THIỀN VIỆN CHANMYAY TẠI MIẾN
Thích Giác Hoàng
*********
I. ĐỊA
ĐIỂM
Thiền viện
Chanmyay (Chanmyay Yeikthā Meditation Centre), nằm ngay trong ḷng
thủ đô Yangon, trên trục lộ chính của thành phố. Chanmyay
là tên của HT thiền chủ. Người
viết chưa đủ duyên tu ở thiền viện này,
v́ trong những ngày đầu ấy, người viết
muốn t́m một nơi yên tịnh vắng vẻ để
dễ bề tu tập hơn. Nhưng thật ra, thiền
sinh sau khi vào thiền viện này rồi, dầu không muốn
rời thiền viện đi nữa, th́ Thiền Sư vẫn
cho vào rừng thiền - một chi nhánh của thiền viện
Chanmyay để tu tập.
II. THIỀN SƯ
Thiền Sư pháp
danh là U Janaka (Sayādaw U Janaka). Thông thường Ngài
được tôn xưng là Hoà thượng (HT) Chanmyay
(Chem-nhê) Sayādaw, hoặc biết đến với cách
tôn xưng khác là Ashin Janakabhivamsa. Ashin là
Đại Đức, Janaka là pháp danh. Bhivamsa
là một tước hiệu tôn xưng cho những vị
qua được kỳ khảo hạch Phật Pháp dưới
tuổi 28.
Ngài là một vị
Thiền Sư rất thoáng đạt, cởi mở, không
phân biệt màu y, quốc gia, chủng tộc. Hệ
phái nào tới xin tu, Ngài đều nhận. Một
trong những điểm hay mà không phải Thiền Sư
nào cũng làm được là nếu các vị thiền
sinh ngoại quốc tu lâu ngày với Ngài, và có khả
năng hướng dẫn thiền sinh khác, Ngài không ngại
giao phó việc hướng dẫn thiền tập cho các vị
ấy.
Hiện Ngài
đang phụ trách một phần môn Vipassanā (Thiền
Quán) của trường Đại Học Quốc Tế
Truyền Bá Phật Giáo Nguyên Thuỷ (International Theravāda
Buddhist Missionary University). Ngoại trừ mùa an
cư, Ngài thường vân du hải ngoại hướng dẫn
các khoá thiền. Năm nay (2006) Ngài
trên 70 tuổi, nhưng sức khoẻ vẫn c̣n rất tốt.
Ngài nói tiếng Anh rất lưu loát.
III. CHI NHÁNH THIỀN
VIỆN CHANMYAY
1. Pḥng ốc: Tuy
là chi nhánh, thiền viện vẫn có tên như cơ sở
gốc. Đây là nơi người viết
đă tu 10 ngày đầu khi tới Miến, nên cũng biết
ít nhiều về thiền viện này. Diện
tích thiền viện khá lớn, chia thành hai khu. Khu dành
cho chư Tăng, Ni và Phật tử Miến, bao gồm
Chánh Điện, khu nhà bếp, nhà ăn và khoảng 80
tịnh cốc (kuti), hay có thể gọi là liêu
cũng được, v́ các kuti ở đây đều
lớn hơn cốc ở Việt Nam gấp 2-3 lần.
Khu dành cho chư Tăng Ni và Phật tử ngoại quốc,
bao gồm một thiền đường khá lớn có thể
dung chứa khoảng 150-200 thiền sinh, và cũng để
cử hành các lễ lớn tổ chức hàng năm tại
thiền viện. Lúc chúng tôi đến, khu nhà ăn đang xây dựng ở giai đoạn
cuối. Hiện nay thiền viện có lẽ đă xây xong
khu nhà bếp và nhà ăn cho thiền sinh
ngoại quốc rồi.
Liêu ở đây cất
bằng xi-măng, lót bằng gỗ, khá sang trọng từ
bên trong lẫn bên ngoài. Những lúc vắng
người th́ mỗi vị ở một liêu riêng. Những
lúc đông người th́ 2 vị ở chung
một liêu. Phía trước là pḥng ở, phía
sau là nhà tắm, nhà tiêu và nhà phơi y áo, bốn bề lộng
gió, thoáng mát vô cùng. Các liêu đều có tên các nước,
có lẽ là do người nước đó hiến cúng, ví
dụ: Japan Kuti, Malaysia Kuti, Vietnam Kuti, v.v… cùng với một
số liêu tên bằng các thuật ngữ Phật Pháp,
như Saddhā Kuti , Viriya Kuti , Sati Kuti,
Samādhi Kuti, Paññā Kuti, v.v… Ngoài rừng có
nhiều bục gỗ để cho thiền sinh có thể
thiền toạ vào mùa nắng.
2. Tăng
chúng: Thượng Toạ trụ tŕ vừa hướng
dẫn thiền sinh tu tập vừa trông nom mọi Phật
sự trong thiền viện, nên Ngài không có thời gian thong
thả như các vị Thiền Sư khác ở Miến.
Thượng Toạ tên là U Rewata Sayādaw, năm nay (2006)
đă 51 tuổi đời, 23 tuổi hạ, nói tiếng
Anh rất lưu loát. Trước đây
Thượng toạ cũng đă từng tu ở các
trường thiền Miến, sau cùng mới quay về tu tập
với HT thiền chủ Chanmyay và được HT giao phó
trông nom thiền viện. Ngài đă từng chu du nhiều nơi để hoá đạo,
có lẽ v́ lẽ ấy nên rất nhẹ nhàng và thân thiện
đối với chư Tăng ngoại quốc. Tăng
chúng ở thiền viện không nhiều, trên dưới 10
vị. Số c̣n lại là khách tăng, thiền
sinh Miến và ngoại quốc.
Vào những ngày
người viết ở đó, tăng chúng lẫn thiền
sinh khoảng 50 – 60 vị. Thiền sinh có thể
lên tới 100 vào những ngày nam nữ cư sĩ về thọ
Bát Quan Trai Giới. Thiền viện này người Việt
ít ghé tu, chỉ vào những mùa nghỉ hè, Tăng Ni sinh Việt
Nam mới vô tu, nên những vị không biết tiếng Anh
có thể gặp trở ngại khi vào thiền viện
này.
4. PHÁP MÔN HÀNH TR̀
1. Nhận
định tổng quát: Trường thiền này hoàn toàn giống
truyền thống trường thiền Ngài Mahāsi
hoặc Pandita, Thiền Chỉ (Samatha) và Thiền Minh
Sát Tuệ, hoặc c̣n gọi là thiền Quán (Vipassanā)
được tiến hành một lúc, nhưng chú trọng
đến thiền Quán hơn. Theo các vị thuộc truyền
thống Ngài Mahāsi Sayādaw, Chỉ
Quán song hành có thể đem đến lợi ích cho thiền
sinh nhiều hơn và do đó không nhất thiết là phải
thực hành thiền Chỉ một thời gian rồi mới
qua Quán. Ở đây, v́ giúp cho thiền sinh
tránh t́nh trạng đau chân, hôn trầm khi ngồi quá lâu,
nên một giờ thiền toạ và một giờ thiền
hành xen kẽ nhau. Và dĩ nhiên, điều này cũng
tuỳ thuộc vào thiền sinh nữa, nếu cảm thấy
thiền toạ phù hợp với ḿnh hoặc ngược
lại, có thể thưa với Thiền Sư và tuỳ
theo sự hướng dẫn của Thiền Sư nữa,
chứ không nhất thiết là phải theo đúng như vậy !
2. Thiền Toạ:
Thiền sinh khi thiền toạ cũng không buộc theo một tư thế nào nhất định,
tuỳ theo thói quen của thiền sinh đó. Tuy
vậy, thiền sinh được yêu cầu là lưng phải
thẳng, mắt nhắm. Thay v́ để
tâm nơi nhân trung hoặc nơi chóp mũi như phần lớn
xưa nay các thiền sư (Ấn Độ, Việt Nam)
hướng dẫn; ở đây, thiền sinh để
tâm nơi bụng để quán sát sự phồng xẹp của
nó. Một số vị v́ chưa có khả năng theo dơi hơi thở của ḿnh qua phồng xẹp
nơi bụng, vị ấy được hướng dẫn
là để một bàn tay trên bụng để ghi nhận.
Sau khi tâm có chút lặng yên, hành giả nên tập ghi nhận
phồng xẹp không gián đoạn qua sự quán sát của
tâm là đủ. Sự thật cũng khó thực hiện
được những điều ‘đơn giản’
như vậy ! Sự tiến triển
trong thiền quán không phải đơn giản chỉ ghi
nhận phồng xẹp của vùng bụng, mà c̣n phải
ghi nhận sự nóng lạnh ở vùng bụng.
Có lẽ cũng
nên biết là khi ḿnh theo pháp môn nào th́ cố
gắng theo sát pháp môn đó. Giả như ḿnh chưa chuẩn
bị đủ để từ bỏ tất cả những
ǵ ḿnh đă học, đă biết, đă hành tŕ trong quá khứ
th́ không nên vào, v́ Thiền sư (vị Sư trụ tŕ,
đồng thời cũng là vị hướng dẫn thiền
tập tại thiền viện, chủ trương theo sát
theo lời hướng dẫn của HT thiền chủ U
Janaka Sayādaw.
3. Thiền Hành:
Trong những ngày đầu tu tập, thiền sinh chỉ
yêu cầu đi thật chậm, chân trái nhấc lên biết
chân trái nhấc lên, chân phải nhấc lên biết chân phải
nhấc lên. Sau đó, thiền sinh được
yêu cầu hơn nữa là ư thức trọn vẹn khi chân
phải nhấc lên, di chuyển tới và chạm đất,
và tương tự cho chân trái. Sau khi thuần thục
giai đoạn này, hành giả được yêu cầu là
khi trước khi nhấc chân, ḿnh nên có tác ư là sẽ nhấc
chân, và sau khi chân chạm đất phải ư thức rơ là
chân chạm đất như thế nào, và toàn chân ấn xuống
đất để lấy đà bước tiếp
như thế nào.
Có một vị
Sư ngoại quốc tu ở đó, mỗi lần từ
kuti xuống trai đường, và đặc biệt
là sau khi thọ trai xong, đoạn đường đi
không quá 15 phút với tốc độ đi chậm vừa
phải của một thiền sinh ở đó, th́ vị ấy
đi hơn một tiếng rưỡi đồng hồ
mới về tới tịnh thất của ḿnh. Dù nắng mưa ǵ vẫn không đổi.
4. Quán Tâm: Trong khi
thiền toạ hoặc thiền hành, các trạng thái phiền
năo của tâm khởi lên, hành giả cần phải lưu
tâm ghi nhận các trạng thái phiền năo ấy. Không cầu mong chúng mau đi, hay ép chế, đè
nén, t́m sự quên giả tạo mà can đảm đối
diện với phiền năo ấy. Đồng thời
không nên để tâm lang thang trong các trạng
thái tâm điên đảo mà nên cố gắng trở về
với chánh niệm, tỉnh giác càng sớm càng tốt.
Mặc dầu
trong sách hướng dẫn thiền tập có ghi là thiền
sinh cần phải ghi nhận sự phồng xẹp, nóng lạnh,
v.v.. của bụng,
và cần niệm phồng à, xẹp à, nóng à, lạnh à, v.v…
nhưng trên thực tế, Thiền Sư không hướng
dẫn kỹ phần đó khi người viết ở
đó.
5. Sinh Hoạt Hằng
Ngày: Mọi hoạt động hằng ngày cần phải
chậm răi, khoan thai và cố gắng ghi
nhớ, chánh niệm, tỉnh giác càng nhiều càng tốt. Điều này tối quan trọng đối với
một thiền sinh. Sự thật, để đánh
giá thiền sinh tu tập có tiến bộ hay không có thể
nh́n vào đời sống sinh hoạt hằng ngày của
thiền sinh ấy có thể biết được phần
nào, nếu không muốn nói là phần lớn !
6. Tŕnh pháp: Thiền
sinh cách một ngày tŕnh pháp một lần. Cũng giống
như ở thiền viện Panditarama và Mahāsi, một số
thiền sinh ở thiền viện này có một cuốn sổ
tay để ghi vắn tắt những
ǵ xảy ra khi thiền toạ hay thiền hành. Tôi để
ư là khi thiền toạ, các thiền sinh thỉnh thoảng lấy
ra ghi hoặc sau khi xả thiền rồi mới ghi, có lẽ
là để khỏi quên mà cũng có thể là để
tŕnh bạch cho Thiền Sư một cách rơ ràng. Nhưng điều đó không bắt buộc.
Việc tŕnh pháp tuỳ vào nhận thức hay tâm thức của
thiền sinh mà tŕnh bày, chứ không nhất thiết những
ǵ suy nghĩ trong lúc toạ thiền.
Có một số
thiền sinh khi tŕnh pháp đọc thật dài những ǵ vị
ấy đă ghi trong sổ tay, rồi sau đó Thiền
Sư tuỳ nghi mà cho lời khuyên thích đáng, dầu là những
chuyện liên hệ đến sức khoẻ. Ví dụ thưa rằng v́ ngày trước bệnh
cảm nên tu không tinh tấn và không có hiệu quả lắm.
Vị Thiền Sư hỏi mỗi ngày tắm
mấy lần, và có thể v́ tắm hai lần trong ngày nên
dễ bị nhiễm cảm. Thế là
vị ấy mỗi ngày tắm một lần. Hoặc có thiền sinh tŕnh bày rằng có quá nhiều
vọng tưởng, gần như không thể dừng
được, nên không thể hoàn toàn tập trung vào vùng bụng
được, vị hành giả muốn khống chế
chúng, không cho chúng sanh khởi. Vị Thiền
Sư bảo, không nhất thiết là khống chế,
đè nén chúng. Chúng ta chỉ quán sát chúng là đủ rồi.
7. Nghe Pháp: Ngày không
tŕnh pháp là ngày thiền sinh nghe pháp. Quả thật,
những ngày gia công tu tập nghiêm mật, nếu được
nghe Pháp th́ kết quả rất lớn. Cũng với pháp thoại đó, hành giả có thể
hiểu sâu sắc hơn nhiều so với đời sống
tu tập b́nh thường. Pháp thoại được
HT Chanmyay Sayādaw giảng khi Ngài hướng dẫn khoá
tu tại Úc từ năm 1998, đă được thâu trong
băng, và có vị phụ trách mở máy cassette.
Ngày đầu tiên
đến, thiền sinh được hướng dẫn
căn bản về thiền tập cũng vẫn là lời
của HT Chanmyay Sayādaw, đă thâu sẵn trong máy. Nghiên cứu, trước tác được khuyến
cáo là hạn chế đến mức tối đa, nếu
không muốn nói là không nên. V́ các điều
đó có thể gây phân tâm, xáo động rất nhiều
trong tâm thức của hành giả trong khi thiền tập.
Tuy nhiên, hành giả có thể châm chước
đọc sách thiền khi cần, và dĩ nhiên điều
này phải thưa và được sự đồng ư của
Thiền Sư.
8. Tịnh Khẩu:
Trong không khí thiền tập với một diện tích
đất khá rộng, cây cối nhiều, không khí mát mẻ,
và với những thiền sinh ngoại quốc chưa từng
quen biết nhau, nên tịnh khẩu dường như là
chuyện đương nhiên. Dĩ nhiên,
cũng giống như bao nhiêu trường thiền khác,
thiền sinh đều có thể trao đổi, thưa thỉnh,
và đôi khi nói chuyện, trao đổi khi cần thiết.
Trong một ư nghĩa nào đó, Tịnh Khẩu hay Im Lặng
Cao Cả, Im Lặng Thánh Thiện (Noble Silence) không có
nghĩa là chỉ khoá miệng lại mà thôi, mà c̣n phải
nhẹ nhàng đến mức tối đa trong các hành
động, đi đứng và khi công quả nữa.
Song, không phải tất
cả thiền sinh đều hiểu vấn đề
này. Trong thời gian người viết
thiền tập ở đó, có một nữ Phật tử
vào mỗi sáng, thường hay quét dọn thiền
đường, nhất là nơi thờ tôn tượng
Đức Bổn Sư, gây nhiều tiếng động.
Điều đó phần nào làm trở ngại
sự thiền tập cho đại đa số hành giả.
Mặc dầu theo quy định phải
quyét dọn thiền đường sau khi dùng điểm
tâm lúc 6-7 giờ, nhưng nhiều khi tới 8 giờ vẫn
c̣n quyét dọn. Một vị Sư ngoại quốc thiền
tập rất tinh tấn, có một ngày nọ thưa với
Thiền Sư là cho phép vị ấy tu tại liêu v́ những
tiếng động ấy và các Phật tử khi ra vào. Mặc
dầu theo yêu cầu của thiền viện,
thiền sinh không nên ở dưới cốc mà tu tập,
v́ như vậy rất có thể giảm sức tinh tấn
của ḿnh. Nhưng khi thưa cụ thể
nguyên nhân, Thiền Sư vẫn chấp nhận.
9. Khất Thực
và Thọ Trai: Vào mùa hạ chư Tăng
tại thiền viện vẫn đi khất thực lúc 8
giờ sáng. Chư Tăng ngoại quốc không thấy mời
đi khất thực chung. Vào 10 giờ
15 toàn thể chư Tăng đắp y kẹp đă xuống
tới nơi, sắp thành hàng chờ đúng 10:30 đánh bảng,
bắt đầu nhận cơm vài vá trước trai
đường, tượng trưng cho sự khất thực,
rồi vào trai đường thọ thực. Tất cả
chư Tăng đều trải toạ
cụ (c̣n chư Ni và nam nữ Phật tử không cần),
ngồi xuống và chậm răi lạy Phật trong chánh niệm.
Lạy Phật ở đây cũng là một
hạnh tu, trước khi thọ trai, sau khi thọ trai
xong, trước và sau thiền toạ đều lạy Phật
rất chậm. Cúng dường Tam Bảo
và cầu nguyện không bắt buộc, tuỳ vào hạnh
của mỗi người. Ăn
xong cũng chậm răi lạy Phật, đứng dậy lấy
toạ cụ và yên lặng về liêu.
Thực phẩm ở
đây rất đầy đủ, có cả chay lẫn mặn. Nếu thiền
sinh ăn chay th́ các vị sắp xếp
ngồi chung bàn các vị ăn chay, và cũng tính theo hạ
lạp. Thực phẩm mặn ở đây không nhiều,
mỗi ngày chỉ có chút đỉnh cá, hoặc thịt có lẽ
đă được thái nhỏ, nên không thấy dị ứng
đối với các vị có truyền thống ăn chay. Nhưng đôi khi các vị phụ
trách nhà khói kho nấu một số loại như mấm
ruốt hoặc các loại thực phẩm mặn có mùi,
cũng làm khó chịu đối với một số thiền
sinh ăn chay. Các vị Sư Theravāda
ngoại quốc như Mỹ, Canada, Anh, Thuỵ Sĩ, Hà
Lan đều ăn chay cả.
Vị Sư phụ
trách trai đường rất tử tế đối với
mọi người, không riêng ǵ Tăng ngoại quốc. Thức ăn v́
đă được các Phật tử sớt bát hoặc
quư Phật tử công quả đă dọn sẵn trên bàn,
nhưng nếu v́ để hơi xa một tí, thiền
sinh lấy hơi khó, vị ấy quan sát một ṿng và chuyển
giúp thiền sinh ! Thiền sinh không được
nhịn đói quá hơn một ngày. Điểm
tâm có thể không ăn, nếu như vậy th́ thiền
sinh phải thưa cho các vị phụ trách trai đường
hoặc Thiền Sư biết chừng.
Vào mùa hạ (và có
lẽ là quanh năm suốt tháng, tôi có hỏi vài Tăng Ni
khác tại Miến), có 3 vị Tăng tại thiền viện
trông nom mọi Phật sự như phụ trách trai
đường, xây dựng và một số Phật sự
như hướng dẫn Phật tử đến thiền
viện chính ở Yangon khi có lễ lạc, v.v… đều
dùng chén, đĩa chứ không dùng bát như tất cả
chư Tăng ở đó và chư Tăng đến tu tập.
10. Thời Khoá Tu Tập:
3.30: thức dậy
và bắt đầu lên thiền đường tu tập
(có thể thiền toạ hay thiền hành).
5.30: điểm
tâm (vào mùa đông th́ muộn hơn một chút). V́ đi bộ và phải sắp hàng chờ, nên
5.10 đă bắt đầu đi xuống trai đường
rồi.
10.30: độ ngọ.
10.00 phải xuống thất để chuẩn bị bát, muỗng,… và đi xuống trai
đường.
Ăn cơm xong có thể
lên thiền đường tu tập hoặc nghỉ
ngơi đến 1.00 giờ, mới chính thức thiền
tập.
5.00 – 6.00: uống
nước ngọt hoặc nước trái cây tại pḥng
thọ trai.
Tiếp tục tu
cho đến 9.30 th́ xuống liêu nghỉ.
Trong một ngày thiền
sinh có thể chọn từ 9.30 –10.00 hoặc 3.30- 4.00 để
vệ sinh cá nhân.
Nếu theo đúng
thời khoá biểu th́ phải bắt đầu tu từ
lúc 3.30 – 9.30 mới được nghỉ, nhưng trên thực
tế, các thiền sinh đều xuống liêu nghỉ
ngơi từ lúc 9.00 tối, và có nhiều vị xuống sớm
hơn cũng không sao ! Cũng có nhiều vị lên thiền
đường vào buổi sáng hơi muộn cũng
được. Tu để giải thoát là
chuyện tự giác của mỗi hành giả, nên Thiền
Sư ít có khắt khe thời khoá đối với thiền
sinh.
11. Di Chuyển: Nếu
ḿnh đă vào thiền viện chính ở thành phố rồi,
th́ khi vô rừng thiền này, phần lớn đều có xe thiền viện đưa. Khi muốn ra về,
thiền sinh có thể hỏi các vị phụ trách chừng
nào có xe ra, ḿnh đi ké ra tới thành phố,
như vậy rất tiện và đỡ tốn tiền
taxi. Một phương tiện khác có thể đi là xe buưt. Tuyến vào ra đều có cả, rất
rẻ; nhưng khó khăn là nếu ḿnh có hành lư th́ xách bộ
từ đường chính vô tới thiền viện
cũng mất 10 - 15 phút.
12. Cúng Dường:
Thiền viện chính ở thủ đô hoặc trong rừng
đều không đề cập đến thiền phí,
cũng không kêu gọi thiền sinh cúng dường. Vậy
tịnh tài ở đâu để các vị lo trang trải
mọi thứ ? Tôi để ư các bữa
ngọ trưa hoặc điểm tâm, một là do chư
Tăng, Ni, quư Phật tử đang
tu tại thiền viện hoặc các Phật tử ở
phố vào sớt bát. Tên của tín chủ cúng dường bữa
ngọ trưa hoặc điểm tâm đều được
ghi trên bản để chư Tăng thầm
chú nguyện. Những tín chủ cúng dường ngọ
trưa thường đứng trước cửa để
sớt cơm vài vá vào bát tượng trưng trước
khi chư Tăng vào trai đường.
Sớt bát cho một
bữa ngọ trai trung b́nh là 50 Mỹ kim.
Nếu một ḿnh thiền sinh không đủ
điều kiện dâng cúng, có thể kết hợp với
một hai vị trong trường thiền nữa. Ḿnh có thể thông báo cho văn pḥng để
văn pḥng tuỳ duyên sắp xếp ngày và ai cùng cúng với
ḿnh. Lúc rời trường thiền, thiền sinh có
thể cúng dường thêm bao nhiêu cũng được,
cho các công tŕnh xây dựng kuti, tường rào, v.v…. tuỳ theo khả năng của mỗi thiền
sinh.
13. Tài Liệu Tham
Khảo: Khi tới thiền viện, nếu thiền sinh biết
tiếng Anh th́ các vị phụ trách sẽ phát cho cuốn: Vipassana
Meditation Guidelines (Những Nguyên Tắc Căn Bản Của
Thiền Quán), và cả những luật lệ, thời
khoá của thiền viện. V́ là những nguyên tắc
căn bản nên rất ngắn, tôi xin dịch giúp những
thân hữu không biết tiếng Anh để tham khảo
thêm.
Những vị biết
tiếng Anh có thể tham khảo thêm 8 Talks on Vipassana
Meditation (Tám Bài Pháp Thoại về Thiền Quán) của
Thiền Sư viện chủ U Janaka Sayādaw, đăng
trên mạng http://www.budsas.org. Mười sáu cuộn
băng về pháp tu Thiền Quán của HT U Janaka Sayādaw
chủ giảng tại Úc năm 1998 là một nguồn tài
liệu rất quư mà thiền viện dùng để soi sáng
cho thiền sinh. Các vị Việt Nam đă nén
với dạng MP3, ḿnh có thể liên hệ mượn copy
để nghe thêm.
******