|
"Trong giáo lư người ta dạy tôi t́nh yêu
đối với người đồng loại. Vào
năm 1939 khi tôi thấy các Giám Mục làm lễ ban phép
lành cho các khẩu đại bác, tôi chẳng hiểu ra làm
sao ! ".
Nguyên tác Pháp ngữ : Alain Renon / Le Monde Diplomatique Chuyển ngữ :Khánh Hải Triều Quang |
Với khoảng 2 triệu rưỡi tín
đồ tại Âu Châu và ít nhất là 5 triệu tại Hoa
Kỳ, Phật Giáo đă thật sự bén rễ ở Tây
Phương. Sự phát triển của Phật Giáo rất
rơ rệt, đặc biệt là ở lục địa Âu
Châu, nơi mà 30 năm trước đây chỉ
được xem như là một tôn giáo ngoại nhập
hay chỉ là một thứ triết học dành cho các nhà
thông thái nghiên cứu. Thời đó đă qua rồi, thí
dụ như là trường hợp nước
Pháp.Thất vọng trên lảnh vực chánh trị hay là
nạn nhân của sự bất ổn tinh thần càng ngày
càng tăng, nhiều người đă đến với
Phật Giáo với hy vọng t́m thấy một giải
đáp cho cuộc sống.
Tại Âu Châu, nước Pháp là nơi Phật
Giáo phát triển ngoạn mục và đa dạng nhất.
Trong ṿng 20 năm có gần 200 tự viện và trung tâm Phật Giáo được thành
lập.(1). Số lượng tín đồ cũng tăng
theo cùng một nhịp độ: số Phật tử
gấp đôi trong ṿng 10 năm: năm 1976 với 200,00 tín đồ, đến năm 1986
tăng lên 400,000. Đến năm 1997 con số này lên
tới 600,000. Bộ Nội Vụ và Sở Thống Kê
đều đồng ư với con số này. Phần
lớn tín đồ của Liên Hiệp Phật Giáo tại
Pháp, quy tụ chừng 80% các hiệp hội Phật Giáo.
Phật Giáo hiện là tôn giáo lớn thứ 5
tại Pháp (2). Về phương
diện tâm linh, Phật Giáo là tôn giáo được
người Pháp ưa chuộng vào hàng thứ ba. (3)
Bắt đầu từ thập niên 1960, ‘sự
thành công của Phật Giáo trước nhất là nhờ
công của các Thiền Sư Nhật Bản và Tây Tạng.
Phật Giáo may mắn có mấy ‘mạnh thường quân’
theo Phật Giáo, như nhà tỷ phú gốc Anh, Bernard Benson,
khi đến lập nghiệp tại Dordogne (Pháp) từ đầu
thập niên 1970, đă mới các nhà sư Tây Tạng
đang tỵ nạn đến giảng pháp’. Một
nhà xă hội học, Frederic Lenoir, thuộc Trung Tâm Nghiên
Cứu Liên Ngành Về Tôn Giáo, Tại Trường
Nghiên Cứu Khoa Học Xă Hội đă xác nhận như
thế. Sau đó cuộc di dân vĩ
đại của sắc dân Á Châu, nhất là Việt Nam và
Cam Bốt đă làm con số thống kê tín đồ
Phật Giáo tăng nhanh. Hai phần ba tín
đồ Phật Giáo tại Pháp là người Á Châu.
Tuy nhiên số lượng tăng trưởng nhanh chóng này
không che khuất được sự kiện quan
trọng: số lượng người Pháp chính gốc theo đạo Phật cũng tăng gia nhanh
chóng, dù chỉ chừng vài mươi ngàn.
Số người theo
đạo Phật thuộc nhiều thành phần xă hội
khác nhau: từ người bị mất việc
đến các chuyên viên cao cấp của các đại xí
nghiệp. Tuy nhiên thành phần chính theo
đạo Phật là thành phần thị dân trung lưu.
Hiện tượng này phản ảnh rơ ràng trong 2 cuộc
nghiên cứu sâu rộng của Bruno Etienne và Raphael Liogier
(4). Hai ông ghi nhận là các người theo
Phật Giáo nổi bật nhất là thành phần Bác Sĩ,
các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, các người trong ngành
truyền thông (nhà giáo, kư giả) và chuyên viên xí nghiệp. F
Lenoir nghiên cứu rộng răi hơn cho biết là phần lớn những người
theo đạo Phật có tŕnh độ Đại Học
và một số đông đảo trong nghề Y Khoa và các
nghề liên hệ. Số lượng nữ giới chiếm
60% và họ cho biết hai lư do chính yếu khiến họ
đến với Đạo Phật là bất bạo
động và tránh tranh chấp.
Động lực khiến Đức Phật
đi t́m một con đường giác ngộ là v́ muốn
làm giảm bớt đau khổ của con người. Đặc tính này của Đạo Phật đă
làm cảm hóa được những người hành các
nghề y khoa. Chính họ cũng là những
người đối diện thường xuyên với
những nỗi đớn đau của con
người. Triết lư buông xả của Đạo
Phật cũng giúp họ giải tỏa những phiền
năo của cuộc tồn sinh và giảm những khủng
hoảng thầm kín riêng tư như mất việc,
mất địa vị trong xă hội...Như các tín
đồ của Soka Gakkai ‘phần lớn chừng 55 ,
56 ngàn người đều ở trong t́nh trạng
bấp bênh, khủng hoảng chức vị....Sinh hoạt
nội bộ khiến họ tiết lộ những kinh
nghiệm riêng tư, thường được thể
hiện như phương cách thích ứng, nếu không
muớn nói là một thứ tâm lư trị liệu bổ túc’,
như Louis Hourmant, thuộc nhóm Xă Hội Học Tôn Giáo
ở Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học, một
chuyên viên nghiên cứu về giáo phái này nhấn mạnh.
Một điểm khác nữa là, việc không
thỏa măn về t́nh huống chính trị cũng là
bước đầu để người Pháp
đến với đạp Phật. B Etiene và R Lioger
viết:’Tư tưởng của Phật Giáo được những người
muốn thoát khỏi những bế tắc của sụ
đối nghịch giữa chủ nghĩa xă hội và
chủ nghĩa tư bản, xem đó như là một
ước vọng giải thoát để đem lại
hạnh phúc cho loài người’. Lenoir nhận xét là:’Tất
cả những Phật Tử Pháp đầu tiên trong các
thập niên 60-70 tiếp nhận Đạo Phật như
là một đối lực với văn hoá
đương hành. Nhiều người
đă đoạn tuyệt với văn hóa cũ bằng
cách trở thành một Phật Tử. Một số về
ẩn cư trong các tự viện. Họ
đi sâu vào các hệ thống triết lư Tây Phương và
cả những lễ nghi tinh tế của truyền
thống mà họ đă chọn’.
Như trường hợp của Matthew RICARD, nhà nghiên
cứu sinh học bào tử danh tiếng, đột
ngột từ bỏ con đường công danh quy y
Phật Giáo Tây Tạng và đă trở thành một
người thuần thành. Ông là thông dịch
viên cho Đức Đạt Lai Lạt Ma và là một
phật tử Pháp tiên phong.
Một Dẫn
Lực Kết Hợp Xă Hội
Các tu sĩ bản xứ, Tây Tạng hay Thiền
Tông lần lược đóng vai tṛ truyền bá chánh pháp cho
thế hệ Phật Tử thứ hai, đông đảo
hơn nhưng có lẽ ít dấn thân hơn. F Lenoir phát
biểu tiếp:’Từ đó ít có Phật Tử nào
đi vào đạo Phật như thế hệ
trước. Họ không muốn ra khỏi thế giới
của họ và yêu cầu một lối thực hành
đơn giản, thích hợp với lối sống quen
thuộc của họ’, Việc dịch thuật các kinh
luận nền tảng và sự uyển chuyển văn
hoá của đạo Phật có thể đủ thỏa
măn đ̣i hỏi của họ. Thêm vào đó
các thực hành linh động của đạo Phật
rất hữu ích trong việc h́nh thành mô thức cho
Phật Giáo Pháp. Sự ra đời của Ủy Ban
Liên Hiệp Phật Giáo Pháp được chanh phủ
thừa nhận ngay vào năm 1986, cùng với thái độ
cởi mở của Phật Giáo với các tôn giáo khác,
đă xóa được nhăn hiệu ‘giáo phái phương
Đông’ (6). Sự thành công của Phật Giáo c̣n cho
thấy sự khủng hoảng của Ky Tô
Giáo. Jack MARTIN, chủ tịch UBF ghi nhận:’Gần 90%
Phật Tử người Pháp trước đây theo Ky Tô Giáo, đa số là Thiên Chúa Giáo. Sau
khi thất vọng năo nề về các tôn giáo truyền
thống, người Phật Tử Pháp t́m thấy nơi
Phật Giáo như con đường tâm linh’. Các Giáo
Hội Ky Tô bị phê phán là không có
đối thoại (tất cả đều chỉ
thị từ trên xuống dưới). Michel BOVAY chủ
tịch Hội Thiền Học Quốc Tế nói:’Tôi luôn
luôn có cảm tưởng là có cái ǵ không lành mạnh trong xă
hội này, ở trường học cũng như trong gia
đ́nh, người ta không nói cho tôi sự thật. Tôi
đặt câu hỏi về sự chết và khi tôi hỏi
các giáo sĩ giải thích cho tôi về chúa Ky Tô
hay Thiên Đàng, tôi không được ai trả lời’.
Tư cách của các tăng sĩ Phật Giáo làm giảm giá
trị của các giáo sĩ phục vụ chúa. Thầy Trí
Tín ( người Pháp) tu tại Tu
Viện Linh Sơn (Phật Giáo Việt Nam) ở Joinville Le
Pont vùng ngoại ô Paris nhớ rơ những kinh nghiệm
của ḿnh ’Trong giáo lư người ta dạy tôi t́nh yêu
đối với người đồng loại. Vào
năm 1939 khi tôi thấy các Giám Mục làm
lễ ban phép lành cho các khẩu đại bác, tôi chẳng
hiểu ra làm sao !".Khi đó Thầy
mới 12 tuổi, bậy giờ Thầy đă 70 tuổi.
Thầy trầm tĩnh dạy giáo lư của
Đức Phật cho những người Pháp nào muốn
khám phá một "tôn giáo duy nhất không hề đ̣i
hỏi tín đồ gây chiến tranh để vinh
danh".
Sự bất lực càng ngày càng lớn của
các tôn giáo truyền thống lâu đời trong lỉnh
vực tâm linh khiến nhiều người càng đến
gần Đức Phật:’ Ông Patrick, 53 tuổi, cựu
chuyên viên của hảng IBM đang sinh hoạt tại Trung
Tâm Phật Giáo Tây Tạng Rigpa ở Paris nói:’Trước
kia tôi theo Tin Lành và gia đ́nh của tôi là một gia đ́nh
Tin Lành thuần thành. nhưng tôi đă không t́m thấy ư
nghĩa về đức tin của tôi.Tôi đă sống
trong tinh thần tư bản chủ nghĩa, trong thế
giới Tư Bản Chủ Nghĩa (Ông muốn nói
đến luận đề của Max Weber cho là Tin Lành là
nền tảng của tư bản chủ nghĩa) nhưng
không c̣n bận tâm về những điều mà tôn giáo tôi
đă giảng dạy. Chính nhờ Phật
Giáo mà tôi đă thực sự bước vào mối quan
hệ với chính tôi’.
Cũng trong chiều hướng này B, Etienne và R. Liogier phát
biểu:’ Phật Giáo chứng tỏ là thế kỷ
thứ 21 không phải là thế kỷ của tôn giáo
truyền thống như Andre Malraux nói mà là sự trở
về con đường tâm linh. Tâm linh không
biến mất trong hoá tŕnh hiện đại hóa, nhưng
chỉ biến dạng và có thể đưa ra những
giải đáp khả tín cho những lo âu xă hội phát sinh
từ xă hội hiện đại’.
Trên b́nh diện thứ yếu hơn, Phật Giáo
cho thấy giới hạn của chánh sách hội
nhập tại Pháp.Thí dụ như những người
trẻ gốc Á Châu thất vọng với những
kiểu mẫu xă hội phương Tây, quay lại
gắn bó với những sinh hoạt cộng đồng
của bậc cha mẹ. Ước mơ tiêu thụ và làm
giàu bị cơn khủng hoảng kinh tế
làm tiêu tan, đẩy họ lại với cội
nguồn. L. Harmant xác nhận :’Sự
bất an về ư nghĩa tồn sinh thấy rơ ràng trong giáo
phái Soko Gakkai. Ở đây người ta gặp các
người trẻ đến từ những vùng xa xôi
của nước Pháp, những thiếu nữ Hồi
Giáo, nhất là từ Algeria, họ t́m thấy nơi
Đạo Phật một phương cách giải thoát
họ khỏi những sự kềm kẹp gia đ́nh mà
không phải bị cái cảm giác phản bội văn hoá
truyền thống của họ v́ không ai bắt họ
cải đạo khi sinh hoạt với Phật Giáo’.
Phật Giáo do đó thể hiện như là
một dẫn lực kết hợp xă hội như F.
Lenoir nhận xét: ’Phật Giáo
tạo điều kiện cho những cá nhân vụn
vỡ đơn độc (v́ mất nền tảng
gia đ́nh, trao truyền những kinh nghiệm riêng tư
để cùng nhau học hỏi, Truyền thống
được thực hành nhiều nhất là Đại
Thừa nhấn mạnh đến ḷng từ bi phổ quát
không phân biệt, được diễn dịch như áp
dụng một lư tưởng bao dung vào đời sống
của mỗi cá nhân. Qua đó chúng ta thấy
ḷng quảng đại trở thành giá trị then chốt
của xă hội’. Nói
một cách khác, không những rủ bỏ h́nh ảnh tiêu
cực lẫn trốn thực tại mà trước
đây người ta hay gán ép, Phật Giáo góp phần tích
cực vào trong việc tái phối tri xă hội.
Jean-Pierre, 52 tuổi, trước đây theo
Cộng Sản kiểu Mao, hiện là giáo sư Vật Lư
tại Đại Học Toulon, phát biểu:’ Tôi vẫn
tiếp tục dính líu đến chính trị. Nhưng tôi
tin tưởng vào những mối liên hệ gần gũi hơn là các buổi họp, những
đoàn đại biểu, những hoạt động này
nọ’. Và do đó không c̣n phải bận tâm về
việc làm tan biến cá thể của ḿnh trong khối
đông những người cùng phe phái. Theo
vị Giáo Sư khả kính này, việc làm cụ thể và
có ích là ngăn chặn trào lưu chủ nghĩa quá khích
đang khuấy động tại Pháp và Tây Âu chính là ‘việc
giảng dạy vật lư học không phải là thực
tại, mà là một cách nh́n về thực tại.
Nói một cách khác, là dạy cách phân biệt những h́nh
ảnh người ta đưa ra về thực tại với chính thực tại’.
Là ‘tôn giáo theo yêu cầu’
Phật Giáo đang phục vụ những nhu cầu tâm linh
của thời đại. Người
ta cũng thấy sự kiện này nơi các tôn giáo
độc thần mới (7) Nhưng trong Phật Giáo c̣n
một hiện tượng phụ khác. B. Etinne và R.
Liogier viết:’Chúng tôi giả thiết rằng khối
lượng sách báo công tŕnh nghiên cứu của Tây
Phương cho những vấn đề của chính ḿnh,
cũng phù hợp với yêu cầu của Phật Giáo’.
Và hai ông thấy là các nhà xă hội học
đang nghiên cứu về hiện tượng này.
Khánh Hải Triều Quang chuyển ngữ từ
bài viết của Alain Renon trên tờ Le Monde Diplomatique, tháng
12, 1997 . Paris 1.98
Chú thích:
* Ở đây
chúng tôi dịch sát nghĩa chữ ‘de’ v́ tiếng Pháp phân
biệt 3 loại Phật Giáo, như tiến tŕnh
: từ Bouddhisme en France (Phật Giáo Tại Pháp-
có thể là Phật Giáo Tây Tạng đang sinh hoạt
tại Pháp) thành Bouddhisme de France (Phật Giáo của
Pháp do dân Pháp mở ra và quản lư theo luật của
nước Pháp) và có lẽ không bao lâu nữa, sẽ thành
Bouddhisme Francais (Phật Giáo Pháp- có sắc thái văn hóa Pháp).
(1)Trong đó Tây
Tạng có 84 trung tâm, Thiền Nhật Bản có hơn 90
(2) Sau Thiên Chúa Giáo , Hồi Giáo (4 triệu rưỡi), Tin
Lành (950,00) và gần bằng Do Thái Giáo
(3) Theo thống kê
thăm ḍ dư luận cũa hăng Sofret: Khi được
hỏi tôn giáo nào được ông bà ưa thích nhất, 5%
trên 2 triệu người Pháp trên 18 tuổi trả lời
là Phật Giáo.
(4) Trong quyển
Être Bouddhiste en France, nxb Hachette, Paris, 1997 nhiều tác giả,
chủ tŕ bởi Bruna Etienne, Giám Đốc Cơ Quan Quan
Sát Các Vấn Đề Tôn Giáo thuộc Viện Nghiên
Cứu Chính Trị Đại Học Aix-en-Provence
(5) Luận Án trên đề tài Phật Giáo tại Pháp và
tại Âu Châu, sẽ phát hành vào năm 1998.
(6) Ngoài Sokko Gakkai bị xem là một giáo phái
từ năm 1984, trong báo cáo đầu tiên tŕnh quốc
hội Pháp.
(7) Trong bài ‘Vers une
Religiosité Sans Dieu’ (Tiến tới một
tôn giáo tính không Thượng Đế) trên báo Le Monde Diplomatique
tháng 9 1997 của Florence BEAUGÉ.