.

    Kư: Mắt đối ngàn non, ḷng nhàn một cảnh, bởi thế sáu căn tự thuận, tiêu diêu tam giới, giải thoát tứ sanh, không bị tṛ thanh sắc, cảnh trần lao làm lụy, tâm thần rảnh rỗi ngoài sự vật, nên nói là duy nhiên (ḥa vui).

    Tổ  Vĩnh Gia nói: Với diệu ngộ (142) và huyền tông (143), ḷng rỗng ám họp, động, tịnh, ngữ mặc vẫn thường quy củ (144 (pháp tắc)). Điềm đạm (145) (lợt lạt) yên nghỉ trong tánh t́nh, thênh thang lộ bày ngoài thân thể”.

    Hoa Nghiêm Luận nói “Chỉ vắng lặng, nín thinh, tâm tạo ra cái bộ dạng của đức Như Lai chẳng chấp trước quyến luyến, là cái lề lối vào đạo hợp pháp” thực thế.

    Rằng Tịch chiếu. Tịch là thể; Chiếu là  dụng. Chỗ tích cực của  đạo, là cùng cực ở đấy vậy.

II.B.3.k- Song dẫn  
 (Đôi mất, tức đôi bên đều mất hẳn)

Một tâm chẳng sanh, muôn pháp đều nghỉ.

    Chẳng cùng làm bạn với vạn pháp, người mà đă  tiến đến địa vị ấy th́, với cả biên tế trước sau, trong ngoài và trên dưới đều dứt sạch, nên nói là câu tức (đều nghỉ, là vô sự đạo nhân).

    Kư: Với vạn pháp ấy, là chỉ con số tổng quát mà, thực ra th́ đă bao trùm tất cả.

    Nay đây, nói lên trước sau là  đă bao quát cả thập phương, tam thế, tất cả sự lư, nội ngoại các pháp, đều gom nằm gọn trong hai tiếng trước sau. V́ vạn pháp dù đông nhiều, nhưng không ngoài tâm cảnh mà, tâm đă không, cảnh đă tịch riêng bày sờ sờ. Chẳng vướng mảy tơ, nên nói là “Bất dữ vạn pháp vi lữ”.

    Nhứt tâm: Là chân tâm (146) bổn giác (147) diệu minh (148). Luận Khởi Tín nói “Chỉ là nhứt tâm, nên gọi chân như, tâm thể nó ĺa niệm (tư tưởng), nên nói bất sanh”.

    Kinh Lăng Già nói “Hễ tâm sanh th́ mỗi mỗi pháp đều sanh, tâm diệt th́ mỗi mỗi pháp đều diệt”.

    Chỗ  gọi rằng “Tâm lạ th́ ngàn điều sai khác đều đua dấy lên, tâm dứt th́ muôn pháp đều phẳng bặt; tâm nhiễm th́ có lục đạo, tứ sanh, tâm không th́ nhứt đạo thanh tịnh”.

    Tông Cảnh nói: Sao gọi là nhứt tâm? - Là  cái pháp tánh không hai, đối với tất cả  các pháp, không c̣n có  phân biệt tương đối như  chân vọng (thực dối), nhiễm tịnh (dơ  sạch) … nên gọi là nhứt. Cái pháp tánh không hai chỗ đây, nó thực chẳng đồng với cái không, v́ tánh nó tự nhiên rất thần t́nh sáng hiểu, nên gọi là tâm.

    Cái thể của nhứt tâm, dù  lại dù đi, vẫn đều vắng dứt, nên chẳng thể lấy những hữu vô, xứ sở, để xét tột được cái dấu vết thiêng u của nó, chẳng khá lấy những biết, khôn, nói, lường để bàn luận đến cái thể mầu của nó.

    Chỉ  có người nào đă  chứng nhập đến nó  th́, chỉ tại ở tâm ḿnh tự biết lấy thôi. Người mà chỉn có thể với nội tâm ḿnh tự quan sát nhứt niệm bất sanh th́, cả tam giới dường hoa đốm giữa hư không như bị gió cuốn khói đi mất, sáu trần dường cái bóng huyễn hóa, như nước sôi tưới lên băng tuyết tiêu tan.

    Chẳng c̣n tam giới lục trần th́, rỗng rang không bờ mé, chỉ một chân tâm mà thôi; tâm ấy vốn tự viên minh, nguyên là thanh tịnh thể, không khởi không sanh, thể nó bất động, chẳng bị cái sanh tử của lục phàm làm nhiễm nhơ, không phải cái Niết -bàn của tứ quả (Thanh văn) làm tịnh sạch. Đây, Tâm Kinh nói “Bất cấu bất tịnh…”.

    Hỏi: Tâm đă duy nhứt, vọng từ  đâu sanh?

    Đáp: Số là, bởi ban đầu lửng quên nhứt pháp giới (chân tâm) chẳng ngờ vọng động nổi lên mà có ra cái niệm (vọng tưởng). Tỷ như con người quá lao lự mà thấy giữa hư không có hoa đốm hiện ra, lại như ngủ quá mê mà sanh ra chiêm bao thấy có cảnh này vật nọ. Tức cái mà “Thấy hoa đốm – Thấy chiêm bao” đó, gọi là vọng tâm.

    Cái vọng tâm ấy, nguyên không có  cái tự thể, chỉ nhân cái cảnh tiền trần, tùy theo cảnh mà vọng tâm hoặc có  hoặc không. V́ khi mà  có cảnh để đối trước, tức nhiên vọng tâm sanh ra, khi mà cảnh ấy  đi rồi không c̣n đối trước th́ vọng tâm tức diệt mất. Mà tâm ấy cảnh ấy, đều chả có tự tánh, nó chỉ theo nhân duyên dối hợp để sanh ra.

    Tỷ  vọng tâm ấy như bóng tượng trong gương, bóng trăng dưới nước, kẻ ngu phu nhận lầm cái bóng ấy cho là thực.

    Với cái tâm ấy, đức Nhị  Tổ chẳng an, mà cầu cái pháp an tâm  đối với dưới một lời nói của Sơ  Tổ, liền hiểu rơ cái  “tâm bất sanh” ấy, nên Nhị Tổ thốt lời tŕnh rằng “Mích tâm liễu bất khả đắc”. Liền tự biết cái chân tâm: Rỗng trống, khôn thiêng, sáng suốt, nhiệm mầu, phổ biến tất cả chỗ nơi, bao hàm cả mười phương giới.

    Đă là tâm nhân cảnh khởi, nếu cái vọng tâm ấy bất sanh th́, trước cảnh liền diệt mất, nên nói là câu tức (đều nghỉ).

    Trước kia nói “tịch chiếu: vắng soi” th́ cũng c̣n là cảnh trí đều lập; chừ đây cả trí cảnh suốt lẫn mà đều mất, nên nói “song dẫn: đôi mất”.

    Cả  trí lẫn cảnh đều bặt mất, chỉ  c̣n một cái bổn giác chân tâm vắng diệt không h́nh tướng, thể nó đồng với chư Phật, Tổ Vĩnh Gia nói “Cảnh trí ám họp làm một, muôn đều lụy điều mất, chỉ c̣n cái tông chỉ huyền diệu”.

    Hỏi: Trí mà dẫn (bặt mất) th́  lấy ǵ để ứng cơ  tiếp vật, cảnh mà vong (chả tồn tại) th́ làm sao để cảm kia đến ứng?

    Đáp: Trí Bát -nhă là không biết (v́ thể nó là chân không vô tướng); Luận nói “Trí càng mờ mà soi càng sáng, thần càng lặng mà ứng càng động, cảnh càng vắng mà ứng càng cảm”.

    Biệt Hành Sao nói “Do lư ám họp với trí, nên đắc tất cả vạn pháp đâu chẳng là Pháp thân (mà thể của pháp thân là phổ biến cả sơn hà và đại địa), thế th́, hễ chúng sanh ở cả mười phương, có phát Bồ -đề tâm, với tâm thức thanh tịnh ấy, đâu chẳng v́ ứng hiện để mà thuyết pháp ư!”

 Thế  nên, cái thể tánh chân như  đây, dường như viên ngọc ma -ni (như  ư) tùy màu nào hiện sắc nấy. Sao bảo là  vô cảm ứng ru!

Chú  Thích

    1. Đoạn vọng chứng chân: Lấy chân trí đoạn vọng hoặc. Đoạn một phần hoặc (vô minh hoặc) th́ tâm nó hiển ra một phần chân lư (Pháp thân hay Chân như), gọi là chứng lư. Chứng lư là cái quả đoạn hoặc. Các tu sĩ của tam thừa từ ngôi kiến đạo nhẫn lên, mới bắt đầu đoạn một phần hoặc, từ đó về sau là bực Thánh giả, c̣n về trước là nội phàm phu. Kiến đạo: Một trong ba đạo là ngôi mà, bắt đầu sanh ra cái trí vô lậu chiếu thấy cái lư chân đế. Đạo là đạo lộ, tức đạo lộ của học giả tiến thủ. Lại, Bồ-tát bên Đại thừa, với cuối sơ A -tăng-kỳ, rốt tứ thiện căn là Thế đệ nhứt pháp Gia hạnh, liền đoạn được hai cái chướng phiền năo và sở tri do phân biệt sanh khởi gọi là ngôi kiến đạo. Tam đạo: 1-Kiến đạo vị; 2-Tu đạo vị; 3- Vô học đạo vị. Ngôi kiến đạo Là từ vô thỉ lại, ban sơ phát sanh cái trí chân vô lậu mà quán cái đế lậu để đoạn tất cả kiến hoặc. Tại nơi Thanh Văn thừa là ngôi Dự -lưu hướng ở sau ngôi Thế đệ nhứt pháp gia hạnh; tại nơi Bồ -tát thừa là ngôi nhập tâm của Sơ địa. Thấy cái lư chân đế: Kiến đế là chứng ngộ chân lư. Về Thanh Văn th́ quả Dự lưu thấy lư chân đế; về Bồ -tát th́ Sơ địa thấy lư chân đế. Chân đế: Chân là chân thực không vọng, chữ Đế cũng như chữ Nghĩa. Đối với tục đế nên nói là chân đế. Như bảo pháp thế gian là tục đế, pháp xuất thế gian là chân đế. Lại, chân đế là thực nghĩa trên chân lư; thấy đế là thực nghĩa của Thánh giả quán thấy; Tục đế là thực nghĩa trên tục sự và là thực nghĩa của phàm phu xét biết (với thực nghĩa, Duy vật gọi thực tế).

    2. Chấn chiệp. Chấn: sợ; Chiệp: khiếp mất hơi thở, là bị uy thế hiếp đáp. Chấn chiệp ma quân: Làm cho ma quân sợ khiếp!

    3. Thiên ma: Tức là Thiên tử ma, vị ma vương ở trên cung trời thứ 6 của Dục giới, tên là Ba Tuần, có quyến thuộc nhiều đến vô lượng, chúng thường làm chướng ngại cho người hành Phật đạo, v́ cực thiện hay bị cực ác làm đối phương thử thách! Kêu rằng “Đạo cao nhứt xích ma cao nhứt trượng”. Huyên ứng âm nghĩa 23 nói “Phạm ngữ Mara (Ma-la), dịch chướng, là ưa làm chướng ngại cho kẻ hành đạo; cũng dịch là Sát, thường làm cho hành giả tự buông lung mà phải tự hại lấy thân mạng. Ba Tuần dịch ác ái, là tên của ma vương đương thời Phật Thích -ca xuất thế. Thời Phật Ca -diếp th́, ma vương tên là Đầu sư, dịch ác sân… Thế, biết rằng kêu tắt là ma, gọi đủ là Ma -la. Nguyên chữ Ma bằng chữ Thủ là tay ở dưới, như các chữ Ma ở các câu Ma -ha-tát, Ma-ha Bát -nhă… Vũ Đế đời Lương, đem chữ Quỷ thay v́ chữ Thủ, bởi cho là ma cũng như quỷ hay làm nhiễu hại người, mà thành ra chữ Ma của Vũ Đế chế, chứ phi chữ Ma của tiếng Phạm.

    4. á Dương tăng: (săi dê câm). Trí Độ Luận nói “Vị Tỳ -kheo mà ngu si, nghĩa là, chi là thiện ác, ǵ là tŕ phạm đều chẳng biết, theo cái tội ḿnh đă phạm, mà chẳng biết sám hối, dường như con dê câm, v́ từ nhỏ măi đến già chết, vẫn không biết kêu một tiếng be he!

    5. Điểu thử tăng: (thầy chim chuột, tức con dơi). Con Dơi là một vật phi cầm, v́ có bốn cái cẳng, phi thú, v́ có hai cái cánh. Khi mà nó lên trên để kiếm ăn, bị thượng cầm kẽ vạch là thú th́, nó căi rằng: - Tôi cũng thượng cầm như các anh, v́ có hai cánh thế này; khi mà xuống dưới kiếm ăn bị hạ thú phủ nhận th́, nó căi rằng: - Tôi cũng hạ thú như các anh, v́ có bốn cái gị. C̣n nhà sư mà không giữ giới luật, Phật quở là Điểu thử tăng tức phi tục, v́ đầu tṛn áo vuông, phi tăng, v́ hành động như kẻ tục. Bởi thân ở trong chùa mà, tâm rông ngoài thế. Điểu thử tăng tức Biến bức tăng…

    6. Thốc cư sĩ (cư sĩ sói đầu): Là Tỳ -kheo phá giới chẳng hộ chánh pháp, nên bị mỉa mai rằng Thốc cư sĩ. Lại, Thốc nhân, Thốc cư sĩ, Thốc nô… đều là lời quở mắng tăng nhân, v́ bên ngoài th́ tương tợ tăng nhân mà, bên trong th́ tâm hạnh phi tăng. Lâm Tế Lục chép “Có một hạng Thốc nô, chả biết tốt xấu, liêm sĩ ǵ ráo!” Thuyết Văn Tự Điển nói “Thốc là không tóc”. Trong kinh, Phật quở Tỳ -kheo phá giới, vô hạnh kiểm là thốc nhân, hoặc thốc cư sĩ, do v́ tuy cạo tóc mà chẳng có cái hạnh xuất gia Sa -môn th́, chỉ là người tục sói đầu thế thôi. Kinh Niết -bàn cuốn 3 nói “Phá giới, chẳng hộ chánh pháp, gọi là Thốc cư sĩ”.

    7. Làm sự buôn bán: Kinh Lăng Nghiêm nói “Bi phán Như Lai chánh pháp” nghĩa là nương tựa trong giáo pháp của ta, hóa Phật pháp thành ra mối hàng, để tham lấy lợi dưỡng. Như thầy cúng, thầy đám lănh sát đàn tràng, đem Phật tượng treo lên, bày kinh, sám, chuông,, có giá ăn tiền, v́ một ngọ là bao nhiêu bạc, tụng một phẩm là mấy chục tiền… Nên bị đời gọi các sư ứng phú là các ông thợ tụng, v́ nghề tụng tán chuyên nghiệp. Bi: Phụ tá, phụ thuộc, tức nương dựa, hay nhảy dù. Phán: mua một giá rẻ, bán lại bằng giá mắc. Tấc bước chẳng dời, như những lời thành ngữ “đánh cho chết cái nết cũng không chừa!, “ngựa quen đường cũ không chừa!

    8- Bích lập thiên nhẫn (vách đứng ngàn nhẫn): Bờ vực đứng dựng, nói là vách. Tùy thư nói “Núi dựng như vách ngh́n tầm”. Theo Kinh chú rằng “Thân núi chỉ toàn bằng đá, như vách đứng ngàn nhẫn”. Nhẫn: Xưa dùng thước nhà Châu, tám thước là một nhẫn. Kinh điển thư nghĩa nói: một nhẫn là bảy thước. Tiểu Nhĩ Nhă nói: một nhẫn bốn thước. Tại đây nói “vách đứng ngàn nhẫn” tỏ ư nghĩa là lập chí kiên cố độc lập, như vách cao đứng sựng giữa hoàn cảnh lục trần, đừng cho nó ngă trụ vào đâu, cảnh trần cũng không duyên vào, như người không leo lên vách đá ngh́n nhẫn được.

    9. Vịnh ngâm: Tuồng tập về hoa nguyệt, hay là tiểu thuyết ái t́nh, sách vở khiêu dâm, không đặng vịnh ngâm.

    10. Tửu sắc tài khí: Sách Thông Tục biên “ông Dương Bĩnh thường nói: Ta có ba điều chẳng làm, là tửu, sắc và tài”. Đời nay người ta thêm cái “khí” thành “tửu sắc tài khí” là tứ đổ tường: bốn vách, đă thành lời thường nói, bắt đầu từ đời nhà Minh. Khí: làm hơi, làm bộ, tức khí khái, phách lối, kiêu căng, cống cao, ngă mạn đều là khí cả.

    11. Ngũ quan. Quan: thể; tai, mắt, miệng, mũi và thân là ngũ giác quan của nhân thân, nghĩa là đều có chức chưởng chủ biết. Ty: chủ. Như nhăn ty thị giác: mắt chủ biết xem, tai chủ biết nghe, mũi chủ biết hửi, lưỡi chủ biết mùi, da thứa chủ biết đụng chạm, cả năm đều có dây thần kinh liên thông lên năo hảỷi, đều có chức chưởng chủ truyền bảo với hiện tượng bên ngoài. Nhà Phật gọi là ngũ căn: nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt và thân.

    12. Truy điền: Tức là truy điền y, Truy là Truy y, đồ bận của Tăng gia. Truy điền tức như tăng viên. Tăng Sử Lược chép rằng “Xứ Tinh Bộ U Châu người ta ưa chuộng màu đen, nếu Tăng mà bận quần áo đen rất là phi pháp! Sao vậy? V́ hắc là nhuộm thực đen, một trong năm màu chính của ngũ phương mà hắc sắc thuộc về phương bắc, Phật không cho chư Tăng bận chính sắc của năm màu ấy, chỉ nên dùng hoại sắc, nghĩa là làm cho hư hoại cái màu chính để mà, dùng bằng phi màu, như thâm thâm, lem lem chẳng hạn. Hỏi: Thế th́ Truy y là trạng mạo nó như thế nào? Đáp: Đỏ mà hơi ửng đen thâm thâm.

    13. Một ky đất: Kinh Thư chép “Đắp ḥn núi cao chín nhẫn, c̣n kém một ky đất”. Chú: đắp núi tuy đến chín nhẫn, nếu thiếu một ky mà bỏ đi th́ cũng chẳng thành núi. Đấy là ví dụ công lao bị thất bại vào lúc sắp thành.

    14. Đốn ngộ: Có một hạng đại tâm chúng sanh (Đại Bồ -tát) chỉ nghe ngay pháp Đại thừa, tu ngay pháp Đại thừa, chứng ngay quả Phật, thế là đốn ngộ; ban đầu học tu đắc quả Tiểu thừa, sau hồi đầu vào học tu Đại  thừa cho đến quả Phật, ấy là tiệm ngộ.

    15. Siêu hẳn giai cấp. Giai cấp: thềm, bậc, cái thềm chung quanh nhà, mà xây có từ cấp tức bậc bước từ bậc mà lên, là thập cấp. Phàm sự vật quan phẩm, tu chứng, cũng đều có từ đẳng từ cấp. Người phát tâm xuất gia tu Phật, dần dần chứng quả, như trải qua mười tín, mười trụ, mười hạnh, mười hồi hướng, mười địa, Đẳng giác, Diệu giác, Viên giác tức Phật học tu chứng quả như thế, gọi là tiến lên từ giai cấp. Trái lại, chỉ nhứt văn thủ ngộ, tức đốn ngộ, như trên đă dẫn, nên nói siêu hẳn giai cấp.

    16. T́nh thức: T́nh: cái tánh nó phát lộ ra ngoài h́nh sắc, nói là t́nh, như kinh Lễ nói “Hỉ, nộ, ai, cụ, ái,, dục: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn, gọi là thất t́nh”. Lại, ngũ t́nh tức năm thức trước. Thức: cả thức, ở đây nói “t́nh thức quên hết” là đă chuyển thức thành trí, th́ t́nh thức đều không c̣n, v́ đă hoàn toàn bị thành trí, nên nói “tức đồng với Phật”.

    17. Sáu kinh: Sáu bộ kinh sách tức kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, kinh Xuân Thu, kinh Lễ và kinh Nhạc. Kinh Nhạc bị tiêu mất từ nhà Tần (v́ Tần Thỉ Hoàng, phần thư khanh nho), nên kinh Nhạc không c̣n truyền nữa.

    18. Rừng nhu: Sách Lễ Nhu Hành Thích Văn nói “Nhu là ưu tú, là ḥa nhă”. Là nói có thể làm an cho người, có thể phục vụ với người. Nhu Lâm: Chỗ các nhà Nho tụ hội đông đảo như lùm rừng nên nói nhu lâm. Sử kư Thái Sử Công tự rằng “Từ Khổng Tử mất, tại kinh sư không c̣n chuộng nhà tường nhà tự nữa; duy trong khoảng niên hiệu Kiến Nguyên nguơn thú, nghề văn chương từ cú rất rỡ ràng, trứ tác được bộ Nhu Lâm truyện 61 quyển”. Từ đó về sau Sử, Thư đều có truyền Nhu Lâm là đầu từ đây.

    19. Hương trầm thủy: gọi tắt là trầm hương. Lời chú sách Bản Thảo, dẫn lời của Thời Trân nói: Cây hương này trong lơi có đốt, (mắt), cái đốt ấy để vào nước th́ ch́m, nên gọi là trầm thủy hương, ch́m chừng phân nửa là sạn mộc hương, không ch́m là hoàng thục hương.

    20. Xạ hương, hoắc hương. Xạ hương: Con xạ, giống con nai mà không có gạc, lông dài, màu xám tro. Con đực răng như răng chó mà ló ra ngoài mép. Dưới bụng có cục da lớn bằng trứng gà do mỡ kết tinh mà thành, mùi nó thơm rất xẳng. Hoắc hương: Cộng vuông, có lóng, trong tồng phổng, lá cộng đều có hơi thơm, được nhập với thuốc bắc.

    21. Thầy ác tục: Là các ông sư mà tập theo ác tục, phóng túng tửu nhục, thê thất lại tự cho là không chướng ngại đạo, nên ví các ông như các ông Tỳ -kheo ở xứ Bắc sông Hà cũng tập tục theo nghề bắt rắn để sống. Không nhân: a-Người ở trong không môn tức cửa chùa, là chỉ cho các Tỳ -kheo xứ Bắc sông Hà… b -Người chấp cái không lư của Đại thừa rồi nói càn làm bướng, nên gọi là không nhân. Thế là không lư của Đại thừa trở thành ra cái tà không của ngoại đạo hóa. Vô cấm tróc xà. Cấm: cấm chế, bắt rắn độc nhờ có cái phép hạn chế, nghĩa là, dùng củ nén thoa hai tay, lấy cây gậy sắt, trước đè nơi cổ, kế lấy tay nắm cái đầu của nó, thế, gọi là “hữu cấm tróc xà” có cái cách cấm chế để bắt rắn. Trái lại, nếu chẳng y pháp thuật ấy, chỉ vội vàng chụp bắt bằng tay không, tất bị nó cắn, nọc (nọc độc ở tại hai cái răng cấm của nó) độc chạy lên trào bọt ra miệng mà chết. Thế, gọi là “vô cấm tróc xà”. Đây, là thí dụ Tỳ -kheo không có các chế pháp bằng quán trí, lại nói bướng cái không ly (vô cấm tróc xà) buông lung ngũ dục (độc xà cắn)! Rút ở kinh A --tra. Sách Chỉ Quán quyển 2 nói “Hai xứ miền Bắc sông Hoài sông Hà, có người tà không, hành pháp Đại thừa, tỷ như không có cái thuật cấm chế mà, chỉ hai tay không dám bắt rắn độc”. Sách Phụ Hạnh nói: Hai xứ Hà Bắc, Hoài Bắc, có người tà không (Hà Bắc không nhân) lệch về không lư, lạm xưng là tu Đại thừa, không có cái quán trí mà vào nơi ác không (chấp không lư mà chẳng có quán trí, nên gọi là ác không), nên lấy dụ “Không thuật cấm chế mà bắt rắn bằng tay không để thí tỷ đó. Ḷng tham dục tỷ là độc xà, quán pháp ví như cấm chế lấy phép quán để quán xét ḷng tham dục như bắt rắn, bốn câu bất thiện như về cấm”.

    22. A--tra: Tên của một Tỳ -kheo. A--tra, dịch Vô Tướng. Luận Tát Bà Đa nói “Người này trước là đệ tử của ngoại đạo, vâng lời thầy dạy vào trong Phật pháp, đem Phật pháp nói đảo loạn. Người này bẩm tính thông minh, chẳng bao lâu, học suốt tam tạng, rồi nói đảo loạn rằng “Sơ quả, Nhị quả, đều có thê tử, cũng chẳng chướng đạo”. Bịa lời ấy để tự tỷ đề cao ḿnh, và ác ngôn rằng “Tuy hành dâm dục, cũng không ngần ngại ǵ với đạo đức”. Song, y tự hành chướng đạo mà chẳng thể chướng đạo, v́ chúng nhân ai cũng chẳng nghe theo…

    23. ác giác: Là tư tưởng ác. Sách Đại thừa nghĩa chương cuối quyển 5 nói “Cái tâm tư tưởng gọi là giác; trái với chánh lư, nên gọi là ác. Song, ác giác nó có những tánh cách bất đồng với nhau nên riêng rời có tám thứ”. Sách Chỉ Quán cuốn 5 nói “Tám gió ác giác, là chỗ chẳng thể vào”. Bát phong: Tám gió, tức: Lợi, suy, hủy, dự, xưng,, khổ và lạc. Sách Đại Tạng Pháp Số chép: Tám điều ấy, người trong thế gian chỗ ưa chỗ ghét mà, nó hay phiến hoặc ḷng người, nên gọi là gió.

    24. Uẩn tố tinh thần: Chứa tinh thần sẵn. Tố: cố hữu, sẵn có. Sách Trang Tử chép “Tháo tuyết tinh thần”: gội rửa tinh thần. Linh khí của con người gọi là tinh thần. Đời nay, người ta gọi chung chỗ tinh vi của sự vật là tinh thần. Sách Phật gọi tinh thần là tư tưởng mà, tư tưởng có chánh có tà… ở đây nói “chứa tinh thần sẵn” th́, tinh thần này chính là cái năng lực của chánh niệm, tức là “chánh tư duy”.

    25. Hối: Mờ tối, tự giấu thanh danh, như ở ẩn chẳng cầu ai đồn đăi, nói là dưỡng hối.

    26. Thần khuất mặt: Kẻ khuất mặt là vị thần Bổn Cảnh, v́ con mắt thịt của nhân gian không thể trông thấy được, nên gọi là khuất mặt. C̣n con mắt của quỷ thần th́ chỉ thấy cái tâm niệm (tư tưởng) của người chứ không thể thấy được h́nh tướng của người. Xưa có vị Tổ xuống nhà trù, thấy món đồ bị bể, khởi niệm lên quở ông thủ khố… chợt có vị thần Bổn Cảnh quỳ gối chắp tay trước mặt; Tổ hỏi: - Ngài có việc chi? Thưa rằng: - Đến đây đă mấy năm, chực măi hằng ngày, để trông thấy Tổ cầu quy y mà không được thấy, v́ Tổ tâm thường ở trong định; nay nhờ Tổ khởi niệm quở viên thủ khố, nên tôi mới được nhân thây tâm niệm mà thấy luôn pháp tướng của Tổ, và nhân cơ duyên cảm ứng nên Tổ cũng thấy được thân căn của tôi…

    27. Trưởng dưỡng Thánh thai: Trưởng dưỡng: là với công đức thiện căn, cần sanh trưởng dưỡng dục vậy. Kinh Hoa Nghiêm cuốn 14 nói “Ḷng tin là mẹ công đức ở đầu đạo, v́ hay trưởng dưỡng cả các thiện căn”. Thánh thaiLà ba ngôi Hiền tức mười trú, mười hành, mười hồi hướng đồng gọi là bực được trưởng dưỡng Thánh thai. Bởi v́ lấy tự chủng tánh làm nhân, thiện hữu làm duyên, nghe chánh pháp rồi, lo tu tập trưởng dưỡng, măi đến bực Sơ địa mới thấy đạo,